Bài viết


 
  VN
  13      


     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
Lễ hội Tây Thiên năm 2013 tổ chức từ ngày 25-3 đến 28-3 (tức ngày 14-2 đến ngày 17-2 năm Quý Tỵ) tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chiều 8-2 (28 tết) bí thư thành ủy Hà Nội Pham Quang Nghị thăn chợ hoa tết Hà Nôil
Diva mặc chiếc váy lộng lẫy và chinh phục khán giả bằng chất giọng cao, đẹp khi kết hợp cùng dàn nhạc giao hưởng đường phố trong buổi mở màn Luala Concert, chiều 10/11 ở Hà Nội.
Đã  lâu rồi từ ngày cho ra triển lãm ảnh Mẹ Và Quê Hương đến hôm nay mới lại có dip chup về mẹ.
  MVNAH ở Song Phượng, Mẹ Tạ thị Lười,khi hỏi tên mẹ tôi không khỏi ngac nhiên,nhưng đó là tên bố mẹ đặt cho, năm nay mẹ tròn 90 tuổi. Mẹ có một cô con gai duy nhất hy sinh trên trận địa phòng không bảo vệ đập phùng

Đang truy cập: 69
Lượt truy cập: 10220622
   



                                                 









                                           

Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ”




























Chuyện người con thứ 6 của nhà văn Kim Lân

 Anh là con thứ 6 trong gia đình 7 anh chị em, cha đã nổi tiếng rồi mà đa phần anh chị em cũng là người nổi tiếng. Nhưng chính vì thế Từ Ninh lại chọn một cách ứng xử khác. Từ Ninh lặng lẽ bề ngoài nhưng cái tôi bên trong mãnh liệt. Anh bảo: Sợ nhất khi người ta khen tranh tôi đẹp giống tranh… anh Thành Chương.

Từ Ninh và các con khi nhỏ (ảnh: NVCC)
Từ Ninh và các con khi nhỏ (ảnh: NVCC)

Nguyễn Từ Ninh học cùng lớp, cùng trường với họa sỹ Đào Hải Phong. Nhưng Phong chuyên sâu mảng thiết kế phim ảnh, còn Ninh theo mảng thiết kế sân khấu. Tốt nghiệp Đại học Sân khấu Điện ảnh năm 1987, anh vào Sài Gòn, làm cho đoàn kịch Trẻ. Vài năm sau chán, lại ra Hà Nội, trở thành họa sỹ tự do từ bấy đến nay.  Gần 30 năm cầm cọ nhưng Từ Ninh chỉ làm 2 triển lãm cá nhân, tham gia một số triển lãm nhóm, ngại phát biểu nọ kia trước đám đông, thế nên người trong nghề biết anh, người ngoài nghề thì chịu. Từ Ninh nhận, anh không hoạt ngôn, khá vụng về ăn nói, nên thiệt. Sang năm, anh sẽ cố gắng mở một cuộc triển lãm với ý nghĩa kỷ niệm 100 năm ngày sinh cha anh, nhà văn Kim Lân (1/8/1920-7/8/2007). Kính yêu cha nhưng Từ Ninh chia sẻ: Anh không muốn núp bóng người cha nổi tiếng. “Mình vẫn phải là mình, dù hay, dở thế nào. Bố viết văn, con viết văn, vẫn chút gì đó dựa hơi”. Từ Ninh cũng không muốn ảnh hưởng anh, chị của mình trên con đường nghệ thuật. Ninh bảo: “Khi tôi vẽ tranh, tôi sợ nhất người ta khen tranh đẹp thế, giống tranh Thành Chương, anh tôi. Khen thế là giết tôi rồi. Tôi phải thay đổi để không có gì gợi nhớ Thành Chương”.

Chẳng phải cứ dát vàng là đắt giá

“Có khi nào nhà văn Kim Lân buồn vì các con chẳng ai nối nghiệp cha không?”, tôi hỏi Từ Ninh. Anh đáp chậm rãi: “Không đâu. Cha tôi cũng muốn các con theo hội họa hơn viết văn”. Qua Từ Ninh được biết, nhà văn Kim Lân khi trẻ từng có thời gian phụ họa sỹ Nguyễn Gia Trí làm tranh sơn mài. Ông cũng thích hội họa, cũng vẽ chơi chơi. Tên “Nguyễn Từ Ninh” do chính nhà văn Kim Lân đặt: “Từ Ninh vừa có nghĩa Từ Sơn- Bắc Ninh, quê cha, lại vừa là tên một nhân vật trong “Thủy Hử” (1 trong 108 thủ lĩnh Lương Sơn Bạc). Bố tôi thích đọc “Tam quốc”, “Thủy hử”. Như tên anh tôi “Nguyễn Mạnh Đức” bắt nguồn từ nhân vật Tào Mạnh Đức (Tào Tháo) trong “Tam quốc diễn nghĩa”.

Nếu cha anh là nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm viết về làng quê Việt Nam thì Từ Ninh lại gắn bó với mảng đề tài gia đình, anh thủy chung với chất liệu sơn mài nhưng không chọn sơn ta mà ưa sơn Nhật. Trước hết, vì sơn ta không chọn anh, anh bị sơn “ăn mặt”. Sơn Nhật phóng khoáng, chất liệu rẻ hơn sơn ta. Theo Từ Ninh: “Không nên máy móc, công thức quá. Sơn ta có những hạn chế về màu, về nhiều thứ khác. Sơn ta phải có buồng ủ riêng cho tranh. Đang mải mê hứng thú lại đem ủ, kết bạc, kết vàng… Trong khi đó sơn Nhật như sơn dầu, pha được tất cả các loại màu”. Song anh thừa nhận: Hạn chế của sơn ta lại làm nên nét độc đáo của nó. Giống như đàn bầu có mỗi một dây nhưng thánh thót, “ru lòng người sâu thẳm”.  So với sơn Nhật, sơn ta bền màu với thời gian hơn. Song sơn Nhật bay màu đều, khiến tranh sáng lên, trong hơn, chứ không phải chỗ bay màu, chỗ không, nên bức tranh vẫn đẹp. Từ Ninh nói: “Chọn sơn mài vì tôi thấy mình làm chủ chất liệu hơn, cho dù chọn sơn mài vất vả hơn chất liệu khác, như sơn dầu chẳng hạn”.

Một số người cho rằng: Tranh sơn mài truyền thống, sơn ta, có giá hơn hẳn so với tranh Việt dùng sơn Nhật.  Họa sỹ Từ Ninh cười: Không phải cứ dát vàng thì đắt tiền đâu. Giá trị bức tranh nằm ngoài vàng, bạc… Từ Ninh chưa bao giờ bán được nhiều tranh như Đào Hải Phong nhưng Đào Hải Phong lại rất trân trọng Từ Ninh. Phong bảo, nếu là khách hàng anh sẽ mua tranh của một vài tác giả không đình đám, trong số đó có Từ Ninh: “Ninh vẽ hay”, Phong nhận xét. Và một thứ khác khiến Phong trọng Ninh hơn cả chuyện tranh pháo, ấy là nhân cách. Một bữa cà phê với nhau, Ninh có việc nên về trước. Chờ Ninh lên xe máy, Phong chỉ cho tôi cái ngón út bị mất 2/3 của Ninh: “Biết vì sao hắn bị mất ngón tay út không? Kể riêng cô nghe nhé, là hắn tự chặt đấy, khi có người vu oan cho hắn ăn cắp. Hắn không phân bua, chặt luôn ngón út và khẳng định: Hắn không làm chuyện đó, rồi bỏ đi”. Trong mắt Đào Hải Phong, Từ Ninh có khí chất “anh hùng Lương Sơn Bạc”, như tên.

 15 năm gà trống nuôi con

Trở lại chủ đề gắn bó trong tranh Từ Ninh: Gia đình. Anh giải đáp thắc mắc của tôi với giọng nửa đùa, nửa thật: “Ừ, thì thiếu gì thì vẽ nấy”. Từ Ninh “một mình” đã lâu. Chia tay vợ, anh nuôi 2 cô con gái, khi đó cô gái út mới được hơn 2 tuổi, lại có bệnh hen suyễn. Hầu như không tháng nào Từ Ninh không phải đưa con vào viện, thức đêm chăm con ở viện đã thành chuyện bình thường của Ninh. Hồi hai con còn nhỏ, Từ Ninh chẳng dám đi xa, đến nhà ở cũng phải mua loanh quanh trong phố, tiện để hai con đi học. Nay hai con gái của anh đã lớn, cô con gái đầu đã là sinh viên năm thứ ba, Đại học Mỹ thuật. Con gái thứ hai đã 17, 18 tuổi, đang học nhạc ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội. Vì thế, Từ Ninh mới mua đất xây nhà, gần sông. Anh khoe với tôi tổ ấm của ba bố con. Trên diện tích 70 m2, anh xây nhà 3 tầng, tầng trên cùng dựng ngôi nhà gỗ. Mặt ngôi nhà hướng thẳng ra sông. Nơi đây yên tĩnh nhưng không hoang vu, chạy xe một lát đã vào ngay phố cổ. Từ Ninh thích sống bên sông hoặc sống trên núi. Ninh còn một ngôi nhà trên núi nữa. Anh đã từng đưa hai con lên núi sống.

Quan điểm giáo dục của Từ Ninh khác nhiều bậc phụ huynh thời nay: “Tôi không ép con học, học vừa phải, chủ yếu đọc sách, nghe nhạc, xem phim, đi chơi. Học giỏi mấy mà vô cảm, không biết cảm thông, chia sẻ thì cũng chẳng có giá trị gì”. Anh hướng nghiệp cho các con từ khi chúng mới lên lớp 7. Con gái lớn ban đầu thích theo nghề y nhưng sau một thời gian lại thay đổi ý định, chuyển sang hội họa. Anh cũng đồng ý và đầu tư cho con. Con gái út thích đàn, anh cổ vũ con thi vào một trường nghệ thuật.

Trong hai cô con gái, Từ Ninh nhìn thấy gái út rất có khả năng nối nghiệp ông nội, nhà văn Kim Lân. Bởi cô bé viết văn tốt, có góc nhìn lạ. Thí dụ, trước đây khi nhận được đề văn yêu cầu viết về gia đình, cô bé lại đặt trọng tâm bài viết ở cánh cửa ra vào. Cánh cửa ngôi nhà như nhân chứng trong gia đình. Khi cô bé bước chân ra ngoài một thế giới khác rộng mở với bao hoài bão, mơ ước đón chờ. Nhưng hạnh phúc thì nằm sau cánh cửa. Hạnh phúc khác niềm vui. Cô bé phân biệt rõ ràng. Trong bài, gái út của Từ Ninh viết: Gia đình tôi không được hoàn chỉnh như những gia đình khác. Chúng tôi không có mẹ. Nhưng tôi không cần sự hoàn chỉnh đó. Và đối với tôi bây giờ cái không hoàn chỉnh, chính là hoàn chỉnh. Ba bố con. Thế là đủ. Nhắc lại đoạn văn của con gái, Từ Ninh cười hạnh phúc: “Con bé đầy cá tính”.  Khi đề văn yêu cầu viết về môt danh lam thắng cảnh của đất nước, con gái Từ Ninh lại chọn viết về bến đò. Khi khác, cô bé lại viết về trại cùi dưới chân đèo Hải Vân, để nói đèo Hải Vân không chỉ đẹp ở cảnh mà còn đẹp ở tình người. Chính Từ Ninh khi dẫn hai con đi du lịch đã đưa chúng vào thăm trại cùi (trại phong).

15 năm nuôi con một mình, hỏi Từ Ninh có thấy cực hay không? Anh tâm sự: “Tôi không hiểu thế nào là vất vả. Nuôi hai đứa từ năm 2005, thành quá quen rồi, thấy thanh thản, thấy vui”. Từ Ninh không dùng roi vọt để dạy con nhưng anh khá nghiêm khắc. Hồi bé, đi học về, các con mách, bị bạn bắt nạt. Anh nói: Bố sẽ nói chuyện với cô giáo một lần, lần sau các con phải tự giải quyết lấy. Bố mẹ sinh ra các con không phải để người ta đánh đập, kể cả còn bé, các con phải tự biết cách bảo vệ mình. Các con không được bắt nạt ai nhưng không được để ai xúc phạm các con. Quý hơn mọi thứ trên đời là lòng tự trọng”.

Chuyện người con thứ 6 của nhà văn Kim Lân - ảnh 1 Tranh Từ Ninh (NVCC)
Trong hai cô con gái, Từ Ninh nhìn thấy gái út rất có khả năng nối nghiệp ông nội, nhà văn Kim Lân. Bởi cô bé viết văn tốt, có góc nhìn lạ.
 

Khúc “biến tấu” từ cuộc đời mùi vị

Từ Ninh nuôi con bằng những đồng tiền bán tranh. Tuy không bán được đều đều, song có vài phòng tranh trước tết Tây và Noel lại lấy của anh một lượng tranh lớn để bán cho khách nước ngoài và Việt kiều về thăm quê. Mỗi đợt như thế anh thu được một số tiền kha khá, mỗi tháng lại rút ra, tiêu dần. Nhưng sau năm 2010, việc bán tranh không được thuận lợi như trước, Từ Ninh vẫn tiếp tục phải mưu sinh, vì con cái. Anh theo anh trai của mình, họa sỹ Nguyễn Mạnh Đức, tức Đức Nhà sàn, phục dựng văn hóa cổ, lúc nhận việc ở Văn Miếu, lúc ở phố cổ: “Năm 2018, chúng tôi làm “Một thoáng Việt Nam” ở Hội An cho một tập đoàn lớn. Chúng tôi làm những ngôi nhà đặc trưng ở đồng bằng sông Cửu Long, như nhà điền chủ, nhà của Bạch Công Tử… Sau đó, ra nhà Nam bộ, nhà của người Chăm, nhà rông- Tây Nguyên. Cứ thành từng cụm như thế. Rồi nhà rường Huế, nhà Bắc bộ… nhà người Tày, người Thái”.

Chính sự thúc bách của cuộc sống, sự yêu cầu của công việc đã ảnh hưởng đến hội họa Từ Ninh. Tranh anh có những biến chuyển, chứ không tuân theo một phong cách từ đầu đến cuối. Anh khoe với tôi bức “Biến tấu” đẹp như tấm thảm Ba Tư được miêu tả trong những câu chuyện cổ và chia sẻ: “Thực ra bức này tôi vẽ hỏng, song lại vẽ đè lên. Vẽ thế này in trên kính thành tranh kính, có đèn rọi phía sau thì đẹp tuyệt vời”. Nếu như có một cuộc sống gia đình ấm êm, đủ đầy đúng nghĩa, chắc gì tranh Từ Ninh đã “biến tấu” như bây giờ? Tôi hỏi Từ Ninh: “Anh thấy mình được mất gì từ nghề họa?”. Ninh cười, không trả lời thẳng câu hỏi: “Tôi thấy họa sỹ được thể hiện cái tôi mạnh mẽ, độc lập hơn so với nhà văn”.



Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ”

Họa sĩ Kim Thái là phu nhân của nhà điêu khắc nổi tiếng Lê Công Thành. Bà bắt đầu con đường sáng tác mỹ thuật từ năm 1962 với nhiều mảng đề tài: phong cảnh, đời sống, dân quân, bộ đội, nông dân, mẹ con, thiếu nhi và vẻ đẹp khoả thân của người phụ nữ… 

Theo nữ hoạ sĩ, bà vẽ nude - khoả thân nghệ thuật một cách rất tự nhiên vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của con người và càng vẽ nhiều lại càng… nghiện.

Nhiều người cho rằng, hoạ sĩ Kim Thái là nữ hoạ sĩ hiếm hoi có một khối lượng tranh nude đồ sộ và đa dạng. Tranh của bà mang phong cách và có sức hút rất riêng. Mỗi bức tranh của bà đều "toả" ra những nét dung dị, phóng khoáng, tự nhiên và gợi cảm.

Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ” - 1


Hoạ sĩ Nguyễn Thị Kim Thái bên di ảnh của chồng và bức điêu khắc gỗ Hồ Xuân Hương.

Là nữ hoạ sĩ sáng tạo hàng nghìn bức tranh nude gây tiếng vang. Nhiều người thắc mắc, không biết bà đến với tranh nude trong hoàn cảnh nào?

Tôi bắt đầu con đường sáng tác mỹ thuật cách đây 58 năm. Thời điểm đó, tôi vẽ rất nhiều thể loại và đề tài khác nhau. Trong đó, mảng đề tài vẻ đẹp nguyên thuỷ tôi rất thích vẽ và thường hay vẽ. Cho đến thời điểm này, tôi vẫn đang tiếp tục vẽ mảng đề tài này.

Tôi không thích cách gọi vẽ tranh khoả thân nghệ thuật hay tranh nude mà thích gọi là vẽ tranh vẻ đẹp nguyên thuỷ của con người. Tôi quan niệm vẻ đẹp nguyên thuỷ của con người thời nào cũng đẹp và luôn mang tính cổ xưa, nguyên sơ. Tất cả mọi di sản hiện nay mà chúng ta có đều bắt nguồn từ vẻ đẹp cổ và xưa ấy. Tục ngữ có câu “Người ta là hoa đất” cơ mà.

Nhiều người cho rằng, thời điểm thập niên 60, không phải ai cũng dám vẽ tranh nude bởi những định kiến thời đó vẫn còn nặng nề. Bà có gặp nhiều khó khăn khi sáng tạo mảng đề tài này?

Tôi không gặp khó khăn gì cả vì chủ yếu vẽ ở nhà hoặc ở trường. Thời chúng tôi học ở trường Đại học học Mỹ thuật Hà Nội đã phải vẽ mảng đề tài này rất nhiều. Đôi khi những bức hình hoạ hoặc bức vẽ học đã có vẻ đẹp của tranh rồi. Tuy nhiên, vì thời đó mọi người vẫn chưa hiểu nhiều về tranh khoả thân nghệ thuật hay vẻ đẹp nguyên thuỷ nên tôi không bày ra nhiều.

Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ” - 2


Những bức tranh khoả thân nghệ thuật của hoạ sĩ Kim Thái thường không có nỗi buồn.

Tôi quan niệm, vẻ đẹp con người rất nguyên sơ, nguyên thuỷ và cổ kính nên khi vẽ tôi thường không bị vướng mắc bởi những tư tưởng hoặc quan niệm của đời sống thực. Chẳng hạn, con người thì người ta còn phân biệt tầng lớp nọ, tầng lớp kia; giai cấp nọ, giai cấp kia; dân tộc nọ, dân tộc kia… nhưng đã vẽ khoả thân là không để mình vướng mắc những điều đó. Khi chỉ còn vẻ đẹp nguyên thuỷ thì con người ai cũng như ai.

Tất nhiên, tôi cũng phải thừa nhận rằng, càng về sau này, mình vẽ mảng đề tài này có sự đằm chín, phóng khoáng và tinh tế hơn. Tính đến thời điểm hiện tại, tôi đã vẽ được khoảng một nghìn bức tranh vẻ đẹp nguyên thuỷ. Tranh vẻ đẹp nguyên thuỷ không phải là nhiều nhất trong gia tài nghệ thuật của tôi nhưng cũng là mảng tôi yêu thích và có nhiều cảm hứng.

Bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào chất chứa những thông điệp riêng của tác giả. Bà có thường gửi gắm quan điểm của mình vào các tác phẩm?

Mỗi khi đặt bút vẽ, tôi thường mang tâm thái hồn nhiên và thoải mái nhất. Tôi ít khi đặt những suy tư hoặc cảm xúc nặng nề vào tác phẩm. Tranh vẽ vẻ đẹp nguyên thuỷ của tôi cũng thế, tôi thường nghiêng về đời sống vui tươi, hạnh phúc và niềm yêu đời.

Những số phận, thân phận, bi kịch hoặc cái gì sâu sắc quá tôi cũng không thích. Đặc biệt, tôi hay vẽ vẻ đẹp của những người lao động hoặc vẻ đẹp của người phụ nữ bình dị chứ không có các cô tiểu thư khuê các yểu điệu.

Tức là tôi nhìn thấy vẻ đẹp nguyên thuỷ đó trong góc nhìn đời thường nhất. Có lẽ vì thế mà đa phần các tác phẩm tôi thể hiện thường mang vẻ đẹp nhẹ nhàng, tự nhiên và bình dị nhất.

Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ” - 3


Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ” - 4


Những tác phẩm vẽ vẻ đẹp nguyên thuỷ của người phụ nữ của họa sỹ Kim Thái thường có những nét khác biệt.

Có chuyên gia nhận xét rằng, nhìn tranh nude của bà người ta nhận ra ngay bởi bầu ngực của người phụ nữ được thể hiện một cách rất đặc biệt. Bà nói sao về điều này?

Bộ ngực hay bầu vú của người phụ nữ chính là bộ phận để nuôi sống con người. Cho nên, phần ngực tôi thường vẽ có tính biểu hiện hơn so với những bộ phận khác.

Tại sao lâu lắm rồi bà không tổ chức triển lãm?

Trước đây, lúc chồng tôi là nhà điêu khắc Lê Công Thành còn sống thì tôi muốn tổ chức triển lãm để ông ấy được vui. Từ ngày ông ấy rời cõi tạm, tôi cũng không nghĩ nhiều đến chuyện ấy nữa. Chắc có một dịp nào đó tôi sẽ triển lãm một số tác phẩm mới nhất.

Cảm ơn bà đã chia sẻ thông tin.

Hà Tùng Long


Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài

TPO - Thông tin về việc tác phẩm của họa sĩ Lê Phổ được bán với giá kỷ lục trong phiên đấu giá tại Pháp khiến nhiều người yêu tranh Việt không khỏi tự hào.


Mới đây, website của nhà đấu giá Aguttes (Pháp) công bố bức tranh “Thiếu nữ bên hoa mẫu đơn - Jeune fille aux pivoines” của danh họa Lê Phổ được bán với giá kỉ lục là gần 33 tỉ đồng tại phiên đấu giá “Họa sĩ châu Á” diễn ra hôm 6/10.

