Bài viết


 
  VN
  13      


     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
Lễ hội Tây Thiên năm 2013 tổ chức từ ngày 25-3 đến 28-3 (tức ngày 14-2 đến ngày 17-2 năm Quý Tỵ) tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chiều 8-2 (28 tết) bí thư thành ủy Hà Nội Pham Quang Nghị thăn chợ hoa tết Hà Nôil
Diva mặc chiếc váy lộng lẫy và chinh phục khán giả bằng chất giọng cao, đẹp khi kết hợp cùng dàn nhạc giao hưởng đường phố trong buổi mở màn Luala Concert, chiều 10/11 ở Hà Nội.
Đã  lâu rồi từ ngày cho ra triển lãm ảnh Mẹ Và Quê Hương đến hôm nay mới lại có dip chup về mẹ.
  MVNAH ở Song Phượng, Mẹ Tạ thị Lười,khi hỏi tên mẹ tôi không khỏi ngac nhiên,nhưng đó là tên bố mẹ đặt cho, năm nay mẹ tròn 90 tuổi. Mẹ có một cô con gai duy nhất hy sinh trên trận địa phòng không bảo vệ đập phùng

Đang truy cập: 93
Lượt truy cập: 12120214
   



                                                 









                                           

3 bức tranh Việt được bán với giá hơn 35 tỷ đồng ở Pháp


































Lần đầu tiên được thấy Picasso khắc họa người tình ngọt ngào đến thế

Lần đầu tiên được thấy Picasso khắc họa người tình ngọt ngào đến thế






Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ

Những bức tranh dưới đây sẽ cho người xem thấy rằng - để trải nghiệm cảm giác sợ hãi không nhất thiết phải xem phim kinh dị, đôi khi chỉ cần… ngắm kỹ một bức tranh.

Trong lịch sử hội họa không thiếu những tác phẩm kinh dị, khiến người xem cảm thấy rùng rợn và ám ảnh. Những tác phẩm này thậm chí được thực hiện bởi những vị danh họa.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 1


Bộ ba tranh "Khu vườn của những lạc thú trần thế" hoàn tất năm 1505 bởi danh họa người Hà Lan Hieronymus Bosch. Bộ tranh khắc họa câu chuyện về loài người dưới góc nhìn thần thoại và tôn giáo. Từ việc Chúa cho Adam gặp Eve, cho tới những lạc thú của con người trên trần thế, cuối cùng là cảnh địa ngục nơi con người phải trả giá cho những lỗi lầm từng phạm phải khi còn sống.

Có nhiều giả thuyết về thông điệp của tác phẩm, có thể là một bài giáo huấn luân lý bằng hội họa, cũng có thể là sự khắc họa của thiên đường đánh mất đối với Adam và Eve. Chính ở bức tranh thứ 3, khắc họa sự trừng phạt, người xem sẽ thấy những cảnh rùng rợn nơi địa ngục.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 2


Bức "Sự trừng phạt của Marsyas" vẽ năm 1576 bởi danh họa người Ý Titian. Đây là bức họa cuối cùng của Titian. Tác phẩm nằm trong bộ tranh xoay quanh chủ đề thần thoại mà Titian rất quan tâm trong những ngày tháng cuối đời. Bức họa vẽ cảnh hành hình Marsyas - một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp - người đã dám thách đố thần Apollo.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 3


Bức "David và cái đầu của Goliath" vẽ năm 1607 bởi danh họa người Ý Caravaggio, khắc họa một câu chuyện trong Kinh thánh, kể về cuộc đối đầu giữa người khổng lồ Goliath và tráng sĩ David, trong đó, David đã giành chiến thắng và kết liễu cuộc đời Goliath bằng chính thanh gươm của người khổng lồ.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 4


Bức "Judith giết chết Holofernes" hoàn thành năm 1621 bởi nữ danh họa người Ý Artemisia Gentileschi. Tác phẩm xoay quanh câu chuyện được kể trong Kinh thánh về nàng Judith - người đã tận dụng nhan sắc quyến rũ của mình để tiếp cận vị tướng của quân địch - Holofernes, để rồi tranh thủ lúc Holofernes say rượu đã lấy đầu Holofernes.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 5


Bức "Saturn" hoàn thành năm 1638 bởi danh họa người Đức Peter Paul Rubens. Trong thần thoại La Mã, Saturn là một vị thần đa diện, bức tranh này đã phần nào khắc họa khía cạnh "phức tạp" của thần. Bức "Saturn" được vua Philip IV của Tây Ban Nha đặt hàng Rubens thực hiện để treo trong một nhà nghỉ chuyên dùng cho những chuyến đi săn của nhà vua.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 6


Bức "Ác mộng" vẽ năm 1781 bởi danh họa người Thụy Sĩ Henry Fuseli. Bức vẽ khắc họa một phụ nữ đang nằm ngủ và rơi vào cơn mộng mị, những hình ảnh kỳ quái xuất hiện trong tranh dường như là "nội dung" giấc mơ của nàng. Thần bóng đè và hình đầu ngựa vốn được dân gian Thụy Sĩ coi là những biểu tượng của cơn ác mộng.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 7


Bức "Linh hồn một con bọ chét" vẽ năm 1820 bởi danh họa người Anh William Blake. Tác phẩm được thực hiện bằng hỗn hợp màu keo trộn cám vàng trên phiến gỗ gụ.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 8


Bức "Người đàn bà điên" vẽ năm 1822 bởi danh họa người Pháp Théodore Géricault. Sinh thời, Géricault từng thực hiện một chùm tranh về những người bị tâm thần, những người đang hấp hối và những tội phạm phải lên máy chém. Trong số những tác phẩm ấy, bức "Người đàn bà điên" được xem là tác phẩm đỉnh cao của Géricault.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 9


Bức "Saturn ăn thịt con trai" hoàn thiện năm 1823 bởi danh họa người Tây Ban Nha Francisco Goya. Bức tranh khắc họa lại câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp, kể về thần Titan Cronus (trong thần thoại La Mã là thần Saturn). Vì lo sợ rằng mình sẽ bị lật đổ bởi một trong những người con, nên Saturn đã ăn thịt con để triệt mầm hậu họa.

Những bức tranh kinh điển khiến người xem hoảng sợ - 10


Bức "Gương mặt chiến tranh" vẽ năm 1940 bởi danh họa người Tây Ban Nha Salvador Dali. Tác phẩm được thực hiện khi Thế chiến II đã trở nên không thể tránh khỏi. Bức tranh khắc họa một gương mặt quái gở trên nền sa mạc khô cằn. Gương mặt khô héo như thể một chiếc đầu lâu, "khoác" lên mình những biểu cảm khốn khổ. Trong hốc mắt và miệng lại là những gương mặt y hệt… Bò trên chiếc đầu lâu là những con rắn.

Bích Ngọc
Theo The Guardian/The Collector



Tranh khỏa thân khiến hàng loạt bảo tàng bị "cấm cửa" trên mạng xã hội


Hàng loạt các viện bảo tàng danh tiếng của phương Tây đã có một động thái gây sốc, sau khi các tác phẩm tranh ảnh khỏa thân nghệ thuật của họ bị cấm xuất hiện trên mạng xã hội.

Tranh khỏa thân khiến hàng loạt bảo tàng bị cấm cửa trên mạng xã hội - 1


Bức "Wasserschlangen II" do danh họa Gustav Klimt thực hiện từng đạt mức giá 183,8 triệu USD khi được bán ra hồi năm 2013, giúp tranh trở thành một trong những tác phẩm đắt nhất thế giới (Ảnh: Wikipedia).

Động thái mới nhất của nhiều viện bảo tàng phương Tây chính là gia nhập vào một nền tảng chuyên sản xuất nội dung phục vụ người trưởng thành, nền tảng này hiện có khoảng 130 triệu người sử dụng.

Động thái mới này của các viện bảo tàng được xem như một cách để phản đối lại việc các tác phẩm nghệ thuật khắc họa cơ thể khỏa thân luôn bị các nền tảng mạng xã hội cấm đăng tải.

Việc nghệ thuật đẳng cấp kết hợp với một nền tảng nội dung dành cho "người lớn" đã ngay lập tức gây xôn xao bình luận, đây cũng là điều mà các viện bảo tàng mong muốn: một cuộc đối thoại xung quanh các tác phẩm khỏa thân, rằng những tác phẩm ấy bị cấm khi đăng tải trên mạng xã hội là hợp lý hay không.

Tranh khỏa thân khiến hàng loạt bảo tàng bị cấm cửa trên mạng xã hội - 2


Facebook cũng từng cấm đăng bức ảnh chụp tượng thần Vệ nữ Willendorf - một bức tượng có niên đại 25.000 năm tuổi mà Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Vienna đăng lên hồi năm 2018 (Ảnh: New York Post).

Hiện tại, nhiều viện bảo tàng nghệ thuật của thành phố Vienna, Áo, đã cùng hợp tác trong việc sản xuất nội dung trên nền tảng nội dung dành cho người trưởng thành. Họ đưa các tác phẩm khỏa thân nằm trong bộ sưu tập của mình lên nền tảng đó để giới thiệu.

Động thái này được thực hiện giữa bối cảnh các mạng xã hội liên tục chặn các hình ảnh "vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng" mà các viện bảo tàng đưa lên, đây thường là những tác phẩm tranh, ảnh khắc họa vẻ đẹp cơ thể người theo góc nhìn nghệ thuật. Nhiều viện bảo tàng thậm chí đã bị... khóa tài khoản vì những hình ảnh "bị cấm đăng tải" kiểu như vậy.

Viện bảo tàng Albertina nằm ở thành phố Vienna, Áo, đã bị khóa tài khoản TikTok sau khi đăng tải một tác phẩm ảnh của nhiếp ảnh gia người Nhật Araki Nobuyoshi. Mạng xã hội Instagram cũng từng coi những bức ảnh giới thiệu tác phẩm của họa sĩ Peter Paul Rubens mà bảo tàng Albertina đăng lên là vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng.

Facebook cũng từng cấm đăng bức ảnh chụp tượng thần Vệ nữ Willendorf - một bức tượng có niên đại 25.000 năm tuổi mà Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Vienna đăng lên hồi năm 2018.

Bà Helena Hartlauer, người phụ trách quan hệ truyền thông tại Ủy ban Du lịch Vienna (Vienna Tourist Board) cảm thấy lo lắng trước việc các mạng xã hội cấm đăng các tranh ảnh nghệ thuật khắc họa cơ thể khỏa thân:

"Việc các mạng xã hội cấm tranh ảnh khỏa thân có thể khiến các họa sĩ cũng trở nên ngại ngần trước một số hình thái biểu đạt nghệ thuật, nghệ sĩ sẽ bắt đầu sáng tác khác đi, các nhà sưu tầm cũng sẽ mua tác phẩm theo hướng khác đi, bởi họ đều biết rằng một công cụ mạnh như mạng xã hội sẽ không cho phép họ quảng bá hoặc trưng trổ một hình thái nghệ thuật nào đó".

Tranh khỏa thân khiến hàng loạt bảo tàng bị cấm cửa trên mạng xã hội - 3


Bức "Khỏa thân màu đỏ" do họa sĩ Amedeo Modigliani thực hiện từng được bán ra với giá 170,4 triệu USD hồi năm 2015, đây là một trong những tác phẩm hội họa đắt nhất thế giới (Ảnh: Wikipedia).

Bà Helena Hartlauer khẳng định rằng mạng xã hội là công cụ cần thiết để quảng bá nghệ thuật và du lịch, việc cấm đoán đăng tải hình ảnh tác phẩm nghệ thuật khỏa thân là một thách thức đối với các viện bảo tàng đang nỗ lực hấp dẫn du khách.

Bà Helena Hartlauer hy vọng rằng việc nhiều bảo tàng nghệ thuật ở Vienna, Áo, đồng loạt chuyển sang giới thiệu các tác phẩm của họ trên một dịch vụ cung cấp nội dung cho người trưởng thành sẽ làm dấy lên một cuộc đối thoại về những vấn đề đang còn tồn tại trên các mạng xã hội phổ biến nhất hiện nay.

Đây không phải lần đầu nghệ thuật đỉnh cao và nội dung "người lớn" có sự... giao thoa. Hiện tại, một nền tảng nội dung dành cho "người lớn" đang phải đối diện với vụ kiện mà bên nguyên đơn là bảo tàng Louvre và một số bảo tàng khác.

Các đơn vị này cùng nhau đệ đơn kiện vì trang web "người lớn" đã để các người mẫu tái hiện những bức tranh khỏa thân nằm trong bộ sưu tập của phía các bảo tàng.

Giữa năm nay, một trang web "người lớn" này đã tung ra mảng nội dung có tên "Khỏa thân kinh điển" lấy cảm hứng từ các tác phẩm hội họa nổi tiếng đang được trưng bày tại các viện bảo tàng lớn trên thế giới. Trang web này để các diễn viên nhập vai các nhân vật trong tác phẩm kinh điển và tái hiện các tác phẩm hội họa này trong bối cảnh đời thực.

Tranh khỏa thân khiến hàng loạt bảo tàng bị cấm cửa trên mạng xã hội - 4


Bức "The Brunette Odalisque" (Người cung nữ tóc nâu) được họa sĩ người Pháp François Boucher thực hiện hồi năm 1745. Hiện tác phẩm đang trưng bày tại bảo tàng Louvre và đã bị trang web "người lớn" vi phạm bản quyền (Ảnh: Daily Mail).

Hiện các tác phẩm này đều đang được trưng bày tại các bảo tàng, triển lãm danh tiếng. Các tác phẩm được trang web lấy ra làm nguồn cảm hứng đến từ bộ sưu tập của bảo tàng Louvre và bảo tàng Musee d'Orsay ở Paris (Pháp), bảo tàng quốc gia The National Gallery ở London (Anh), bảo tàng The Uffizi ở Florence (Ý) và bảo tàng Prado ở Madrid (Tây Ban Nha).

Được biết, trang web "người lớn" dự định sẽ mở rộng mảng nội dung "Khỏa thân kinh điển" nếu thấy những ý tưởng ban đầu đưa lại kết quả khả thi. Chính điều này đã khiến bảo tàng Louvre cùng với bảo tàng The Uffizi quyết định sớm đưa sự việc ra tòa, vì trang web kia đang có dấu hiệu vi phạm bản quyền.

Phía các bảo tàng yêu cầu trang web phải gỡ bỏ những nội dung được thực hiện dựa trên các tác phẩm hội họa mà họ đang sở hữu và trưng bày.

Cả hai bảo tàng Louvre và The Uffizi hiện đều đã chia sẻ thông tin chính thức tới báo chí, phản đối trang web "người lớn" trục lợi từ các tuyệt tác hội họa mà họ đang sở hữu khi chưa nhận được sự cho phép nào.

Đại diện bảo tàng The Uffizi còn nhấn mạnh: "Theo luật di sản văn hóa tại Ý, để có thể sử dụng hình ảnh những tác phẩm đang thuộc quyền sở hữu của các bảo tàng, nhằm mục đích thương mại, các bên liên quan phải nhận được sự cho phép, điều này bao gồm cả sự thống nhất chi tiết về cách thức sử dụng và chi phí bản quyền".

Bích Ngọc
Theo New York Post/Daily Mail





Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng


11 tác phẩm nghệ thuật của danh họa Picasso vốn được treo trong một nhà hàng vừa được bán ra tại một cuộc đấu giá, đạt mức 109 triệu USD (tương đương gần 2.500 tỷ đồng).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 1


Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng (Ảnh: Daily Mail).

9 bức tranh và 2 tác phẩm gốm do Picasso thực hiện từng được trưng bày trong nhà hàng lấy cảm hứng từ phong cách nghệ thuật của ông. Nhà hàng này nằm trong phòng trưng bày nghệ thuật Bellagio Gallery nằm ở Las Vegas, Mỹ. Tranh đã được treo trong nhà hàng suốt hơn hai thập kỷ.

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 2


Bức "Người phụ nữ đội chiếc mũ màu cam đỏ" của Picasso (Ảnh: Daily Mail).

Bức tranh thu hút sự chú ý lớn nhất trong phiên đấu giá là bức "Người phụ nữ đội chiếc mũ màu cam đỏ" khắc họa người tình Marie-Thérèse Walter của Picasso. Tác phẩm đạt mức giá 40,5 triệu USD.

Cuộc tình của Picasso và cô Walter diễn ra từ cuối thập niên 1920 tới thập niên 1930. Cô Walter đã sinh cho họa sĩ một người con gái hồi năm 1935. Những bức chân dung mà Picasso khắc họa cô Walter đặc trưng với các màu sắc sinh động và cảm giác về sự thân mật, riêng tư.

Ban đầu, bức tranh được ước đoán đạt mức giá từ 20 - 30 triệu USD, nhưng rồi cuối cùng tranh đạt tới hơn 40 triệu USD.

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 3


Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 4


11 tác phẩm nghệ thuật của danh họa Picasso vốn được treo trong một nhà hàng vừa được bán ra tại một cuộc đấu giá, đạt mức 109 triệu USD (tương đương gần 2.500 tỷ đồng) (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 5


Bức "Người đàn ông và đứa trẻ" có chiều cao gần 2 mét được bán với giá 24,4 triệu USD (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 6


Tác phẩm gốm "Đầu người đàn ông để râu" (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 7


Bức vẽ "La Fenetre De L'atelier La Californie" (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 8


Bức vẽ "Bữa trưa trên thảm cỏ" (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 9


Bức vẽ "Pierrot" (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 10


Bức vẽ "Đầu người đàn ông" (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 11


Bức vẽ "Đầu người đàn ông" (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 12


Bức vẽ "Tĩnh vật với hoa và bát trái cây" (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 13


Bức vẽ "Tĩnh vật với giỏ quả và hoa" (Ảnh: Daily Mail).