Theo thông tin được đăng tải, “Thiếu nữ bên hoa mẫu đơn” được vẽ bằng mực màu trên lụa, có kích thước 91x71 cm. Giá khởi đầu của tác phẩm này khoảng 500.000 - 800.000 euro, tuy nhiên khi kết thúc phiên đấu giá, con số cuối là 1.164.760 euro (bao gồm cả thuế và phí giao dịch), tương đương 32,6 tỉ đồng.

“Với ‘Thiếu nữ bên hoa mẫu đơn’, Lê Phổ hớp hồn người xem bằng khả năng phóng bút điêu luyện của mình. Độ sâu của màu sắc, khổ lớn và tình trạng bảo quản đáng ngạc nhiên là những điểm rất tích cực cho tác phẩm này...

Qua bàn tay của Lê Phổ, vẻ đẹp của cô gái trẻ trong tranh toát ra sự ngọt ngào, duyên dáng gợi nhớ đến nét tinh xảo trong những bức chân dung về phụ nữ của các họa sĩ vào thế kỷ 16 kết hợp đặc trưng riêng của vùng Viễn Đông”, website của Aguttes nhận định.

Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 1 Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa mâu đơn" của Lê Phổ (Ảnh: Aguttes)

Hồi cuối tháng 5 năm 2019, tại phiên đấu giá “Thế kỷ 20 và Nghệ thuật đương đại” của nhà Christie’s Hong Kong, một bức tranh của Lê Phổ có tên “Nue - Khỏa thân” cũng từng được bán với giá 10,925 triệu HKD (1,391 triệu USD, khoảng 32,5 tỷ đồng). Trước đó, vào năm 2017, tác phẩm có tên “Family Life - Đời sống gia đình” của nam danh họa cũng lập kỷ lục về tranh Việt đấu giá, với mức 1,172 triệu USD.

Được biết phiên đấu giá “Họa sĩ châu Á” bao gồm 30 tác phẩm do một số họa sĩ nổi tiếng tại Việt Nam và Châu Á thời kì đầu thế kỷ 20 như Nguyễn Phan Chân, Lê Phổ, Mai Trung Thứ hay Vũ Cao Đàm vẽ.

Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 2 Tác phẩm “Hai chị em trên ban công” được vẽ trên lụa của Lê Phổ trong phiên đấu giá.
Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 3 Bức tranh “Cô gái trẻ trong vườn hoa - Young Girls in a Flower Garden” của Lê Phổ.
Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 4  
Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 5 Hai tác phẩm của Tác phẩm của Mai Trung Thứ trong phiên đấu giá.
Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 6 Tác phẩm của Nguyễn Phan Chánh.

Theo Aguttes


Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude

TPO - Doãn Hoàng Lâm là “con nhà nòi”. Cha anh là đạo diễn nổi tiếng Doãn Hoàng Giang, mẹ anh, Nguyệt Ánh, nữ diễn viên sở hữu nhan sắc xinh đẹp của thập niên 70. Nhưng Doãn Hoàng Lâm chưa bao giờ “dựa hơi” gia đình. Anh đi con đường của riêng mình. Doãn Hoàng Lâm là một họa sỹ chuyên nghiệp, được biết đến nhiều với những bức tranh đàn bà trong trạng thái “nguyên thủy”.


Tháng 9 vừa qua, trong triển lãm nhóm có tên “Toan” cùng với Tào Linh, Nguyễn Văn Chung, anh đã khoe 15 bức tranh chỉ vẽ đàn bà. Phải chăng trong mùa dịch anh muốn “cứu rỗi” thế giới bằng vẻ đẹp của chị em?

Doãn Hoàng Lâm: Trong số 15 bức tranh ở “Toan” thì có 13 bức chỉ vẽ một cô. Đó là cơ duyên để gặp một nỗi ám ảnh trên đời. Người đó gây cho tôi cảm xúc để làm việc. Trong tranh biểu hiện, cảm xúc là của chính tác giả, chứ không nhất thiết nhân vật trong tranh phải ghê gớm thế. Vấn đề là họ mang lại cảm xúc cho người nghệ sỹ thật ghê gớm. Đó là cơn cớ. Họa sỹ biểu hiện cần cảm xúc để làm việc, mà cảm xúc không bịa được. Thí dụ, họa sỹ vẽ phong cảnh nông thôn nếu xuất phát từ nông dân thật sự, có đi chăn trâu, cắt cỏ sẽ vẽ rất khác. Chứ còn bây giờ bảo tôi vẽ nông thôn thì tôi chỉ vẽ được cái vỏ nông thôn.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 1 Một tác phẩm của Doãn Hoàng Lâm tại triển lãm "Toan" hồi tháng 9 (Ảnh: Internet)

Anh vẽ về phụ nữ nhiều hơn cả trong sự nghiệp cầm cọ, tính đến thời điểm này?

Doãn Hoàng Lâm: Đúng. Tôi vẽ phụ nữ nhiều nhất. Đó là cơ duyên thôi. Chính sự trải nghiệm trong cuộc sống của tôi, khiến tôi có được cơ duyên đó.  Tôi nói rất thật nhưng như đùa: Mọi thứ quan trọng tôi  hiểu biết được là do phụ nữ dạy cho nhiều (cười).

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 2  (Ảnh: Internet)

15 bức tranh vẽ đàn bà trong triển lãm “Toan” vừa qua, với nhiều trạng thái, tư thế, trong đó có cả trạng thái “nguyên thủy”, được anh vẽ vào những thời điểm nào?

Doãn Hoàng Lâm: Tôi vẽ trong cùng một giai đoạn. Bắt đầu từ khoảng đầu năm nay, chừng tháng 2, tháng 3 đến tháng 9, trong khoảng nửa năm.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 3 Trong khoảng nửa năm,  Doãn Hoàng Lâm đã trình làng 15 bức tranh về đàn bà (Ảnh: Đ.N)

Anh bắt đầu cầm cọ từ bao giờ?

Doãn Hoàng Lâm: Tôi học ĐH Mỹ  Thuật, ra trường từ năm 1999. Năm 2000 tôi có triển lãm đầu tiên. Triển lãm đó bắt  nguồn từ  cảm xúc của tôi về đường phố Hà Nội,  về những đứa trẻ ăn xin, về những phận người sống trên hè phố. Khi đang học tôi đã yêu chủ nghĩa biểu hiện mà chủ nghĩa biểu hiện cần một cơn cớ, một cảm xúc mạnh. Những con người vất vưởng đầu đường xó chợ, những kiếp sống nghèo khó… Đời sống của họ quá khốc liệt. Chính sự khốc liệt ấy đánh động rất mạnh đến tôi.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 4 Ngay cả khi đi theo mảng đề tài khác Doãn Hoàng Lâm vẫn không bỏ quên chị em (Ảnh: Đ.N)

Vậy khi nào anh bắt đầu vẽ đàn bà?

Doãn Hoàng Lâm: Tôi vẽ đàn bà cũng song song với những giai đoạn như thế. Tạo hóa ban cho phụ nữ một vẻ đẹp không gì sánh được. Ngay những bài học trong trường mỹ thuật đã vẽ phụ nữ rồi.

Khi nào anh bắt đầu vẽ nude?

Doãn Hoàng Lâm: Thì tôi cũng thích vẻ đẹp nguyên thủy, cũng bị ám ảnh bởi vẻ đẹp nữ tính và bị cuốn hút bởi cái mãnh liệt trong đời sống tinh thần của người phụ nữ nữa.


Doãn Hoàng Lâm: Có, ông cũng thích vẽ nhưng amateur, nghiệp dư, thôi. Ông không được đào tạo về vẽ.

Ngoài đàn bà và nude anh còn vẽ gì khác?

Doãn Hoàng Lâm: Một mảng khác tôi cũng thích là chân dung. Tôi vẽ cả chân dung đàn ông và trẻ con nhưng ngay mảng này tôi cũng thích vẽ phụ nữ nhất. Phần lớn tôi vẽ chân dung phụ nữ .

Phụ nữ trong tranh anh ngày xưa khác gì so với phụ nữ trong tranh anh hiện tại?
Doãn Hoàng Lâm: Thay đổi nhiều chứ. Những ai xem tranh tôi cách đây 20 năm sẽ nhận ra. Nhưng có cái chung: Chủ nghĩa biểu hiện vẫn rất mạnh mẽ. Có những bức ngày xưa còn mạnh hơn thế này nhiều lần, mạnh khủng khiếp, nhưng tôi cho rằng, cảm xúc hồi ấy có khi là cảm xúc mình bịa, mình nhầm tưởng. Khi biết hơn, lớn hơn thì tôi không cần bịa, cái cụ thể đã quá đủ.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 5 Đàn bà trong tranh Doãn Hoàng Lâm thay đổi theo sự trải nghiệm cảm xúc của tác giả 

Vẽ nude khi thuê người mẫu chuyên nghiệp khác gì so với vẽ nude bằng cảm xúc từ hiện thực đời sống?

Doãn Hoàng Lâm: Nhiều người mẫu cho tôi cảm giác rất dễ chịu, có thể mình sẽ vẽ bức tranh êm ái. Nhưng bạn thấy đó, chỉ có 2 bức trong triển lãm “Toan” tôi vẽ mẫu thật. Còn lại là cảm xúc đời sống. Khác ở chỗ với cảm xúc đời sống tôi không cần trực họa. Tôi muốn vẽ bằng cảm giác nhiều hơn là vẽ một thân thể. Còn nữa, người mẫu chuyên nghiệp thì phải thuê. Vẽ cô mẫu không chuyên nghiệp thì không phải thuê mà đời sống thúc mình phải vẽ (cười). Khi mình có ý tưởng mơ hồ thì thuê người mẫu để lắp vào bố cục. Chuyện đó khác hoàn toàn một người khiến mình bắt mình phải vẽ, không thể không vẽ được.

Anh bán được nhiều tranh nude không?

Doãn Hoàng Lâm: Bây giờ người ta sưu tập tranh khỏa thân cũng nhiều. Tôi biết có nhà sưu tập chỉ sưu tập tranh khỏa thân, không mua bất cứ loại tranh nào khác. Ông ta có khoảng 30 bức của tôi và hàng trăm bức của tác giả khác nữa. Các nhà sưu tập mua tranh trường phái biểu hiện là mua một phần đời sống của tác giả. Họ trải nghiệm chung với tác giả trong tác phẩm đó.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 6 Tranh nude của Doãn Hoàng Lâm hiện tại chủ yếu bán cho khách Việt (Ảnh: Đ.N)

Khách tây hay khách Việt đến với anh nhiều hơn?
Doãn Hoàng Lâm: Cách đây khoảng 15 năm tôi hầu như không bán được bức tranh nào cho người Việt Nam, 100% là người nước ngoài. Bây giờ thì ngược lại, toàn người Việt Nam gõ cửa.

Giá tranh của anh ra sao?
Doãn Hoàng Lâm: Giá tranh chẳng do tôi quyết định. Nó là quy luật cung cầu. Tôi không phải họa sỹ đắt hàng nếu đắt hàng hơn có thể giá cao hơn. 

Vì sao anh nghĩ mình không phải họa sỹ đắt hàng? 

Doãn Hoàng Lâm: Tôi chịu đó. Vì do người mua quyết định. Nhưng có thể tranh của tôi xa rời hoàn toàn tính trang trí. Chúng không thể trang trí nhà cửa được. Tranh của tôi có thể treo ở bất cứ đâu nhưng không nhằm mục đích trang trí. Thí dụ một người sưu tập có thể treo tranh của tôi giữa phòng khách, nếu họ thích. Đó là họ đồng cảm với tôi, muốn có một phần đời sống của tôi trong nhà của họ. Họ nhìn vào đó, cảm thấy được chia sẻ, chứ không phải trang trí nhà.
 

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 7 Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm tại triển lãm "Toan" (Ảnh: Đ.N)

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc

Ngày 09/10 tới đây, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sẽ diễn ra triển “Ngày rộng”. Triển lãm góp thêm một món quà ý nghĩa dành tặng mảnh đất Thủ đô nhân dịp kỷ niệm 1010 năm Thăng Long - Hà Nội.

Đây là triển lãm tập hợp các tác phẩm đặc sắc của 8 họa sĩ đến từ nhiều vùng miền trong cả nước gồm: Phùng Văn Tuệ, Nguyễn Lê Anh, Nguyễn Quang Hoan, Phạm Hoàng Hà, Phạm Thị Hồng Sâm, Trần Cường, Phạm Đức Trọng và Phạm Văn Khải.

Mỗi người một phong cách, một cá tính sáng tạo riêng... Tuy nhiên, hơn 50 tác phẩm hội họa đa dạng ở đề tài, phong phú trong cách thể hiện sẽ mang đến cho người xem nhiều cảm xúc mới.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 1


Phạm Thị Hồng Sâm bên tác phẩm mang phong cách trừu tượng do chính mình sáng tác.

Nếu như Họa sĩ Nguyễn Lê Anh và Phạm Đức Trọng đắm đuối với phong cảnh, chân dung, tĩnh vật... thì họa sĩ Trần Cường với lối vẽ biểu hiện sẽ mang đến cho người xem những tác phẩm thú vị thể hiện bản ngã của con người.

Nếu Phùng Văn Tuệ diễn tả tinh tế những chuyển động của cuộc sống bằng ngôn ngữ biểu hiện trừu tượng thì Phạm Thị Hồng Sâm lại cuốn người xem vào sự chuyển động của ánh sáng qua sự biến ảo của không gian.

Để rồi hòa vào đó là một Phạm Hoàng Hà giao ca cùng phong cảnh nông thôn Việt Nam, một Nguyễn Quang Hoan đắm đuối với khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống làng quê bình dị và một Phạm Khải ấn tượng với cầu Long Biên lịch sử cùng nhịp sống mới nơi thôn quê … Tất cả tạo nên một bản hòa ca của nghệ thuật và sức trẻ.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 2


Tranh của Phạm Đức Trọng.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 3


Tranh của Phạm Hoàng Hà.

Triển lãm “Ngày rộng”, ngoài việc kết nối những tâm hồn đồng điệu trong nghệ thuật thì còn chuyển tải một thông điệp đến với người xem đó là “Đôi khi vì công việc, vì cuộc sống vội vàng, ồn ã, mà chúng ta quên mất đâu đó trong cuộc sống này, vẫn còn biết bao điều tốt đẹp. Hãy lắng lại, sống chậm rãi để thưởng thức nghệ thuật, thưởng thức những khoảnh khắc ngọt ngào của cuộc sống, để thấy trân quý và yêu thương nhau hơn”.

“Chúng tôi đặt tên “Ngày rộng” cho triển lãm này, vừa là nhắc nhở chính mình, vừa là để gửi đến công chúng một thông điệp: “Chúng ta nên tạo ra cho mình những ngày rộng, tháng dài, sống bình tĩnh, chậm lại một chút để có thể thúc sự cảm nhận được vẻ đẹp ẩn sâu trong những tác phẩm nghệ thuật và cuộc đời này”, đại diện nhóm hoạ sĩ chia sẻ.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 4


Tranh của Nguyễn Lê Anh.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 5


"Với đề tài thiên nhiên, tôi muốn lột tả về tình yêu quê hương đất nước, yêu cảnh đẹp nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Nó gắn liền với tuổi thơ, với cội nguồn, với bao kỷ niệm khó quên", Phạm Quang Hoan chia sẻ.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 6


"Một phần cuộc sống tôi vẽ chính bản thân mình" - Phạm Văn Tuệ bộc bạch.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 7


"Tôi tự chọn cho mình hình ảnh là một người kể chuyện bằng tranh, tôi tìm kiếm những mẩu chuyện", Nguyễn Lê Anh tâm sự.

Hà Tùng Long



Thì thầm với gốm cùng họa sĩ Ngô Trọng Văn – Nguyễn Thị Dũng

Vợ chồng nghệ sĩ Ngô Trọng Văn – Nguyễn Thị Dũng - Ảnh: NVCC
Ngày 12.9 tới đây, tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM sẽ diễn ra triển lãm "Lời thì thầm" của hai vợ chồng họa sĩ Ngô Trọng Văn và Nguyễn Thị Dũng với hàng trăm tác phẩm làm từ gốm.

Triển lãm sẽ kéo dài từ Thứ 7 ngày 12.9 đến hết ngày 21.9, mở cửa từ 8 giờ đến 17 giờ hàng ngày, từ thứ 2 đến Chủ nhật.

Dưới đây là vài nét phác họa con đường đi đến với nghệ thuật gốm cặp vợ chồng nghệ sĩ này:

Ngô Trọng Văn – Con đường gập ghềnh với gốm

Hoạ sĩ Ngô Trọng Văn mang tới triển lãm bộ tác phẩm “Nguyệt dạ” gồm 8 tác phẩm với nhiều kích cỡ khác nhau.

“Với tôi, người phụ nữ đẹp nhất ở độ trăng tròn. Nguyệt dạ đại diện cho tính nữ, cho cái đẹp tròn trịa, dịu dàng, mềm mại, nhưng đặc biệt là luôn ẩn chứa những câu chuyện đầy tính thân phận, nỗi cô đơn, tính kiên nhẫn, sự hy sinh lặng thầm. Phụ nữ như bông hoa quỳnh không dễ phô diễn, lúc nở đẹp nhất, toả sáng nhất lại rơi vào những thời khắc ngặt nghèo hoặc những bối cảnh, không gian éo le, vẻ đẹp rực rỡ ấy chưa chắc đã được người đời chiêm ngắm. Nhưng cũng chính vì giá trị lặng thầm mà vô cùng quyến rũ đó, tính nữ luôn giữ một quyền lực mềm khiến cho một nửa còn lại của thế giới không thể làm ngơ” – Ngô Trọng Văn tự sự.

8 tác phẩm trong bộ “Nguyệt dạ” là sự thể hiện ý niệm hoàn chỉnh về tính nữ trong quan niệm của Ngô Trọng Văn, có những khoảnh khắc thanh xuân tươi trẻ, có cả thời khắc người phụ nữ mang bầu.

Mặc dù ý niệm về tính nữ được thể hiện đậm nét trong “Nguyệt dạ” nhưng với bộ tác phẩm này, Ngô Trọng Văn đã tìm được một cách thể hiện khác biệt, mới mẻ về ngôn ngữ hình khối chứ không phải chỉ là những vuốt ve mềm mại dáng nét phụ nữ thông thường.

Ngô Trọng Văn xuất thân đã là sinh viên theo học ngành gốm, nhưng đi làm gốm cực quá, cuộc sống với gánh lo cơm áo gạo tiền cuốn trôi khiến Văn bỏ gốm đi học thiết kế thời trang, mở công ty, rẽ hướng hoạt động.

Nhưng sau mấy năm thử sức trong lĩnh vực khác, bên trong Văn vẫn đau đáu nỗi niềm với ngôn ngữ của hoả biến. Và cuối cùng, anh không thoát được khỏi niềm đam mê với đất, với lửa.

Ngô Trọng Văn bên tác phẩm "Mơ hoa"

Đồng hành trong gia đình nhỏ cùng Ngô Trọng Văn là một hoạ sĩ gắn bó với gốm trên hai mươi năm Nguyễn Thị Dũng. Nguyễn Thị Dũng nổi tiếng là không chịu thất bại, cho dù nghiên cứu quá nhiều và cũng không ít lần bật khóc vì không đón được tác phẩm ra lò.

Thấy vợ miệt mài say sưa, trái tim "rừng rực" lửa gắn bó với hình khối, với những cánh hoa gốm nối nhau nở ra sáng rực sau mỗi mẻ nung, sợi dây rung cảm đã truyền vào sâu thẳm trong Ngô Trọng Văn những cảm xúc thổn thức với gam màu, hình khối, thách thức qua từng mẻ nung đã kéo anh trở lại cùng đam mê thuở trước.

Vậy là Ngô Trọng Văn quyết định quay lại với gốm kể từ năm 2014, hai vợ chồng cùng đầu tư mua lò nung, thuê xưởng, mỗi người mỗi góc miệt mài suy tư với gốm.

“Hạt trời” màu nâu, có màu sắc của hạt cà phê Tây Nguyên, có hình dáng của tượng gỗ Tây Nguyên, nặng khoảng 100 kg, kích cỡ gần bằng người thật, sức một người không thể bê nổi.

Bức tượng gốm sần sùi khắc khổ mà lúc nung xong nhiều thợ gốm cứ lắc đầu tưởng là sản phẩm hỏng, họ không biết rằng Ngô Trọng Văn đã tính toán hết cho những lớp đất sần sùi sau nung, vỡ toác ra màu nâu của đất, được hoạ sĩ mang về kỳ cạch hoàn chỉnh tác phẩm ở công đoạn mài đi nhiều khúc quanh, nhiều đồi núi, thung lũng, với rất nhiều “địa hình” hiểm trở.

“Cuộc sống là vậy. “Hạt trời” được gieo xuống, thì cho dù đất đai màu mỡ hay khô cằn đá sỏi hạt cũng phải nảy mầm, phải vươn lên, đón ánh sáng, chiến đấu với tất cả các thế lực xung quanh để sinh tồn” – Ngô Trọng Văn chia sẻ.

Ngoài ra, Ngô Trọng Văn còn mang đến triển lãm những tác phẩm khác như “Nữ hoàng”, “Hề xiếc” (Bộ 2 tác phẩm)…,

Ngô Trọng Văn chia sẻ: “Khá đáng tiếc là hôm đi xin phép triển lãm thì quên không gửi ảnh tác phẩm nên bị bỏ lỡ mất tác phẩm “Nhịp trầm” không mang đến giới thiệu với công chúng yêu nghệ thuật”.

Khác với “Nguyệt dạ” tôn vinh tính nữ, “Nhịp trầm” là một tác phẩm đầy tính tự sự nam tính, giống như cách nghĩ, lối ứng xử, đường đi nước bước đầy trầm tĩnh của một người đàn ông.

Mỗi tác phẩm gốm đều phải trải qua quy trình từ lúc nặn, chờ khô, đem nung qua lửa, mất vài tháng liền.

“Có sáng tác sử dụng men sâu nhiều màu, khi ra lò, tác phẩm phồng lên tùm lum, nổ như bọt xà phòng, phải thêm công đoạn mài sẽ ra hiệu ứng khác. Thậm chí mài xong, có thể nung lại lần 2, rồi lại mài tiếp. Như bộ 8 tác phẩm “Nguyệt dạ” là nung tới 3 lần. Để hoàn thiện một tác phẩm, phải mất tới vài tháng” – Ngô Trọng Văn chia sẻ.

Ngô Trọng Văn - Nguyễn Thị Dũng bên tác phẩm "Mộng dưới hoa"

Nói về 4 chiếc bình gốm cỡ cực lớn, trong đó có 2 chiếc sáng tác chung với vợ, Ngô Trọng Văn kể: “Lần đó đi trại sáng tác, hai vợ chồng đăng ký làm bình cỡ lớn vì chỉ có ở không gian đó mới có đủ điều kiện và có lò để nung tác phẩm cỡ lớn như vậy. Nhưng đáng tiếc là chiếc bình đầu tiên nung xong vỡ vụn thành hàng trăm mảnh nhỏ. Đứng nhìn đống mảnh vỡ, vừa tiếc, vừa nản. Nhưng cuối cùng, hai vợ chồng cùng quyết chí làm lại. Và để chắc ăn thì làm luôn một cặp. Cả hai lao vào làm điên cuồng để kịp thời gian. Cuối cùng, thật may mắn là thành phẩm tuyệt đẹp được đón ra lò”.

Cặp bình gốm men cỡ lớn (112x55) là công sức sáng tạo chung của cả hai vợ chồng họa sĩ Ngô Trọng Văn – Nguyễn Thị Dũng được đặt tên là “Mộng dưới hoa” và “Mơ hoa”.

Nguyễn Thị Dũng – Niềm đam mê rực cháy

Ngay trong những ngày đầu tiên của năm mới 2020, hoạ sĩ Nguyễn Thị Dũng và Ngô Trọng Văn đã cùng tham gia triển lãm “Gốm Sài Gòn” 2020 (từ ngày 4.1 đến hết ngày 15.1.2020) với hàng trăm tác phẩm khoe vẻ độc đáo ngôn ngữ của hỏa biến cùng với 5 hoạ sĩ khác đến từ nhiều vùng miền.

Nguyễn Thị Dũng mang tới triển lãm hồi đầu năm khoảng 20 tác phẩm, trong đó serie Mầm xanh đã được Dũng sáng tác trong các năm 2017-2018; serie chủ đề Những đóa hoa nẩy mầm (hoa Cúc, Cúc mẫu tử, Mẫu đơn…) được sáng tác năm 2019 và chủ đề hoa trái của năm 2020 gồm có Hoa và trái bưởi, Hoa và trái chuối, Mùa xuân

Với triển lãm “Lời thì thầm” lần này (từ 12.9 đến hết ngày 21.9.2020), Nguyễn Thị Dũng mang tới thêm vài chục bộ tác phẩm gốm, mỗi bộ là hàng chục tác phẩm khác nhau.

Thế mạnh men, màu và tính sáng tạo liên tục đã khiến Nguyễn Thị Dũng nổi bật trong việc đưa các sản phẩm gốm thông dụng trở thành những tác phẩm nghệ thuật. Đồng thời, tác phẩm nghệ thuật gốm của Dũng luôn mang tính hữu dụng thực tế, phải sử dụng được chứ không phải chỉ để trưng bày.

Nguyễn Thị Dũng bên tác phẩm Bình mẫu đơn tím

Chẳng hạn như những chiếc bình trà, được Nguyễn Thị Dũng đánh giá là khó nhất trong các kỹ thuật gốm, vì phải nhanh, nhất quán, không được bỏ qua các “giai đoạn vàng” trong chế tác. Màu sắc của ly, bình trà, tống, khay… phải thống nhất. Đã vậy, hoạ sĩ muốn làm bình trà phải có cảm xúc rất nhiều đủ thăng hoa để gửi gắm vào từng bộ tác phẩm.

Khó vậy, nhưng Nguyễn Thị Dũng đã tự nâng mức thách thức bản thân lên rất cao. Chỉ trong một năm, Dũng làm tới vài trăm bộ bình trà. Triển lãm “Lời thì thầm” lần này, Dũng sẽ giới thiệu khoảng 10 bộ.

Đặc biệt, chiếc bình trà kiểu cổ không cho nước vào từ bên trên mà lật đáy bình lên để châm nước đã được Nguyễn Thị Dũng nghiên cứu, chế tác thành công.

Nguyễn Thị Dũng miệt mài nặn từng cánh hoa

Hoạ sĩ kể: “Hồi đầu những người chơi đồ cổ cho Dũng xem ảnh, nghe họ tả hoài nhưng vẫn không hiểu phải làm thế nào. Lúc đầu chế tác thử, chỉ có cái quai ấm thôi cũng phải cắt gọt 2 ngày mới xong, nghĩ cực quá mà đến lúc vào lò nung xong, thành phẩm nhìn thì đẹp mắt nhưng không xài được vì cái vòi nó bị bít. Dù đã hỏng đến vài lần nhưng tôi không nản, mà ngưng lại để suy nghĩ. Tôi không chịu thua. Nghĩ cho chín rồi mới làm lại, và những lần gần đây đã thành công rồi. Bình châm trà mẫu xưa độc đáo hoàn toàn có công dụng thực sự”.

Quá trình hỏa biến mang lại điểm độc đáo của tác phẩm gốm và tác động đến cảm xúc của người nghệ sĩ...

“Tính tôi, chỉ thích làm đồ khó. Nhất là màu và men, người khác thì lúc được lúc không nhưng tôi có thể kiểm soát màu rất tốt. Phải để tác phẩm trong một phòng riêng, chờ khô tự nhiên trong 2-3 tháng, đạt đủ độ ẩm mới bắt đầu làm men. Làm bộ tác phẩm hoặc hai bộ thì phải đợi đủ bộ mới chuyển đi nung. Tôi thường làm rất nhiều màu men, lúc dày lúc mỏng, có độ đậm nhạt khác nhau, nếu nung các mẻ khác nhau thì màu men sẽ không đều, nên có những bộ tác phẩm phải chờ nhau từ đầu năm đến cuối năm mới được chuyển đi nung” – Họa sĩ Nguyễn Thị Dũng cho biết.

Nguyễn Thị Dũng - Ngô Trọng Văn tại lò gốm

Họa sĩ cho biết cảm giác rất thú vị mỗi lần đốt lò và ra lò gốm, nên dù rất mệt nhưng vẫn bị đam mê gốm kích thích khám phá, trải nghiệm.

“Nhiều bộ tác phẩm có hàng ngàn cánh hoa, hai tác phẩm là 2.000 cánh hoa, tôi phải làm việc liên tục cả ngày cả tối, kéo dài 6 tháng mới xong một bộ tác phẩm, nắn từng cánh, rồi đập, xong 1.000 cánh hoa muốn… rụng tay luôn. Làm xong một bộ tác phẩm là bị trật khớp, phải nghỉ đến cả tháng cái tay mới có thể hoạt động trở lại” – Nguyễn Thị Dũng kể.

Không phải lúc nào cũng có thể thành công. “Hồi hai vợ chồng quyết định cùng làm chung chiếc bình lớn đầu tiên, mất tới nửa tháng sáng tác, đến lúc vào lò nung, nó bể thành hàng trăm mảnh luôn, trời ơi, buồn gì mà buồn đến não cả ruột. Nản mất … 1 ngày. Đến chiều lại quyết định làm lại. Lần này thì làm luôn hai cái. Mà tôi lạ lắm, hễ cứ thấy đất là … mê tơi luôn, lao vào làm không cần ăn, khỏi cần ngủ, quên mất tiêu chuyện cái bình trước đó mới bể tanh bành. Đó chính là bộ bình “Mơ hoa” và “Mộng dưới hoa” – Nguyễn Thị Dũng trải lòng.

Nói về những tác phẩm sáng tác chung, Nguyễn Thị Dũng kể: “Anh Văn tạo hình và bố cục còn tôi thì làm bông, hoa và màu men. Khó khăn nhất với một tác phẩm làm chung là hai người phải đồng thuận được trong nội dung câu chuyện chuyển tải vào tác phẩm. Thật vui vì “đứa con chung” của hai vợ chồng đã lấy được những điểm mạnh nhất từ cả hai người”.

Tiểu Vân




Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật

Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật - 1


Bức họa “Head of a Bearded Man” (Đầu người đàn ông nuôi râu) vốn từ lâu bị xem là tranh giả, không phải do danh họa Rembrandt (1606-1669) thực hiện

Bức họa “Head of a Bearded Man” (Đầu người đàn ông nuôi râu) vốn từ lâu bị xem là tranh giả, không phải do danh họa Rembrandt (1606-1669) thực hiện.

Nhưng một nghiên cứu gần đây lại nhận thấy rằng khung gỗ nguyên bản của bức tranh này trùng khớp với chất liệu khung gỗ được sử dụng cho bức “Andromeda Chained to the Rocks” (Nàng Andromeda bị xích vào tảng đá) do danh họa Rembrandt thực hiện.

Bức “Đầu người đàn ông nuôi râu” là một bức tranh cỡ nhỏ khắc họa một người đàn ông lớn tuổi với vẻ ngoài buồn bã, mệt mỏi. Vì vốn bị xem là tranh giả, “nhái” theo phong cách của Rembrandt, nên tranh chỉ được treo ở tầng hầm của viện bảo tàng Ashmolean nằm ở thành phố Oxford, hạt Oxfordshire, Anh.

Nhưng sau khi có phát hiện mới về chất liệu khung gỗ, người ta có thể xác nhận rằng tác phẩm này quả thực đã được thực hiện tại xưởng vẽ của vị danh họa và có thể còn do chính vị danh họa thực hiện.

Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật - 2


Bảo tàng Ashmolean

Vì vậy, bảo tàng Ashmolean lại một lần nữa đem tranh ra trưng bày. Bức vẽ được thực hiện vào khoảng năm 1630 bỗng được giới hội họa quan tâm vì hành trình “long đong, lận đận”, biến đổi... thật giả khó lường.

Bức họa từng được tặng cho bảo tàng vào năm 1951, khi tranh được chuyển tới bảo tàng, tác phẩm được đề là “tranh của Rembrandt”. Nhưng tới năm 1981, bức tranh bị phủ nhận và từ đây bị xem là tranh giả, sau khi một nhóm chuyên gia chuyên nghiên cứu về tranh Rembrandt kết luận như vậy.

Đại diện bảo tàng Ashmolean - bà An Van Camp nhớ lại: “Họ xem tranh và kết luận đây không phải tranh của Rembrandt, rằng đây là tranh nhái theo phong cách của Rembrandt và có thể đã được thực hiện ở cuối thế kỷ 17, không đúng với quãng thời gian lúc sinh thời của vị danh họa”.

Ngay lập tức tranh bị chuyển xuống tầng hầm của bảo tàng. Bà An Van Camp bắt đầu làm việc tại bảo tàng Ashmolean từ năm 2015 và có để tâm tới bức tranh nhỏ này, “một bức tranh mà không ai muốn nói về nó bởi đó là tranh nhái theo phong cách Rembrandt”.

Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật - 3


Danh họa Rembrandt trong một bức chân dung tự họa

Gần đây, bảo tàng có tiến hành trưng bày tranh về sự nghiệp hội họa thời trẻ của vị danh họa. Bức họa nhỏ càng khiến bà An Van Camp nghĩ đến, bởi linh cảm khiến bà tin rằng đây không phải tranh giả: “Với tôi, đó chính là phong cách của Rembrandt.

“Chính vị danh họa đã thực hiện những bức tranh nhỏ khắc họa chân dung đặc tả gương mặt của những người đàn ông lớn tuổi với vẻ buồn bã, cô đơn, trầm ngâm. Đó chính là phong cách điển hình của Rembrandt khi ông sinh sống ở thành phố Leiden (Hà Lan) vào khoảng năm 1630”.

Sau đó, bức họa đã được ông Peter Klein phân tích lại, ông Klein là một chuyên gia hàng đầu thế giới về tính toán tuổi gỗ, xác định chất gỗ.

Sau quá trình kiểm định, ông Klein khẳng định rằng khung gỗ của bức “Đầu người đàn ông nuôi râu” chính là chất liệu gỗ thuộc cùng một cây vốn được sử dụng để làm khung cho bức “Andromeda Chained to the Rocks” (một tác phẩm của Rembrandt, hiện đang trưng bày tại bảo tàng Mauritshuis, thành phố Den Haag, Hà Lan).

Theo ông Klein, khung gỗ của cả hai bức tranh đều thuộc về cùng một cây sồi từng được đốn hạ ở vùng Baltic trong khoảng thời gian từ năm 1618-1628. “Sau quãng thời gian nghiên cứu chất gỗ, chúng tôi có thể khẳng định bức chân dung ‘Đầu người đàn ông nuôi râu’ được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1620-1630”, ông Klein kết luận.

Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật - 4


Bức “Andromeda Chained to the Rocks” (Nàng Andromeda bị xích vào tảng đá) 

Các hoạt động nghiên cứu đều cho thấy bức tranh này quả thực đã được thực hiện tại xưởng họa của Rembrandt, những nghiên cứu tiếp theo sẽ được tiến hành tới đây để xác định có phải đích thân vị danh họa đã thực hiện bức vẽ này hay không. Dù vậy, ngay lập tức, bức tranh đã được treo ở vị trí mới lý tưởng hơn so với vị trí trước đó ở... tầng hầm.

Bích Ngọc
Theo The Guardian





Thứ sáu, 28/08/2020 - 07:53

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật

Trong lịch sử hội họa, đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng từng trở thành “đối tượng bị hại” trong những vụ tấn công gây bàng hoàng, sửng sốt.

Mona Lisa (Nàng Mona Lisa)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 1


Bức "Mona Lisa"

Bức “Mona Lisa” được thực hiện bởi danh họa Leonardo da Vinci đã từng phải trải qua những cuộc tấn công lớn nhỏ và hiện giờ tác phẩm đã được bảo vệ rất cẩn thận.

Hồi năm 1911, tác phẩm bị đánh cắp khỏi bảo tàng Louvre bởi một nhân viên từng làm việc cho bảo tàng, người này có tên Vincenzo Peruggia, Vincenzo từng tham gia vào việc dựng khung kính bảo vệ cho tác phẩm.

Anh ta tiến hành vụ trộm bằng cách trốn trong một phòng chứa đồ vệ sinh, khi bảo tàng đóng cửa lúc cuối ngày, Vincenzo lẻn ra đánh cắp bức tranh và giấu tranh bên dưới chiếc áo khoác rộng trong quá trình tẩu thoát. Vincenzo Peruggia vốn là một người Ý, anh ta mong muốn đưa tác phẩm về với các bảo tàng, triển lãm ở Ý.

Người này giữ tranh trong căn hộ của anh ta suốt hai năm rồi bị bắt trong một lần bán tranh cho giám đốc của một triển lãm ở Florence, Ý. Tranh được trưng bày tại triển lãm này trong hai tuần rồi lên đường trở về bảo tàng Louvre (Pháp) vào đầu năm 1914. Vincenzo Peruggia bị phạt 6 tháng tù giam.

Trong thời kỳ diễn ra Thế chiến II, tranh được đưa đi “sơ tán”. Trải qua những biến động đầu tiên này, bức “Mona Lisa” vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng tới năm 1956, một thanh niên có tên Ugo Ungaza Villegas đã ném một hòn đá về phía bức tranh khi tham quan bảo tàng Louvre, lực ném quá mạnh khiến lớp kính bảo vệ bị vỡ và những mảnh vỡ văng vào tranh, khiến một mẩu sơn của tranh bị bong ra, đó là ở chỗ cùi trỏ bên trái của nàng Mona Lisa.

Lý do khiến bức tranh được lắp khung kính từ hồi thập niên 1950 là bởi trước đó, có một người đàn ông tuyên bố đã đem lòng yêu bức tranh và định dùng dao để... cắt tranh đem đi. Ngay sau đó, kính chống đạn được lắp trước bức tranh.

Năm 1974, khi tranh được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Tokyo (Nhật Bản), một người phụ nữ đã phun sơn đỏ lên lớp kính bảo vệ tranh.

Năm 2009, một phụ nữ đã ném một chiếc cốc mua tại bảo tàng Louvre về phía bức tranh, chiếc cốc va vào lớp kính bảo vệ rồi vỡ tan.

The Night Watch (Phiên tuần đêm)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 2


Bức "The Night Watch"

Bức tranh từng được phủ một lớp sơn bóng tối màu, khiến tác phẩm đưa lại cảm nhận về cảnh tượng buổi đêm, dẫn tới cái tên “Phiên tuần đêm” được giới hội họa quốc tế quen dùng bấy lâu nay, dù thoạt tiên ban đầu, danh họa Rembrandt đặt một cái tên khác rất dài cho tác phẩm của mình.

Hồi năm 1911, một người thợ đóng giày thất nghiệp đã định dùng dao rạch tác phẩm để thể hiện nỗi bất mãn, chán chường của mình. Nhưng chính lớp phủ bóng khá dày của tác phẩm đã cứu nguy cho bức họa, những nhát dao đã không thể rạch xuyên qua lớp phủ bóng ấy.

Năm 1975, bức họa lại bị tấn công bằng dao bởi một người đàn ông thất nghiệp có tên Wilhelmus de Rijk, nhưng lần này, lực đâm quá mạnh nên để lại những vết cắt lớn trên tranh.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 3


Bức "The Night Watch" sau khi bị tấn công

Người đàn ông này vốn “không bình thường”, vì vậy, sau khi gây ra vụ việc, anh ta không phải chịu án phạt, mà được đưa đi điều trị tâm thần rồi tự sát vào năm 1976. Về phần bức tranh “Phiên tuần đêm”, người ta cần tới 4 năm mới có thể phục chế xong xuôi, nhưng tác phẩm không thể được như xưa, vết dao cắt vẫn có thể nhận ra nếu nhìn sát vào bề mặt tranh.

Năm 1990, một bệnh nhân tâm thần bỏ trốn lại tạt axit lên tranh bằng một chai xịt mà y cất giấu trong người. Nhân viên bảo vệ đã nhanh chóng can thiệp và xịt nước lên tranh khiến dung dịch axit bị pha loãng, chỉ tác động được tới lớp phủ bóng của tranh và mưa kịp ngấm sâu xuống các lớp màu bên dưới. Sau đó, tranh lại phải trải qua phục chế.

Rokeby Venus (Thần Vệ Nữ ở Rokeby)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 4


Bức "Rokeby Venus"

Vào năm 1914, một người phụ nữ có tên Mary Richardson đã bước vào Bảo tàng Quốc gia London (Anh) để tấn công bức họa nổi tiếng của danh họa Diego Velázquez bằng một con dao... thái thịt. Richardson đã để lại 7 vết rạch lớn trên tranh, dù vậy, về sau, may mắn là các vết rạch này đều được sửa chữa thành công.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 5


Bức "Rokeby Venus" sau khi bị tấn công

Richardson chịu án phạt tù 6 tháng. Về sau, trong một cuộc phỏng vấn hồi năm 1952, người phụ nữ này từng nói rằng bà ta không thích “cách những người đàn ông nhìn hau háu tác phẩm này mỗi khi đến thăm bảo tàng”.

Guernica

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 6


Bức "Guernica"

Năm 1974, một người đàn ông có tên Tony Shafrazi đã phun sơn đỏ lên bức tranh được thực hiện bởi danh họa Pablo Picasso, rất may sau đó, bức họa đã được phục chế thành công.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 7

Bức "Guernica" sau khi bị tấn công

Danaë

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 8


Bức "Danaë"

Hồi năm 1985, tác phẩm của danh họa Rembrandt đã bị tấn công bởi một người đàn ông có tên Bronius Maigys, người này về sau được xác định là có tâm thần bất ổn. Y đã hắt axit lên bề mặt tranh rồi dùng dao rạch hai nhát. Toàn bộ khoảng giữa của bức tranh liền bị bay màu rất mạnh, tác động nặng nề tới dung mạo nàng Danaë trong tranh.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 9


Bức "Danaë" sau khi bị tấn công

Hoạt động phục chế được bắt đầu tiến hành ngay trong ngày bức tranh bị tấn công và diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 1985-1997 mới có thể đưa bức tranh gần trở về với nguyên bản ban đầu.

Pieta (Đức Mẹ sầu bi)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 10


Tác phẩm điêu khắc "Pieta"

Tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của nghệ sĩ Michelangelo đã từng phải trải qua nhiều lần phục chế. Lần đầu, 4 ngón tay trên bàn tay trái của tượng Đức Mẹ bị gãy khi tác phẩm được di chuyển vị trí. Sự cố đã được sửa chữa, phục chế hồi năm 1736.

Vào năm 1972, một người đàn ông bị tâm thần có tên Laszlo Toth đã bước vào Vương Cung Thánh Đường Thánh Peter ở Vatican rồi dùng búa tấn công tác phẩm điêu khắc. Với 15 nhát búa, kẻ này đã làm gãy cánh tay của tượng Đức Mẹ, làm vỡ chóp mũi, sứt mẻ mi mắt. Những du khách có mặt ngay lập tức chạy lại để khống chế Toth.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 11


Tác phẩm trước và sau khi được phục chế

Một số du khách khác đã nhặt lấy những mẩu đá hoa cương rơi xuống sàn, về sau, có một số người đem trả lại, nhưng rất nhiều người trong số này không làm được như vậy. Nhóm phục chế đã phải cắt đá ở phía sau lưng tượng để dùng cho hoạt động phục chế. Giờ đây, tượng cũng được bảo vệ bởi kính chống đạn.

The Virgin and Child with St Anne and St John the Baptist (Đức mẹ Đồng trinh và Chúa hài đồng cùng Thánh Anne và Thánh John)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 12


Bức "Đức mẹ Đồng trinh và Chúa hài đồng cùng Thánh Anne và Thánh John"

Tác phẩm của danh họa Leonardo da Vinci từng bị một người đàn ông tâm thần bất ổn có tên Robert Cambridge tấn công bằng súng hồi năm 1987. Người đàn ông này đã dùng súng ngắn bắn lớp kính bảo vệ khiến lớp kính này vỡ vụn, các mảnh vỡ bắn vào bề mặt tranh đã gây nên những vết rách. Dù vậy, sau đó, hoạt động phục chế đã giúp đưa bức tranh trở về trạng thái ban đầu.