Tranh Picasso treo hai thập kỷ trong nhà hàng có giá... 2.500 tỷ đồng - 14


Tác phẩm gốm "Vẻ mặt" (Ảnh: Daily Mail).

Bích Ngọc
Theo Daily Mail




Vì sao tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái bị làm giả nhiều nhất thị trường?

 Yên Phong Thứ hai, ngày 11/10/2021 06:30 AM (GMT+7)

 
"Câu nói "Bùi Xuân Phái thật vĩ đại, ông vẽ nhiều hơn sau khi đã mất" được lan truyền, không chỉ là nỗi đau riêng, mà còn là nỗi đau chung của nhiều họa sĩ Đông Dương đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hội họa" - nhà nghiên cứu nghệ thuật Ngô Kim Khôi chia sẻ với Dân Việt.

Danh họa Bùi Xuân Phái sinh năm 1920 tại Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội. Ông tốt nghiệp khoa Hội họa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 1941–1945, cùng thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên. Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. 

Nhắc đến hội họa Hà Nội hiện đại, không thể không nhắc đến tranh Bùi Xuân Phái. Ông đã sáng tác hàng trăm bức vẽ khác nhau về phố cổ bằng tài năng và tình yêu đặc biệt dành cho mảnh đất này.

Tranh Bùi Xuân Phái từng nổi danh lừng lẫy cả trong và ngoài nước, thế nhưng càng ngày giá trị của chúng ngày càng suy giảm. Tại một phiên đấu giá được tổ chức vào tháng 12/2017, chỉ có 1/7 bức tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái được đấu giá thành công, 6 bức còn lại đều không một ai trả giá.

PV Dân Việt đã có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu hội họa Ngô Kim Khôi về câu chuyện đáng buồn này.

Vì sao giá trị tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ngày càng tụt dốc thảm hại? - Ảnh 1.

Nhà nghiên cứu hội họa Ngô Kim Khôi bên bức tranh "Thiếu nữ Bắc kỳ" của Nam Sơn (Ảnh: Harry Nguyễn).

Tranh Bùi Xuân Phái có chứa những cuộc nổi loạn ngầm

Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng thời với các danh hoạ Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên... những tên tuổi ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông có thể đánh giá đôi chút về đặc điểm trong các sáng tác của Bùi Xuân Phái?

- Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ Đông Dương được mọi người nhắc đến nhiều nhất. Được đào tạo bài bản theo phương pháp hàn lâm của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương nhưng phong cách của Bùi Xuân Phái có những cuộc nổi loạn của một tâm hồn phóng khoáng. 

Sức mạnh của tâm hồn nghệ sĩ muốn bay bổng muôn phương nhưng dường như bị trói buộc với những ràng buộc, giáo điều... Vì vậy, tranh ông tuy chân chất mà lại thường bàng bạc nỗi buồn da diết, cô đơn, hoài cổ, như tiếc nuối một thời tuổi trẻ không được vẫy vùng.

Có một khoảng thời gian rất dài, tranh Việt Nam ít được chú ý, vì những ảnh hưởng chính trị hay chiến tranh tác động mạnh mẽ. Người ta còn phải nghĩ đến việc mưu sinh, đời sống vật chất đè nặng lên đời sống tinh thần, môi trường nghệ thuật dường như hoàn toàn chìm sâu vào im lặng và lãng quên.

Lớp bụi thời gian dày đặc ấy chỉ được phủi đi vào đầu thập niên 1980 với các tên tuổi Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm. Những cái tên này trở thành "tứ trụ" cho nền Mỹ thuật Việt Nam, sáng lên như những vì sao trong đêm trường.

Tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái được công chúng mến mộ rộng rãi, theo ông vì sao?

- Nghệ thuật Bùi Xuân Phái là những mảng màu mạnh mẽ với những đường viền đậm nét, diễn tả những con phố cổ Hà Nội đôi khi hiu hắt buồn, thường vắng bóng người qua… Bao nhiêu nét đẹp cổ xưa của Hà thành, những hoài cảm sâu lắng thấm đẫm vị thời gian qua nét cọ của Bùi Xuân Phái đi sâu vào lòng người với những bước chân của một mạch nước ngầm "ngày càng lan rộng và thẩm thấu chân thành đến tận cùng những tâm hồn xa lạ"…

Vì sao giá trị tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ngày càng tụt dốc thảm hại? - Ảnh 2.

Phố cổ Hà Nội - tranh Bùi Xuân Phái.

Bức tranh nào của Bùi Xuân Phái theo ông là xuất sắc nhất?

- Thật khó khi tìm một tác phẩm xuất sắc nhất của Bùi Xuân Phái. Đối với tôi, hiển nhiên đó là loạt tranh "phố Phái". Những tác phẩm về phố cổ của ông mang đậm nét cổ kính, ông vẽ bằng tất cả tấm chân tình, yêu mến từ trong con tim tràn lên tranh. Dường như họa sĩ đã gửi gắm vào linh hồn phố cổ Hà Nội tình yêu và những kỷ niệm sâu lắng của riêng mình. 

Những hoài niệm mang mác buồn, những bâng khuâng tiếc nuối ấy được gói ghém, gìn giữ, trân quý như kỷ vật muôn trùng, với tâm tình ngàn sau "Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh/ Trùng phong khâm tử hộ dư hương" (Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi).

Vấn nạn tranh giả trở thành một vết thương lở loét 

Tranh Đông Dương là dòng tranh đắt giá nhất, nhưng riêng tranh Bùi Xuân Phái lại bị rớt giá thảm hại do tranh chép xuất hiện tràn lan. Theo ông, có phải điều này làm giảm đi giá trị của những bức tranh gốc, và lẽ ra chúng phải ở vị trí cao hơn?

- Như đã nói ở trên, lớp bụi thời gian của sự lãng quên chỉ được phủi đi vào đầu thập niên 1980 với các tên tuổi Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm. Tiêu biểu nhất là tranh Bùi Xuân Phái, là một trường hợp đau đầu nhất hiện nay, làm giá trị tranh của ông từ

Vì sao tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái bị làm giả nhiều nhất thị trường?

 Yên Phong Thứ hai, ngày 11/10/2021 06:30 AM (GMT+7)

"Câu nói "Bùi Xuân Phái thật vĩ đại, ông vẽ nhiều hơn sau khi đã mất" được lan truyền, không chỉ là nỗi đau riêng, mà còn là nỗi đau chung của nhiều họa sĩ Đông Dương đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hội họa" - nhà nghiên cứu nghệ thuật Ngô Kim Khôi chia sẻ với Dân Việt.

Danh họa Bùi Xuân Phái sinh năm 1920 tại Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội. Ông tốt nghiệp khoa Hội họa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 1941–1945, cùng thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên. Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. 

Nhắc đến hội họa Hà Nội hiện đại, không thể không nhắc đến tranh Bùi Xuân Phái. Ông đã sáng tác hàng trăm bức vẽ khác nhau về phố cổ bằng tài năng và tình yêu đặc biệt dành cho mảnh đất này.

Tranh Bùi Xuân Phái từng nổi danh lừng lẫy cả trong và ngoài nước, thế nhưng càng ngày giá trị của chúng ngày càng suy giảm. Tại một phiên đấu giá được tổ chức vào tháng 12/2017, chỉ có 1/7 bức tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái được đấu giá thành công, 6 bức còn lại đều không một ai trả giá.

PV Dân Việt đã có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu hội họa Ngô Kim Khôi về câu chuyện đáng buồn này.

Vì sao giá trị tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ngày càng tụt dốc thảm hại? - Ảnh 1.

Nhà nghiên cứu hội họa Ngô Kim Khôi bên bức tranh "Thiếu nữ Bắc kỳ" của Nam Sơn (Ảnh: Harry Nguyễn).

Tranh Bùi Xuân Phái có chứa những cuộc nổi loạn ngầm

Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng thời với các danh hoạ Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên... những tên tuổi ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông có thể đánh giá đôi chút về đặc điểm trong các sáng tác của Bùi Xuân Phái?

- Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ Đông Dương được mọi người nhắc đến nhiều nhất. Được đào tạo bài bản theo phương pháp hàn lâm của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương nhưng phong cách của Bùi Xuân Phái có những cuộc nổi loạn của một tâm hồn phóng khoáng. 

Sức mạnh của tâm hồn nghệ sĩ muốn bay bổng muôn phương nhưng dường như bị trói buộc với những ràng buộc, giáo điều... Vì vậy, tranh ông tuy chân chất mà lại thường bàng bạc nỗi buồn da diết, cô đơn, hoài cổ, như tiếc nuối một thời tuổi trẻ không được vẫy vùng.

Có một khoảng thời gian rất dài, tranh Việt Nam ít được chú ý, vì những ảnh hưởng chính trị hay chiến tranh tác động mạnh mẽ. Người ta còn phải nghĩ đến việc mưu sinh, đời sống vật chất đè nặng lên đời sống tinh thần, môi trường nghệ thuật dường như hoàn toàn chìm sâu vào im lặng và lãng quên.

Lớp bụi thời gian dày đặc ấy chỉ được phủi đi vào đầu thập niên 1980 với các tên tuổi Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm. Những cái tên này trở thành "tứ trụ" cho nền Mỹ thuật Việt Nam, sáng lên như những vì sao trong đêm trường.

Tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái được công chúng mến mộ rộng rãi, theo ông vì sao?

- Nghệ thuật Bùi Xuân Phái là những mảng màu mạnh mẽ với những đường viền đậm nét, diễn tả những con phố cổ Hà Nội đôi khi hiu hắt buồn, thường vắng bóng người qua… Bao nhiêu nét đẹp cổ xưa của Hà thành, những hoài cảm sâu lắng thấm đẫm vị thời gian qua nét cọ của Bùi Xuân Phái đi sâu vào lòng người với những bước chân của một mạch nước ngầm "ngày càng lan rộng và thẩm thấu chân thành đến tận cùng những tâm hồn xa lạ"…

Vì sao giá trị tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ngày càng tụt dốc thảm hại? - Ảnh 2.

Phố cổ Hà Nội - tranh Bùi Xuân Phái.

Bức tranh nào của Bùi Xuân Phái theo ông là xuất sắc nhất?

- Thật khó khi tìm một tác phẩm xuất sắc nhất của Bùi Xuân Phái. Đối với tôi, hiển nhiên đó là loạt tranh "phố Phái". Những tác phẩm về phố cổ của ông mang đậm nét cổ kính, ông vẽ bằng tất cả tấm chân tình, yêu mến từ trong con tim tràn lên tranh. Dường như họa sĩ đã gửi gắm vào linh hồn phố cổ Hà Nội tình yêu và những kỷ niệm sâu lắng của riêng mình. 

Những hoài niệm mang mác buồn, những bâng khuâng tiếc nuối ấy được gói ghém, gìn giữ, trân quý như kỷ vật muôn trùng, với tâm tình ngàn sau "Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh/ Trùng phong khâm tử hộ dư hương" (Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi).

Vấn nạn tranh giả trở thành một vết thương lở loét 

Tranh Đông Dương là dòng tranh đắt giá nhất, nhưng riêng tranh Bùi Xuân Phái lại bị rớt giá thảm hại do tranh chép xuất hiện tràn lan. Theo ông, có phải điều này làm giảm đi giá trị của những bức tranh gốc, và lẽ ra chúng phải ở vị trí cao hơn?

- Như đã nói ở trên, lớp bụi thời gian của sự lãng quên chỉ được phủi đi vào đầu thập niên 1980 với các tên tuổi Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm. Tiêu biểu nhất là tranh Bùi Xuân Phái, là một trường hợp đau đầu nhất hiện nay, làm giá trị tranh của ông từ đỉnh cao tuột dốc một cách không kìm hãm được. Từ cái hiện tượng tiêu biểu "phố Phái" đã bị chế nhạo bằng cách chơi chữ "faux Phái" (tranh giả của Phái, giọng đọc tiếng Pháp đồng âm).

Hiện nay, tranh giả Bùi Xuân Phái tràn lan không thể nào kiểm chứng được. Trường hợp Bùi Xuân Phái có lẽ là duy nhất với số lượng tranh giả ngập tràn trên mọi hình thức, tại các tiệm bán đồ lưu niệm cũng như ngay cả trên vỉa hè đều tràn lan, mà không có gì ngăn cản được.

Câu nói "Bùi Xuân Phái thật vĩ đại, ông vẽ nhiều hơn sau khi đã mất" được giới hội họa nước ngoài lan truyền, không chỉ là nỗi đau riêng, mà còn là lời thành kính phân ưu chung đến nhiều họa sĩ Đông Dương đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hội họa.

Vì sao giá trị tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ngày càng tụt dốc thảm hại? - Ảnh 3.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái. (Ảnh: TXK)

Liệu có phải tranh ông Phái dễ chép hơn các tác giả khác, hay chúng dễ bán hơn?

- Cũng giống mỗi người trong chúng ta đều hun đúc tâm hồn khác nhau, thì trong mỗi họa sĩ đều có phong cách riêng của họ. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhái theo phong cách nhưng phần hồn cốt rất khó mà nắm bắt được. 

Tranh thật của Bùi Xuân Phái dĩ nhiên vẫn có giá trị, nhưng giá trị thị trường lại bị ảnh hưởng không nhỏ đến tên tuổi của ông. Trong tiếng Pháp hiện tượng Bùi Xuân Phái có thể trình bày qua câu "être victime de son succès" (người trở thành nạn nhân của sự thành công của chính mình).

Năm 2017, trong một cuộc đấu giá tranh, có tới 6/7 bức tranh Bùi Xuân Phái không một ai trả giá. Là một nhà nghiên cứu hội hoạ, ông có thấy đau lòng về thực trạng này ?

- Tranh giả Bùi Xuân Phái tràn lan trên sàn đấu giá, ngay cả tại các nhà đấu giá danh tiếng, là một "vấn đề" nan giải cho những nhà thẩm định tranh. Các nhà đấu giá chỉ là chợ bán tranh, miễn có lời là họ sẽ làm. Tại sao họ không thể giả tranh Picasso, Van Gogh… ? Đó là vì tại các nước tiên tiến, luật pháp bảo vệ tác quyền rất phân minh, xử phạt nặng nề, các nhà đấu giá cũng có thể ngại việc ảnh hưởng đến danh tiếng của họ.

Riêng đối với tranh Việt Nam nói chung và tranh Đông Dương nói riêng, các nhà đấu giá chỉ cần bán được tranh để lấy tiền, danh tiếng không hề lung lay vì luật pháp của chúng ta chưa có gì phân minh trong việc bảo vệ tác quyền.

Thị trường tranh Đông Dương càng lên cao, món mồi càng béo bở, việc giả tranh càng lộng hành, tinh vi, thì vấn nạn tranh giả trở thành một vết thương ngày càng lở loét đối với nền mỹ thuật Việt Nam.

Vì sao giá trị tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ngày càng tụt dốc thảm hại? - Ảnh 4.

"Phố Mã Mây". (Tranh Bùi Xuân Phái)

Ngoài Bùi Xuân Phái, có còn tác giả nào vẽ Hà Nội và được công chúng đón nhận không, thưa ông?

- Loạt tranh phố cổ của Bùi Xuân Phái được giới yêu thích mỹ thuật chào đón một cách nồng nhiệt, nhưng trước Bùi Xuân Phái một hai thập niên đã có một họa sĩ vẽ phố phường Hà Nội, đó là họa sĩ Lê Văn Xương.

So sánh với nhau, tranh phố Hà Nội của Bùi Xuân Phái trầm mặc thì phố phường Hà Nội của Lê Văn Xương rất chan hòa, gần gũi… Từng góc phố, nẻo đường và những mái nhà như còn vương đọng nhịp thở, và đôi khi, bóng sáng huy hoàng tràn khỏi khung, lan đầy ánh mắt…

Đối với tôi, tranh Lê Văn Xương có nhiều nắng, ươm vàng cả toan, ươm vàng bóng ai đổ xuống bên thềm, ươm vàng cả màu đất nâu hay thửa ruộng lấp lóa. Trời kia như nhón gót cao hơn lên, vun vút nắng thủy tinh…

đỉnh cao tuột dốc một cách không kìm hãm được. Từ cái hiện tượng tiêu biểu "phố Phái" đã bị chế nhạo bằng cách chơi chữ "faux Phái" (tranh giả của Phái, giọng đọc tiếng Pháp đồng âm).

Hiện nay, tranh giả Bùi Xuân Phái tràn lan không thể nào kiểm chứng được. Trường hợp Bùi Xuân Phái có lẽ là duy nhất với số lượng tranh giả ngập tràn trên mọi hình thức, tại các tiệm bán đồ lưu niệm cũng như ngay cả trên vỉa hè đều tràn lan, mà không có gì ngăn cản được.

Câu nói "Bùi Xuân Phái thật vĩ đại, ông vẽ nhiều hơn sau khi đã mất" được giới hội họa nước ngoài lan truyền, không chỉ là nỗi đau riêng, mà còn là lời thành kính phân ưu chung đến nhiều họa sĩ Đông Dương đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hội họa.

Vì sao giá trị tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ngày càng tụt dốc thảm hại? - Ảnh 3.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái. (Ảnh: TXK)

Liệu có phải tranh ông Phái dễ chép hơn các tác giả khác, hay chúng dễ bán hơn?

- Cũng giống mỗi người trong chúng ta đều hun đúc tâm hồn khác nhau, thì trong mỗi họa sĩ đều có phong cách riêng của họ. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhái theo phong cách nhưng phần hồn cốt rất khó mà nắm bắt được. 

Tranh thật của Bùi Xuân Phái dĩ nhiên vẫn có giá trị, nhưng giá trị thị trường lại bị ảnh hưởng không nhỏ đến tên tuổi của ông. Trong tiếng Pháp hiện tượng Bùi Xuân Phái có thể trình bày qua câu "être victime de son succès" (người trở thành nạn nhân của sự thành công của chính mình).

Năm 2017, trong một cuộc đấu giá tranh, có tới 6/7 bức tranh Bùi Xuân Phái không một ai trả giá. Là một nhà nghiên cứu hội hoạ, ông có thấy đau lòng về thực trạng này ?

- Tranh giả Bùi Xuân Phái tràn lan trên sàn đấu giá, ngay cả tại các nhà đấu giá danh tiếng, là một "vấn đề" nan giải cho những nhà thẩm định tranh. Các nhà đấu giá chỉ là chợ bán tranh, miễn có lời là họ sẽ làm. Tại sao họ không thể giả tranh Picasso, Van Gogh… ? Đó là vì tại các nước tiên tiến, luật pháp bảo vệ tác quyền rất phân minh, xử phạt nặng nề, các nhà đấu giá cũng có thể ngại việc ảnh hưởng đến danh tiếng của họ.

Riêng đối với tranh Việt Nam nói chung và tranh Đông Dương nói riêng, các nhà đấu giá chỉ cần bán được tranh để lấy tiền, danh tiếng không hề lung lay vì luật pháp của chúng ta chưa có gì phân minh trong việc bảo vệ tác quyền.

Thị trường tranh Đông Dương càng lên cao, món mồi càng béo bở, việc giả tranh càng lộng hành, tinh vi, thì vấn nạn tranh giả trở thành một vết thương ngày càng lở loét đối với nền mỹ thuật Việt Nam.

Vì sao giá trị tranh phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ngày càng tụt dốc thảm hại? - Ảnh 4.

"Phố Mã Mây". (Tranh Bùi Xuân Phái)

Ngoài Bùi Xuân Phái, có còn tác giả nào vẽ Hà Nội và được công chúng đón nhận không, thưa ông?

- Loạt tranh phố cổ của Bùi Xuân Phái được giới yêu thích mỹ thuật chào đón một cách nồng nhiệt, nhưng trước Bùi Xuân Phái một hai thập niên đã có một họa sĩ vẽ phố phường Hà Nội, đó là họa sĩ Lê Văn Xương.

So sánh với nhau, tranh phố Hà Nội của Bùi Xuân Phái trầm mặc thì phố phường Hà Nội của Lê Văn Xương rất chan hòa, gần gũi… Từng góc phố, nẻo đường và những mái nhà như còn vương đọng nhịp thở, và đôi khi, bóng sáng huy hoàng tràn khỏi khung, lan đầy ánh mắt…

Đối với tôi, tranh Lê Văn Xương có nhiều nắng, ươm vàng cả toan, ươm vàng bóng ai đổ xuống bên thềm, ươm vàng cả màu đất nâu hay thửa ruộng lấp lóa. Trời kia như nhón gót cao hơn lên, vun vút nắng thủy tinh…




18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế

Hàng loạt tác phẩm của những tên tuổi lớn trong nền hội họa Việt Nam sắp có mặt trong phiên đấu giá quốc tế tổ chức vào cuối tuần này, hãy cùng chiêm ngưỡng các tác phẩm...

Tác giả của loạt 18 bức tranh sắp được đem ra rao bán đấu giá là những vị danh họa của Việt Nam như Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Phạm Hậu... Họ đều là những họa sĩ tài năng bước ra từ trường Mỹ thuật Đông Dương.

Phiên đấu giá có tên "Modern Art Day Sale" sẽ diễn ra vào chiều 10/10, do nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông tổ chức. Trong phiên đấu giá này có tới 18 tác phẩm được thực hiện bởi các danh họa của Việt Nam. Hãy cùng chiêm ngưỡng...

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 1


Bức "Phục trang dự hội" của danh họa Mai Trung Thứ (1906 - 1980). Giá ước đoán từ 300.000 - 500.000 đô la Hồng Kông (tương đương 876 triệu đồng - 1,5 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 46 x 27,5 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 2


Bức "Người phụ nữ nguyện cầu" của Mai Trung Thứ có giá ước đoán từ 600.000 - 800.000 đô la Hồng Kông (tương đương 1,8 tỷ đồng - 2,4 tỷ đồng). Bức tranh lụa được thực hiện vào năm 1941 có kích thước 47 x 30 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 3

Nhấn để phóng to ảnhBức "Mẹ và con" của danh họa Mai Trung Thứ. Giá ước đoán từ 800.000 - 1.500.000 đô la Hồng Kông (2,4 tỷ đồng - 4,4 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 56 x 45 cm, được thực hiện hồi năm 1941.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 4


Bức "Hoa đào nở" của Mai Trung Thứ. Giá ước đoán từ 1.000.000 - 2.000.000 đô la Hồng Kông (3 tỷ đồng - 6 tỷ đồng). Bức tranh lụa được thực hiện vào năm 1976, có kích thước 46 x 55 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 5


Bức tranh sơn mài "Cá vàng" của Phạm Hậu (1903 - 1995) có mức giá ước đoán từ 400.000 - 600.000 đô la Hồng Kông (1,2 tỷ đồng - 1,8 tỷ đồng). Kích thước tranh 130 x 72 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 6


Tranh sơn mài "Phong cảnh trung du miền Bắc" của họa sĩ Trần Minh Thi (hay Lê Thy; 1919 - 1961) có mức giá ước đoán từ 400.000 - 500.000 đô la Hồng Kông (1,2 tỷ đồng - 1,4 tỷ đồng). Bức tranh sơn mài hai tấm được họa sĩ thực hiện hồi thập niên 1940, có tổng kích thước 120,5 x 124,5 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 7


Bức "Trong vườn hoa" của Lê Phổ (1907 - 2001). Giá ước đoán từ 200.000 - 300.000 đô la Hồng Kông (584 triệu đồng - 877 triệu đồng). Bức tranh lụa có kích thước 34 x 23 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 8


Bức "Hoa" của Lê Phổ có mức giá ước đoán từ 260.000 - 350.000 đô la Hồng Kông (760 triệu đồng - 1 tỷ đồng). Bức tranh lụa được thực hiện hồi năm 1963, có kích thước 73 x 54 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 9


Bức "Hoa tulip vàng" của Lê Phổ có mức giá ước đoán từ 260.000 - 320.000 đô la Hồng Kông (760 triệu đồng - 935 triệu đồng). Bức tranh sơn dầu có kích thước 54 x 73 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 10


Bức "Bình hoa Đông Nam Á" của danh họa Lê Phổ. Giá ước đoán từ 280.000 - 350.000 đô la Hồng Kông (820 triệu đồng - 1 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 58 x 90 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 11


Bức "Hoa: Diên vĩ, huệ tây, cúc và các loại hoa khác trong một chiếc bình" của danh họa Lê Phổ. Giá ước đoán từ 320.000 - 450.000 đô la Hồng Kông (tương đương từ 935 triệu đồng tới 1,3 tỷ đồng). Bức tranh sơn dầu kích thước 116,5 x 81,5 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 12


Bức "Hoa hướng dương" của danh họa Lê Phổ. Giá ước đoán từ 350.000 - 550.000 đô la Hồng Kông (1 tỷ đồng - 1,6 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 80,5 x 60 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 13


Bức "Đóa hoa đồng nội" của danh họa Lê Phổ. Giá ước đoán từ 350.000 - 450.000 đô la Hồng Kông (1 tỷ đồng - 1,3 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 61 x 38 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 14


Bức "Gia đình" của Lê Phổ có mức giá ước đoán từ 420.000 - 680.000 đô la Hồng Kông (1,3 tỷ đồng - 2 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 71 x 90 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 15


Bức "Hoa" của Lê Phổ có mức giá ước đoán từ 450.000 - 650.000 đô la Hồng Kông (1,3 tỷ đồng - 1,9 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 56 x 63 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 16


Bức "Hoa cẩm tú cầu" của danh họa Lê Phổ. Giá ước đoán từ 800.000 - 1.500.000 đô la Hồng Kông (2,3 tỷ đồng - 4,4 tỷ đồng). Bức tranh lụa được thực hiện năm 1975 có kích thước 98 x 131 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 17


Bức "Cảnh vật Cát Bà" của Bùi Xuân Phái (1920 - 1988). Giá ước đoán từ 200.000 - 300.000 đô la Hồng Kông (600 triệu đồng - 900 triệu đồng). Bức tranh lụa thực hiện năm 1975 có kích thước 98 x 131 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 18


Bức "Người phụ nữ ngồi thêu" của họa sĩ Đặng Trần Cốc. Giá ước đoán từ 160.000 - 250.000 đô la Hồng Kông (467 triệu đồng - 730 triệu đồng). Bức tranh lụa có kích thước 44,5 x 57 cm.

18 siêu phẩm của danh họa Việt lên sàn đấu giá quốc tế - 19


Chỉ vài ngày trước khi phiên đấu giá diễn ra, một bức tranh sơn mài vốn ban đầu được cho là tác phẩm của danh họa Nguyễn Văn Tỵ (1917 - 1992) đã bị rút khỏi sự kiện, vì những nghi vấn đây là tranh giả.

Bích Ngọc
Theo Sotheby



3 bức tranh Việt được bán với giá hơn 35 tỷ đồng ở Pháp


3 bức tranh Việt được bán với giá hơn 35 tỷ đồng ở Pháp
TPO - Theo nhà phê bình mỹ thuật Lý Đợi, vào tối ngày 30/9 (Giờ Việt Nam), tại phiên đấu giá Peintres & Arts du Vietnam của nhà đấu giá Aguttes (Pháp) đã diễn ra phiên đấu giá tranh với 240 lô hàng chủ yếu là các bức tranh của các hoạ sỹ Việt và các hoạ sỹ vẽ về Việt Nam.

Đáng chú ý bức tranh “La cérémonie du thé” (Trà đàm) có chất liệu mực và màu trên lụa, với khổ 55,8cm x 55,8cm được vẽ năm 1971 của danh hoạ Mai Trung Thứ có giá khởi điểm là khoảng 300.000 EUR nhưng đã được bán với giá 560.000 EUR (tương đương 14,7 tỷ đồng).

3 bức tranh Việt được bán với giá hơn 35 tỷ đồng ở Pháp ảnh 1

Bức “La cérémonie du thé” (Trà đàm) của Mai Trung Thứ

Bức “Le tricot” (Đan len) với chất liệu mực và màu trên lụa, có khổ 65,5cm x 40,5cm, vẽ năm 1941) của hoạ sỹ Lương Xuân Nhị, có giá khởi điểm là 160.000 EUR nhưng đã được bán với giá 590.000 EUR (tương đương 15,5 tỷ đồng).

3 bức tranh Việt được bán với giá hơn 35 tỷ đồng ở Pháp ảnh 2

Bức “Le tricot” (Đan len) của hoạ sỹ Lương Xuân Nhị

Ngoài bức "La cérémonie du thé" được bán với giá 560.000 EUR, danh hoạ Mai Trung Thứ còn có bức “La danse du foulard” (Điệu múa cổ), chất liệu mực và màu trên giấy lụa, với khổ 81cm x 31cm, được họa sỹ vẽ trên lụa năm 1979 được bán với giá 200.000 EUR (Tương đương 5,2 tỷ đồng).

3 bức tranh Việt được bán với giá hơn 35 tỷ đồng ở Pháp ảnh 3

Bức “La danse du foulard” (Điệu múa cổ) cũng của Mai Trung Thứ

Tuy nhiên trước khi phiên đấu giá Peintres & Arts du Vietnam diễn ra, đã có một số nhà phê bình lên tiếng thắc mắc về nguồn gốc chưa được rõ ràng của bức tranh "La cérémonie du thé" (Trà đàm) của danh hoạ Mai Trung Thứ.

Quảng Cáo

Cụ thể vào ngày 5/10/2020, tại nhà đấu giá Sotheby’s (Hongkong) một bức tranh cũng có tên “Trà đàm” được ghi của Mai Trung Thứ với nét vẽ tương tự đã được bán với giá nửa triệu USD (khoảng trên 11 tỷ 400 triệu đồng).

Còn trước đó, giới sưu tập tranh đã từng xôn xao có một bức tranh mang tên “Thé en famille dans le jardin avec enfants” (Gia đình uống trà trong vườn cùng trẻ nhỏ) cũng được ghi của Mai Trung Thứ. Tuy chưa lên sàn đấu giá nhưng bức “Thé en famille dans le jardin avec enfants” đã được một nhà sưu tập chào bán hơn 300 ngàn USD. Vì thế, có sự nghi ngờ trong số bức tranh liên quan đến uống trà này của Mai Trung Thứ đã có hàng giả.

3 bức tranh Việt được bán với giá hơn 35 tỷ đồng ở Pháp ảnh 4

Bức “Thé en famille dans le jardin avec enfants” (Gia đình uống trà trong vườn cùng trẻ nhỏ) được coi của Mai Trung Thứ hiện đang được một nhà sưu tập chào bán giá 300 ngàn USD.

Theo nhà phê bình Lý Đợi, với việc ngày càng nhiều phiên đấu giá tranh Việt lên sàn đã chứng tỏ sự quan tâm của giới sưu tập và những người yêu thích hội hoạ dành cho nghệ thuật hội hoạ Việt ngày càng tăng.

Tuy nhiên, việc thật giả lẫn lộn như hiện nay khiến tranh Việt khó có thể được các nhà sưu tập định giá xứng đáng.




Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris

Ngày 30/9 vừa qua, nhà đấu giá Aguttes ở Paris, Pháp, đã tổ chức phiên đấu giá nghệ thuật với tổng cộng 204 tác phẩm được thực hiện bởi các họa sĩ, nghệ nhân tại Việt Nam.

Phiên đấu giá có tên "Paintings & Works of Art from Vietnam" (Những bức tranh và tác phẩm nghệ thuật đến từ Việt Nam).

Sự kiện đấu giá này có nhiều tác phẩm hội họa của các danh họa Việt Nam từng tốt nghiệp từ trường Mỹ thuật Đông Dương, như Mai Trung Thứ, Lương Xuân Nhị, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm… Ngoài ra, phiên đấu giá còn có nhiều đồ gốm, đồ sơn mài, đồ đồng, bức điêu khắc... được đem ra rao bán.

Cùng chiêm ngưỡng những tác phẩm đáng chú ý đã xuất hiện trong phiên đấu giá vừa diễn ra:

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 1


Bức "Tiệc trà" (1971) của danh họa Mai Trung Thứ (1906 - 1980) có mức giá ước đoán ban đầu do nhà đấu giá đưa ra cao nhất trong sự kiện, ở mức từ 300.000 - 500.000 euro (tương đương từ 8 - 13 tỷ đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 2


Bức "Thờ cúng tổ tiên" (1942) của danh họa Vũ Cao Đàm (1908 - 2000) có mức giá ước đoán ban đầu từ 200.000 - 300.000 euro (từ 5 - 8 tỷ đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 3


Bức "Múa khăn" (1979) của danh họa Mai Trung Thứ (1906 - 1980) có mức giá ước đoán từ 200.000 - 300.000 euro (từ 5 - 8 tỷ đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 4


Bức "Đan len" (1941) của họa sĩ Lương Xuân Nhị (1913 - 2006) có mức giá ước đoán từ 160.000 - 200.000 euro (từ 4 - 5 tỷ đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 5


Bức "Người cưỡi ngựa" (1963) của danh họa Vũ Cao Đàm (1908 - 2000) có mức giá ước đoán từ 70.000 - 100.000 euro (từ 1,8 - 2,6 tỷ đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 6


Bức "Người mẹ và đứa trẻ trước ban thờ" (1953) của danh họa Mai Trung Thứ (1906 - 1980) có mức giá ước đoán từ 40.000 - 60.000 euro (từ 1 - 1,6 tỷ đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 7


Bức "Nằm ngủ" (1976) của danh họa Mai Trung Thứ (1906 - 1980) có mức giá ước đoán từ 45.000 - 60.000 euro (từ 1,2 - 1,6 tỷ đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 8


Bức "Khâu vá" của danh họa Lê Phổ (1907 - 2001) có mức giá ước đoán từ 40.000 - 60.000 euro (từ 1 - 1,6 tỷ đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 9


Bức "Cây tú cầu" của danh họa Mai Trung Thứ (1906 - 1980) có mức giá ước đoán từ 30.000 - 50.000 euro (từ 800 - 1,3 tỷ đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 10


Bức sơn mài "Tấm Cám" (1983) của danh họa sĩ Nguyễn Khang (1911 - 1989) có mức giá ước đoán từ 12.000 - 15.000 euro (từ 300 - 400 triệu đồng) (Ảnh: Aguttes).

Hàng loạt tác phẩm của danh họa Việt được đem đấu giá tại Paris - 11


Bức sơn mài "Cuộc sống thường ngày bên con kênh" (thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1930 - 1940) bởi họa sĩ Lê Thy (1919 - ?) có mức giá ước đoán từ 8.000 tới 12.000 euro (từ 200 - 300 triệu đồng) (Ảnh: Aguttes).

Bích Ngọc
Theo Aguttes



Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71

Theo thông tin từ Hội Mỹ thuật TPHCM, Họa sĩ – Nghệ nhân nhân dân Trương Hán Minh đã qua đời vì bạo bệnh vào sáng ngày 21/9, hưởng thọ 71 tuổi.

Hoạ sỹ Trương Hán Minh sinh năm 1951 tại Sài Gòn, trong một gia đình người Hoa đến từ Triều Châu - Trung Quốc. Từ nhỏ, Trương Hán Minh đã bộc lộ năng khiếu về hội họa và ông đã theo học nghề vẽ từ nhiều nghệ nhân tại Sài Gòn.

Đặc biệt, ông đam mê với thể loại tranh thuỷ mặc và dành cả cuộc đời để nghiên cứu, sáng tạo với thể loại tranh này, được giới yêu nghệ thuật đánh giá cao.