Black On Maroon (Màu đen trên màu nâu)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 13


Bức "Black On Maroon"

Ngày 7/10/2012, tác phẩm “Black on Maroon” do họa sĩ Mark Rothko thực hiện đã bị tấn công bằng sơn đen. Kẻ tấn công tự cho mình là một nghệ sĩ siêu hiện thực và có quyền thêm thắt vào tác phẩm của họa sĩ khác để đưa lại thông điệp mới. Người này có tên Wlodzimierz Umaniec. Y viết tên mình, số 12 và một dòng chữ tuyên bố đây là tác phẩm thuộc một trường phái do y sáng tạo nên.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 14


Những dòng chữ mà Wlodzimierz Umaniec đã viết

Wlodzimierz Umaniec bị phạt hai năm tù giam. Hoạt động phục chế đã mất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc mới đưa lại kết quả như ý. Khi tác phẩm được đem trưng bày trở lại hồi tháng 5/2014, Wlodzimierz Umaniec đã thể hiện sự hối hận và lên tiếng xin lỗi vì những gì đã gây ra.

“Argenteuil Basin with a Single Sailboat” (Vịnh Argenteuil và một con thuyền)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 15


Bức "Vịnh Argenteuil và một con thuyền"

Hồi năm 2012, khi đến thăm Triển lãm Quốc gia Ireland, một người đàn ông có tên Andrew Shannon đã đấm vào bức tranh và gây nên vết rách lớn trên tác phẩm. Người ta đã phải mất 18 tháng để phục chế bức tranh, kể từ đó, tác phẩm được lắp kính bảo vệ.

Dù được phục chế, nhưng vẫn có khoảng 7% lớp sơn của bức tranh nguyên bản bị mất đi sau cú đấm. Shannon sau đó bị phạt 5 năm tù.

Bích Ngọc

Theo Time Out/Daily Art Magazine



Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật

Cuốn hồi ký của người con gái đầu lòng sẽ cho thấy một danh họa Picasso rất khác khi ở trong vai trò của một người cha, khác xa với những tai tiếng của ông trong vị trí một người tình.
Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 1


Danh họa Pablo Picasso (giữa) bên con gái Maya (đứng ngoài cùng bên phải) và nữ diễn viên người Pháp Vera Clouzot trong một bức ảnh chụp hồi năm 1955

Trong ký ức của cô con gái đầu lòng, danh họa Picasso là một người cha rất giàu tình yêu thương và sự trìu mến đối với con, rất khác với hình ảnh mà ông thường được khắc họa trong tình trường.

Khi danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso (1881-1973) đang trong cuộc hôn nhân với người vợ đầu - vũ công ba-lê Olga Khokhlova, thì ông bị hút hồn bởi nàng thơ 17 tuổi tình cờ bắt gặp trên đường phố Paris (Pháp) hồi năm 1927.

Khi ấy, ông hơn nàng thơ Marie-Thérèse Walter 28 tuổi. Walter nhanh chóng trở thành người mẫu xuất hiện trong những bức tranh chân dung gợi cảm của Picasso, giữa họ nảy sinh một cuộc tình và Walter đã sinh cho vị danh họa một cô con gái, trước khi ông có nàng thơ mới tiếp sau đó - Dora Maar, một nữ nhiếp ảnh gia kiêm họa sĩ.

Cô con gái mà Picasso có với Walter được đặt tên là Maya Ruiz-Picasso, hiện giờ người con gái của vị danh họa đã ở tuổi 84. Bà Maya đã kể lại những ký ức của mình về cha trong cuốn hồi ký “Picasso and Maya: Father and Daughter” (Picasso và Maya: Cha và con gái), cuốn sách sẽ được ra mắt vào tháng tới.

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 2


Nàng thơ Marie-Thérèse Walter thời trẻ

Trong cuốn hồi ký, bà Maya chia sẻ những gì bà còn nhớ về những người tình đi qua cuộc đời cha mình, về mối quan hệ thân thiết, gắn bó mà mình có với cha. Người giúp bà thực hiện cuốn hồi ký này chính là con gái của bà - nhà nghiên cứu lịch sử hội họa Diana Widmaier-Picasso.

Bà Maya chính là cô con gái đầu lòng của Picasso, ông đã thực hiện một số bức tranh chân dung khắc họa con gái mình từ nhỏ tới lớn, với những gam màu ấm áp. Nói về những bức chân dung mà Picasso từng thực hiện về nàng thơ Walter - mẹ của bà Maya, bản thân bà Maya vẫn luôn cảm thấy ngỡ ngàng trước vẻ gợi cảm được đẩy cao đầy kịch tính trong những bức chân dung ấy:

“Tôi vẫn luôn bất ngờ trước cách mà mẹ tôi được khắc họa rất chính xác trong những bức chân dung mà cha tôi thực hiện. Những cảm nhận được tạo nên trong tranh rất đúng về mẹ tôi, bà có những đường cong rất gợi cảm, bên cạnh vẻ ngoài hấp dẫn ấy, bà còn là người rất giàu tình cảm và có phong cách sống năng động, bà rất ưa vận động.

“Khi cha tôi gặp mẹ tôi, tôi nghĩ cha tôi đã ngay lập tức nhận ra những nét tương đồng với mẹ tôi, đó là lý do tại sao cha đã từng thực hiện nhiều bức tranh và bức tượng khắc họa mẹ tôi. Những tác phẩm ấy đều thể hiện rất rõ xúc cảm mà cha tôi dành cho mẹ tôi”, bà Maya nhận định.

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 3


Bức “Girl before a Mirror” (Cô gái đứng trước gương - 1932) do Picasso khắc họa Marie-Thérèse Walter

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 4


Bức “The Dream” (Giấc mơ - 1932) do Marie-Thérèse Walter làm người mẫu cho Picasso

Sự tồn tại của bà Maya cũng như mối tình giữa danh họa Picasso và nàng thơ Walter ban đầu được giữ bí mật. Chỉ vài tháng sau khi cô con gái Maya ra đời, Picasso đã bắt đầu mối tình mới với nàng thơ mới - Dora Maar.

Cuốn hồi ký của bà Maya hẳn sẽ phải đối diện với những nghi ngờ về tính chính xác, bởi cách bà khắc họa mối quan hệ giữa danh họa Picasso và mẹ mình - nàng thơ Marie-Thérèse Walter quá tích cực.

Trong thực tế, bà Walter đã không thể nào lãng quên mối tình thời thanh xuân với danh họa Picasso trong suốt phần đời về sau, năm 1977, ở thời điểm 4 năm sau khi danh họa Picasso qua đời, bà Walter tự sát ở tuổi 68.

Về phần mình, trong tư cách một người con gái của vị danh họa, bà Maya có lẽ đã lựa chọn lưu giữ lại những ký ức đẹp đẽ nhất về một người cha ấm áp, bà từng ngồi làm mẫu cho cha vẽ từ nhỏ cho tới năm 18 tuổi: “Có khi cha con tôi đang ngồi bên bàn và cha bất ngờ muốn lưu lại một khoảnh khắc biểu cảm nào đó. Cha liền nói: Đừng chuyển động! Rồi ông chạy đi tìm giấy bút, bảng vẽ...”.

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 5


Bức “First Snow” trong đó Picasso khắc họa cô con gái Maya hồi năm 1938

Bức tranh chân dung Picasso từng thực hiện hồi năm 1938 khắc họa bà Maya khi còn là một đứa trẻ - bức “First Snow” (Bông tuyết đầu tiên) - được thực hiện vào đúng ngày cô con gái nhỏ biết bước những bước đầu tiên: “Hôm đó, tôi đi một đôi giày màu hồng, về sau, cha tôi giữ đôi giày ấy làm kỷ niệm trong suốt những năm tháng của cuộc đời ông”.

Trong ký ức của bà Maya, danh họa Picasso không thích người mẫu của ông cười, ngay cả với con gái, ông cũng thường nhắc nhở không được cười khi đang ngồi làm mẫu vẽ, dù vậy, bà nhớ cha mình là người rất hài hước trong cuộc sống.

Ông cũng là người giàu tình cảm và sự quan tâm, ông từng tự tay làm nhiều đồ chơi cho con gái trong những năm tháng chiến tranh khan hiếm đồ chơi. Tự tay ông đã từng làm nhiều búp bê vải nhồi hạt đậu cho con gái chơi.

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 6

Nhấn để phóng to ảnh

Bức “Nude, Green Leaves and Bust” (Khỏa thân, lá xanh và bầu ngực - 1932) khắc họa vẻ gợi cảm của Marie-Thérèse Walter

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 7


Bức “Nude in a Black Armchair” (Khỏa thân trong chiếc ghế đen - 1932) tiếp tục khắc họa vẻ đẹp của Marie-Thérèse Walter qua nét vẽ của Picasso

Bích Ngọc

Theo The Guardian




Những bức tranh đắt giá của Picasso

Bị tuyên bố thất lạc trong suốt 50 năm qua, bức tranh “Seated Woman with Red Hat” của Picasso vừa được tìm thấy tại một viện bảo tàng thuộc bang Indiana của Mỹ.
Những bức tranh đắt giá của Picasso



Bức tranh này đã bị quên lãng trong nhà kho của bảo tàng suốt 50 năm qua. Do những sơ suất của người tiếp nhận tranh mà nó đã bị gắn nhầm tên người sáng tác là hoạ sĩ Gemmaux vì vậy bức tranh chưa từng được treo trên tường của viện bảo tàng. Những nhà quản lý ở đây dù có nhìn thấy chữ ký của danh hoạ Picasso ở góc tranh nhưng không dám tin đó là “hàng thật” mà nghĩ đó là tranh chép, khiến bức tranh bị chìm vào quên lãng trong suốt nửa thế kỷ.

Gần đây, dựa vào các công nghệ chiếu chụp hiện đại, các nhà nghiên cứu đã có thể khẳng định bức tranh nằm yên trong kho suốt nửa thế kỷ kia thật sự là một tác phẩm của Pablo Picasso và họ dự đoán giá bức tranh sẽ là một con số tương đối lớn bởi những tác phẩm của những danh hoạ nổi tiếng sau khi bị thất lạc và trải qua một cuộc phiêu lưu thú vị thường gây ra những cơn sốt trong giới sưu tầm nghệ thuật.

Khi viện bảo tàng nhận được món quà này, những giấy tờ kèm theo đều nói tác phẩm được vẽ bởi hoạ sĩ Gemmaux. Nhưng kỳ thực Gemmaux là số nhiều của từ “gemmail” - một phong cách sáng tác tranh phổ biến trong những năm 1930 với các lớp thuỷ tinh màu được gắn bằng một thứ keo lỏng trong suốt. Khi hoàn thiện việc rải thuỷ tinh và phết keo, nghệ sĩ sẽ hơ nó lên lửa để lớp keo tan chảy và hoà vào lớp thuỷ tinh màu.

Phong cách này không phải phong cách đặc trưng của Picasso và trong cả quá trình sáng tác của mình, Picasso chỉ sáng tác khoảng 50 bức tranh thuộc thể loại này trong thời kỳ ông học tập và sáng tác tại một phòng tranh ở Pháp.

Viện bảo tàng Evansville ở bang Indiana, Mỹ




Viện bảo tàng Evansville ở bang Indiana, Mỹ


Viện bảo tàng Evansville cho biết bức tranh có tựa đề Seated Woman with Red Hat (Người phụ nữ đội mũ đỏ ngồi trên ghế) đã được tặng cho bảo tàng vào năm 1963. Hiện bức tranh đã được trao cho công ty chuyên tổ chức đấu giá Guernsey tại New York để rao bán đồng thời công ty đấu giá cũng phải chịu trách nhiệm trưng bày, bảo quản, bảo vệ và mua bảo hiểm cho tranh. Hiện tại giá trị của bức tranh vẫn chưa được tính toán.

Việc lưu giữ một tác phẩm nghệ thuật có giá trị lớn đòi hỏi một tiềm lực kinh tế vững mạnh mà một viện bảo tàng nhỏ như Evansville không thể gánh vác nổi. Vì vậy, ban giám đốc bảo tàng dù rất thích thú với phát hiện mới mẻ này, họ vẫn phải quyết định rao bán bức tranh.

Chính nhờ công ty đấu giá Guernsey tới hỏi han về bức tranh cổ này mà nó mới được ban giám đốc ngó ngàng tới.

Sau một thời gian nghiên cứu về phong cách sáng tác này của Picasso, công ty đấu giá Guernsey đặc biệt chú ý tới viện bảo tàng Evansville vì nó có một bức tranh được tặng bởi nhà thiết kế công nghiệp Raymond Loewy vào đúng khoảng thời gian nó bị tuyên bố thất lạc.

Là một trong những tên tuổi lớn nhất trong nền mỹ thuật, tranh của Picasso luôn được trả những cái giá “trên trời”, bức Garcon a la Pipe của ông là một trong những bức tranh đắt nhất mọi thời đại, được trả giá 104 triệu đô la vào năm 2004.

Năm 2006, bức



Năm 2006, bức Dora Maar au Chat được bán với giá 95,2 triệu đô la, là bức tranh đắt giá thứ hai mang thương hiệu Picasso.

Năm 2006, bức

Cùng thời điểm này tại Anh, Chính phủ Anh cũng đang ra lệnh cấm tạm thời đối với việc bán ra nước ngoài bức tranh nổi tiếng của Picasso có tên Child with a Dove (Em bé và chú chim bồ câu). Bức tranh này đã được đem trưng bày trong phòng triển lãm quốc gia kể từ năm 1974.

Năm 2006, bức


Người sở hữu bức tranh này là gia đình quý tộc Aberconway, họ mua tranh dưới dạng trả góp định kỳ nhưng gần đây gia đình quý tộc này quyết định rao bán bức tranh.

Child with a Dove được vẽ năm 1901 và mang ý nghĩa lớn trong sự nghiệp của Picasso vì nó đánh dấu “thời kỳ màu xanh” của ông với rất nhiều bức sau này đều có tông chính là sắc xanh. Khi mua lại bức tranh đó hồi những năm 1970, giá của nó đã là 80 triệu đô la.

Bộ trưởng Văn hoá Anh Ed Vaizey đã tuyên bố chính thức trước báo giới ông ngăn cấm việc các tổ chức buôn bán tranh trong nước để bức tranh bị bán ra nước ngoài trước ngày 16/12/2013 cũng như bất cứ tổ chức nước ngoài nào có ý định hỏi mua tranh hoặc nhờ một đại diện trung gian thứ ba mua lại và chuyển tranh ra nước ngoài.

“Đây là cơ hội cuối cùng để chúng ta có thể giữ lại tác phẩm này cho nước Anh, thậm chí nâng tầm giá trị của nó trước khi có những đánh giá xác đáng từ các chuyên gia nghiên cứu. Các tác phẩm tranh có thể được mua nhanh chóng với giá hời bởi các tổ chức buôn bán tranh nghệ thuật trên thế giới trước khi những định hướng về giá cả được các chuyên gia trong nước đưa ra. Việc này có thể gây thiệt hại cho bên bán vì thiếu thông tin và sự hỗ trợ pháp lý về luật thuế của Nhà nước.”

Phát ngôn này của ông được đưa ra dựa trên quyết định của Uỷ ban Xuất khẩu các tác phẩm văn hoá nghệ thuật của Anh và Hội đồng Nghệ thuật Anh.

Các uỷ ban này đều cho rằng bức tranh đã được trả góp từ rất lâu và đã được trưng bày hàng chục năm tại viện bảo tàng quốc gia National Gallery tại London vì vậy nó có nhiều ý nghĩa tinh thần đối với người dân Anh.

Child with a Dove là một bức tranh rất được yêu thích và có vị trí lớn trong ngành sưu tập mỹ thuật ở Anh và được coi là một tài sản quốc gia quan trọng”, Aidan Weston-Lewis, một thành viên uỷ ban cho biết.

Bức tranh khắc hoạ một em bé ôm trong tay một chú chim bồ câu, đứng bên cạnh một quả bóng. Bức tranh thuộc về gia đình quý tộc Aberconway. Tháng 3 năm nay, công ty đấu giá Christie khẳng định thông tin rằng gia đình này đang tìm người mua lại bức tranh.

 
Hồ Bích Ngọc
Tổng hợp



Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso

Tên đầy đủ của Picasso có tất cả 23 từ. Lúc mới ra đời, bà đỡ tưởng Picasso bị chết yểu. Khi đi học, Picasso là một học sinh vô kỷ luật và thường bị đuổi ra khỏi lớp… Đó là một vài sự thật thú vị về danh họa người Tây Ban Nha.

Tên đầy đủ của Picasso có tất cả 23 từ

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso


Picasso từng được rửa tội và đặt tên là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Martyr Patricio Clito Ruíz y Picasso. Cái tên rất dài này bao gồm tên của nhiều vị thánh và tên của một số họ hàng thân thiết với gia đình. “Picasso” thực tế là tên họ thừa hưởng từ mẹ - bà Maria Picasso y Lopez. Tên của cha Picasso là Jose Ruiz Blasco.

Khi Picasso ra đời, bà đỡ tưởng rằng ông bị… chết yểu

Mẹ của Picasso đã rất khó khăn mới có thể sinh ra ông. Lúc chào đời, Picasso rất yếu ớt, đến mức bà đỡ tưởng rằng đứa bé đã bị chết yểu, vì vậy, bà đặt cậu bé Picasso lên bàn để mọi người vào chào từ biệt cậu bé tội nghiệp. Một người bác của Picasso vốn là bác sĩ - ông Don Salvador, đã thử một biện pháp rất đơn giản để cứu sống đứa cháu trai.

Ông Don Salvador vốn bị nghiện thuốc lá. Lúc vào chào từ biệt cháu, ông đang ngậm điếu thuốc trên môi. Để thử phản ứng của đứa trẻ, ông liền nhả khói thuốc lá vào mặt cậu bé. Khuôn mặt đứa cháu trai có biểu hiện khó chịu và ngay lập tức, đứa trẻ bật khóc.

Từ đầu tiên mà Picasso biết nói là “bút chì”

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso




Picasso có lẽ đã được sinh ra để làm họa sĩ. Từ đầu tiên mà ông biết nói là “piz” - một từ viết tắt của “lápiz”, trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “bút chì”. Cha của ông cũng vốn là một họa sĩ, một giáo sư giảng dạy về hội họa.

Chính cha đã cho Picasso những bài giảng đầu tiên về mỹ thuật từ khi ông lên 7. Khi Picasso ở tuổi 13, cha ông đã thề sẽ không bao giờ cầm cọ vẽ nữa bởi ông cảm thấy cậu con trai đã thực sự vượt qua mình.

Bức tranh đầu tiên của Picasso

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso




Lên 9 tuổi, Piccasso đã thực hiện hoàn chỉnh bức tranh đầu tiên có tên “Le picador” khắc họa một người đàn ông cưỡi ngựa trong một trận đấu bò tót.

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso




Bức tranh “nghiêm túc” đầu tiên mà Picasso dồn tâm sức thực hiện là “First Communion” (Lễ ban thánh thể đầu tiên) khắc họa cha mẹ và em gái của ông đang hành lễ trước bàn thờ Chúa. Picasso mới 15 tuổi khi hoàn thành bức tranh này.

Picasso là một học sinh… “vô kỷ luật”

Không nghi ngờ gì Picasso là một thiên tài trong lĩnh vực hội họa. Khi còn đi học ở trường, cậu bé Picasso cũng được đánh giá là già giặn hơn hẳn các bạn bè cùng lớp. Picasso ghét bị ra lệnh phải làm gì, vì vậy, cậu bé thường hay phạm lỗi vô kỷ luật trong lớp học, thường bị đuổi ra khỏi lớp và phải lên phòng “xưng tội” để chịu kỷ luật.

Khi ngồi trong phòng “xưng tội” - một căn phòng có bốn bức tường màu trắng với duy nhất một chiếc ghế dài để học sinh vô kỷ luật ngồi trên đó suy ngẫm về lỗi lầm của mình - Picasso cảm thấy rất yên bình và rất thích được ở trong phòng này vì ông có thể thực sự tập trung vẽ.

Mỗi khi bị đuổi ra khỏi lớp và phải lên phòng kỷ luật ngồi, ông đều mang theo giấy bút để vẽ: “Tôi rất thích căn phòng đó vì tôi có thể vẽ không ngừng nghỉ, lại chẳng bị ai làm phiền. Thời đó, tôi đã nghĩ rằng mình ở trong căn phòng này mãi cũng được”.

Có phải Picasso đã đánh cắp bức Mona Lisa?

Năm 1911, khi bức nàng Mona Lisa bị đánh cắp khỏi viện bảo tàng Louvre (Pháp), cảnh sát đã tìm đến tra hỏi một người bạn của Picasso - nhà thơ Guillaume Apollinaire. Apollinaire đã nói với cảnh sát rằng có thể Picasso chính là kẻ trộm, vì vậy, cảnh sát đã tới bắt Picasso đi để thẩm vấn, nhưng sau đó ông đã được thả ra vì không có bằng chứng phạm tội.

Xu hướng lập thể

Bức “Le Guitariste” của Pablo Picasso (vẽ năm 1910)



Bức “Le Guitariste” của Pablo Picasso (vẽ năm 1910)

Năm 1909, Picasso và một họa sĩ Pháp có tên Georges Braque đã cùng khởi xướng xu hướng tranh lập thể. Tuy vậy, ở thời điểm đó, hai vị họa sĩ đã không đặt tên cho xu hướng nghệ thuật mà mình đang đi tiên phong.

Chính nhà phê bình mỹ thuật người Pháp Louis Vauxcelles là người đầu tiên đặt tên cho xu hướng này, sau khi nhận thấy tranh của Picasso và Braque bao gồm toàn những hình khối nhỏ.

Picasso từng là bạn thân của Marc Chagall

Picasso (trái) và Chagall (phải)

Picasso (trái) và Chagall (phải)

Picasso và Chagall, hai vị họa sĩ vĩ đại của thế kỷ 20, thực tế từng là hai người bạn rất thân, cho tới một tối nọ khi Picasso tới dùng bữa ở nhà Chagall hồi năm 1964. Trong lúc chuyện vui, Picasso hỏi Chagall: “Khi nào thì cậu sẽ trở về Nga?”.

Thực tế cả Picasso và Chagall đều là những người ngoại quốc trên đất Pháp, Chagall là người Nga và Picasso là người Tây Ban Nha.