Sau hơn 50 năm cầm cọ, hoạ sỹ Trương Hán Minh được coi là cây đại thụ về tranh thủy mặc của Việt Nam khi có tới hơn 50 lần triển lãm tác phẩm ở trong và ngoài nước; tổ chức bán đấu giá hơn 200 bức tranh gây quỹ ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, kinh phí hoạt động cho bệnh viện, trường học.

Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71 ảnh 1
Hoạ sỹ Trương Hán Minh trong lần nhận danh hiệu Kỷ lục gia Châu Á

Trương Hán Minh cũng là một trong những họa sĩ đi tiên phong và thành công khi dùng nghệ thuật vẽ tranh thủy mặc thể hiện và minh họa thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do TPHCM phát động. Ông cũng góp phần giữ gìn phát triển văn hóa nghệ thuật truyền thống dân tộc thông qua công tác giảng dạy, truyền nghề cho thế hệ trẻ.

Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71 ảnh 2
Tranh "Sắc thu hồ Hoàn Kiếm" của Trương Hán Minh

Song song với hoạt động nghệ thuật, họa sĩ Trương Hán Minh còn tích cực tham gia công tác Mặt trận, công tác Hội văn học nghệ thuật các dân tộc, đặc biệt là tích cực đóng góp cho hoạt động từ thiện xã hội, hoạt động vì người nghèo thông qua hình thức vẽ tranh bán đấu giá ủng hộ hoạt động từ thiện xã hội, vì người nghèo, khuyến học….

Trương Hán Minh đã nhận nhiều Bằng Khen, Huy chương, Huy hiệu và năm 2013, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã đề cử Đĩa vàng cống hiến đến Hội đồng Xét tặng của Viện Nội dung Kỷ lục Thế giới (WRCA) – Liên minh Kỷ lục Thế giới (WORLDKINGS) với mong muốn ghi nhận và tri ân những đóng góp mà Kỷ lục gia, Họa sĩ Trương Hán Minh mang lại cho cộng đồng. Năm 2018, họa sĩ Trương Hán Minh vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu "Nghệ nhân nhân dân".

Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71 ảnh 3
Tranh "Cao Sơn Lưu Thuỷ" của Trương Hán Minh
Quảng Cáo
Advertisement: 0:20

Hoạ sỹ Trương Hán Minh bị phát hiện ung thư gan cách đây vài tháng. Sau một thời gian điều trị nhưng bệnh tình ngày càng nặng và ông đã qua đời vào lúc 10h sáng ngày 21/9.

Tang lễ hoạ sỹ - Nghệ nhân nhân dân Trương Hán Minh sẽ được tổ chức tại nhà riêng thuộc đường Minh Phụng (phường 9 - quận 11 - TPHCM) và sau đó sẽ được đưa đi an táng tại Nghĩa trang Phúc An Viên (TP Thủ Đức).

Ngắm chùm tranh thuỷ mặc của Trương Hán Minh:

Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71 ảnh 4
Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71 ảnh 5
Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71 ảnh 6
Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71 ảnh 7
Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71 ảnh 8
Họa sĩ Trương Hán Minh - cây đại thụ làng tranh thuỷ mặc Việt Nam qua đời ở tuổi 71 ảnh 9



Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021

Năm 2021, có 2 cuộc đấu giá quốc tế diễn ra làm thay đổi bảng xếp hạng siêu phẩm đắt giá của hội họa Việt Nam, đó là những bức họa đắt giá nhất của họa sĩ Việt trên thị trường đấu giá quốc tế.

Hai phiên đấu giá "Beyond Legends: Modern Art Evening Sale" do nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông tổ chức hồi tháng 4 và "20th and 21st Century Art Evening Sale" do nhà đấu giá Christie Hồng Kông tiến hành hồi tháng 5 đã làm thay đổi bảng xếp hạng những siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất.

Hãy cùng nhìn lại top 13 siêu phẩm hội họa đắt giá nhất được thực hiện bởi các danh họa người Việt. Các tác phẩm này đã xác lập nên những mức giá cho thấy rằng: các tác phẩm của danh họa Việt Nam đang ngày càng trở nên đắt giá...

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 1


Bức "Chân dung Madam Phương" của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 24.375.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 72,5 tỷ đồng). Bức tranh sơn dầu kích thước 135,5 x 80cm được thực hiện vào năm 1930.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 2


Bức "Khỏa thân" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 26/5/2019, đạt mức giá 10.925.000 đô la Hồng Kông (tương đương 32,5 tỷ đồng). Bức tranh sơn dầu kích thước 90,5 x 180,5cm được thực hiện hồi năm 1931.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 3


Bức "Tan mộng" của họa sĩ Tô Ngọc Vân (1906-1954) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 26/5/2019, đạt mức giá 9.125.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 27 tỷ đồng). Bức tranh lụa kích thước 92,5 x 57cm được thực hiện hồi năm 1932.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 4


Bức "Đời sống gia đình" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 2/4/2017, đạt mức giá 9.100.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 27 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 82 x 66cm được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1937-1939.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 5


Bức "Thiếu nữ choàng khăn" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 24/5 vừa qua, đạt mức giá 8.650.000 đô la Hồng Kông (tương đương 25,6 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 59.5 x 48.5 cm, được thực hiện vào khoảng năm 1938.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 6


Bức tranh sơn mài "Cảnh ngôi chùa cổ ở miền bắc Việt Nam" của họa sĩ Phạm Hậu (1903 - 1995) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 8.040.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 24 tỷ đồng). Tác phẩm có kích thước 104,5 x 183cm được thực hiện trong thập niên 1930.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 7


Bức "Người phụ nữ bên các con" của họa sĩ Lê Thị Lựu (1911-1988) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 6.830.000 đô la Hồng Kông (tương đương 20,2 tỷ đồng). Tác phẩm có kích thước 99 x 74cm được thực hiện vào thập niên 1960.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 8


Bức "Em bé và chú chim" của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 27/5/2018, đạt mức giá 6.700.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 20 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 65 x 50cm được thực hiện năm 1931.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 9


Bức "Nhìn từ đỉnh đồi" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 22/11/2014, đạt mức giá 6.520.000 đô la Hồng Kông (tương đương 19,3 tỷ đồng). Tác phẩm tranh sơn dầu có kích thước 113 x 192cm được thực hiện năm 1937.


Bức "Cô gái làm thơ" của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 6.225.000 đô la Hồng Kông (tương đương 18,5 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 73 x 50,3cm được thực hiện hồi năm 1943.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 11


Bức tranh sơn mài "Dân làng" của họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 30/9/2018, đạt mức giá 6.120.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 18,2 tỷ đồng). Tác phẩm có kích thước 99 x 198cm được thực hiện năm 1939.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 12


Bức "Hai người phụ nữ ngắm bể cá vàng" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 5.983.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 17,7 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 69 x 53cm.

Nhìn lại bảng xếp hạng 13 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất năm 2021 - 13


Bức "Gia đình" của họa sĩ Lê Phổ được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 30/9/2018, đạt mức giá 5.880.000 đô la Hồng Kông (tương đương 17,4 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 72 x 59,5cm được thực hiện vào khoảng năm 1935-1940.

Bích Ngọc
Theo Christie/Sotheby


12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức

12 tác phẩm sẽ được đấu giá trực tuyến, bắt đầu từ 11 giờ trưa thứ Sáu (ngày 27/8/2021), kết thúc vào 11 giờ trưa thứ Bảy (ngày 28/8/2021). Tất cả số tiền đấu giá tranh thu được sẽ ủng hộ tuyến đầu chống dịch.

“Vẽ cái gì, làm cái gì, đề tài nào, vẽ ở đâu, vẽ lúc nào… thì nó vẫn phải mang phần hồn”, Đặng Xuân Hòa từng nói. Anh gửi tặng bức tĩnh vật, chất liệu sơn dầu, kích thước 50 cm x 60 cm.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 1

Họa sỹ Đỗ Thúy Hằng, phu nhân họa sỹ Đặng Xuân Hòa, gửi tặng bức “Thu sang”, sơn dầu, kích thước 50 cm x 60 cm.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 2

Một tác phẩm giấy dó, bột màu, kích thước 50 cm x 60 cm, do họa sỹ Đoàn Văn Nguyên gửi tặng chương trình. Đoàn Văn Nguyên là con trai cố thi sĩ Đoàn Văn Cừ, tác giả thi phẩm “Chợ tết” với hai câu thơ nổi tiếng: “Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ/Nước thời gian gội tóc trắng phau phau”. Giống cha mình, Đoàn Văn Nguyên yêu quí và gìn giữ văn hóa dân tộc. Anh thích vẻ đẹp của sơn mài truyền thống, của giấy dó.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 3

“Hà Nội trong ký ức”, chất liệu sơn dầu, kích thước 70 cm x80 cm, là tác phẩm của họa sỹ Phạm Luận gửi tặng chương trình. Anh tiết lộ: Tác phẩm vẽ năm 2019, dựa vào bức ký họa của họa sỹ vào những năm 80.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 4

Họa sỹ Đào Hải Phong gửi tặng chương trình bức “Nơi ấm”, chất liệu sơn dầu, sáng tác năm 2020, kích thước 50 cm x60 cm.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 5

Bức trừu tượng duy nhất trong chương trình đấu giá tranh trực tuyến lần thứ nhất, do Báo Tiền Phong tổ chức, do họa sỹ Phạm An Hải gửi tặng chương trình. Tác phẩm mang tên “Ngày xanh”, khổ 40 cm x 50 cm, chất liệu sơn dầu.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 6

Cố điêu khắc gia, họa sỹ Lê Công Thành đã vĩnh biệt trần thế 2 năm nay. Lê Công Thành nặn nhiều tượng khỏa thân và vẽ nhiều về phái đẹp. Tác phẩm do phụ nhân của ông lựa chọn gửi tặng chương trình mang tên “Đàn bà”, sơn dầu trên giấy, khổ 80 cm x100 cm.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 7

Nữ họa sỹ Kim Thái, phu nhân của Lê Công Thành, hưởng ứng chương trình thiện nguyện hướng về lực lượng tuyến đầu, bằng bức “Đờn ca tài tử”, khổ 80cm x100 cm, sơn dầu trên giấy.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 8

Họa sỹ Trịnh Tú gửi tặng bức nude anh mới sáng tác trên chất liệu sơn dầu, khổ 60 cm x 80 cm.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 9

Họa sỹ Nguyễn Văn Đức, gửi tặng bức "Ngày yên bình", acrylic trên giấy bìa, khổ 60 cm x80 cm

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 10

Bức “Đóa xuân”, sơn dầu của Tào Linh, khổ 70 cm x80 cm, do một người chơi tranh gửi tặng chương trình.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 11

Trong số 12 họa sỹ tặng tranh đấu giá trực tuyến ủng hộ tuyến đầu chống dịch do Báo Tiền Phong tổ chức lần thứ nhất, chỉ có một họa sỹ đã khuất bóng, 10 họa sỹ hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội. Từ Hải Phòng, họa sỹ Đặng Tiến gửi tặng bức "Hoa diên vỹ", chất liệu sơn dầu, kích thước 65 cm x 80 cm, sáng tác năm 2021.

12 tác phẩm tham gia đấu giá tranh trực tuyến do Báo Tiền Phong tổ chức ảnh 12


Bản phác thảo tí hon của Leonardo da Vinci lập kỷ lục đấu giá

Bản phác thảo tí hon của Leonardo da Vinci lập kỷ lục đấu giá
TPO - Bản phác thảo tí hon về một con gấu của danh họa Leonardo da Vinci đã lập kỷ lục đấu giá mới với hơn 12 triệu USD.

Theo CNN, bức phác thảo của Leonardo da Vinci có tên là “Head of a Bear” (tạm dịch: Đầu của một con gấu), với kích thước nhỏ hơn 51,6 cm2, được bán tại nhà đấu giá Christie's ở London, Anh, vào hôm thứ Năm (15/7).

Ban đầu, bức vẽ có chữ ký của danh họa thời Phục Hưng được kỳ vọng thu về 16,82 triệu USD (gần 387 tỷ đồng), nhưng mức giá cuối cùng thấp hơn dự kiến, khoảng 12,2 triệu USD (hơn 280 tỷ đồng). Dù vậy, “Head of a Bear” đã phá kỷ lục cho bức vẽ phác thảo đắt nhất của Leonardo da Vinci, trước đó thuộc về "Horse and Rider", có giá 11,2 triệu USD.

Christie's mô tả, bức vẽ được phác thảo trên nền giấy màu hồng – be nhạt. Danh họa đã sử dụng Silverpoint, một kỹ thuật vẽ truyền thống được thầy của ông - Andrea del Verrocchio truyền thụ. Theo đó, họa sĩ dùng một thanh nhỏ hoặc dây bạc để vẽ đường nét trên giấy đã qua xử lý hóa học.

Bản phác thảo tí hon của Leonardo da Vinci lập kỷ lục đấu giá ảnh 1

Bức phác thảo về đầu một con gấu được bán với mức giá kỷ lục 12,2 triệu USD.

Được biết, đây không phải lần đầu Christie's bán đấu giá bức vẽ này. Vào năm 1860, nhà đấu giá có trụ sở ở London từng bán bức phác thảo với giá chỉ 430 USD (gần 10 triệu đồng).

Tác phẩm hội họa này đã được đổi chủ nhiều lần trong nhiều thế kỷ, trong đó bao gồm họa sĩ “thần đồng” Anh Thomas Lawrence hay nhà sưu tập nghệ thuật Anh Norman Robert Colville. Nó cũng từng được trưng bày ở Bảo tàng Quốc gia London, Bảo tàng Nghệ thuật Louvre Abu Dhabi của Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất và Bảo tàng Ermitazh ở St. Petersburg (Nga).

Quảng Cáo

Giám đốc toàn cầu của bộ phận tranh vẽ Old Master (từ chỉ tranh vẽ của họa sĩ làm việc ở châu Âu trước khoảng năm 1800) tại Christie's, đánh giá bức phác thảo là “nhỏ nhưng tuyệt vời”. Theo ông, đây chắc chắn là một trong những bức vẽ cuối cùng của Leonardo được tung ra thị trường.




Chuyên gia lý giải việc tranh nhái nàng Mona Lisa được bán với giá khủng gần 3,5 triệu USD


Chuyên gia lý giải việc tranh nhái nàng Mona Lisa được bán với giá khủng gần 3,5 triệu USD
TPO - Phiên đấu giá trực tuyến tại nhà đấu giá tranh Christie's (Hồng Kông) vừa kết thúc vào tối 18/6, bức tranh nhái mang tên The Hekking Mona Lisa (được vẽ copy từ bức tranh nổi tiếng La Joconde - hay Mona Lisa của danh hoạ thiên tài Leonardo da Vinci ) được bán với giá 2,9 triệu EUR, tương đương gần 3,5 triệu USD. 

Đây là điều bất ngờ với những nhà tổ chức đấu giá bởi trước phiêu đấu giá, bức The Hekking Mona Lisa chỉ được định giá khoảng từ 220.000 đến 300.000 EUR. Tuy nhiên, đã có 14 nhà sưu tập quốc tế tham gia đấu bức tranh nhái này và quá trình đấu giá, bức tranh lần lượt được nâng giá rất cao để kết thúc với con số khủng gần 3,5 triệu USD.

Chuyên gia lý giải việc tranh nhái nàng Mona Lisa được bán với giá khủng gần 3,5 triệu USD ảnh 1
Khách đang xem bức tranh nhái "The Hekking Mona Lisa"

Theo tư liệu để lại, bức The Hekking Mona Lisa do một học trò của Leonardo da Vinci vẽ vào đầu thế kỷ 16. Sau đó bức tranh đã thuộc bộ sưu tập hoàng gia Francois đệ nhất. Bức tranh nhái này đã được một đại lý đồ cổ ở Magagnosc thuộc vùng Nice (Pháp) bán lại vào đầu những năm 1950 và sau đó bức tranh thuộc bộ sưu tập của Raymond Hekking (1886-1977) nằm trong dòng họ của ông ở Nice cho đến nay. Tên bức tranh cũng được đặt lại theo tên chủ sở hữu này.

Chuyên gia lý giải việc tranh nhái nàng Mona Lisa được bán với giá khủng gần 3,5 triệu USD ảnh 2
Bức "Mona Lisa" bản gốc tại bảo tàng Louvre

Lý giải về giá chót vót của bức tranh, theo nhà phê bình mỹ thuật Lý Đợi bức The Hekking Mona Lisa có một hành trình làm giả rõ ràng, xuất hiện trong vô số sách và nhiều triển lãm quốc tế, được nhắc tới như một bức tranh nhái hiện thực nhất bởi tác giả là người có ảnh hưởng trực tiếp xu hướng sáng tác từ đại danh hoạ Leonardo da Vinci.

Ngoài ra, bức tranh vốn thuộc bộ sưu tập hoàng gia Francois đệ nhất. Dù sau này rất nhièu hoạ sỹ nhái lại bức Mona Lisa từ việc thực hiện làm các bản sao, các tác phẩm phái sinh, các tác phẩm mang tính lấy cảm hứng hay châm biếm… nhưng riêng với bản The Hekking Mona Lisa vẫn được các nhà sưu tập trân trọng bởi nó có một lịch sử đáng ngưỡng mộ nhất so với các tranh nhái Mona Lisa khác.

Chuyên gia lý giải việc tranh nhái nàng Mona Lisa được bán với giá khủng gần 3,5 triệu USD ảnh 3

Được biết bức Mona Lisa bản gốc hiện được trưng bày tại bảo tàng Louvre ở Paris và được coi là vô giá bởi bức tranh thuộc sở hữu của Chính phủ Pháp và không dành để bán.