Chagall trả lời với một nụ cười: “Sau khi anh đặt chân tới Nga, tôi sẽ trở về ngay lập tức. Tôi biết rằng anh sẽ rất được người Nga yêu quý, ngoại trừ các tác phẩm của anh. Anh sẽ phải vật lộn kiếm sống ở nước Nga và tôi sẽ chờ đợi để xem anh sẽ sống như thế nào”.

Picasso không vừa lòng với câu nói này. Sau bữa tối, khi rượu đã bắt đầu ngấm và sự tỉnh táo đã không còn như lúc đầu, Picasso lại gần Chagall và bảo: “Tôi cho rằng với cậu, tất cả chỉ là vấn đề tiền bạc. Tôi biết cậu sẽ chẳng trở về quê hương mình trừ phi ở đó có thật nhiều tiền cho cậu kiếm chác”.

Nhà văn kiêm họa sĩ người Pháp Francoise Gilot cũng có mặt trong bữa tối hôm đó. Về sau, ông kể lại rằng thoạt tiên, Chagall nở nụ cười rất sảng khoái như chẳng có vấn đề gì khi nghe Picasso nói vậy, nhưng thực tế, trong lòng Chagall rất giận. Kể từ sau bữa tối đó, tình bạn của Picasso và Chagall chấm dứt.

Hai “người khổng lồ” trong lĩnh vực hội họa - Picasso và Chagall - trong những năm tháng cuối đời đều có tham vọng trở nên giàu có nhờ việc bán tranh, có lẽ vì vậy mà họ đã tan vỡ tình bạn lúc tuổi già xế bóng.

Picasso là một người đàn ông đào hoa

Picasso và người vợ thứ hai - Jacqueline Roque

Picasso và người vợ thứ hai - Jacqueline Roque

Trong suốt cuộc đời mình, Picasso có rất nhiều mối tình. Thực tế người ta không thể biết hết những người tình “thoảng qua” của ông. Picasso có hai đời vợ. Người vợ thứ nhất - Olga Khokhlova - kém ông 10 tuổi. Người vợ thứ hai - Jacqueline Roque - kém ông… 52 tuổi. Trong suốt “thiên tình sử” của mình, Picasso luôn chỉ hẹn hò với những cô gái trẻ, thường ở độ tuổi ngoài 20.

Picasso được chôn cất ở đâu?

Picasso và người vợ thứ hai - Jacqueline Roque


Picasso được chôn cất trong khuôn viên của một tòa lâu đài mà ông đã mua hồi năm 1958, nằm ở ngôi làng Vauvenargues, miền nam nước Pháp. Ngôi mộ của ông thu hút rất đông du khách đến thăm. Ông đã yên nghỉ vĩnh hằng tại đây sau khi qua đời ở tuổi 91 năm 1973.

Picasso đã mua lại lâu đài này sau khi phát hiện ra nó nằm trên sườn đồi Mont Sainte-Victoire - ngọn đồi đã từng xuất hiện hơn 30 lần trong tranh của họa sĩ Pháp theo trường phái Ấn Tượng - Paul Cézanne. Khi mua được lâu đài này, ông đã nói với mọi người rằng: “Thế là tôi đã tự mình mua được ngọn đồi của Cézanne”.

Bích Ngọc
Tổng hợp



Những nàng thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật

Dân trí

Những bức tranh, tiểu thuyết, áng thơ… nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật đều ẩn chứa sau đó một nàng thơ.

Trong lịch sử nghệ thuật, có những nàng thơ nổi tiếng, họ có sức ảnh hưởng lớn tới những nghệ sĩ danh tiếng. Dưới đây là những nàng thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật:

Marie-Therese Walter - nàng thơ của danh họa Tây Ban Nha Pablo Picasso: Picasso có nhiều nàng thơ và Walter là một trong số đó. Picasso gặp Walter năm 1927 khi đã có gia đình. Tuy vậy, không gì có thể ngăn cản ông đến với người phụ nữ khiến ông cảm thấy được truyền cảm hứng mới. Trong mối tình với Walter, Picasso đã thực hiện vô số bức tranh khắc họa nàng, nổi tiếng nhất có bức “Le Reve”. Cuối cùng, khi cảm xúc đã cạn, Picasso lại đi tìm nguồn cảm hứng mới và rời bỏ Walter. Dù vậy, cả cuộc đời còn lại của mình, Walter dành để thương nhớ Picasso, bà đã tự tử ở thời điểm 4 năm sau khi Picasso qua đời.


Marie-Therese Walter - nàng thơ của danh họa Tây Ban Nha Pablo Picasso: Picasso có nhiều nàng thơ và Walter là một trong số đó. Picasso gặp Walter năm 1927 khi đã có gia đình. Tuy vậy, không gì có thể ngăn cản ông đến với người phụ nữ khiến ông cảm thấy được truyền cảm hứng mới. Trong mối tình với Walter, Picasso đã thực hiện vô số bức tranh khắc họa nàng, nổi tiếng nhất có bức “Le Reve”. Cuối cùng, khi cảm xúc đã cạn, Picasso lại đi tìm nguồn cảm hứng mới và rời bỏ Walter. Dù vậy, cả cuộc đời còn lại của mình, Walter dành để thương nhớ Picasso, bà đã tự tử ở thời điểm 4 năm sau khi Picasso qua đời.
Dora Maar - nàng thơ của Picasso: Sau Walter, Dora Maar là nàng thơ thứ hai “đáng kể” trong cuộc đời Picasso. Nàng là một nghệ sĩ đa tài người Pháp, là nhiếp ảnh gia, họa sĩ, nhà thơ. Khi gặp nhau, Picasso đã 54 còn Maar mới 28, hai người đã truyền cảm hứng nghệ thuật cho nhau. Cuộc tình của họ kéo dài trong 9 năm và Picasso đã vẽ vô số bức chân dung về nàng. Trong ký ức Picasso, Maar là người phụ nữ của nước mắt, nàng luôn buồn bã và Picasso tìm thấy cảm hứng trong việc khắc họa nỗi buồn của nàng.


Dora Maar - nàng thơ của Picasso: Sau Walter, Dora Maar là nàng thơ thứ hai “đáng kể” trong cuộc đời Picasso. Nàng là một nghệ sĩ đa tài người Pháp, là nhiếp ảnh gia, họa sĩ, nhà thơ. Khi gặp nhau, Picasso đã 54 còn Maar mới 28, hai người đã truyền cảm hứng nghệ thuật cho nhau. Cuộc tình của họ kéo dài trong 9 năm và Picasso đã vẽ vô số bức chân dung về nàng. Trong ký ức Picasso, Maar là người phụ nữ của nước mắt, nàng luôn buồn bã và Picasso tìm thấy cảm hứng trong việc khắc họa nỗi buồn của nàng.
“Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” - nàng thơ của danh họa Hà Lan Johannes Vermeer: “Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” là bức tranh nổi tiếng thế giới và người đẹp xuất hiện trong tranh là một trong những nàng thơ nổi bật nhất của lịch sử hội họa, nhưng không ai biết nàng là ai. Bất kể điều đó, “cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” vẫn cứ là một nàng thơ không thể không nhắc tới.


“Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” - nàng thơ của danh họa Hà Lan Johannes Vermeer: “Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” là bức tranh nổi tiếng thế giới và người đẹp xuất hiện trong tranh là một trong những nàng thơ nổi bật nhất của lịch sử hội họa, nhưng không ai biết nàng là ai. Bất kể điều đó, “cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” vẫn cứ là một nàng thơ không thể không nhắc tới.

Victorine Meurent - nàng thơ của danh họa Pháp Edouard Manet: Manet tình cờ bắt gặp Meurent trên phố khi nàng đang hối hả bước đi, ngay lập tức, cảm quan nghệ thuật của ông được kích hoạt, Manet liền nhìn nhận thế giới xung quanh theo cách hoàn toàn mới. Manet đã mời Meurent làm mẫu và đưa cô trở thành một trong những gương mặt điển hình của trường phái Ấn tượng. Những tác phẩm đáng kể trong sự nghiệp của Manet, như “Bữa trưa trên thảm cỏ” hay “Olympia” đều khắc họa Meurent.
Gala Diakonova - nàng thơ của danh họa Tây Ban Nha Salvador Dali: Gala là vợ của nhà thơ Pháp Paul Eluard, là tình nhân của họa sĩ Đức Max Ernst, vẻ đẹp Nga này còn chiếm được trái tim của danh họa Tây Ban Nha Salvador Dali dù hơn Dali tới 10 tuổi. Trong các bức tranh của Dali, Gala luôn được khắc họa như một nữ thần tình ái.


Gala Diakonova - nàng thơ của danh họa Tây Ban Nha Salvador Dali: Gala là vợ của nhà thơ Pháp Paul Eluard, là tình nhân của họa sĩ Đức Max Ernst, vẻ đẹp Nga này còn chiếm được trái tim của danh họa Tây Ban Nha Salvador Dali dù hơn Dali tới 10 tuổi. Trong các bức tranh của Dali, Gala luôn được khắc họa như một nữ thần tình ái.
George Dyer - “chàng thơ” của danh họa Anh Francis Bacon: Trước hết, Bacon là người đồng tính, vì vậy, người truyền cảm hứng cho ông phải là một… “chàng thơ”. Bacon gặp Dyer lần đầu năm 1964 khi Dyer đang đột nhập vào tư gia của Bacon với ý định ăn cắp. Kể từ đây, “kẻ trộm” Dyer trở thành “nàng thơ” của Bacon và từ bỏ cuộc sống “du thủ du thực”. Bacon đã khắc họa người tình trong rất nhiều bức chân dung. Cuộc tình giữa Dyer và Bacon kết thúc bằng bi kịch khi Dyer tự tử trong một chuyến đi cùng với Bacon tới Paris.


George Dyer - “chàng thơ” của danh họa Anh Francis Bacon: Trước hết, Bacon là người đồng tính, vì vậy, người truyền cảm hứng cho ông phải là một… “chàng thơ”. Bacon gặp Dyer lần đầu năm 1964 khi Dyer đang đột nhập vào tư gia của Bacon với ý định ăn cắp. Kể từ đây, “kẻ trộm” Dyer trở thành “nàng thơ” của Bacon và từ bỏ cuộc sống “du thủ du thực”. Bacon đã khắc họa người tình trong rất nhiều bức chân dung. Cuộc tình giữa Dyer và Bacon kết thúc bằng bi kịch khi Dyer tự tử trong một chuyến đi cùng với Bacon tới Paris.
Georgia O’Keeffe - nàng thơ của nhiếp ảnh gia Mỹ Alfred Stieglitz: Chuyện tình của nữ họa sĩ O’Keeffe và nhiếp ảnh gia Stieglitz rất nổi tiếng trong giới nghệ thuật. Trong 31 năm gắn bó, từ 1915 đến 1946, cặp đôi đã viết cho nhau hơn 25.000 lá thư tình. Khi bắt đầu yêu, Stieglitz đã 52 còn O’Keeffe mới 28. Thuở đó, Stieglitz đã là một nhiếp ảnh gia có tiếng, ông thường trưng bày những bức tranh của O’Keeffe trong triển lãm ảnh của mình, để O’Keeffe đến gần hơn với công chúng và giới phê bình. Stieglitz say mê chụp hình O’Keeffe và có tới hàng trăm bức ảnh chân dung về O’Keeffe. Stieglitz được xem là người góp công lớn trong việc đưa nhiếp ảnh trở thành một bộ môn nghệ thuật.


Georgia O’Keeffe - nàng thơ của nhiếp ảnh gia Mỹ Alfred Stieglitz: Chuyện tình của nữ họa sĩ O’Keeffe và nhiếp ảnh gia Stieglitz rất nổi tiếng trong giới nghệ thuật. Trong 31 năm gắn bó, từ 1915 đến 1946, cặp đôi đã viết cho nhau hơn 25.000 lá thư tình. Khi bắt đầu yêu, Stieglitz đã 52 còn O’Keeffe mới 28. Thuở đó, Stieglitz đã là một nhiếp ảnh gia có tiếng, ông thường trưng bày những bức tranh của O’Keeffe trong triển lãm ảnh của mình, để O’Keeffe đến gần hơn với công chúng và giới phê bình. Stieglitz say mê chụp hình O’Keeffe và có tới hàng trăm bức ảnh chân dung về O’Keeffe. Stieglitz được xem là người góp công lớn trong việc đưa nhiếp ảnh trở thành một bộ môn nghệ thuật.
Brigitte Bardot - nàng thơ của nhà biên kịch Pháp Roger Vadim: Brigitte Bardot là một trong những “biểu tượng sex” quyến rũ nhất trong lịch sử điện ảnh. Năm 1950, khi người đẹp mới 15 tuổi, nàng đã bắt đầu hẹn hò với Roger Vadim, một biên kịch trẻ 22 tuổi. Cặp đôi kết hôn năm 1952 và cùng lên kế hoạch đưa Brigitte trở thành một ngôi sao điện ảnh. Về sau, cả hai đều trở nên nổi tiếng. Brigitte đã truyền cảm hứng cho nhiều phim điện ảnh của Vadim, trong đó có phim “Và Chúa đã tạo ra phụ nữ” (1956). Đây cũng chính là bộ phim đưa Brigitte lên hàng sao điện ảnh quốc tế. Về sau, cặp đôi chia tay, nhưng Vadim vẫn luôn coi Brigitte là nàng thơ suốt cuộc đời mình.


Brigitte Bardot - nàng thơ của nhà biên kịch Pháp Roger Vadim: Brigitte Bardot là một trong những “biểu tượng sex” quyến rũ nhất trong lịch sử điện ảnh. Năm 1950, khi người đẹp mới 15 tuổi, nàng đã bắt đầu hẹn hò với Roger Vadim, một biên kịch trẻ 22 tuổi. Cặp đôi kết hôn năm 1952 và cùng lên kế hoạch đưa Brigitte trở thành một ngôi sao điện ảnh. Về sau, cả hai đều trở nên nổi tiếng. Brigitte đã truyền cảm hứng cho nhiều phim điện ảnh của Vadim, trong đó có phim “Và Chúa đã tạo ra phụ nữ” (1956). Đây cũng chính là bộ phim đưa Brigitte lên hàng sao điện ảnh quốc tế. Về sau, cặp đôi chia tay, nhưng Vadim vẫn luôn coi Brigitte là nàng thơ suốt cuộc đời mình.
Jeanne Duval - nàng thơ của nhà thơ Pháp Charles Baudelaire: Nữ diễn viên kiêm vũ công pha trộn hai dòng máu Pháp - Haiti đã là nguồn cảm hứng bất tận cho những áng thơ tình của nhà thơ Charles Baudelaire, ngoài ra, nàng cũng xuất hiện trong một số bức tranh của danh họa Pháp Edouard Manet. Tình yêu quá lớn dành cho Duval đã khiến nhà thơ Baudelaire trở nên đau khổ, đã có lần ông tự tử vì Duval.

Nhấn để phóng to ảnh

Jeanne Duval - nàng thơ của nhà thơ Pháp Charles Baudelaire: Nữ diễn viên kiêm vũ công pha trộn hai dòng máu Pháp - Haiti đã là nguồn cảm hứng bất tận cho những áng thơ tình của nhà thơ Charles Baudelaire, ngoài ra, nàng cũng xuất hiện trong một số bức tranh của danh họa Pháp Edouard Manet. Tình yêu quá lớn dành cho Duval đã khiến nhà thơ Baudelaire trở nên đau khổ, đã có lần ông tự tử vì Duval.

Nelly Ternan - nàng thơ của nhà văn Anh Charles Dickens: Cuộc tình giữa Ternan và Dickens từng được khắc họa trong bộ phim “Người phụ nữ vô hình” (2013). Ternan là một cô gái trẻ trung, xinh đẹp, đã đưa lại cho nhà văn những xúc cảm mới mẻ. Tuy vậy, cách họ đến với nhau tương đối thực dụng, về phía Ternan, cô khát khao trở thành nữ diễn viên, nhưng không thành công, lại rơi vào cảnh không tiền, không nhà, không một tấm chồng, Dickens liền trở thành phao cứu sinh của Ternan.
Vivienne Eliot - nàng thơ của nhà thơ Mỹ T.S Eliot: Cuộc hôn nhân giữa T.S Eliot và vợ - nàng Vivienne - trải qua nhiều sóng gió và kết thúc bằng ly hôn, nhưng thoạt tiên, nàng chính là nguồn cảm hứng lớn của nhà thơ, khiến T.S Eliot viết nên tập thơ “Đất hoang”. Nhưng Vivienne là người phụ nữ ưa cuộc sống phóng túng, nàng không bằng lòng với cuộc sống của một người vợ. Cuối cùng, Vivienne qua đời năm 1947 trong một bệnh viện tâm thần, một năm sau, Eliot giành giải Nobel Văn học.


Vivienne Eliot - nàng thơ của nhà thơ Mỹ T.S Eliot: Cuộc hôn nhân giữa T.S Eliot và vợ - nàng Vivienne - trải qua nhiều sóng gió và kết thúc bằng ly hôn, nhưng thoạt tiên, nàng chính là nguồn cảm hứng lớn của nhà thơ, khiến T.S Eliot viết nên tập thơ “Đất hoang”. Nhưng Vivienne là người phụ nữ ưa cuộc sống phóng túng, nàng không bằng lòng với cuộc sống của một người vợ. Cuối cùng, Vivienne qua đời năm 1947 trong một bệnh viện tâm thần, một năm sau, Eliot giành giải Nobel Văn học.

Zelda Sayre - nàng thơ của nhà văn Mỹ F. Scott Fitzgerald: Sau khi kết hôn, nhà văn Fitzgerald đã dùng những đoạn trích trong nhật ký của vợ - nàng Zelda - để đưa vào những cuốn sách của mình. Zelda chính là nguyên mẫu cho nhân vật nữ chính trong “Đêm dịu dàng” và là nguồn cảm hứng để nhà văn sáng tạo nên nhiều nhân vật nữ khác. Sinh thời, Zelda mắc những chứng bệnh tâm lý trầm trọng. Cặp vợ chồng nhà văn này đã sớm qua đời trước tuổi ngũ tuần.

Bích Ngọc
Tổng hợp


Chân dung Picasso tái xuất thị trường với giá 1.600 tỷ đồng

Bức chân dung tự họa của Picasso sắp được đem ra đấu giá với mức giá kỳ vọng ước đạt tương đương 1.600 tỷ đồng. Hiện tại, tác phẩm đắt giá nhất của Picasso có giá lên tới hơn 10.200 tỷ đồng.

Bức “Le Marin”


Bức “Le Marin”

Một bức chân dung tự họa có tên “Le Marin” do danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso thực hiện sắp tới sẽ được đem ra đấu giá. Bức tranh được kỳ vọng sẽ đạt mức giá 70 triệu USD (tương đương 1.600 tỷ đồng).

Thông tin về phiên đấu giá chắc chắn được giới sưu tầm hội họa quan tâm đã vừa được phía nhà đấu giá Christie đưa ra hồi cuối tuần này. Hiện tại, bức tranh đang trong giai đoạn đem triển lãm trước khi chính thức đưa ra đấu giá. Hoạt động triển lãm hiện đang dừng chân ở Hồng Kông.

Bức tranh sơn dầu “Le Marin” khắc họa một người đàn ông buồn bã mặc chiếc áo sọc ngang màu trắng - xanh, ngồi trên một chiếc ghế. Bức tranh được danh họa Picasso thực hiện hồi năm 1943, khi Thế chiến II đang diễn ra khốc liệt, chứng kiến những bất ổn của thời cuộc, vị danh họa đã thực hiện bức tranh chân dung này để thể hiện thái độ phản đối chiến tranh.

“Le Marin” có kích thước 130 x 81 cm, là một bức tranh được thực hiện theo khổ dọc, khắc họa người đàn ông đang tựa đầu lên tay phải, hai chân vắt chéo, tay trái để lên đầu gối.

Bức “Le Marin”


Bức “Le Marin”

Lần cuối cùng bức “Le Marin” xuất hiện trên thị trường là cách đây 21 năm tại một cuộc đấu giá những tác phẩm nghệ thuật nằm trong bộ sưu tập của một cặp đôi sống ở New York (Mỹ) - ông bà Victor và Sally Ganz.

Bức “Le Marin” sẽ được triển lãm tại Hồng Kông cho tới ngày 3/4. Bức tranh sẽ được đem đấu giá tại New York vào ngày 15/5 tại một phiên đấu giá các tác phẩm nghệ thuật thuộc trường phái Ấn tượng và Hiện đại, do nhà đấu giá Christie tiến hành.

Danh họa Picasso (1881-1973)


Danh họa Picasso (1881-1973)

“Le Marin” được kỳ vọng sẽ tạo nên những bất ngờ về giá. Hồi năm 2015, bức “Những người phụ nữ xứ Algiers (phiên bản 0)” của Picasso đã lập nên kỷ lục thế giới, trở thành bức tranh đắt giá nhất từng được bán ra tại một cuộc đấu giá. Khi đó, bức tranh đã được trả giá 179,4 triệu USD (tương đương hơn 10.234 tỷ đồng) tại phiên đấu giá do Christie tiến hành tại New York.

Về sau, kỷ lục này đã bị phá vỡ bởi bức “Salvator Mundi” do danh họa người Ý thời Phục Hưng - Leonardo Da Vinci - thực hiện.

Những bức tranh đắt giá nhất trong lịch sử hội họa xuất hiện tại các cuộc đấu giá:



1 - Bức tranh chân dung bị thất lạc từ lâu của danh họa người Ý Leonardo da Vinci - “Salvator Mundi” - đã vừa 
1 - Bức tranh chân dung bị thất lạc từ lâu của danh họa người Ý Leonardo da Vinci - “Salvator Mundi” - đã vừa được bán ra với mức giá kỷ lục, phá vỡ mọi đỉnh cao về giá từng được xác lập trước đây đối với một tác phẩm hội họa. Con số gây choáng ngợp đó là 450,3 triệu USD (tương đương 10.234 tỷ đồng).
được bán ra với mức giá kỷ lục, phá vỡ mọi đỉnh cao về giá từng được xác lập trước đây đối với một tác phẩm hội họa. Con số gây choáng ngợp đó là 450,3 triệu USD (tương đương 10.234 tỷ đồng).


2 - “Les Femmes dAlger (Version O)” (Những người phụ nữ Algiers - phiên bản O - 1955) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso, có giá 179,4 triệu USD (4.077 tỷ đồng). Tác phẩm được đấu giá hồi năm 2015 tại New York.


2 - “Les Femmes dAlger (Version O)” (Những người phụ nữ Algiers - phiên bản O - 1955) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso, có giá 179,4 triệu USD (4.077 tỷ đồng). Tác phẩm được đấu giá hồi năm 2015 tại New York.


3 - “Nu Couché” (Khỏa thân nằm tựa - 1917) của danh họa người Ý Amedeo Modigliani. Bức tranh từng được mua với giá 170,4 triệu USD (3.872 tỷ đồng) hồi năm 2015 tại New York, bởi doanh nhân người Trung Quốc Lưu Ích Khiêm.


3 - “Nu Couché” (Khỏa thân nằm tựa - 1917) của danh họa người Ý Amedeo Modigliani. Bức tranh từng được mua với giá 170,4 triệu USD (3.872 tỷ đồng) hồi năm 2015 tại New York, bởi doanh nhân người Trung Quốc Lưu Ích Khiêm.


4 - “Portrait of Dr. Gachet” (Chân dung bác sĩ Gachet - 1890) của danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh. Tác phẩm từng được mua hồi năm 1990 bởi nhà sưu tầm hội họa người Nhật Ryoei Saito với mức 82,5 triệu USD, hiện giờ tương đương với 151,2 triệu USD (3.436 tỷ đồng).


4 - “Portrait of Dr. Gachet” (Chân dung bác sĩ Gachet - 1890) của danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh. Tác phẩm từng được mua hồi năm 1990 bởi nhà sưu tầm hội họa người Nhật Ryoei Saito với mức 82,5 triệu USD, hiện giờ tương đương với 151,2 triệu USD (3.436 tỷ đồng).


5 - Bộ tranh “Three Studies of Lucian Freud” (Ba nghiên cứu về Lucian Freud - 1969) của danh họa người Anh Francis Bacon đứng thứ 5 với mức giá 142,4 triệu USD, trả giá hồi năm 2013. Hiện giờ, mức giá ấy tương đương 146,4 triệu USD (3.327 tỷ đồng).


5 - Bộ tranh “Three Studies of Lucian Freud” (Ba nghiên cứu về Lucian Freud - 1969) của danh họa người Anh Francis Bacon đứng thứ 5 với mức giá 142,4 triệu USD, trả giá hồi năm 2013. Hiện giờ, mức giá ấy tương đương 146,4 triệu USD (3.327 tỷ đồng).


6 - “Bal du moulin de la Galette” (Khiêu vũ ở cối xay gió Le moulin de la Galette - 1876) của danh họa người Pháp Pierre-Auguste Renoir từng được mua hồi năm 1990 ở mức 78,1 triệu USD, tương đương với 143,2 triệu USD (3.254 tỷ đồng) ở thời điểm hiện tại.


6 - “Bal du moulin de la Galette” (Khiêu vũ ở cối xay gió Le moulin de la Galette - 1876) của danh họa người Pháp Pierre-Auguste Renoir từng được mua hồi năm 1990 ở mức 78,1 triệu USD, tương đương với 143,2 triệu USD (3.254 tỷ đồng) ở thời điểm hiện tại.


7 - “Garçon à la pipe” (Cậu trai và chiếc tẩu thuốc - 1905) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso đứng thứ 7 với mức 104,2 triệu USD trả giá hồi năm 2004, giờ đây, con số ấy tương đương 132,1 triệu USD (3.002 tỷ đồng).


7 - “Garçon à la pipe” (Cậu trai và chiếc tẩu thuốc - 1905) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso đứng thứ 7 với mức 104,2 triệu USD trả giá hồi năm 2004, giờ đây, con số ấy tương đương 132,1 triệu USD (3.002 tỷ đồng).


8 - “The Scream” (Tiếng thét - 1895) của danh họa người Na Uy Edvard Munch. Bức vẽ từng được mua hồi năm 2012 với mức 119,9 triệu USD, hiện giờ, con số ấy tương đương 125,1 triệu USD (2.843 tỷ đồng).


8 - “The Scream” (Tiếng thét - 1895) của danh họa người Na Uy Edvard Munch. Bức vẽ từng được mua hồi năm 2012 với mức 119,9 triệu USD, hiện giờ, con số ấy tương đương 125,1 triệu USD (2.843 tỷ đồng).


9 - “Nude, Green Leaves and Bust” (Khỏa thân, lá xanh và bầu ngực - 1932) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso. Bức tranh từng được mua với giá 106,5 triệu USD hồi năm 2010, giờ đây, con số ấy tương đương 116,9 triệu USD (2.656 tỷ đồng).


9 - “Nude, Green Leaves and Bust” (Khỏa thân, lá xanh và bầu ngực - 1932) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso. Bức tranh từng được mua với giá 106,5 triệu USD hồi năm 2010, giờ đây, con số ấy tương đương 116,9 triệu USD (2.656 tỷ đồng).


10 - “Irises” (Hoa diên vĩ - 1889) của danh họa người Hà Lan Vincent van Gogh. Bức tranh từng được mua hồi năm 1987 với mức giá 53,9 triệu USD, giờ đây, con số ấy tương đương với 113,6 triệu USD (2.581 tỷ đồng).


10 - “Irises” (Hoa diên vĩ - 1889) của danh họa người Hà Lan Vincent van Gogh. Bức tranh từng được mua hồi năm 1987 với mức giá 53,9 triệu USD, giờ đây, con số ấy tương đương với 113,6 triệu USD (2.581 tỷ đồng).


11 - “Dora Maar au Chat” (Dora Maar và chú mèo - 1941) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso từng được mua với giá 95,2 triệu USD hồi năm 2006, giờ đây, con số ấy tương đương 113,1 triệu USD (2.570 tỷ đồng).


11 - “Dora Maar au Chat” (Dora Maar và chú mèo - 1941) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso từng được mua với giá 95,2 triệu USD hồi năm 2006, giờ đây, con số ấy tương đương 113,1 triệu USD (2.570 tỷ đồng).

12 - “Untitled” (Không đề - 1982) của họa sĩ Mỹ Jean-Michel Basquiat hiện tại đứng thứ 12 với mức giá 110,5 triệu USD (tương đương 2.511 tỷ đồng).

Nhấn để phóng to ảnh

12 - “Untitled” (Không đề - 1982) của họa sĩ Mỹ Jean-Michel Basquiat hiện tại đứng thứ 12 với mức giá 110,5 triệu USD (tương đương 2.511 tỷ đồng).


Bích Ngọc
Theo Daily Mail


Số phận bi đát của những “nàng thơ” trong tranh Picasso

Trong suốt cuộc đời, danh họa người Tây Ban Nha - Pablo Picasso - chỉ kết hôn hai lần nhưng ông có tới hàng trăm người tình. Khi yêu, ông rất dịu dàng nhưng khi chia tay, ông sẵn sàng làm những “nàng thơ” của mình tan nát.

Năng lượng dồi dào mà Picasso dành cho hội họa, điêu khắc, với khoảng 25.000 tác phẩm (nhiều hơn bất cứ nghệ sĩ nào từng sáng tác trong lịch sử), cũng nhiều như năng lượng mà ông dành cho việc tán tỉnh, yêu đương, hò hẹn.

Số phận bi đát của những “nàng thơ” trong tranh Picasso



Picasso và tình nhân Dora Maar - người từng nhận định về ông rằng: “Với tư cách một họa sĩ, Picasso thật phi thường, nhưng với tư cách một con người đạo đức, ông ấy là kẻ chẳng ra gì”.

Suốt cuộc đời, Picasso có 8 người tình sâu sắc nhất, họ đều có nhiều ảnh hưởng đối với việc sáng tác nghệ thuật của ông. Người tình của Picasso cũng chính là nàng thơ của ông. Để có thể trở thành nhân vật bất tử trong mỹ thuật, những người phụ nữ này đều phải “trả giá”.

Vì Picasso, hai người tình từng suy sụp tinh thần khủng khiếp, hai người tình khác từng tự sát.

Picasso có nhiều tính cách đối lập: ông vừa dịu dàng, nhạy cảm vừa ích kỷ, ngang ngược, độc đoán.

Đối với phụ nữ, sự đối lập này càng được thể hiện rõ. Một người bạn của ông - nhà văn Patrick O’Brian - cho biết: “Picasso lúc thì rất mực dịu dàng, lúc lại trở nên thù ghét, thậm chí có thiên hướng bạo lực đối với phụ nữ. Ông không bao giờ cân bằng được hai thái cực này, thực tế, ông khinh miệt trạng thái cân bằng và nhất quyết chỉ chọn một trong hai thái cực”.

Số phận bi đát của những “nàng thơ” trong tranh Picasso



Bức “Những cô gái trẻ ở Avignon” khắc họa 5 cô gái khỏa thân là tác phẩm phản ánh rõ nhất hai thái cực - vừa tôn thờ vừa khinh ghét của Picasso đối với phụ nữ.

Thực tế, Picasso bị ám ảnh bởi phụ nữ, ông không thể sống mà không có phụ nữ bên cạnh. Tiêu chí mà Picasso đặt ra đối với các người tình rất đơn giản, chỉ cần cô ấy ngoan ngoãn, dễ bảo và thấp hơn ông là được (Picasso cao 1m62).

Picasso cũng cảm thấy khó chịu với sự dựa dẫm của mình vào phụ nữ, chính vì vậy mà trong mọi mối tình, ông luôn muốn làm “kẻ thống trị” nghiệt ngã. Picasso từng nói: “Đối với tôi, chỉ có hai tuýp phụ nữ - hoặc là nữ thần hoặc là tấm thảm”.

Cách sống phóng túng của Picasso bị ảnh hưởng bởi cha - ông José Ruiz, vốn cũng là một họa sĩ. Sinh thời, ông José Ruiz thường xuyên lui tới các nhà thổ. Picasso rất thương mẹ, sau này, ông đã chọn tên của mẹ thời con gái - Picasso - để làm tên họ của mình, ông bỏ họ cha.

Những nét chính trong thiên tình sử của Picasso

Picasso có người tình đầu tiên năm 13-14 tuổi. Ở tuổi 19, ông dan díu với bạn gái của bạn, khiến người này buồn bã và tự vẫn. Bi kịch này đã được thể hiện trong loạt tranh màu xanh của ông. Trước sự ra đi của bạn, Picasso rất ân hận, buồn bã, ông chuyển tất cả nỗi buồn vào tranh. Đây là “thời kỳ màu xanh” của tranh Picasso.

“Thời kỳ màu xanh”



“Thời kỳ màu xanh”

Năm 1904, ở tuổi 23, ông gặp người tình, nàng thơ đầu tiên của đời mình - cô gái Pháp Fernande Olivier - từ đây, Picasso chấm dứt “thời kỳ màu xanh” u sầu. Ông bước vào “thời kỳ hồng đỏ” với đề tài vẻ đẹp phụ nữ.

Fernande là người tình duy nhất của Picasso được ông rất mực cưng chiều. Ông thường làm tất cả việc nhà. Về sau, Picasso nói rằng thời kỳ ở bên Fernande là thời kỳ duy nhất ông thực sự hạnh phúc. Khi Picasso bắt đầu thành công hơn cũng là khi Fernande bỏ đi theo một họa sĩ khác, chấm dứt mối tình 8 năm.

Fernande Olivier



Fernande Olivier

Picasso liền trả thù Fernande bằng cách qua lại với một người bạn của cô - Eva Gouel. Khi Eva mắc bệnh lao, Picasso đã ở bên chăm sóc tận tình suốt 3 năm. Khi Eva qua đời, Picasso đã rất đau buồn, suốt một thời gian dài, mọi mối tình của ông đều chỉ là thoảng qua.

Eva Gouel



Eva Gouel

Năm 1917, khi tới Ý để xem một buổi trình diễn balê, ông đã phải lòng một vũ công Nga có tên Olga Koklova. Ban đầu, Olga xa lánh Picasso, nhưng cuối cùng lại trở thành vợ của ông.

Olga Koklova



Olga Koklova

Cuộc sống hôn nhân của họ ban đầu rất hạnh phúc. Lúc này, Picasso đã giàu có, ông thuê người giúp việc khiến Olga cảm thấy cô không còn việc gì để làm ở nhà. Buồn chán vì sự nghiệp múa sớm kết thúc, chồng lại ra ngoài lăng nhăng, Olga bắt đầu hành hạ chồng rồi bị suy sụp tâm lý.

Bắt đầu từ đây, những bức tranh Picasso vẽ phụ nữ trở nên “biến dạng”, kỳ cục. Cuộc hôn nhân đầu tiên này kéo dài tới 37 năm nhưng Picasso và Olga chỉ thực sự chung sống 10 năm.

Bức “Người phụ nữ đi tắm biển ngồi trên bãi cát” (1929) khắc họa hình ảnh một người phụ nữ quái dị.



Bức “Người phụ nữ đi tắm biển ngồi trên bãi cát” (1929) khắc họa hình ảnh một người phụ nữ quái dị.

Sau Olga là sự xuất hiện của cô gái Pháp Marie-Thérèse Walter, khi gặp nhau, Walter 18 còn Picasso đã 46. Walter là nàng thơ hiếm hoi được Picasso khắc họa với sự dịu dàng hiếm thấy.

Đối với Picasso, Marie-Thérèse Walter là “người tình vĩ đại nhất”.



Đối với Picasso, Marie-Thérèse Walter là “người tình vĩ đại nhất”.

Sau Walter là nhiếp ảnh gia Dora Maar. Suốt một thời gian, Picasso đã cố gắng sắp xếp để hai người tình - cũ và mới của ông không đụng mặt nhau. Thế rồi một ngày họ cùng đến phòng tranh của ông một lúc. Walter nói với Picasso: “Anh phải đưa ra quyết định. Ai sẽ là người phải ra đi?”.

Picasso thực tế cảm thấy rất hài lòng khi tình huống đó xảy ra và nói với hai người tình của mình rằng họ sẽ phải chiến đấu để tìm ra người chiến thắng. Vậy là Walter và Maar bắt đầu… “đấu vật”. Dora Maar chiến thắng và có mối tình kéo dài 8 năm với Picasso.

Dora Maar



Dora Maar

Năm 1943, Picasso quen với cô gái 22 tuổi Francoise Gilot, một sinh viên luật, một họa sĩ nghiệp dư. Picasso lúc này 62 tuổi.

Khi biết mình đã bị Gilot thay thế, Dora Maar suy sụp vô cùng. Cô không còn chỗ trong phòng vẽ của Picasso nữa, phải chuyển ra ngoài sống và ngày ngày ngóng chờ điện thoại của Picasso gọi đến. Đến năm 1945, Maar hoàn toàn suy sụp đến mức Picasso phải đưa cô vào bệnh viện.

Sau Picasso, Dora Maar không còn yêu ai khác nữa. Cô là người phụ nữ yêu Picasso nhiều nhất, cũng là người phụ nữ đau khổ nhất vì ông, hình ảnh sau cùng mà Picasso nhớ về Dora Maar là người phụ nữ luôn lau nước mắt.

Bức “Người phụ nữ lau nước mắt” khắc họa Dora Maar.



Bức “Người phụ nữ lau nước mắt” khắc họa Dora Maar.

Với Gilot, cuộc sống của cô cũng không dễ chịu gì, người vợ bị ruồng rẫy từ lâu - Olga - liên tục xuất hiện để hành hạ cô. Lúc này tâm thần đã rất bất ổn, Olga thường lao vào nhà tấn công Gilot. Về sau, Olga qua đời vì bệnh ung thư năm 1954 ở tuổi 63.

Với Francoise Gilot, Picasso có hai người con. Picasso lại tiếp tục ra ngoài gặp gỡ nhiều phụ nữ khác. Cuộc sống của Gilot bắt đầu chìm vào bất hạnh, đau khổ. Họ ở bên nhau 10 năm thì “đôi người đôi ngả”.

Francoise Gilot và Picasso


Francoise Gilot và Picasso

Gilot chưa kịp ra đi thì Geneviève Laporte đã đến. Lúc này, Picasso đã 70, Laporte - một nhà thơ - mới 24. Danh tiếng của Picasso lúc này đã đến tầm quốc tế, vì vậy, ông phải giữ bí mật về Laporte để tránh lùm xùm. Cuối cùng, không chấp nhận cuộc sống của một người tình trong bóng tối, Laporte ra đi.

Picasso buồn bã vì bị “bỏ rơi”, ông vùi mình trong công việc. Khi đó, mẫu nữ mà ông yêu thích nhất là Jacqueline Roque.

Jacqueline Roque tôn thờ Picasso. Ngay từ đầu, cô đã mong muốn được ở bên ông nhưng ông thờ ơ vì còn mải quan tâm tới Laporte. Giờ đây, “tình địch” lớn nhất đã bỏ đi, “vườn không nhà trống”, Roque dễ dàng chinh phục Picasso và trở thành người vợ thứ hai của ông. Họ kết hôn và ở bên nhau 20 năm.

Francoise Gilot và Picasso



Trong 20 năm chung sống với Jacqueline, ông vẽ hơn 400 bức tranh về cô. Đây là thời kỳ làm việc năng suất nhất của ông.

Cuối đời, Picasso sống ẩn dật, không còn sôi nổi với đời sống xã hội nữa. Người ta cho rằng Jacqueline đã “trị” được ông. Quả thực Jacqueline là người có tính chiếm hữu rất cao, cô muốn Picasso là của riêng mình, vì vậy, thường cấm các con cháu của Picasso đến thăm ông.

Picasso qua đời năm 1973, ở tuổi 92. Trên mộ, Picasso yêu cầu đặt bức tượng của Marie Thérèse Walter - “người tình vĩ đại nhất”. 4 năm sau, Walter treo cổ tự vẫn vì không thể tiếp tục cuộc sống không còn Picasso. Jacqueline nghiện rượu nặng, đến năm 1986, cũng tự vẫn bằng súng vì “vị thần” của đời cô đã đi mất.

Bích Ngọc
Tổng hợp



Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh

 130 năm sau cái chết đầy bí ẩn của đại danh hoạ Van Gogh, một nhà khoa học bất ngờ cho biết đã khám phá địa điểm mà Van Gogh vẽ bức tranh cuối đời mình chỉ từ... một tấm bưu thiếp.


Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh - ảnh 1 Bức "Những rễ cây" (Tree Roots)
Ngày 29/07/1890, như mọi ngày, Van Gogh rời nhà trọ, xách bên mình giá vẽ và dụng cụ để đi vẽ tranh. Tối hôm ấy, Van Gogh trở về với viên đạn trong người và qua đời 2 ngày sau đó. Trong ngày cuối cùng này, Van Gogh đã làm gì và đi những đâu? Sự thật duy nhất mà mọi người đều biết chính là bức tranh “Những rễ cây" (Tree Roots) được vẽ vào ngày hôm ấy.
130 năm sau vào tháng 7 năm 2020, khi cả thế giới đang gồng mình chống lại dịch bệnh, một nhà khoa học trong lúc rảnh rỗi khi ở nhà tự cách ly đã khám phá địa điểm mà Van Gogh vẽ bức tranh đó chỉ từ... một tấm bưu thiếp. 
 
Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh - ảnh 2 Wouter Van Der Veen, Giám đốc Khoa học Viện Van Gogh (Pháp) và tấm bưu thiếp giúp ông tìm ra nơi Van Gogh vẽ bức tranh cuối đời mình - “Những rễ cây”.
Wouter van der Veen, Giám đốc khoa học của Viện Van Gogh, đã tìm thấy tấm bưu thiếp về làng Auvers-sur-Oise (Paris, Pháp) khi đang nghiên cứu một kho bưu thiếp thuộc đầu thế kỷ 20. Trong lúc nghiên cứu, Veen nhìn vào tấm thiệp chụp năm 1905 và cảm thấy rằng mình đã nhìn thấy những gốc cây này ở đâu đó trước đây. “Cũng giống như bất kì ai khác đang ở Pháp, tôi đang ở nhà tự cách ly và đành dùng thời gian rảnh của mình để nghiên cứu những tấm bưu thiếp. Rồi tôi nhận ra vẻ quen quen của những rễ cây trên tấm thiệp. Tuy tấm bưu thiếp chỉ được in đen trắng, tôi có cảm giác rằng những rễ cây trong tấm bưu thiếp và trong tranh của Van Gogh là một” – Der Veen chia sẻ với Reuters
Sau khi Deer Veen cảm nhận được những điểm tương đồng trên, ông đã thông báo tới Bảo tàng Van Gogh và Viện Van Gogh để tới tận nơi và chứng thực.

Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh - ảnh 3 Vị trí được cho là tương đồng giữa tấm bưu thiếp cổ và bức tranh "Những rễ cây" của Van Gogh tiết lộ nơi Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng là một triền đồi ở Auvers-sur-Oise (Pháp). 
Trong tấm bưu thiếp cổ, một người đàn ông với chiếc xe đạp, đứng cạnh một ngọn đồi dốc phủ đầy rễ cây dày chằng chịt. Sau khi nghiên cứu kĩ càng về các rễ cây, tính xác thực của tấm bưu thiếp, Bảo tàng Van Gogh đã khẳng định đây chính là nơi Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng. “Những gốc cây” có thể đã được thực hiện ở thời điểm vài tiếng trước khi danh họa Van Gogh qua đời. Địa điểm này chỉ cách 150 mét từ nhà trọ Auberge Ravoux, nơi mà Van Gogh cư trú trong những ngày tháng cuối đời.

Địa điểm này tại làng Auvers-sur-Oise đã được khoanh lại để trở thành một khu vực thăm quan và bảo tồn mới của nước Pháp. Bảo tàng Van Gogh viết trong một thông báo: “Từ ngày hôm nay, những người đến ghé thăm làng Auvers-sur-Oise để theo bước chân của Van Gogh sẽ có thêm một trải nghiệm mới trong cuộc hành trình. Đó chính là mọi người có thể đứng ở vị trí chính xác nơi nét cọ của Van Gogh lần cuối cùng chạm vào khung vẽ”.