Năm 1962, bức Mona Lisa đã từng được định giá để mua bảo hiểm với mức 100 triệu đo la Mỹ (Cao nhất thời bấy giờ- Tương đương khoảng 700 triệu đô la Mỹ vào năm 2009). Tuy nhiên, sau đó bảo tàng Louvre đã lựa chọn không mua bảo hiểm cho bức tranh và thay vào đó, họ đầu tư, tăng cường công tác an ninh để bảo vệ bức tranh ở mức cao nhất.

Chuyên gia lý giải việc tranh nhái nàng Mona Lisa được bán với giá khủng gần 3,5 triệu USD ảnh 4
"Mona Lisa 1974 của Mai Trung Thứ

Tại Việt Nam cũng có nhiều hoạ sỹ vẽ phỏng theo bức Mona Lisa, trong đó nổi tiếng nhất là các bức Mona Lisa của Danh hoạ Mai Trung Thứ (1906- 1980). Bức Mona Lisa vẽ năm 1974 của ông đã được bán với giá 724.000 đô la Mỹ và bức Mona Lisa vẽ năm 1961 của ông đã được bán với giá 17.000 đô la Mỹ.



Giải mã mới nhất về bức họa nàng Mona Lisa

TP - Ngày 28/9, các chuyên gia nghệ thuật của Bảo tàng Louvre (Pháp) công bố một kết quả nghiên cứu, theo đó danh họa Ý Leonardo da Vinci đã vẽ bức “Nàng Mona Lisa” hơn 500 năm trước từ bức phác thảo khỏa thân.

Sau nhiều tháng kiểm tra nghiêm ngặt, các chuyên gia tại Bảo tàng Louvre, nơi đang lưu giữ “Nàng Mona Lisa”, nói rằng, Leonardo đã vẽ một phần bức tranh này từ bức phác họa “Nàng Monna Vanna” khỏa thân. Bức vẽ này được cho là cũng được vẽ từ xưởng vẽ của danh họa. Bức phác họa “Nàng Monna Vanna” được cất giữ từ năm 1862 trong bộ sưu tập nghệ thuật thời Phục hưng tại Bảo tàng Conde ở cung điện Chantilly, phía bắc Paris.

Hơn 10 chuyên gia đã xem xét các bản vẽ trong tầng hầm của Bảo tàng Louvre. Sau đó, họ sử dụng một loạt hình quét và các phương pháp khoa học khác để xác định xem bức phác họa kia được thực hiện trước hoặc sau bức “Nàng Mona Lisa” (được vẽ vào khoảng năm 1503). Khoảng 20 bức tranh và bản phác họa “Nàng Monna Vanna” khỏa thân tồn tại trong các bộ sưu tập trên toàn thế giới nhưng hầu hết đều rất khó xác định niên đại.

Giải mã mới nhất về bức họa nàng Mona Lisa ảnh 1
“Nàng Monna Vanna” khỏa thân được cho là phác họa của “Nàng Mona Lisa”. Ảnh: Mail Online.

Bản phác họa tại cung điện Chantilly ban đầu được cho là thuộc bản quyền của một thương nhân Tuscan khi ông mua nó từ Đức vào năm 1862 với giá 7.000 franc, một khoản tiền đáng kể vào thời đó. Ông Mathieu Deldicque, người quản lý tại Bảo tàng Louvre, cho biết: “Bức phác họa này có khuôn mặt và bàn tay thật sự đáng chú ý. Nó rất giống với khuôn mặt và bàn tay trong bức tranh “Nàng Mona Lisa”. Dường như nó chắc chắn là phần chuẩn bị cho việc vẽ bức tranh sơn dầu”.

Quảng Cáo

Ông lập luận rằng, có một vài lỗ nhỏ xuyên qua bức phác họa. Điều này cho thấy, nó được đục lỗ và đính vào giá vẽ để họa sỹ theo dõi hình dạng của nó khi lên tranh. Chuyên gia bảo tồn Louvre Bruno Mottin xác nhận rằng, bức phác họa này được vẽ dưới thời kỳ của danh họa Leonardo vào cuối thế kỷ 15. Tuy nhiên, ông cho rằng cần hết sức thận trọng khi đưa ra kết luận dứt khoát. Bởi lẽ, nét đan khi đánh bóng trên bức phác họa ở gần đầu người cho thấy nó được thực hiện bởi một người thuận tay phải, còn Leonardo là người thuận tay trái.

Ông Mottin cho rằng, việc xác định bức phác thảo kia có phải do Leonardo vẽ là một công việc rất khó và sẽ mất rất nhiều thời gian. Tuy nhiên, Mottin cho biết, các chuyên gia hy vọng sẽ xác định được danh tính người vẽ trong vòng hai năm tới nhân dịp tưởng nhớ 500 năm ngày mất của danh họa Leonardo.

“Nàng Mona Lisa” được cho là bức tranh nổi tiếng nhất và đắt giá nhất của danh họa Leonardo da Vinci. Tác phẩm nghệ thuật hiện giữ kỷ lục Guinness về giá trị bảo hiểm cao nhất cho một bức tranh (100 triệu USD) từ  năm 1962. Tranh được phủ bằng kính chống đạn sau nhiều lần bị xâm phạm. Bức tranh này được vẽ vào năm 1503 hoặc 1504 tại Florence, Y trong những năm cuối đời của danh họa. Nhân vật trong tranh được cho là Lisa Gherardini, vợ của thương gia tơ lụa Francesco del Giocondo của Florence. Người ta tin rằng Francesco đã đặt danh họa vẽ chân dung vợ mình để ăn mừng việc bà mang thai hoặc ăn mừng nhà mới. Sau cái chết của chồng, bà Gherardini trở thành nữ tu và qua đời năm 1542 ở tuổi 63.

Theo Theo Mail Online






Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa

Khỏa thân là một đề tài có tính xuyên suốt trong lịch sử hội họa. Ở thời kỳ nào cũng có những siêu phẩm hội họa khắc họa vẻ đẹp của cơ thể con người. Và đương nhiên, các tác phẩm này rất đắt giá.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 1


Bức "Wasserschlangen II" - Danh họa người Áo Gustav Klimt - Đạt mức giá 183,8 triệu USD.

Bức họa được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1904 - 1907, được bán ra hồi năm 2013 trong một thương vụ mà bên mua khi ấy là doanh nhân người Nga Dmitry Rybolovlev.

Đây là bức tranh thứ hai, được thực hiện sau bức "Water Serpents I". Cả hai tác phẩm đều khắc họa vẻ đẹp gợi cảm của hình thể người phụ nữ thông qua liên tưởng về loài rắn nước trong các câu chuyện thần thoại. Đây hiện là một trong những tác phẩm hội họa đắt giá nhất thế giới và là tác phẩm đắt giá nhất trong gia tài hội họa mà danh họa người Áo Gustav Klimt để lại.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 2


Bức "Les Femmes d'Alger (Version O)" - Danh họa người Tây Ban Nha Picasso - Đạt mức giá 179,4 triệu USD.

Tác phẩm được thực hiện hồi năm 1955, được bán ra tại New York trong sự kiện do nhà đấu giá Christie tổ chức hồi năm 2015. Bên mua khi ấy là một nhân vật có tiếng tăm và quyền lực tại Qatar.

Thực tế cái tên "Les Femmes d'Alger" là tên chung của một chùm tranh 15 bức được danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1954 - 1955. Toàn bộ sê-ri tranh này đã từng được một triển lãm tranh ở Paris (Pháp) mua lại với giá 212.500 USD hồi năm 1956.

Về sau, một số bức được bán lẻ ra ngoài và hiện tại đang thuộc quyền sở hữu của những bảo tàng, triển lãm hay những nhà sưu tập tư nhân. Trong các phiên bản của sê-ri tranh này, phiên bản O chính là bức đắt giá nhất.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 3

Bức "Nu couché" - Danh họa người Ý Amedeo Modigliani - Đạt mức giá 170,4 triệu USD.

Tác phẩm được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1917-1918. Hồi năm 2015, tại phiên đấu giá do nhà đấu giá Christie tổ chức ở New York, doanh nhân người Trung Quốc - Lưu Ích Khiêm đã mua tác phẩm này với mức giá gây sửng sốt.

Bức họa "Khỏa thân đỏ" này là một trong những tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp của danh họa Amedeo Modigliani. Hiện tại, đây là tác phẩm đắt giá nhất trong gia tài hội họa của Modigliani và cũng nằm trong nhóm những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế giới.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 4


Bức "Nu couché (sur le côté gauche)" - Danh họa người Ý Amedeo Modigliani - Đạt mức giá 157,2 triệu USD.

Bức họa được thực hiện hồi năm 1917 và được nhà đấu giá Sotheby tại New York (Mỹ) rao bán hồi năm 2018, góp phần xác lập nên vị thế vững chắc và tầm vóc lớn lao cho sự nghiệp hội họa của danh họa Modigliani, người họa sĩ đoản mệnh và bi kịch.

Cả cuộc đời Modigliani không được chứng kiến bất cứ thành công nào trong sự nghiệp hội họa của bản thân, nhưng sau khi Modigliani qua đời, gia tài hội họa để lại đã tăng giá đến mức không tưởng.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 5


Bức "Reclining Nude With Blue Cushion" - Danh họa người Ý Amedeo Modigliani - Đạt mức giá 118 triệu USD.

Bức họa được thực hiện hồi năm 1916. Năm 2012, tác phẩm được bán ra trong một thương vụ mà bên mua là doanh nhân người Nga Dmitry Rybolovlev.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 6


Bức "Young Girl with a Flower Basket" - Danh họa người Tây Ban Nha Picasso - Đạt mức giá 115 triệu USD.

Tác phẩm được thực hiện hồi năm 1905. Nhà đấu giá Christie tại New York (Mỹ) đã rao bán tác phẩm này hồi năm 2018. Tác phẩm thuộc "giai đoạn hoa hồng" của Picasso.

Đây là giai đoạn chứng kiến sự chuyển mình rõ rệt trong đời sống của Picasso, từ một họa sĩ nghèo hồi đầu năm 1905, sang tới cuối năm 1906, Picasso đã trở thành một họa sĩ được biết đến và bắt đầu khấm khá.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 7


Bức "Nude, Green Leaves and Bust" - Danh họa người Tây Ban Nha Picasso - Đạt mức giá 106,5 triệu USD.

Tác phẩm được thực hiện hồi năm 1932. Nhà đấu giá Christie tại New York đã đem rao bán tác phẩm hồi năm 2010. Người đẹp trong tranh chính là người tình của ông - nàng thơ Marie-Thérèse Walter. Ở tại thời điểm tranh được bán ra hồi năm 2010, đây đã từng là bức họa đắt giá thứ 3 trong lịch sử các cuộc đấu giá.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 8


Bức "Nude Sitting on a Divan" - Danh họa người Ý Amedeo Modigliani - Đạt mức giá 69 triệu USD.

Bức họa được thực hiện hồi năm 1917. Đến năm 2010, nhà đấu giá Sotheby tại New York rao bán tác phẩm trên thị trường. Đây là tác phẩm được thực hiện trong giai đoạn cuối đời của vị danh họa đoản mệnh và thuộc vào nhóm những bức tranh khỏa thân có tính biểu tưởng trong sự nghiệp của Modigliani, góp phần làm mới đề tài khỏa thân trong hội họa hiện đại.

Sau này, danh tiếng của Modigliani được biết đến chính nhờ loạt tranh khỏa thân mà ông thực hiện trong những năm tháng khó khăn cuối cuộc đời. Giá trị các tác phẩm này của ông tăng cao không ngừng trên thị trường.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 9


Bức "La Gommeuse" - Danh họa người Tây Ban Nha Picasso - Đạt mức giá 67,45 triệu USD.

Bức họa được Picasso thực hiện hồi năm 1901. Năm 2015, nhà đấu giá Sotheby tại New York đưa tác phẩm ra đấu giá. Bức họa thuộc "thời kỳ màu xanh" của vị danh họa, thời kỳ này, màu xanh được họa sĩ rất yêu thích và thường xuyên sử dụng. Tác phẩm này là đắt giá nhất trong số các sáng tác được thực hiện trong "thời kỳ màu xanh" của Picasso.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 10


Bức "Nude in a Black Armchair" - Danh họa người Tây Ban Nha Picasso - Đạt mức giá 45,1 triệu USD.

Tác phẩm được vẽ hồi năm 1932, khắc họa người tình của danh họa - nàng thơ Marie-Thérèse Walter. Đây là bức đầu tiên trong sê-ri tranh Picasso thực hiện để khắc họa nàng Marie-Thérèse Walter. Khi nhà đấu giá Christie rao bán tác phẩm hồi năm 1999, doanh nhân người Mỹ Les Wexner đã là người sở hữu được tác phẩm này.

Những bức tranh khỏa thân đắt giá nhất trong lịch sử hội họa - 11


Bức "Benefits Supervisor Sleeping" - Danh họa người Anh Lucian Freud - Đạt mức giá 33,6 triệu USD.

Tác phẩm được thực hiện hồi năm 1995, khắc họa người mẫu Sue Tilley, nhân viên giám sát của một trung tâm giới thiệu việc làm. Sở thích ngoài giờ làm việc của bà Sue Tilley là làm người mẫu cho các họa sĩ. Ở thời điểm làm mẫu cho họa sĩ Lucian Freud, bà có cân nặng 127 kg.

Khi tác phẩm được nhà đấu giá Christie tại New York rao bán hồi năm 2008, doanh nhân người Nga Roman Abramovich đã chi ra 33,6 triệu USD để sở hữu tác phẩm, giúp bức họa xác lập kỷ lục về giá trả cho tác phẩm của một họa sĩ còn đang sống.

Bích Ngọc
Theo Christie/Sotheby



10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa

Dưới đây là 10 bức tranh khắc họa những phụ nữ nổi tiếng nhất trong lịch sử hội họa. Lý do gì khiến các tác phẩm này trở nên đặc biệt và hấp dẫn công chúng qua hàng trăm năm?

Hồi giữa thập niên 1480, danh họa Sandro Botticelli lần đầu thực hiện một bức tranh khỏa thân không mang đề tài tôn giáo, khắc họa "Sự ra đời của thần Vệ Nữ". Vài thế kỷ sau, Leonardo da Vinci tiếp tục tạo nên bước tiến mới trong mỹ thuật khi khắc họa chân dung nàng "Mona Lisa", nàng có làn da hoàn hảo, đôi mắt biểu cảm, nụ cười bí ẩn, mê hoặc hậu thế hàng trăm năm.

Đến năm 1871, họa sĩ James McNeill Whistler thực hiện bức "Sắp đặt trong gam xám và đen số 1" (hay còn được biết tới với tên gọi "Mẹ của Whistler"). Tác phẩm gây chú ý bởi tên tranh và cách vẽ độc đáo lạ thường.

Lúc này, họa sĩ Whistler lựa chọn chú trọng vào tạo hình và bố cục để đặc tả chiều sâu nội tâm nhân vật, khiến người xem tranh có những xúc cảm khác biệt mỗi khi nhìn ngắm lại tác phẩm - một bức họa chứa đựng cả chiều sâu tâm lý nhân vật được thể hiện qua bố cục, tạo hình, đường nét và màu sắc.

Đầu thế kỷ 20, xuất hiện Gustav Klimt, ông đặc tả phụ nữ một cách huyền diệu và thoát ly thực tế, những bức tranh có khảm những lá vàng đưa lại cảm nhận mới lạ và cuốn hút đối với vẻ đẹp mới lạ của nữ giới trong hội họa.

Rồi đến những bức tranh tự họa của nữ họa sĩ Frida Kahlo, người ta tìm thấy thêm những yếu tố của văn hóa dân gian, tìm thấy thêm một góc nhìn của phụ nữ về chính họ trong đời sống hội họa, qua đó người xem không chỉ thấy hình hài mà còn cả tâm trí của người phụ nữ.

Sau cùng, Andy Warhol khắc họa sự ám ảnh của đời sống văn hóa đại chúng đối với các ngôi sao nữ, những tác phẩm của ông đưa lại cảm nhận mạnh mẽ, dữ dội và có chút gì đó "không thoải mái" cho người xem, nó phản ánh chính khía cạnh không lành mạnh một khi công chúng bị ám ảnh thái quá về những ngôi sao.

Danh họa người Ý Sandro Botticelli và bức "Sự ra đời của thần Vệ Nữ", thực hiện hồi giữa thập niên 1480

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 1


Danh họa người Ý Sandro Botticelli và bức "Sự ra đời của thần Vệ Nữ", thực hiện hồi giữa thập niên 1480.

Danh họa Botticelli đặc tả một nữ thần Hy Lạp, vị nữ thần của tình yêu, nàng bước lên từ biển cả trong dáng hình một phụ nữ trưởng thành. Dáng vóc của nàng vừa lý tưởng như đã được đề cập trong những câu chuyện thần thoại, vừa có tính chất thế tục như biểu trưng cho tình yêu nơi trần thế.

Danh họa người Ý Leonardo da Vinci và bức "Mona Lisa", thực hiện từ năm 1503 - 1505

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 2


Danh họa người Ý Leonardo da Vinci và bức "Mona Lisa", thực hiện từ năm 1503 - 1505.

Nổi tiếng với nụ cười bí ẩn, đây là một trong những bức tranh nổi tiếng nhất khắc họa nữ giới. Bức "Mona Lisa" đại diện cho những chuẩn mực về một bức chân dung bán thân cổ điển của thời Phục hưng, nhân vật xuất hiện trên cái nền là cảnh quan thiên nhiên.

Những đường cong khắc họa mái tóc hay trang phục của người phụ nữ cộng hưởng với những đường uốn lượn khắc họa dãy núi, con sông nơi hậu cảnh, tạo nên mối giao hòa giữa thiên nhiên và con người.

Danh họa Hà Lan Johannes Vermeer và bức "Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai", thực hiện năm 1665

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 3


Danh họa Hà Lan Johannes Vermeer và bức "Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai", thực hiện năm 1665.

Bức tranh thường được gọi là "Mona Lisa của Hà Lan" bởi sức hấp dẫn lớn tỏa ra từ nhân vật người phụ nữ bí ẩn xuất hiện trong tranh. Chiếc khuyên tai ngọc trai chính là điểm nhấn thị giác của bức tranh, cách khắc họa ánh sáng và mảng tối trên chiếc khuyên tai đã trở thành một chi tiết kinh điển trong lịch sử hội họa.

Danh họa người Pháp Edouard Manet và bức "Olympia", thực hiện hồi năm 1856

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 4


Danh họa người Pháp Edouard Manet và bức "Olympia", thực hiện hồi năm 1856.

Danh họa Edouard Manet khắc họa một phụ nữ khỏa thân. Những chi tiết trong tranh đã hé lộ về đời tư, thân thế của người phụ nữ này, tác phẩm từng khiến nhiều người xem tranh nổi giận.

Cách khắc họa một phụ nữ quá táo bạo từ xuất thân, đời tư, cho tới đôi mắt nhìn thẳng vào người xem tranh trong trạng thái khỏa thân từng khiến công chúng và giới phê bình giận dữ bởi nhân vật nữ quá táo bạo, vượt ra ngoài những khuôn khổ thường thấy về hình ảnh người phụ nữ khỏa thân được khắc họa trong tranh.

Cũng chính vì những tranh cãi, giận dữ đó, mà bức tranh có một vị trí quan trọng trong lịch sử hội họa bởi đã vượt ra ngoài những giới hạn khuôn mẫu thời bấy giờ.

Danh họa người Mỹ James McNeill Whistler và bức "Sắp đặt với gam màu xám và đen số 1" (hay còn được gọi là bức "Mẹ của Whistler"), thực hiện hồi năm 1871

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 5


Danh họa người Mỹ James McNeill Whistler và bức "Sắp đặt với gam màu xám và đen số 1" (hay còn được gọi là bức "Mẹ của Whistler"), thực hiện hồi năm 1871.

Bức tranh này về sau được nhìn nhận là một tác phẩm có tính biểu tượng, lột tả những khó khăn mà nhiều người phải trải qua trong đời sống. Bức họa đã đạt tới tầm cao về khắc họa tâm lý nhân vật và gợi lên xúc cảm chiều sâu trong người xem mỗi khi chiêm ngưỡng tác phẩm này. Từ dáng hình của người phụ nữ đứng tuổi ấy, người ta cảm nhận được nhiều nét tâm trạng.

Danh họa người Áo Gustav Klimt và bức "Chân dung nàng Adele Bloch-Bauer I", thực hiện hồi năm 1907

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 6


Danh họa người Áo Gustav Klimt và bức "Chân dung nàng Adele Bloch-Bauer I", thực hiện hồi năm 1907.

Bức họa đặc tả chân dung một người phụ nữ có khảm những lá vàng rực rỡ được thực hiện trong giai đoạn vàng của sự nghiệp Gustav Klimt. Vẻ đẹp của nàng Adele được nhấn mạnh ở đôi mắt giàu biểu cảm. Đây cũng là một trong những bức vẽ huyền thoại khắc họa chân dung một người phụ nữ.

Danh họa người Áo Egon Schiele và bức "Chân dung Edith, vợ của họa sĩ", thực hiện hồi năm 1915

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 7


Danh họa người Áo Egon Schiele và bức "Chân dung Edith, vợ của họa sĩ", thực hiện hồi năm 1915.

Thêm một tác phẩm được thực hiện bởi họa sĩ đến từ nước Áo, bức họa được thực hiện vào đúng năm họa sĩ Egon Schiele tổ chức hôn lễ. Trong tranh, ông khắc họa vợ mình như một búp bê, bộ váy rực rỡ trở thành điểm nhấn của tác phẩm, trong khi đó, đôi mắt màu xanh như thể đôi mắt của trẻ thơ là nét nổi bật nhất trên gương mặt của người phụ nữ.

Phong cách khắc họa chân dung của Schiele đẩy cao sự kịch tính, đưa lại những xúc cảm mạnh, sống động, trong đó, hình hài nhân vật có những nét biến ảo lạ lùng, chẳng hạn như trong bức tranh này là đôi tay của người phụ nữ, những đường nét ấy vừa là nét riêng đặc trưng cho phong cách của Schiele, vừa đánh dấu vị trí của Schiele là một người đi tiên phong của chủ nghĩa Biểu hiện.

Danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso và bức "Chân dung nàng Dora Maar", thực hiện hồi năm 1937

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 8


Danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso và bức "Chân dung nàng Dora Maar", thực hiện hồi năm 1937.

Pablo Picasso đã vẽ nhiều bức tranh khắc họa chân dung những người tình của ông, trong đó, đáng nhớ nhất là những bức khắc họa chân dung nữ nhiếp ảnh gia Dora Maar. Bức tranh chân dung này được thực hiện theo trường phái lập thể - một phong cách trứ danh trong sự nghiệp hội họa của Pablo Picasso.

Nữ danh họa người Mexico - Frida Kahlo và bức "Chân dung tự họa với vòng cổ gai và chú chim ruồi", thực hiện hồi năm 1940

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 9


Nữ danh họa người Mexico - Frida Kahlo và bức "Chân dung tự họa với vòng cổ gai và chú chim ruồi", thực hiện hồi năm 1940.

Frida Kahlo đã thực hiện nhiều bức chân dung tự họa trong sự nghiệp ngắn ngủi của mình. Bức tranh này khắc họa những vật nuôi yêu thích nhất của nữ họa sĩ, những chú khỉ trong tranh tượng trưng cho những đứa trẻ mà nữ họa sĩ không bao giờ có thể sinh ra vì những vấn đề sức khỏe của bà.

Trong cuộc đời mình, bà Frida Kahlo đi qua nhiều đau khổ, vòng gai đeo trên cổ như đang cắt cứa vào cổ bà, đó là một hình ảnh mang nhiều ý nghĩa, nhưng gương mặt của bà trong tranh vẫn rất bình thản, như thể nhẫn nại chịu đựng những đau đớn.

Danh họa người Mỹ Andy Warhol và bức "Shot Blue Marilyn", thực hiện hồi năm 1964

10 vẻ đẹp trường cửu của phái Đẹp trong lịch sử hội họa - 10


Danh họa người Mỹ Andy Warhol và bức "Shot Blue Marilyn", thực hiện hồi năm 1964.

Andy Warhol thực hiện một số bức tranh khắc họa minh tinh Marilyn Monroe, một biểu tượng về vẻ đẹp gợi cảm ở Hollywood. Nhưng những bức tranh này được thực hiện không phải với ý niệm tôn sùng danh tiếng, vẻ đẹp và sự hào nhoáng trong cuộc đời của nàng như nhiều người lầm tưởng.

Bức họa "Shot Blue Marilyn" được thực hiện ở thời điểm hai năm sau sự ra đi quá sớm, quá đột ngột của nữ diễn viên đình đám, rõ ràng bức họa này chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn một sự tôn sùng đơn thuần. Tác phẩm cho thấy khía cạnh ám ảnh của công chúng về Marilyn, cũng như tính chất khó đoán và dữ dội của đời sống.

Bích Ngọc
Theo Wide Walls/Art News



Người tình của các danh họa: Những bi kịch thảm khốc

Ít ai ngờ rằng làm người tình của các danh họa lại có thể bi kịch đến thế...

Danh họa Picasso: Hai người tình tự sát, hai người vợ suy sụp

Người tình của các danh họa: Những bi kịch thảm khốc - 1


Trong cuộc đời mình, vị danh họa người Tây Ban Nha - Pablo Picasso (1881 - 1973) có nhiều người tình.

Trong cuộc đời mình, vị danh họa người Tây Ban Nha - Pablo Picasso (1881 - 1973) có nhiều người tình, bên cạnh đó, ông cũng có những cuộc hôn nhân chính thức. Picasso có hai cuộc hôn nhân chính thức và có 4 người con với 3 người phụ nữ.

Những người phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong cảm hứng sáng tác của ông, những thăng và trầm, hòa hợp và xung đột trong các mối quan hệ tình cảm dữ dội ấy đóng một vị trí quan trọng để tạo nên xúc cảm nghệ thuật cho Picasso.

Có những người phụ nữ đi qua cuộc đời ông vừa là người đồng hành trong đời tư vừa là nàng thơ trong nghệ thuật đối với ông. Sự xuất hiện của họ trong các tác phẩm của vị danh họa khiến những người phụ nữ này vẫn còn được nhắc nhớ đến cho tới hôm nay trong lịch sử hội họa.

Sự trở đi trở lại của những người phụ nữ trong các sáng tác của Picasso cho thấy ông rất cần nguồn cảm hứng đến từ phái Đẹp. Nhiều dấu mốc trong các mối quan hệ tình cảm của ông trùng khớp với những biến đổi trong phong cách hội họa của ông.

Chẳng hạn, loạt chân dung khắc họa người vợ đầu - bà Olga Khokhlova cho thấy phong cách hội họa theo chủ nghĩa tự nhiên, thuộc trường phái tân cổ điển. Trong mối quan hệ với bà Marie-Thérèse Walter, Picasso tạo nên những tác phẩm siêu thực và giai đoạn này được gọi là "năm tháng diệu kỳ" trong sự nghiệp của ông.

Từ "giai đoạn màu xanh" với tông xanh buồn trong nhiều tác phẩm, Picasso chuyển sang "giai đoạn đỏ" nồng ấm trùng hợp với sự xuất hiện của nàng Fernande Olivier.

Người tình của các danh họa: Những bi kịch thảm khốc - 2


Bức "Những cô gái ở Avignon" của Picasso (thực hiện năm 1907).

Nghiên cứu đời tư của danh họa, người ta biết rằng Picasso là người rất yêu, rất cần phụ nữ nhưng đồng thời cũng rất phũ phàng, khắc nghiệt, thậm chí độc ác, tàn nhẫn với phụ nữ. Những câu nói rất phũ phàng của ông đã được các người tình ghi chép lại, những cách đối xử của ông với các người tình, các nàng thơ đã được người nhà phản ánh trong hồi ký.

Các người tình đều yêu tha thiết, thậm chí bị ám ảnh bởi Picasso, chưa ai từng lên tiếng trách móc, oán hận gì ông. Picasso luôn muốn kết thúc một cuộc tình khi người tình đã không còn đưa lại cho ông cảm hứng sáng tạo nữa, bất kể người phụ nữ ấy còn yêu ông nhiều tới mức nào. Có những người tình sau khi phải rời xa vị danh họa, vẫn tiếp tục sống trong tình yêu đơn phương vô vọng.

Có hai người phụ nữ quan trọng trong cuộc đời Picasso - nàng Marie-Thèrése Walter (một người tình) và nàng Jacqueline Roque (người vợ thứ hai) đã chết vì tự sát sau khi ông qua đời: Một người vợ không thể chịu đựng cuộc sống thiếu vắng ông, một người tình không thể vượt qua quá khứ từng có ông trong đời.

Người vợ đầu của ông - bà Olga Khokhlova và người tình Dora Maar cũng đều mắc phải những vấn đề tâm lý nặng nề do tác động nghiệt ngã từ những năm tháng gắn bó bên ông. Những thế hệ sau này trong gia đình Picasso cũng gặp phải một số bi kịch.

Người con trai cả của ông - Paulo bị trầm cảm, nghiện rượu và qua đời vì những biến chứng gây ra bởi chứng nghiện rượu. Cháu trai Pablito của ông (con trai của Paulo) đã qua đời vì tự sát do những mâu thuẫn trong gia đình, mà đỉnh điểm là việc anh này không được người vợ thứ hai của ông nội cho dự lễ tang của ông.

Danh họa Amedeo Modigliani: Cuộc tình bi đát tới ám ảnh

Người tình của các danh họa: Những bi kịch thảm khốc - 3


Danh họa người Ý Amedeo Modigliani (1884 - 1920) nổi tiếng với những bức chân dung khắc họa vẻ đẹp khỏa thân của phụ nữ theo phong cách hiện đại.

Danh họa người Ý Amedeo Modigliani (1884 - 1920) nổi tiếng với những bức chân dung khắc họa vẻ đẹp khỏa thân của phụ nữ theo phong cách hiện đại.

Ông là người đã làm sống dậy chủ đề khỏa thân trong hội họa thế kỷ 20, những đường nét kéo dài siêu thực của Amedeo Modigliani khi đặc tả gương mặt, cổ và thân hình của những người phụ nữ không nhận được sự thấu cảm về mặt nghệ thuật lúc vị danh họa còn sống, nhưng sau này, tranh ông lại trở thành tác phẩm được săn lùng và lập nên kỷ lục về giá trên thị trường mỹ thuật quốc tế.

Amedeo Modigliani chịu nhiều khốn khổ trong đời, khi còn sống, ông hầu như không được chứng kiến bất cứ thành tựu nào trong các sáng tạo nghệ thuật của mình, chỉ tới khi ông qua đời, danh tiếng của ông mới dần được tạo lập. Ông qua đời vì bệnh lao ở tuổi 35.

Người tình bi kịch nhất trong cuộc đời Modigliani là nàng Jeanne Hébuterne, lần đầu hai người gặp nhau, nàng còn là một sinh viên mỹ thuật 19 tuổi. Vốn sinh ra trong một gia đình tư sản mang tư tưởng truyền thống, Hébuterne đã bị gia đình từ mặt khi nàng lựa chọn gắn bó với Modigliani, người mà gia đình cô đánh giá là một họa sĩ vô danh khét tiếng trụy lạc.

Người tình của các danh họa: Những bi kịch thảm khốc - 4


Bức "Nu couché" của Amedeo Modigliani (thực hiện năm 1917).

Hébuterne bắt đầu làm mẫu cho Modigliani và gắn bó bên chàng họa sĩ với danh nghĩa người tình. Họ có một cô con gái. Trước đó, Modigliani cũng đã có ít nhất... 3 người con với những người phụ nữ khác. Khi Hébuterne có mang lần thứ 2, họ quyết định kết hôn nhưng gặp phải sự phản đối dữ dội của gia đình cô bởi lúc này Modigliani đã nghiện rượu và chất kích thích.

Chính Modigliani tự quyết định sẽ không kết hôn với nàng Hébuterne nữa sau khi biết mình đã mắc bệnh lao rất nặng. Năm 1920, sau vài ngày không thấy cặp đôi xuất hiện bên ngoài, hàng xóm vào thăm và thấy Modigliani đang nằm hấp hối và ôm lấy nàng Hébuterne. Modigliani qua đời ngay sau đó, nàng Hébuterne đang ở tuổi 21 và đã có mang 8 tháng.

Sau khi lễ tang kết thúc, gia đình đưa Hébuterne về nhà, tại đây, Hébuterne đã tự sát ở thời điểm hai ngày sau khi Modigliani qua đời, mang theo cả người con chưa chào đời. Phải tới 10 năm sau, gia đình Hébuterne mới di chuyển phần mộ của nàng về bên cạnh phần mộ của Modigliani.

Một tấm bia mộ chung được dựng lên để tưởng nhớ cặp đôi. Bên phần mộ của Modigliani, bia đề: "Tử thần đánh gục khi vinh quang vừa ló rạng". Bên mộ của Hébuterne, bia đề: "Người bạn đồng hành tận tụy với những sự hy sinh cùng cực".

Trong cuộc đời buồn bã của mình, Modigliani chỉ một lần tổ chức triển lãm tranh solo và thường phải đổi tranh để nhận được những bữa ăn miễn phí tại các cửa hàng, khi qua đời, cuộc sống của Modigliani và người tình rất cơ cực.

Họa sĩ người Áo Egon Schiele: Đại dịch cúm Tây Ban Nha quật ngã cả gia đình

Người tình của các danh họa: Những bi kịch thảm khốc - 5


Họa sĩ người Áo Egon Schiele (1890 - 1918) có cuộc đời rất ngắn ngủi, Schiele qua đời khi mới 28 tuổi trong đại dịch cúm Tây Ban Nha.

Họa sĩ người Áo Egon Schiele (1890 - 1918) có cuộc đời rất ngắn ngủi, Schiele qua đời khi mới 28 tuổi trong đại dịch cúm Tây Ban Nha. Dù sự nghiệp ngắn ngủi, cuộc đời đoản mệnh, nhưng Schiele vẫn là một họa sĩ có tầm ảnh hưởng lớn hồi đầu thế kỷ 20. Những tác phẩm của Schiele kịch tính, sống động, giàu xúc cảm. Egon Schiele được xem là họa sĩ tiên phong của trường phái Biểu hiện.

Mùa thu năm 1918, đại dịch cúm Tây Ban Nha cướp đi hơn 20 triệu sinh mạng của người dân Châu Âu lan tới Vienna, Áo. Vợ của họa sĩ - nàng Edith đang mang thai ở tháng thứ 6 đã qua đời trong đợt dịch bệnh bùng phát này.

Người tình của các danh họa: Những bi kịch thảm khốc - 6


Danh họa người Áo Egon Schiele và bức "Chân dung Edith, vợ của họa sĩ", thực hiện hồi năm 1915.

Schiele cũng qua đời sau khi vợ mất được 3 ngày. Khi ấy, họa sĩ mới 28 tuổi. Trong 3 ngày trước khi từ giã cõi đời, Schiele đã dùng chút tàn lực của mình để vẽ những bức phác họa cuối cùng về vợ - nàng Edith.

Nữ họa sĩ Frida Kahlo: Cuộc tình day dứt và buồn bã với người chồng họa sĩ

Người tình của các danh họa: Những bi kịch thảm khốc - 7


Nữ họa sĩ người Mexico - Frida Kahlo (1907 - 1954) vốn nổi tiếng với những bức họa phản ánh những nét đẹp thiên nhiên, văn hóa của Mexico.