Der Veen chia sẻ với Reuters: “Bức Những rễ cây (Tree Roots) như một lời nhắn gửi trước khi từ giã cõi đời của Van Gogh. Bức tranh khắc họa cuộc đấu tranh giữa sự sống và cái chết. Đó là một lời chia tay đầy sắc màu về cái chết và sự tái sinh”.

Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh - ảnh 4 Wouter Van Der Veen, Giám đốc Khoa học Viện Van Gogh (Pháp) tại triền đồi mới phát hiện
“Khi người chặt lấy những cành củi từ một thân cây, những mầm cây mới sẽ lại mọc lên từ chính thân cây ấy. Van Gogh muốn nhắn gửi rằng sự nghiệp nghệ thuật của ông ấy đã viên mãn. Cùng ngày hôm ấy, trên một cánh đồng ngô gần đó, Van Gogh đã tự kết liễu đời mình bằng một phát súng trên lồng ngực của mình và ra đi mãi mãi.” – theo Der Veen. 




Mừng hay lo khi tranh Việt vượt 'tuổi dậy thì'?

Thứ Ba, 04/04/2017 06:43 GMT+7
Vào 17h30 ngày 2/4 tại phiên đấu Modern and Contemporary Art của nhà Sotheby’s ở Hong Kong (Trung Quốc), tác phẩmFamily Life (Đời sống gia đình) của Lê Phổ đã được bán với giá 1.172.080 USD, cao gấp 3 lần giá dự kiến. Đây sẽ là cột mốc lớn trong lịch sử của mỹ thuật Việt Nam.

Theo quy ước ngầm của thị trường quốc tế, chỉ khi nào một nền mỹ thuật có tác phẩm bán từ 1 triệu USD trở lên thì nền mỹ thuật ấy mới chính thức bước qua “tuổi dậy thì” để trưởng thành. Cột mốc này như là bảo chứng đầu tiên để nhiều nhà sưu tập có thể yên tâm hơn khi bỏ số tiền lớn cho lĩnh vực được gọi là “đầu tư mạo hiểm”. Nó cũng tương tự như chỉ số tăng trưởng tích cực của chứng khoán luôn kèm theo sự thu hút việc đầu cơ.
Có câu hỏi được đặt ra: Nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam khá liên tục và phong phú, chẳng lẽ chưa có một tác phẩm nào bán hơn 1 triệu USD? Nếu đi vào những giao dịch ngầm, những tác phẩm của Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh… được bán trên 1 triệu USD là bình thường. Nhưng ở đây chỉ xét những giá trị công khai, kiểu “miếng giữa làng bằng sàng xó bếp”.

Tác phẩm “Family Life” (Đời sống gia đình) của Lê Phổ đã bán với mức giá hơn 1,1 triệu USD
Tình trạng dấm dúi, bịp bợm, thiếu minh bạch trong mỹ thuật Việt đã liên tục diễn ra trong hơn 30 năm qua, và chắc chắn còn kéo dài khá lâu. Tại sao vậy? Vì ở đây liên quan đến nạn tranh giả tranh nhái, liên quan đến cá độ, bài bạc, trốn thuế, lợi ích nhóm… Nói chung các tổ chức tài chính đen này không muốn và gần như không thể công khai các hoạt động buôn bán mỹ thuật của mình, nhưng lợi nhuận thì vẫn còn đó, nên càng duy trì tình trạng dấm dúi.
Cũng có câu hỏi: Giá bán cao nhất vậy là tác phẩm đẹp nhất? Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng vẻ đẹp thực thụ của tác phẩm và giá bán công khai trên thị trường đôi khi không song hành với nhau. Ví dụ tác phẩm có giá trị mỹ thuật tốt nhất của Lê Phổ chưa hẳn là tác phẩm có giá bán cao nhất; cũng như Family Life không phải là tác phẩm đẹp nhất của Lê Phổ. Nhiều họa sĩ suốt một thời gian dài không bán được tranh không phải vì tác phẩm họ kém nghệ thuật. Điều này cũng đúng với quy luật chung của thị trường nghệ thuật thế giới.
Thẳng thắn nhìn nhận, so với các họa sĩ thời kỳ đầu và xét trong lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam, tác phẩm của Lê Phổ không thể ở 3-4 vị trí đầu tiên. Cho nên việc tác phẩm Lê Phổ đang dẫn đầu nên nhìn ở khía cạnh khác, nó cho thấy sự minh bạch tương đối về nguồn gốc, xuất xứ, và đã quen mặt tại các phiên đấu giá quốc tế. Trong khi các họa sĩ tài năng khác ở trong nước thì bị nạn tranh giả tranh nhái làm mất niềm tin, nên khó thu hút người mua, dù giá trị nghệ thuật có thể cao hơn.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mua nghệ thuật giá cao là một cách “khẳng định đẳng cấp”, một cách “đổi tiền ăn lãi suất hấp dẫn”, chứ chưa hẳn vì giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Cho nên, việc Lê Phổ giúp tranh Việt vượt “tuổi dậy thì” là nên mừng hay lo?
Mừng là từ nay vị thế của tranh Việt nói chung bớt lép vế, thu hút thêm các nhà đầu tư mới. Còn lo thì rất nhiều, bởi nạn tranh giả tranh nhái và tình trạng dấm dúi sẽ nương vào đây phá nát thị trường và niềm tin nhiều hơn nữa.
Vô Ưu
Thể thao & Văn hóa


Tranh Lê Phổ vẫn vào nhóm cao giá

Thứ Ba, 15/11/2011 07:31 GMT+7
Tại phiên đấu giá mùa Thu của nhà Larasati sẽ diễn ra tại Hong Kong vào ngày 26/ 11 tới đây, tranh của Lê Phổ tiếp tục vào nhóm những tác phẩm cao giá.
Phiên đấu này thuộc quy mô nhỏ và tinh chọn (dưới 100 tác phẩm), chắt lọc các họa sĩ đã ổn định tên tuổi (dù có người còn khá trẻ như I Nyoman Masriadi, sinh 1973) với giới mua bán nghệ thuật châu Á.
Tác phẩm Hòa hợp của Lê Phổ
Hai tác phẩm của Lê Phổ trong phiên đấu này có tên Hòa hợp (sơn dầu trên bố, 114,3 x 146 cm) và Hoa tulip đỏ và vàng thau (sơn dầu trên masonite, 81 x 54 cm) - không thuộc loại tiêu biểu của danh họa này; bức Hòa hợp có giá khởi điểm từ 44.800 USD cho đến 57.600 USD vì khổ lớn và có nguồn gốc rõ ràng từ Wally Findlay Galleries (Palm Beach, Florida, Mỹ). Nếu so về giá, thì tranh của Lê Phổ chỉ xếp sau các tên tuổi nổi bật như Handiwirman Sahputra, S. Sudjojono, I Nyoman Masriadi, Srihadi Soedarsono...
Tại phiên đấu này còn có tác phẩm Suy tư (sơn dầu trên bố, 60 x 80 cm, 2003) của Đặng Xuân Hòa với giá khởi điểm từ 7.000 đến 10.200 USD.
Văn Bảy


Gian nan tranh Việt hồi hương

Thứ Tư, 24/10/2018 07:03 GMT+7
 Trước đây, khái niệm “tranh Việt hồi hương” được cho là viển vông, vì suốt một thời gian dài, chỉ có bán tranh ra nước ngoài, mấy khi ra nước ngoài mua tranh. Nhưng gần đây thì tình hình đã khác, vì đang có nhiều người Việt ra nước ngoài đấu giá tranh của các thế hệ tiền bối để mang về Việt Nam.

Bức tranh lụa Thiếu nữ cầm quạt của Nguyễn Nam Sơn vừa lên sàn nhà đấu giá Aguttes của Pháp hôm 22/10/2018 là một ví dụ. Đã có 3 - 4 nhà sưu tập trong nước muốn mua tranh mang về…
Đa số dự đoán bức Thiếu nữ cầm quạt sẽ bán chừng 200.000 euro, có thể hồi hương được, nhưng kết quả đấu lên đến 440.000 euro, cộng dồn các chi phí khác thành 565.040 euro, hơn 15 tỷ đồng. Hoặc như bức lụa Đi chợ về của Trần Văn Cẩn cũng tưởng dễ mua, khi mức ước đoán từ 40.000 - 60.000 euro, nhưng kết quả đấu 230.000 euro, cộng dồn các chi phí thành 297.080 euro, gần 8 tỷ đồng.
Chú thích ảnh
Bức lụa “Thiếu nữ cầm quạt” của Nguyễn Nam Sơn
Bức Thiếu nữ cầm quạt rời Hà Nội từ năm 1938, được xem là một trong vài đại diện tiêu biểu cho kỹ thuật lụa hiện đại của họa sĩ Nguyễn Nam Sơn. Trước phiên đấu, đã có nhiều ước mơ về việc hồi hương bức tranh này, cho bảo tàng mượn treo, hoặc có những cuộc trưng bày rộng rãi cho công chúng chiêm ngưỡng.
Các bảo tàng mỹ thuật tại Việt Nam cũng chưa có được những tác phẩm xứng tầm của Nguyễn Nam Sơn và Victor Tardieu - đồng sáng lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, những người mở cánh cổng lớn cho mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Nhưng đó có lẽ chỉ là những “giá như” mà thôi.
Quan sát trực tiếp tại phiên đấu, một nhà sưu tập cho biết người mua hai bức này và vài bức khác là một phụ nữ người Việt. Theo thông tin hành lang, người này đại diện đấu cho một nhà sưu tập ẩn danh, sống ở nước ngoài. Điều có thể trông chờ ở tương lai là sự hào phóng của nhà sưu tập ẩn danh này, biết đâu ông/ bà ấy sẽ cho thuê giá rẻ, hoặc cho mượn để treo. Một triển lãm những tác phẩm đã đấu giá quốc tế là rất nên làm, nhưng Việt Nam chưa có cơ hội khả thi để thực hiện.
Chú thích ảnh
Bức lụa “Đi chợ về” của Trần Văn Cẩn
Gần đây, quan sát thị trường quốc tế, thấy nhiều nhà sưu tập Trung Quốc đã bắt đầu quan tâm đến tranh Việt, đặc biệt là tranh sơn mài và tranh lụa. Các phiên đấu tại Hong Kong (Trung Quốc), Singapore, Paris (Pháp)… đã có nhiều sự hiện diện của họ. Những nhà sưu tập nước này đang nổi lên khắp thế giới bằng phương châm “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”.
Nhìn ở khía cạnh tích cực, điều này sẽ góp phần nhanh hơn trong việc làm khan hiếm, đẩy giá và tăng giá tranh Việt. Bởi Trung Quốc đang là một thị trường nghệ thuật rộng lớn, tăng trưởng mạnh mẽ, về thị phần thì xếp ngang hàng, thậm chí cao hơn Hoa Kỳ, tùy năm. Nếu nhìn ở khía cạnh hồi hương tranh Việt, thì đang có nhiều khó khăn, thách thức, bởi giá cả leo thang chóng mặt, khiến tâm thế và túi tiền nhiều nhà sưu tập nội địa chưa theo kịp.

Theo Forbes, thế giới đang có hơn 1.420 tỷ phú USD, Việt Nam đã góp mặt 4 người. Nên cần một “giá như” cụ thể hơn, đó là “nước lên thì thuyền lên”, “phú quý sinh lễ nghĩa”, hy vọng nhiều người có điều kiện tài chính sẽ trích một phần nào đó vào việc hồi hương những tranh Việt có ý nghĩa trong lịch sử nghệ thuật. Đây cũng là việc thường thấy ở các triệu phú, tỷ phú trên thế giới. Bởi việc chấn hưng văn hóa, chấn hưng nghệ thuật nói chung, việc hồi hương tranh Việt nói riêng, không thể là việc của riêng ai.
Vô Ư



Chiêm ngưỡng tác phẩm của 19 họa sĩ đương đại hàng đầu Việt Nam

Thứ Năm, 06/08/2020 12:20 GMT+7
 Với mong muốn tôn vinh, giới thiệu các họa sĩ đã khẳng định tên tuổi, vị thế trên thị trường mỹ thuật trong nước và quốc tế, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm (Bộ VH,TTT&DL) tổ chức Triển lãm tác phẩm của các họa sĩ đương đại hàng đầu trên thị trường mỹ thuật nhằm giúp công chúng yêu nghệ thuật trong nước và quốc tế có được cái nhìn khái quát về sự hình thành và phát triển của thị trường mỹ thuật Việt Nam.
Triển lãm dự kiến khai mạc chiều nay (6/8) tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (số 66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội). Tuy nhiên, do và diễn biến phức tạp của Covid-19, BTC không tổ chức sẽ không tổ chức lễ khai mạc. Triển lãm được trưng bảy từ hôm nay (6/8/2020) đến ngày 15/8/2020 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Các tác giả, tác phẩm được lựa chọn trưng bày, giới thiệu tại triển lãm theo 2 tiêu chí, gồm: Tác giả có tác phẩm chất lượng nghệ thuật tốt, có dấu ấn cá nhân và tác giả bán được nhiều tác phẩm, có vị trí trên thị trường mỹ thuật. 

Dựa theo 2 tiêu chí trên, BTC và Giám tuyển đã lựa chọn ra 19 họa sĩ. Trong đó, có 12 họa sĩ ở Hà Nội gồm: Đặng Xuân Hòa, Bùi Hữu Hùng, Lê Thanh Sơn, Đinh Quân, Thành Chương, Trần Lưu Hậu, Lê Thiết Cương, Đào Hải Phong, Phạm Luận, Phạm An Hải, Vũ Đình Tuấn, Hồng Việt Dũng; 7 họa sĩ ở TP.HCM: Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Trần Văn Thảo, Nguyễn Tấn Cương, Hứa Thanh Bình, Lê Kinh Tài. 
Báo Thể thao & Văn hóa giới thiệu tác phẩm của 19 họa sĩ đương đại hàng đầu Việt Nam trưng bày trong triển lãm:
Chú thích ảnh
Ánh trăng - Phạm Luận - sơn dầu
Chú thích ảnh
Bùi Hữu Hùng - Em Xoan - sơn mài trên gỗ 
Chú thích ảnh
Đặng Xuân Hòa - Tuổi đời - sơn dầu
Chú thích ảnh
Đào Hải Phong - Miền yêu thương - chất liệu sơn dầu
Chú thích ảnh
Đinh Quân - Tâm thức - sơn mài 
Chú thích ảnh
Hồ Hữu Thủ - Thiếu nữ - sơn mài 
Chú thích ảnh
Hồng Việt Dũng - Phong cảnh với con thuyền nhỏ - sơn dầu
Chú thích ảnh
Hứa Thanh Bình - Bướm và hoa - sơn dầu
Chú thích ảnh
Lê Kinh Tài - Sự thật trong phản chiếu song hành  
Chú thích ảnh
Lê Thanh Sơn - Chốn bình yên - sơn dầu
Chú thích ảnh
Lê Thiết Cương - Nghĩ - sơn dầu
Chú thích ảnh
Nguyễn Tấn Cương - Cá - chất liệu tổng hợp 
Chú thích ảnh
Nguyễn Thanh Bình - Ni sư - sơn dầu
Chú thích ảnh
Nguyễn Trung - Tiếng vọng từ nơi xa - Acrylic trên giấy 
Chú thích ảnh
Phạm An Hải - Màu thời gian
Chú thích ảnh
Thành Chương - Gia đình nhà chuột - sơn mài
Chú thích ảnh
Trần Lưu Hậu - SAPA - Acrylic
Chú thích ảnh
Trần Văn Thảo - Đường xoắn ốc - Vải, chì than, acrylic trên giấy dán
Chú thích ảnh
Vũ Đình Tuấn - Mây tam diện - chất liệu lụa
Triển lãm là hoạt động góp phần ghi nhận những thành tựu, nỗ lực của họa sĩ cho sự phát triển của thị trường mỹ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần ngày càng cao của nhân dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng giao lưu văn hóa.  
Hoài Ngọc



Xem tranh của các họa sĩ 'bom tấn' trên thị trường mỹ thuật

Thứ Năm, 06/08/2020 08:08 GMT+7
 Triển lãm tác phẩm của các họa sĩ đương đại hàng đầu trên thị trường mỹ thuật sẽ diễn ra tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) vào hôm nay 6/8 và kéo dài trong 10 ngày với tác phẩm của 19 họa sĩ đương đại Việt Nam. Tuy con số thực tế có thể hơn 40 người, nhưng đa số các tên tuổi trong 19 họa sĩ này đã là một bảo chứng cho thị trường mỹ thuật hiện nay.


Đáng lý triển làm này đã diễn ra hồi tháng 4 vừa qua nhưng do đại dịch Covid-19 nên phải hoãn lại. Triển lãm có sự góp mặt của 12 họa sĩ ở Hà Nội là Trần Lưu Hậu (1928-2020), Thành Chương, Đặng Xuân Hòa, Bùi Hữu Hùng, Hồng Việt Dũng, Lê Thiết Cương, Phạm Luận, Phạm An Hải, Đinh Quân, Lê Thanh Sơn, Đào Hải Phong, Vũ Đình Tuấn. Và 7 họa sĩ ở TP.HCM là Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Tấn Cương, Hứa Thanh Bình, Nguyễn Thanh Bình, Trần Văn Thảo, Lê Kinh Tài.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Giới hạn sở thích" (sơn dầu trên bố, 180cm x 150cm, 2010) của Lê Kinh Tài
Một phác họa đáng chú ý
Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi nhận xét: “Thị trường tranh Việt Nam đang trên con đường phát triển, nhất là tranh Đông Dương với những ảnh hưởng lớn mạnh. Tuy nhiên, muốn cho thị trường tranh Việt Nam mở rộng và theo đuổi kịp trào lưu, chúng ta cần những tên tuổi mới với những hướng đi cách tân. Các họa sĩ nêu tên trong cuộc triển lãm này đã có những thành công nhất định trên thị trường quốc tế, vì sáng tác của họ có thể tách rời dòng chảy hàn lâm của tranh Đông Dương để tìm cho mình một chỗ đứng riêng biệt. Nhưng đối với thị trường tranh tại Việt Nam còn đang trong tình trạng chập chững, họ cần phải được nhắc đến nhiều hơn nữa".

"Chính vì thế, tôi cho rằng cuộc triển lãm này là một đầu tư và khuyến khích cho thị trường tranh Việt Nam có những bước tiến vững chắc hơn” - ông Khôi nhấn mạnh.
Chú thích ảnh
Tác phẩm “Màu thời gian” (sơn dầu trên bố, 120cm x 200cm, 2020) của Phạm An Hải
Tiêu chí của triển lãm này rất cụ thể: Hướng đến những tác phẩm có dấu ấn cá nhân và bán được nhiều, có vị trí trên thị trường mỹ thuật. Kể từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đang sản sinh ra thêm thị trường thứ cấp, bên cạnh thị trường sơ cấp như đã thấy. Nhưng các triển lãm gọi tên đích danh là vị thương mại, vị thị trường như triển lãm này còn quá ít. Càng ít hơn nữa, nếu xét đến các triển lãm, các sự kiện do các cơ quan nhà nước tổ chức.
“Đây là một triển lãm nhằm để tôn vinh các họa sĩ có những ảnh hưởng đến thị trường mỹ thuật Việt Nam! Đây cũng là một động thái tốt, vì vậy cần có nhiều hơn nữa, sâu rộng hơn nữa, dưới các hình thức và các chuyên đề khác nhau để thúc đẩy sự phát triển của thị trường mỹ thuật từ phía nhà nước” - họa sĩ Phạm An Hải nói.
Hiểu sai về khái niệm thị trường
Theo họa sĩ Thành Chương: “Thị trường nghệ thuật trên thế giới đã có từ lâu. Ở ta thì giờ mới đang cố gắng để có. Thị trường là cơ sở hạ tầng của một nền nghệ thuật. Nó nuôi dưỡng và thúc đẩy nghệ thuật phát triển. Nó đem nghệ thuật và niềm vui đến cho mọi người. Thế giới luôn đánh giá họa sĩ theo giá tranh trên thị trường nghệ thuật”.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Giấc mơ" (sơn mài, 120cm x 100cm, 2019) của Thành Chương
Theo dõi cộng đồng mạng mấy ngày qua, có lẽ nhiều người đang hiểu sai về khái niệm thị trường mà triển lãm này hướng đến. Rõ ràng triển lãm đã tuyển chọn được các họa sĩ thành công trên thị trường và các họa sĩ vẽ vì thị trường - cả hai đều rất quan trọng. Nếu triển lãm chỉ tuyển chọn một trong hai thì rõ ràng phiến diện. Nếu có điều gì đáng tiếc, đó là như đã đề cập ở trên, nên mở rộng số lượng (chừng 40 tác giả) và mở rộng thể loại, bởi điêu khắc, sắp đặt, đa phương tiện… cũng đã bán được giá “bom tấn” đó thôi.
Còn theo nhà môi giới mỹ thuật Philip Nguyễn Đức Tiến thì: “Đã gắn tác phẩm và tác giả với thị trường thì phải được hiểu là có số liệu thống kê tác phẩm và trị giá giao dịch trong một thời gian đủ dài, từ 5 đến 10 năm. Thống kê này phải dựa trên các dữ liệu khả tín và công khai, từ chính các họa sĩ cung cấp và từ các tổ chức thống kê độc lập. Về triển lãm này, điểm tích cực mà tôi ủng hộ là nhà tổ chức đủ mạnh dạn để gắn 19 tác giả với thị trường. Vì chỉ có thị trường mới nuôi dưỡng mỹ thuật phát triển đa dạng, cho dù nhiều các tác giả tại triển lãm này chưa hẳn đã là hàng đầu”.
Hiền Hòa



Nơi danh họa Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng

Nơi danh họa Van Gogh (1853 - 1890) vẽ bức tranh cuối cùng đã vừa được tìm thấy.

Nơi danh họa Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng - 1


Bức “Những gốc cây”

Đó là một triền đồi từng được khắc họa trong bức “Những gốc cây”. Bức họa này vốn được giới nghệ thuật nhìn nhận là bức tranh cuối cùng trong cuộc đời Van Gogh, dựa trên một số thông tin tìm thấy trong những thư từ được lưu lại. Bức “Những gốc cây” có thể đã được thực hiện ở thời điểm vài tiếng trước khi danh họa Van Gogh qua đời.