Nữ họa sĩ người Mexico - Frida Kahlo (1907 - 1954) vốn nổi tiếng với những bức họa phản ánh những nét đẹp thiên nhiên, văn hóa của Mexico. Những bức họa của bà Kahlo vừa đậm chất văn hóa dân gian Mexico, vừa pha trộn tính hiện thực và nét siêu thực.

Phong cách hội họa của Kahlo đặc trưng với yếu tố "hiện thực kỳ ảo". Trong đời tư, bà Kahlo gặp phải nhiều vấn đề sức khỏe, những bức vẽ của bà thường phản ánh chính những cơn đau triền miên của bà.

Bà bị mắc bệnh bại liệt từ khi còn nhỏ và gặp phải nhiều giới hạn thể chất, nhưng khi lớn lên, Frida Kahlo là một học sinh ưu tú với tham vọng trở thành sinh viên ngành y. Năm 18 tuổi, bà gặp phải một tai nạn giao thông khiến cả cuộc đời bà sau này sống trong đau đớn thể chất và những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Chính vì biến cố này mà bà đã tìm tới niềm đam mê từ nhỏ - hội họa - để theo đuổi sự nghiệp họa sĩ được xem là phù hợp hơn với tình trạng sức khỏe của bà.

Cuộc tình với họa sĩ Diego Rivera chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc đời bà. Họ kết hôn năm 1929. Cuộc hôn nhân này góp phần tạo nên những thăng hoa trong phong cách hội họa của bà. Ngay từ lúc sinh thời, Frida Kahlo đã được biết tới và đạt được những thành công đáng kể trong sự nghiệp hội họa.

Trong giai đoạn cuối đời, tình trạng sức khỏe của bà Kahlo suy sụp nghiêm trọng, đặc biệt, trong những ngày tháng cuối đời, bà còn phải phẫu thuật cắt bỏ bên chân phải tới đầu gối. Bà rơi vào trầm cảm và phải sử dụng nhiều thuốc giảm đau.

Người tình của các danh họa: Những bi kịch thảm khốc - 8


Nữ danh họa người Mexico - Frida Kahlo và bức "Chân dung tự họa với vòng cổ gai và chú chim ruồi", thực hiện hồi năm 1940.

Lúc này, người chồng của bà - họa sĩ Rivera tiếp tục có những cuộc tình ngoài luồng khiến bà rất đau khổ và tự tử hụt một lần. Bà sống thêm được 5 tháng trong điều kiện sức khỏe rất tồi tệ, sau cùng, Frida Kahlo qua đời ở tuổi 47 vì hệ lụy tổng hợp của nhiều vấn đề sức khỏe mà bà đã phải vật lộn suốt cả cuộc đời.

Sau khi bà Kahlo qua đời được 3 năm, chồng của bà qua đời ở tuổi 70. Họa sĩ Diego Rivera hơn bà Frida Kahlo tới 21 tuổi, bà Kahlo là người vợ thứ 3 của ông Rivera, giữa họ không chỉ có tình yêu đôi lứa mà còn có nhiều sự đồng điệu trong quan điểm chính trị và tư duy nghệ thuật.

Hai người kết hôn lần đầu năm 1929, ly hôn năm 1939; rồi sau đó lại tái hôn với nhau vào năm 1940 và gắn bó đến khi bà qua đời năm 1954. Sau khi bà qua đời, ông Rivera kết hôn với người vợ thứ 4 vào năm 1955.

Bích Ngọc
Theo Wide Walls/Art News



Danh họa Nam Sơn và Nguyễn Phan Chánh được đặt tên phố ở Hà Nội

Tiểu Vũ | 01/06/2021, 17:50

Quyết định lấy tên hai danh họa hàng đầu Việt Nam là Nam Sơn và Nguyễn Phan Chánh đặt cho hai phố mới ở thủ đô vừa được biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ 18 HĐND TP.Hà Nội khóa XV.

Phố Nam Sơn trải dài từ ngã ba giao cắt với phố Hoàng Liệt tại chợ Xanh đến ngã ba giao cắt phố Nguyễn Phan Chánh tại lô BT01 khu đô thị bán đảo Linh Đàm (quận Hoàng Mai).

Phố Nguyễn Phan Chánh từ ngã ba giao cắt với phố Nam Sơn cạnh trụ sở Công ty Viễn thông Hà Nội đến ngã ba giao cắt phố Bằng Liệt tại cầu Bắc Linh Đàm (quận Hoàng Mai).

Họa sĩ Nam Sơn tên thật là Nguyễn Vạn Thọ, có nhiều đóng góp to lớn cho nền mỹ thuật Việt Nam đương đại. Ông cũng là một trong những thành viên sáng lập Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương - nơi đào tạo ra những họa sĩ tài danh của nền mỹ thuật Việt Nam. 

unnamed(1).jpg
Danh họa Nam Sơn - Ảnh: Tư liệu 

Năm 1923, họa sĩ Nam Sơn tham gia triển lãm đầu tiên tại Hà Nội với 4 bức tranh sơn dầu là Tĩnh vật, Nhà nho xứ Bắc, Cô gái Bắc Kỳ, Ông già Kim Liên. Đây là những bức tranh sơn dầu đầu tiên của hội họa Việt Nam. Năm 1930, Nam Sơn và bức tranh Chợ gạo bên sông Hồng của ông được tham dự Triển lãm Hội họa Paris.

Trong cuộc triển lãm, bức Chợ gạo bên sông Hồng là bức tranh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam được nước Pháp mua và trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Pháp. Năm 1946, ông Nam Sơn được Bộ Giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mời làm cố vấn của Viện Đông Dương bác cổ. 

Năm 1998, ba tác phẩm của họa sĩ Nam Sơn đã được chọn tham gia triển lãm Mùa xuân Việt Nam ở Paris, Pháp do Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam và Tòa Thị chính Paris tổ chức. Cũng trong năm 1998, cuốn sách Voyager Magazine được xuất bản tại Paris đã giới thiệu về cuộc triển lãm này và trong sách có in bức Chân dung người nông dân của Nam Sơn với lời bình ghi ngay trên tác phẩm: "Chỉ cho tới ngày nay, sau bao nhiêu năm bị lãng quên, các họa sĩ Việt Nam đã buộc người ta phải kính trọng".

Họa sĩ Nam Sơn qua đời năm 1973 tại Hà Nội. 25 năm sau khi qua đời, ông được Hội Mỹ thuật Việt Nam đề nghị truy tặng Huy chương "Vì sự nghiệp mỹ thuật" năm 1998.

portraitnpc-1-.jpg
Danh họa Nguyễn Phan Chánh - Ảnh: Tư liệu

Danh họa Nguyễn Phan Chánh sinh năm 1892, là sinh viên khóa đầu tiên của Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng học với các danh họa Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Mai Trung Thứ, Công Văn Trung, Georges Khánh (điêu khắc).

Ông được xem là danh họa nổi tiếng trong nghệ thuật tranh lụa với số lượng ước tính trên 170 tác phẩm. Nguyễn Phan Chánh cũng là người giữ kỷ lục về số tác phẩm được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Một số tranh lụa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh đã được trưng bày ở các quốc gia trên thế giới như Ý năm 1934, San Francisco (Mỹ) năm 1937, Tokyo (Nhật Bản) năm 1940.

Tại triển lãm tranh Paris năm 1931, Giám đốc Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Victor Tardieu đã mang một số tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh về Pháp giới thiệu. Đây cũng là lần đầu tiên công chúng Pháp được thưởng thức nghệ thuật tranh lụa Việt Nam. Gần đây, bức tranh Người bán gạo (tên tiếng Pháp là La marchand de riz) được bán với giá kỷ lục là 390.000 USD trong cuộc bán đấu giá của Christie's International tại Hồng Kông ngày 27.5.2013. 

Danh họa Nguyễn Phan Chánh qua đời ngày 22.11.1984 tại Hà Nội.



Danh họa Việt có tranh vượt ngưỡng 3 triệu USD: Kỷ lục vẫn chưa thể xô đổ

Tối 24/5, 4 tác phẩm của 3 danh họa Việt đã được rao bán bởi nhà đấu giá Christie Hồng Kông, gồm có tranh của Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Nguyễn Phan Chánh.

Cuộc đấu giá "20th and 21st Century Art Evening Sale" do nhà đấu giá Christie Hồng Kông tiến hành khá thu hút sự quan tâm của người yêu hội họa Việt Nam, bởi có tới 4 tác phẩm của 3 danh họa Việt được đem ra rao bán.

Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Nguyễn Phan Chánh là những danh họa hàng đầu trong nền hội họa hiện đại Việt Nam. Tác phẩm của họ đều đã xuất hiện trong top các bức tranh đắt giá nhất của hội họa Việt từng được đem rao bán đấu giá công khai trên thị trường quốc tế.

Đầu năm 2021 này, đã có nhiều tác phẩm hội họa được thực hiện bởi các danh họa Việt Nam được đem ra rao bán đấu giá trên thị trường quốc tế.

Tại cuộc đấu giá "Beyond Legends: Modern Art Evening Sale" do nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông tổ chức vào ngày 18/4 vừa qua, 8 bức tranh của các danh họa Việt đã được đưa ra đấu giá và đều đạt những mức giá cao hơn kỳ vọng, thậm chí xác lập kỷ lục.

Gây sửng sốt nhất khi ấy là bức "Chân dung Madam Phương" của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980). Tác phẩm đạt mức giá 24.375.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 3,1 triệu USD, tức gần 72,5 tỷ đồng). Đây hiện được xem là mức giá cao kỷ lục trả cho một tác phẩm được thực hiện bởi một họa sĩ người Việt.

Tại cuộc đấu giá "20th and 21st Century Art Evening Sale" do nhà đấu giá Christie Hồng Kông tổ chức vào tối ngày 24/5, lần lượt 4 tác phẩm của 3 danh họa Việt Nam đã được đưa ra rao bán...

Danh họa Việt có tranh vượt ngưỡng 3 triệu USD: Kỷ lục vẫn chưa thể xô đổ - 1


Bức "Thiếu nữ choàng khăn".

Bức "Thiếu nữ choàng khăn" của danh họa Lê Phổ (1907-2001) đã đạt mức giá 8.650.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 1,1 triệu USD; hay 25,6 tỷ đồng).

Trước đó, tác phẩm có mức giá ước đoán do nhà đấu giá Christie Hồng Kông đưa ra ở mức 6,8 tới 8,8 triệu đô la Hồng Kông (tương đương từ 875.000 USD tới 1,1 triệu USD, hay từ 20 tới 26 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 59.5 x 48.5 cm, được thực hiện vào khoảng năm 1938.

Năm 1938 là một năm đỉnh cao trong sáng tạo hội họa của Lê Phổ. Thời điểm này là lần thứ 2 ông quay trở lại Paris, sau lần đầu lưu lại hồi đầu thập niên 1930.

Những chuyến du hành tới nhiều nước Châu Âu, Châu Á trong giai đoạn trước đó đã đưa lại cho ông những trải nghiệm giá trị, với những tương tác thực tế với giới hội họa phương Đông và phương Tây, đặc biệt là giới họa sĩ tại Việt Nam và Pháp. Chính những cuộc tiếp xúc này đã truyền cảm hứng và để lại dấu ấn trong các tác phẩm của ông, từ cảm hứng sáng tạo tới kỹ thuật vẽ tranh.

Hình ảnh người phụ nữ Việt và chiếc khăn choàng là một hình ảnh trở đi trở lại trong tranh Lê Phổ, đó là nguồn cảm hứng bất tận của ông. Những ký ức về quê hương đưa lại cho ông những cảm hứng riêng độc đáo. không thể nào thay thế trong các tác phẩm hội họa.

Qua các bức họa của mình, Lê Phổ thể hiện rõ niềm nhớ thương quê hương và nguồn cảm hứng bất tận xung quanh hình ảnh người phụ nữ Việt.

Nhà đấu giá Christie Hồng Kông nhận định rằng bức "Thiếu nữ choàng khăn" là một tác phẩm xuất sắc của Lê Phổ với những nét riêng trứ danh thường xuất hiện trong tranh ông. Niềm thương nhớ quê hương được Lê Phổ thể hiện qua cách ông khắc họa rất chính xác các loại cây cỏ, thực vật đặc trưng của quê nhà dù đang ở đất Pháp.

Cách khắc họa cô gái trong tranh tựa như một đóa hoa vươn lên từ những cây lá xung quanh. Xúc cảm của người phụ nữ được đặc tả qua đôi tay tựa trên hàng rào gỗ, một đôi tay bày tỏ nhiều nét tư lự của nội tâm hay là chính nỗi nhớ thương quê nhà của họa sĩ.

Gương mặt cô gái nhiều hoài niệm, giàu xúc cảm, dáng điệu nhiều tâm tư, cô gái không chạm vào cây lá mà khẽ buộc lại nút thắt của chiếc khăn, tất cả động tác đều đậm tâm tư.

Giới chuyên môn tin rằng Lê Phổ thường khắc họa người phụ nữ Việt nhưng ông lồng ghép tâm tư của mình vào nhân vật, tranh của Lê Phổ chứa nhiều ý tứ, tâm tư của tác giả. Trong tranh của ông, người phụ nữ luôn đẹp trang nhã, thuần khiết, chân thành. Ông luôn khắc họa những hình dung đẹp nhất về người phụ nữ Việt, để qua đó thể hiện niềm yêu mến, lòng ngưỡng mộ của chính mình.

Danh họa Việt có tranh vượt ngưỡng 3 triệu USD: Kỷ lục vẫn chưa thể xô đổ - 2


Bức "Chiếc bát xanh".

Bức "Chiếc bát xanh" của danh họa Lê Phổ đã đạt mức giá 2.750.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 354.000 USD; hay 8,1 tỷ đồng).

Trước đó, tác phẩm được ước đoán đạt mức giá từ 1,6 tới 2,6 triệu đô la Hồng Kông (tương đương từ 206.000 USD tới 335.0000 USD, hay từ 4,7 đến 7,7 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 75 x 44.5 cm, được thực hiện vào năm 1930.

Đây là bức họa được Lê Phổ thực hiện trong năm ông tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương. Lúc này, tên tuổi của ông đã được giới hội họa trong nước biết đến, tác phẩm của ông được đem trưng bày tại Pháp và gây tiếng vang.

Danh họa Việt có tranh vượt ngưỡng 3 triệu USD: Kỷ lục vẫn chưa thể xô đổ - 3


Bức "Mona Lisa". 

Bức "Mona Lisa" của danh họa Mai Trung Thứ (1906-1980) đã đạt mức giá 5.625.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 724.000 USD; hay 16,7 tỷ đồng).

Trước đó, tác phẩm có mức giá ước đoán từ 2,5 tới 3,5 triệu đô la Hồng Kông (tương đương từ 322.000 USD tới 450.000 USD, tức từ 7,4 đến 10,3 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 53.5 x 37.5 cm, được thực hiện hồi năm 1974.

Có thể hiểu rằng họa sĩ đã tới chiêm ngưỡng trực tiếp bức "Mona Lisa" của danh họa Leonardo da Vinci tại bảo tàng Louvre ở Paris, Pháp, trong quãng thời gian nhiều thập kỷ ông định cư tại đây. Sau cùng, ông quyết định thực hiện một phiên bản "Mona Lisa" theo phong cách của riêng mình. Tại thời điểm thực hiện bức họa, họa sĩ 68 tuổi và đang ở đỉnh cao trong sự nghiệp nghệ thuật của mình.

Tên tuổi của Mai Trung Thứ trong lĩnh vực hội họa gắn liền với những tác phẩm tranh lụa khắc họa phụ nữ, trẻ em, phong cảnh và cuộc sống thường nhật của đất nước - con người Việt Nam, với những góc nhìn mang đậm hồn Việt.

Về cơ bản, dáng ngồi của nhân vật trong tranh Mai Trung Thứ và trong tác phẩm nguyên gốc của Da Vinci là khá giống nhau, nhưng người phụ nữ trong tranh Mai Trung Thứ nhỏ nhắn hơn, vóc người thon gọn hơn và phản ánh vẻ đẹp của phụ nữ Việt.

Gương mặt của người đẹp Việt cũng bớt đi vẻ bí ẩn và tăng thêm nét mềm mại. Bàn tay nhân vật được quan tâm khắc họa rất mềm mại và thoải mái. Mai Trung Thứ tái hiện dáng dấp của nàng Mona Lisa một cách khá tương đồng.

Trong khi tấm khăn trùm đầu được khắc họa rất nhẹ nhàng trong tác phẩm của Da Vinci, họa sĩ Mai Trung Thứ khắc họa tấm khăn trùm rất rõ rệt trong tác phẩm của mình, người đẹp trong tranh ông mặc một chiếc áo dài.

Phía sau người phụ nữ là một lan can đậm chất phương Đông, phong cảnh khắc họa ở hậu cảnh lấy cảm hứng từ vịnh Hạ Long, một danh thắng nổi tiếng của Việt Nam.

Qua bức họa này có thể hiểu rằng Mai Trung Thứ muốn bày tỏ lòng ngưỡng mộ dành cho Leonardo da Vinci, ông coi mình là một học trò của vị danh họa nổi tiếng thời kỳ Phục Hưng.

Mai Trung Thứ đã rất nỗ lực để đạt tới một sự tương đồng ở mức độ nhất định, dù đương nhiên sẽ có những điều không thể tái hiện lại được, chẳng hạn như nụ cười bí ẩn của nàng Mona Lisa trong bức tranh gốc hay kỹ thuật hòa màu tạo ảo giác mà Da Vinci từng sử dụng.

Danh họa Việt có tranh vượt ngưỡng 3 triệu USD: Kỷ lục vẫn chưa thể xô đổ - 4


Bức "Thợ nhuộm".