Bức “Những gốc cây” khắc họa những... gốc cây mọc trên một triền đồi ở gần ngôi làng Auvers-sur-Oise của Pháp. Địa điểm nơi danh họa Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng ở ngôi làng Auvers-sur-Oise đã được phát hiện ra bởi ông Wouter van der Veen, giám đốc nghiên cứu của Viện Van Gogh.

Ông Van der Veen đã để ý tới những gốc cây được chụp lại trên một tấm bưu ảnh chụp tại ngôi làng Auvers-sur-Oise của Pháp trong khoảng năm 1900-1910 .

Giờ đây, một cuộc nghiên cứu xung quanh bức tranh “Những gốc cây”, đối sánh với tấm bưu ảnh và tình trạng hiện tại của triền đồi đã được tiến hành, các nhà nghiên cứu tại Bảo tàng Van Gogh và một số nhà sinh vật học đã kết luận rằng địa điểm vừa được tìm thấy nhiều khả năng là nơi Van Gogh đã thực hiện những nét cọ cuối cùng trong cuộc đời mình.

Những gốc cây từng được khắc họa trong bức tranh đã tồn tại suốt 130 năm qua, kể từ khi vị danh họa qua đời. Trước nay, giới nghiên cứu mỹ thuật vẫn luôn tin rằng Van Gogh đã thực hiện bức “Những gốc cây” ngay trước khi ông tự sát bằng một phát súng bắn vào ngực.

Giờ đây, triền đồi đặc biệt này đã được đặt sau một hàng rào bằng gỗ để bảo vệ một nơi có ý nghĩa đối với cuộc đời và sự nghiệp của vị danh họa. Một buổi lễ đã được tổ chức hồi đầu tuần này, với sự tham gia của bà Emilie Gordenker, giám đốc của Bảo tàng Van Gogh nằm ở Amsterdam (Hà Lan) và ông Willem van Gogh, một hậu duệ của dòng họ Van Gogh.

Nơi danh họa Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Hòa trộn bức bưu ảnh cổ và bức tranh của Van Gogh

Ông Wouter van der Veen, giám đốc nghiên cứu của Viện Van Gogh cho hay: “Ánh sáng mặt trời được khắc họa bởi Van Gogh đã cho thấy những nét vẽ cuối cùng trong cuộc đời vị danh họa được vẽ vào khoảng cuối buổi chiều, điều này cho ta thêm thông tin về cái ngày định mệnh đó, ngày mà vị danh họa kết thúc cuộc đời mình bằng việc tự sát”.

Ông Teio Meedendorp, một chuyên gia cao cấp tại Bảo tàng Van Gogh nhận định rằng địa điểm vừa được tìm thấy chỉ cách nhà trọ Auberge Ravoux 150 mét, nhà trọ này nằm ở làng Auvers-sur-Oise, tại đây, Van Gogh đã sống 70 ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Có thể vị danh họa đã đi qua trước những gốc cây này nhiều lần và rồi quyết định sẽ ghi lại cảnh quan này trên vải vẽ.

Ông Teio Meedendorp nhận xét: “Sự tương đồng rất lớn giữa những gốc cây xuất hiện trên bưu ảnh so với bức vẽ của Van Gogh đã cho thấy nơi đây có khả năng cao là địa điểm vị danh họa đã thực hiện bức vẽ cuối cùng trong cuộc đời mình. Việc đây là bức vẽ cuối cùng của Van Gogh khiến cho tác phẩm trở nên đặc biệt và kịch tính hơn.

“Van Gogh hẳn đã nhiều lần đi qua nơi này trên đường đi ra cánh đồng, nơi ông đã từng thực hiện vài bức vẽ trong tuần cuối cùng của cuộc đời mình, cũng là nơi ông đã quyết định kết thúc cuộc đời buồn bã của mình”.

Bích Ngọc

Theo The Guardian




Bộ ba bức tranh khắc họa cảnh biển có giá hơn 35 tỷ đồng

Bộ ba bức tranh được thực hiện bởi nghệ sĩ “ẩn diện” nổi tiếng thế giới - Banksy. Các tác phẩm này sẽ được đem ra đấu giá từ thiện với mức giá ước đạt 1,2 triệu bảng (hơn 35 tỷ đồng).

Bộ ba bức tranh khắc họa cảnh biển có giá hơn 35 tỷ đồng - 1


Loạt tranh có tên “Mediterranean Sea View 2017” (Cảnh biển Địa Trung Hải năm 2017) được quyên tặng bởi nghệ sĩ Banksy để gây quỹ cho bệnh viện ở thành phố Bethlehem.

Loạt tranh có tên “Mediterranean Sea View 2017” (Cảnh biển Địa Trung Hải năm 2017) được quyên tặng bởi nghệ sĩ Banksy để gây quỹ cho bệnh viện ở thành phố Bethlehem.

Bộ ba bức tranh thoạt trông giống như những bức tranh khắc họa phong cảnh được thực hiện hồi thế kỷ 19 với phong cách cổ điển, nhưng những chiếc áo phao nằm rải rác bên bờ biển lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác về thế giới đương đại.

Những tác phẩm này được thực hiện bởi nghệ sĩ nổi tiếng Banksy và sẽ xuất hiện tại một cuộc đấu giá để gây quỹ từ thiện cho bệnh viện ở thành phố Bethlehem.

Bộ ba bức tranh khắc họa cảnh biển có giá hơn 35 tỷ đồng - 2


Bộ ba bức tranh khắc họa cảnh biển có giá hơn 35 tỷ đồng - 3


Cuộc đấu giá được tiến hành bởi nhà đấu giá Sotheby ở London, Anh

Cuộc đấu giá được tiến hành bởi nhà đấu giá Sotheby ở London, Anh với mức giá ước đạt của bộ ba bức tranh này dao động trong khoảng từ 800.000 tới 1,2 triệu bảng Anh (tương đương từ hơn 23 tới hơn 35 tỷ đồng).

Bộ ba bức tranh “Mediterranean Sea View 2017” dành để nói về vấn đề của những người di cư tị nạn trong một thập kỷ qua. Cách khắc họa phong cảnh và lồng khung khiến tác phẩm thoạt tiên trông có vẻ cổ điển nhưng những chiếc áo phao màu cam nằm rải rác bên bờ biển lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác.

Bích Ngọc

Theo The Guardian



Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật

Những vòng 3 đẹp đẽ đã từng là nét đẹp gợi cảm, phóng khoáng được các họa sĩ, nhà điêu khắc ở thời kỳ Phục hưng chú trọng khắc họa trong các tác phẩm của mình.

Dưới đây là những vòng 3 đẹp nhất được khắc họa trong các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng:

Bức phác họa “Người đàn ông đứng khỏa thân” của danh họa người Ý Leonardo da Vinci thực hiện vào khoảng năm 1504-1506

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 1


Danh họa Leonardo da Vinci có biệt tài đưa yếu tố 3D vào trong các tác phẩm của mình, từ các bức phác họa cho tới các bức tranh, khiến tác phẩm của ông có chiều sâu thị giác và đánh thức xúc cảm trong người xem.

Với bức phác họa tôn vinh vẻ đẹp hình thể con người này, những ai từng có dịp được chiêm ngưỡng tận mắt đều nhận thấy yếu tố 3D khiến vóc dáng nhân vật như nổi lên khỏi mặt giấy vẽ. Thực tế bức phác họa “Người Vitruvian” của Da Vinci nổi tiếng hơn, nhưng bức “Người đàn ông đứng khỏa thân” lại lạ lẫm hơn.

Các bức phác họa này đều nằm trong loạt tác phẩm tôn vinh vẻ đẹp hình thể con người do vị danh họa thực hiện, cho thấy những tỉ lệ hoàn hảo lý tưởng.

Bức phác họa “Người đàn ông đứng khỏa thân” cho thấy một sự chân thực lạ lẫm, phóng khoáng hơn so với những tỉ lệ hoàn hảo vốn thường xuất hiện trong các bức phác họa hình thể người của Da Vinci. Hơn thế, bức phác họa này khắc họa phía sau người đàn ông khiến tâm điểm của bức vẽ chính là vòng 3 của nhân vật.

Bức “Louise O’Murphy” của danh họa người Pháp François Boucher, thực hiện vào năm 1752

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 2


Giới hội họa ở Pháp hồi thế kỷ 18 có những cách cảm nhận vui tươi, mới mẻ, phá cách xung quanh yếu tố gợi cảm. Cách khắc họa phóng túng trước vẻ đẹp con người cho thấy lối tư duy cởi mở của nghệ thuật khi ấy.

Bức “Venus và Adonis” của danh họa người Ý Titian, thực hiện vào năm 1554

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 3


Bức tranh khắc họa nữ thần Venus cầu xin người tình - nam thần Adonis hãy ở lại với mình. Cái ôm của Venus như muốn níu giữ còn Adonis như đang đẩy nàng ra và đã muốn rời đi. Titian đã khắc họa cả sự tuyệt vọng và sự quyết liệt của nàng trước mong muốn níu giữ người tình.

Trong tranh, gương mặt của Venus gần như bị chìm khuất, chính thân người nàng thể hiện sự dữ dội trong mong muốn níu giữ Adonis ở lại.

Tượng David của nghệ sĩ người Ý Michelangelo, được thực hiện vào năm 1504

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 4


Michelangelo sinh thời từng khẳng định rằng bức tượng David là để ngợi ca tuổi trẻ và lòng can đảm. Bức tượng David của Michelangelo vốn dĩ được xem là một trong những tác phẩm điêu khắc đỉnh cao khắc họa vẻ đẹp con người, với những đường nét và tỉ lệ tuyệt đẹp.

Tượng David của nghệ sĩ điêu khắc người Ý Donatello, được thực hiện vào năm 1440

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 5


Khi Donatello thực hiện bức tượng David, ông quyết định sẽ thực hiện theo một cách mới mẻ, táo bạo so với những bức tượng khắc họa vẻ đẹp nam giới đầy lý tưởng. Donatello để nhân vật của mình đi ủng và đội mũ dù… khỏa thân.

Tượng “Người đánh xe ngựa của thành Motya” được thực hiện từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 6


Bức tượng được thực hiện từ thời Hy Lạp cổ đại khắc họa một người đánh xe ngựa. Nhân vật được khắc họa trong trang phục mỏng manh và ôm sát đến mức người xem chắc chắn không thể bỏ qua những đường nét cơ thể của người đánh xe ngựa khỏe khoắn, trẻ trung.

Dù không còn biết danh tính của tác giả bức tượng nhưng giới nghệ thuật luôn nhìn nhận tác giả của bức tượng này là thiên tài điêu khắc, bởi rõ ràng nhân vật có mặc trang phục nhưng trang phục lại quá mỏng nhẹ và vẫn khoe ra được vẻ đẹp hình thể nhân vật, đặc biệt hơn thế, toàn bộ sự tinh tế này được thực hiện trên chất liệu đá.

Bức “The Rokeby Venus” của họa sĩ người Tây Ban Nha Diego Velázquez thực hiện trong khoảng thời gian từ 1647 đến 1651

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 7


Thần Venus trong tranh quay lưng lại người xem tranh và khoe ra những đường cong gợi cảm của mình. Đây là một trong những bức tranh nổi tiếng nhất khắc họa thần Venus.

Bức “Chiếm lấy Ganymede” thực hiện bởi họa sĩ người Ý Damiano Mazza vào khoảng năm 1575

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 8


Trong thần thoại Hy Lạp, Ganymede là vị thần tình yêu và ham muốn đồng tính. Ganymede vốn sống ở thành Troy, chàng nổi tiếng với vẻ đẹp mê hoặc và được xem như chàng thanh niên tuấn tú nhất cõi trần.

Thần Zeus thậm chí cũng bị chao đảo trước vẻ đẹp của Ganymede nên đã biến thành đại bàng bắt cóc cậu lên đỉnh Olympia, ban cho cậu sự bất tử để cậu được ở trong diện mạo thanh xuân tuấn tú mãi mãi. Để khẳng định về sức hấp dẫn của Ganymede và việc chàng bị bắt cóc đưa đi, họa sĩ Mazza đã khắc họa nhân vật Ganymede theo cách... gợi cảm nhất.

Bức “Ba nữ thần” của danh họa người Ý Raphael, thực hiện vào khoảng năm 1504-1505

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 9


Bức tranh sơn dầu khắc họa ba nữ thần xinh đẹp, gợi cảm. Đây là bức tranh sơn dầu đầu tiên mà trong đó danh họa Raphael khắc họa nhân vật nữ khỏa thân từ cả phía trước và phía sau.

Nhiều chuyên gia hội họa nhận định rằng ba người phụ nữ trong tranh tượng trưng cho những giai đoạn trong cuộc đời của người phụ nữ, nữ thần ngoài cùng bên trái tượng trưng cho vẻ đẹp của trinh nữ, nữ thần đứng ngoài cùng bên phải tượng trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ đã trưởng thành, và nữ thần đứng giữa là người phụ nữ đã thấu hiểu nhiều điều về cuộc đời.

Bích Ngọc

Theo The Guardian





Bí mật giúp danh họa Leonardo da Vinci tạo nên siêu phẩm “Mona Lisa” - 1


Đôi mắt tinh nhanh với khả năng quan sát từng chi tiết rất nhỏ, mà thông thường nhiều người sẽ bỏ qua, có thể là một siêu năng lực mà Leonardo sở hữu

Các nhà khoa học tin rằng đôi mắt tinh nhanh khác thường của danh họa Leonardo da Vinci đã giúp ông khắc họa được vẻ đẹp và nụ cười bí ẩn của nàng Mona Lisa.

Đôi mắt tinh nhanh với khả năng quan sát từng chi tiết rất nhỏ, mà thông thường nhiều người sẽ bỏ qua, là một nét đặc biệt mà những vận động viên thể thao đẳng cấp trong các bộ môn như quần vợt hay bóng chày sở hữu.

Có thể danh họa Leonardo da Vinci cũng sở hữu đôi mắt với khả năng quan sát nhanh, phân tích chính xác tới từng chi tiết nhỏ, điều này giúp bậc thầy hội họa thời kỳ Phục hưng có thể ghi lại chính xác một thoáng biểu cảm mong manh, mà chỉ trong tích tắc có thể đã không còn bắt gặp trên gương mặt nàng Mona Lisa nữa.

Bình thường, chúng ta chỉ thấy những con chim, con chuồn chuồn bay nhanh, ta nghĩ hai bên cánh của chúng rất đối xứng nhau, nhưng những người có năng lực quan sát đặc biệt sẽ nhìn thấy cả khoảnh khắc khi các bên cánh không thực sự đối xứng với nhau.

Bí mật giúp danh họa Leonardo da Vinci tạo nên siêu phẩm “Mona Lisa” - 2


Các nhà nghiên cứu hội họa từ lâu đã có những suy luận về đôi mắt tinh nhanh của danh họa Leonardo da Vinci

Các nhà nghiên cứu hội họa từ lâu đã có những suy luận về đôi mắt tinh nhanh của danh họa Leonardo da Vinci. Giáo sư David S. Thaler của trường Đại học Basel (Thụy Sĩ) đã nghiên cứu chuyên sâu về điều này và vừa công bố những kết quả mà ông thu thập được sau quá trình tìm hiểu.

Bên cạnh đó, giáo sư Thaler cũng phân tích lý do tại sao Leonardo da Vinci có thể đưa lại cho những bức vẽ của mình chiều sâu cảm xúc rất đặc biệt.

Trước hết, giáo sư Thaler chứng minh mức độ tinh nhanh siêu phàm của đôi mắt danh họa Leonardo thông qua bản vẽ mà vị danh họa này đặc tả những đôi cánh của một con chuồn chuồn, theo đó, cánh trước và cánh sau của chuồn chuồn sẽ đập lệch nhịp với nhau. Điều này lúc đương thời chưa được nhiều người biết tới

Động tác đập cánh của con chuồn chuồn diễn ra quá nhanh và đa số chúng ta sẽ không thể nhìn ra được sự khác biệt của cánh trước, cánh sau. Về sau, việc ghi hình “slow-motion” (quay chậm) ra đời giúp chứng minh rõ ràng cho thực tế này, nhưng Leonardo đã biết được điều ấy từ 4 thế kỷ trước.

Leonardo da Vinci (1452-1519) đã biết được rằng khi đôi cánh trước của chuồn chuồn nâng lên thì cặp cánh sau sẽ hạ xuống, nhưng đối với đa phần chúng ta, năng lực thị giác không cho phép quan sát ra điều ấy.

Đôi cánh chuồn chuồn trong một thước phim quay chậm

Theo giáo sư Thaler, năng lực thiên phú này có thể là một bí mật giúp Leonardo thực hiện được những bức tranh nổi tiếng nhất trong sự nghiệp hội họa của mình: “Nụ cười của nàng Mona Lisa quá bí ẩn và hấp dẫn, bởi nó đặc tả một khoảnh khắc ngay trước khi nàng nở ra một nụ cười.

“Leonardo với khả năng thị giác nhạy bén của mình đã nắm bắt lại khoảnh khắc ngay trước khi nụ cười nở ra và giữ lại khoảnh khắc ấy để đặc tả trong tranh. Thường ký ức của chúng ta đọng lại ở một hình ảnh cố định, không phải một chuỗi chuyển động liên tiếp.

“Nhưng Leonardo và một số danh họa khác có khả năng phân tách một chuỗi chuyển động ra thành từng khoảnh khắc và thâu tóm lại một khoảnh khắc mà họ ưng ý nhất, chẳng hạn như Leonardo thâu tóm lại khoảnh khắc trước khi nàng Mona Lisa nở nụ cười”.

Ngoài ra, giáo sư Thaler cũng nghiên cứu về cách danh họa Leonardo sử dụng những hiểu biết của ông về cách vẽ 3D để biểu đạt vẻ đẹp và xúc cảm trong những tác phẩm hội họa. Leonardo vốn là bậc thầy trong kỹ thuật vẽ mờ nhoà.

05:50
Viện bảo tàng Louvre tôn vinh sự nghiệp danh họa Leonardo da Vinci

Theo đó, vị danh họa sẽ để viền màu của các hình ảnh mờ nhòa vào nhau và tạo nên một hiệu ứng giống như tranh 3D, khiến sự vật trở nên chân thực, sống động và đưa lại một góc nhìn gần gũi, giàu xúc cảm cho người xem khi đứng trước những bức tranh của ông, đặc biệt là những bức tranh đặc tả chân dung.

Hơn thế nữa, Leonardo thường chủ ý sắp xếp để thực hiện những bức tranh chân dung khi trời đã tối hoặc ít nhất không gian đã không còn sáng bừng ánh nắng mặt trời, khi ấy, ông có được sự tập trung cần có để đặc tả vẻ đẹp chân dung nhân vật, bởi lúc này hoạt động của đôi mắt đã đổi khác, con ngươi mở rộng để thu nhận nhiều ánh sáng hơn và có sự quan sát sắc sảo hơn.

Con người của nhân vật ngồi làm mẫu cũng mở to hơn, đó được xem là dấu hiệu của sự hấp dẫn và những tình cảm trìu mến, là một biểu tượng đẹp trong các bức tranh chân dung thời Phục hưng.

Bí mật giúp danh họa Leonardo da Vinci tạo nên siêu phẩm “Mona Lisa” - 3


Một tác phẩm được tin là do Leonardo thực hiện - bức “Salvator Mundi” đã được bán ra với mức giá kỷ lục trong lịch sử hội họa - 450,3 triệu USD

Bản thân Leonardo cũng từng viết trong một cuốn sổ tay của mình rằng: “Vào buổi tối, và vào những ngày thời tiết u ám, vẻ mềm mại và tinh tế mà ta có thể nắm bắt được trên khuôn của mặt của các nhân vật trở nên ấn tượng hơn hẳn...”.

Càng tìm hiểu về vị danh họa Leonardo da Vinci, người ta càng sửng sốt bởi những siêu năng lực, những hiểu biết vượt tầm thời đại mà ông sở hữu. Bởi thế, Leonardo không chỉ là một danh họa mà còn được xem là một thiên tài với những hiểu biết, kiến thức đáng nể mà cho tới hôm nay, những tri thức ấy vẫn không ngừng gây sửng sốt cho hậu thế.

Leonardo da Vinci là một thiên tài thời Phục hưng

Danh họa Leonardo di ser Piero da Vinci, hay còn được biết tới nhiều hơn với tên Leonardo da Vinci hoặc Leonardo, là một trong những nhân vật xuất sắc nhất trong vòng 10 thế kỷ trở lại đây.

Ông được xem là một học giả uyên bác, là người đem lại động lực cho sự phát triển của nghệ thuật thời kỳ Phục hưng. Ngoài hội họa, ông còn thực hiện các tác phẩm điêu khắc, thiết kế kiến trúc, phát minh khoa học, sáng tác âm nhạc, nghiên cứu toán học, thiết kế máy móc, nghiên cứu văn chương, giải phẫu, địa chất, thiên văn, thực vật, viết lách, tìm hiểu lịch sử và thuật vẽ bản đồ.

Ông đã có những phát kiến trong việc thiết kế dù lượn, trực thăng và xe tăng. Ông sinh năm 1452 ở nơi ngày nay là nước Ý và qua đời ở tuổi 67 tại nước Pháp. Ông là kết quả của một cuộc tình ngoài hôn thú giữa một công chứng viên và một người nữ nông dân.

Về sau, ông được cho theo học tại xưởng vẽ của họa sĩ nổi tiếng người Ý thời bấy giờ - ông Andrea del Verrocchio. Trong cuộc đời mình, Leonardo đã từng làm việc ở nhiều nơi, như Milan, Rome, Bologna, Venice... Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông có bức “Mona Lisa”, “Bữa tối cuối cùng”, “Người Vitruvian”.

Một tác phẩm khác được tin là do Leonardo thực hiện - bức “Salvator Mundi” đã được bán ra với mức giá kỷ lục trong lịch sử hội họa - 450,3 triệu USD tại một cuộc đấu giá tổ chức ở New York (Mỹ) hồi năm 2017.

Bích Ngọc

Theo France24/Daily Mail

 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN KHÁC

 


Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.