Bức "Thợ nhuộm" của danh họa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) đã đạt mức giá 4.375.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 563.000 USD; hay gần 13 tỷ đồng).

Trước đó, tác phẩm đã có mức giá ước đoán từ 2 tới 3 triệu đô la Hồng Kông (tương đương từ 257.000 USD tới 386.000 USD, tức từ 5,9 tới 8,9 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa được thực hiện vào năm 1931, có kích thước 60.5 x 88 cm.

Bức họa đặc tả cảnh quần áo được đem ra nhuộm lại để chuẩn bị đón Tết. Một nét đời sống xưa cũ được khắc họa trong tranh. Đây là một tác phẩm giàu hoài niệm, những người phụ nữ trong tranh mặc áo nâu, quần đen, đội khăn đen, đi chân đất...

Khắc họa của Nguyễn Phan Chánh luôn chân thực, mộc mạc. Người phụ nữ trong tranh ông đối lập với những người phụ nữ quý phái, thanh cao xuất hiện trong tranh của hai họa sĩ cùng thời là Lê Phổ và Mai Trung Thứ.

Tác phẩm "Thợ nhuộm" của Nguyễn Phan Chánh mang những nét đặc trưng trong phong cách hội họa của riêng ông, đồng thời là những ký ức, xúc cảm khó quên về một tuổi thơ nghèo khó mà ông từng trải qua.

Nguyễn Phan Chánh là một cá tính độc đáo trong thế hệ họa sĩ đầu tiên tốt nghiệp từ trường Mỹ thuật Đông Dương, nếu tìm về xuất thân của ông, người xem sẽ hiểu được thêm rất nhiều về tác phẩm của ông.

Nguyễn Phan Chánh sinh ra trong một làng quê nghèo ở Hà Tĩnh, tuổi thơ và những ký ức nghèo khó đưa lại cho ông cách nhìn nhận và tiếp cận khác khi bước vào thế giới hội họa. Ông luôn theo đuổi vẻ đẹp của sự giản đơn trong hội họa, ông thích sử dụng nghệ thuật "chiaroscuro" (phối hợp màu sáng - tối) trong các tác phẩm của mình.

Bức tranh "Thợ nhuộm" khắc họa một nếp sống thôn quê, mộc mạc. Màu đen được sử dụng khá nhiều trong tranh, đó là màu khăn, màu quần, màu nước nhuộm bên trong chậu và một ít màu vương vãi ở bên ngoài.

Những dòng thư pháp xuất hiện trong tranh thể hiện nét tư duy thẩm mỹ của họa sĩ. Trong tranh có đề một bài thơ, đại ý nói về thời điểm cuối đông, đầu xuân, tiết trời và cảnh vật sắp đổi khác, đó cũng là lúc người ta chuẩn bị quần áo đón Tết.

Qua phong cách hội họa của Nguyễn Phan Chánh có thể thấy quan niệm của ông về thế giới quanh mình, ông không coi những điều xưa cũ là lỗi thời, lạc hậu, thậm chí, ông không hề có ý định đi tìm những cái mới mẻ, hiện đại, hào nhoáng, bóng bẩy để đưa vào tranh mình.

Nguyễn Phan Chánh luôn tìm về quá khứ, tìm về với những gì chân quê, xưa cũ. Đối với ông, không gì thay thế được những hình ảnh thôn quê dung dị, mộc mạc ấy. Ông chỉ "một mực" khắc họa đời sống dung dị trong tranh mình.

Bích Ngọc
Theo Christie/Sotheby




Nàng 'Mona Lisa Việt' của Mai Trung Thứ sắp lên sàn đấu giá


Nàng 'Mona Lisa Việt' của Mai Trung Thứ sắp lên sàn đấu giá
TPO - Bức tranh Mona Lisa (La Joconde) do hoạ sỹ Mai Trung Thứ thực hiện năm 1974 sẽ được lên sàn đấu giá của nhà đấu giá nghệ thuật Christie’s Hongkong vào ngày 24/5 tới. Đây là một trong những bức tranh được danh hoạ Việt vẽ lại từ kiệt tác thời phục hưng của hoạ sỹ thiên tài Leonardo da Vinci.

Bức Mona Lisa của Mai Trung Thứ được giới sưu tầm tranh chú ý bởi cách đây chỉ mới hơn 1 tháng, tại phiên đấu giá ngày 18/4, bức Chân dung cô Phương (Portrait de Mademoiselle Phuong) của Mai Trung Thứ đã được bán với giá lên đến 3,1 triệu USD. Theo giới sưu tập, tranh của Mai Trung Thứ hiện đang có mức tăng khá nhanh nên giới sưu tập thường không đắn đo khi xuống tiền cho những bức tranh tiếp theo.

Nàng 'Mona Lisa Việt' của Mai Trung Thứ sắp lên sàn đấu giá ảnh 1
Chan dung cô Phượng có giá 3,1 triệu đô la

Bức Mona Lisa được đưa ra đấu giá trong đợt này được vẽ năm 1974 nhưng không phải là bức đầu tiên Mai Trung Thức vẽ lại theo kiệt tác nổi tiếng của Leonardo da Vinci. Năm 2010, sàn đấu giá tranh nghệ thuật Sotheby’s (Singapore) cũng đã đưa ra đấu giá bức Mona Lisa được Mai Trung Thứ vẽ năm 1961 và đã bán với giá hơn 17 ngàn USD.


Nàng 'Mona Lisa Việt' của Mai Trung Thứ sắp lên sàn đấu giá ảnh 2
Bức "Mona Lisa" vẽ năm 1961
Quảng Cáo

Tuy nhiên theo thời cuộc, tranh của Mai Trung Thứ ngày càng tăng giá trị và với bức Mona Lisa 1974, hoạ sỹ đã có nhiều sự thay đổi khi ông sử dụng chất liệu tranh lụa và thổi hồn vào bức tranh bởi gương mặt của một thiếu nữ Việt. Phong cảnh nền phía sau cũng đậm chất Việt khi là bóng dáng của vịnh Hạ Long. Chính vì thế, dù là tác phẩm phái sinh nhưng Mona Lisa 1974 của Mai Trung Thứ vẫn ghi dấu ấn rất riêng.

Nàng 'Mona Lisa Việt' của Mai Trung Thứ sắp lên sàn đấu giá ảnh 3
Bức "Mona Lisa" vẽ năm 1974

Tại phiên đấu giá tới đây, bức Mona Lisa của Mai Trung Thức được xếp chung sàn đấu giá cùng với các tác phẩm của nhiều danh hoạ có tiếng trên thế giới và châu Á như Pablo Picasso, Jean-Michel Basquiat, Zao Wou-Ki, Sanyu, Yoshitomo Nara, Yayoi Kusama, Wu Guanzhong, Banksy, Zeng Fanzhi… Với mức giá khởi điểm khoảng từ 320.000- 450.000 đô la nhưng BTC đang kỳ vọng bức tranh sẽ có giá bán khoảng từ 1,1- 1,2 triệu đô la.



Thêm tranh Việt sắp lên sàn đấu giá, dự đoán vượt ngưỡng 3 triệu USD


Thêm tranh Việt sắp lên sàn đấu giá, dự đoán vượt ngưỡng 3 triệu USD
TPO - Bức tranh lụa danh tiếng Thiếu nữ choàng khăn (Jeune femme attachant son foulard, mực và gouache) do Lê Phổ vẽ năm 1938 sẽ lên sàn đấu giá sàn đấu của của nhà đấu giá tranh nghệ thuật Christie’s Hong Kong vào lúc 18h30 (Giờ Hà Nội) ngày 24/5. Theo dự đoán bức Thiếu nữ choàng khăn có thể vượt ngưỡng 3 triệu USD.

Lý giải về giá trị của bức tranh, theo nhà phê bình Lý Đợi thì về vật liệu và chất liệu, bức tranh xứng đáng tiêu biểu cho tranh lụa của Việt Nam. Năm 1938 cũng làm thời điểm đỉnh cao nhất về độ chín tài năng trong sự nghiệp hội hoạ của Lê Phổ. Năm 1937, ông trở lại Paris vào lần thứ hai, sau lần đầu lưu trú vào các năm 1931-1932.

Thêm tranh Việt sắp lên sàn đấu giá, dự đoán vượt ngưỡng 3 triệu USD ảnh 1
Bức "Chân dung tự hoạ trong rừng" của Lê Phô

Trước đó vào năm 1933, Lê Phổ là giáo sư chính thức tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nên học thuật càng phát triển. Năm 1934 đi nghiên cứu tranh lụa ở Trung Quốc, tại đây ông có dịp nghiên cứu thêm tranh lụa Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan… Bức Thiếu nữ choàng khăn như ẩn dụ câu thơ của Tản Đà: “Con đường vô hạn khách Đông Tây”, là sự kết hợp, giao thoa tài tình giữa kỹ thuật của Đông Tây và hồn hội hoạ Việt.

Thêm tranh Việt sắp lên sàn đấu giá, dự đoán vượt ngưỡng 3 triệu USD ảnh 2
Bức "Thiếu nữ choàng khăn" của Lê Phổ
Quảng Cáo

Thứ hai về lý lịch, hành trình của bức Thiếu nữ choàng khăn rất minh bạch, ấn tượng, qua tay các nhà sưu tập danh tiếng. Thứ ba, hiện tại đang có mấy nhà sưu tập của Việt Nam và Trung Quốc đang rất quan tâm. Với việc một bức tranh hiếm có, lại thêm danh tiếng của hoạ sỹ Lê Phổ nên bức tranh sẽ được nâng giá cao tại cuộc đấu giá là đương nhiên. “Nếu bức tranh được tăng giá lên tới trên 5 triệu USD cũng không có gì bất ngờ bởi theo thời gian, bức Thiếu nữ choàng khăn sẽ còn được quan tâm nhiều hơn nữa”- Lý Đợi cho biết.

Thêm tranh Việt sắp lên sàn đấu giá, dự đoán vượt ngưỡng 3 triệu USD ảnh 3
Bức "Khoả thân" của Lê Phổ

Được biết hiện nay trong giới hội hoạ Việt, hoạ sỹ Lê Phổ là người có nhiều tranh nhất được bán với giá lên tới con số triệu đô la. Năm 2017 bức Family Life (Đời sống gia đình) đã được bán với giá gần 1,2 triệu đô la. Năm 2019, bức bức Khỏa thân của Lê Phổ vẽ năm 1931 cũng đạt mức giá gần 1,4 triệu đô la. Năm 2020, bức Thiếu nữ bên hoa mẫu đơn của Lê Phổ đạt mức giá 1,1 triệu đô la, tháng 3/2121, bức Chân dung tự hoạ trong rừng của Lê Phổ được bán với giá 1 triệu 52 ngàn đô la.….



Những nhan sắc "vàng ròng" bước ra từ siêu phẩm hội họa

Danh họa Gustav Klimt hay đưa những lá vàng dát mỏng vào trong các tác phẩm hội họa của mình. Mới đây, các nhan sắc "vàng ròng" từng xuất hiện trong tranh ông đã bước ra ngoài đời thực.

Nhân dịp mở cửa trở lại sau thời kỳ ngừng hoạt động để phòng chống dịch bệnh, nhà hàng kiêm câu lạc bộ Annabel's nằm ở Mayfair, London, Anh, đã vừa nảy ra ý tưởng đưa các tác phẩm hội họa của danh họa người Áo Gustav Klimt (1862 - 1918) bước ra ngoài đời thực, để những tác phẩm này đem lại một trải nghiệm nghệ thuật đặc biệt cho các vị khách.

Nhà hàng cao cấp này vốn là điểm lui tới của giới nhà giàu tại London. Trong dịp mở cửa trở lại lần này, nhà hàng Annabel's sẽ đưa lại cho các khách hàng của mình những trải nghiệm ngoạn mục với nghệ thuật. Những hình ảnh giới thiệu ban đầu về ý tưởng của nhà hàng đã thu hút sự quan tâm chú ý bởi vẻ đẹp thẩm mỹ ấn tượng khi đưa tác phẩm hội họa nằm trên vải vẽ ra ngoài đời thực.

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 1


Một tạo hình lấy cảm hứng từ tác phẩm "Medicine" (Dược học) của Gustav Klimt.

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 2


Cảm hứng từ bức "Nụ hôn".

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 3


Một người mẫu hóa thân thành nữ quý tộc Adele Bloch-Bauer, danh họa Gustav Klimt đã được chồng của bà Adele Bloch-Bauer mời tới thực hiện tranh chân dung khắc họa bà hồi năm 1903.

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 4


Một tạo hình lấy cảm hứng từ bức "Chân dung Adele Bloch-Bauer I".

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 5


Một người mẫu được tạo hình theo khắc họa trong bức "Medicine" (Dược học).

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 6


Người mẫu được giao đảm nhiệm thể hiện nhân vật xuất hiện trong bức "Chân dung Adele Bloch-Bauer I".

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 7


Bức "Water Serpents II" của Gustav Klimt

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 8


Người mẫu thể hiện nhân vật trong bức "Water Serpent II".

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 9


Cảm hứng từ bức "Water Serpents I".

Những nhan sắc vàng ròng bước ra từ siêu phẩm hội họa - 10


Biến thể của bức "Danae".

Bích Ngọc
Theo Daily Mail



"Hồn quê" thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X

Mái nhà ngói cũ kỹ, cảnh sinh hoạt giản dị hay những cánh đồng lúa chín rộn ràng mùa thu hoạch,… Tất cả những thứ rất thân quen ấy được "gói" lại trong bộ tranh của chàng họa sĩ 9X.

Gặp họa sĩ Trần Nguyên (31 tuổi) trong một buổi chiều đầu hè, trong căn phòng nhỏ với ô cửa sổ rộng, bên giá tranh, họa sĩ Trần Nguyên vừa nghe những bản nhạc về quê hương, đất nước vừa say sưa hoàn thành bức tranh với bối cảnh làng quê có giàn hoa giấy nở rộ.

Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 1


Họa sĩ Trần Nguyên sinh ra ở làng Xuân Hồng (Xuân Trường, Nam Định) nên những ký ức về đồng quê với ao làng, ruộng lúa đã quá đỗi thân thuộc với chàng họa sĩ 9X.

Họa sĩ trẻ cho biết, anh có năng khiếu và đam mê vẽ từ nhỏ. Những ngày học cấp 2 ở trường làng, khác với những bạn cùng lớp mơ ước sau này trở thành bác sĩ, kỹ sư, anh ấp ủ ước mơ trở thành họa sĩ.

Lên cấp 3, Nguyên theo học trường năng khiếu về Văn hóa nghệ thuật ở thành phố Nam Định. Ở đây có những người thầy truyền cho anh kỹ năng, đam mê về vẽ, nơi đây còn là cơ duyên để anh quyết định theo đuổi ngành Thiết kế mỹ thuật  của trường Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.

Suốt những năm tháng được tiếp xúc với mỹ thuật bài bản, anh thường xuyên phải đi thực tế để hoàn thành các bài tập, chủ đề làng quê luôn được Nguyên lựa chọn cho các tác phẩm của mình.

"Tôi sinh ra và lớn lên ở quê, vì thế "quê hương" luôn là chủ đề mà tôi có nhiều chất liệu để sáng tạo nhất, bởi nó gắn liền với ký ức tuổi thơ, nơi có những con đường làng, cánh đồng lúa chín", Nguyên chia sẻ.

Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 2


"Hồn quê" hiện lên trong trẻo qua bức vẽ của chàng họa sĩ trẻ tài ba.

Dù đã có thời gian gắn bó với công việc thiết kế ở công ty game nhưng vì niềm đam mê với hội họa, anh đã quay lại gắn bó với sáng tác tranh. Đầu năm 2020, bộ tranh "Làng quê" của họa sĩ Trần Nguyên đã chạm đến trái tim của cộng đồng mạng.

Qua nét vẽ sáng tạo, đầy xúc cảm, những vẻ đẹp xưa cũ, trong trẻo, bình yên của vùng quê Bắc Bộ hiện lên gần gũi, thân thương khiến người xem như lắng đọng về cuộc sống bình yên không ồn ào, vội vã.

Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 3

Họa sĩ Trần Nguyên thường có thói quen nghe những bản nhạc về quê hương, đất nước trong lúc vẽ tranh. Nó giúp anh có nhiều cảm xúc để "thổi hồn" vào các tác phẩm.

Trong bộ tranh ấy, có những sáng tác Nguyên lấy cảm hứng từ khung cảnh ngôi nhà ngày xưa của gia đình anh, về những người thân trong gia đình.

"Ngày bé, tôi ở cùng ông bà nội vì bố mẹ đi làm xa, tuổi thơ được ông bà chăm sóc với rất nhiều kỷ niệm. Từ đó thôi thúc tôi sáng tác bức tranh ông ngồi trên chõng tre đưa quà chiều cho cháu sau khi đón cháu đi học về. Đó cũng là bức tranh tôi yêu thích nhất", Nguyên trải lòng.

Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 4


Bức tranh "Khoảng sân trước nhà" lấy bối cảnh từ chính ngôi nhà ngày xưa của gia đình anh.

Bên cạnh bức tranh về ông, họa sĩ Trần Nguyên cũng sáng tác bức tranh với hình ảnh bà phơi bột sắn dây giữa sân: "Bức tranh này tôi dành nhiều thời gian để nghiên cứu về hình ảnh giàn mướp, bể nước, khoảng sân gạch, bóng nắng đổ như thế nào để bức tranh có hồn".

Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 5


Tác phẩm "Ký ức về bà" của họa sĩ Trần Nguyên.
Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 6


Bức tranh "Sớm mai của mẹ" với hình ảnh mẹ giặt quần áo vào buổi sáng, bố chuẩn bị đi làm được anh khắc họa đã chạm đến trái tim của nhiều người xem, bởi những ai từng sinh ra và lớn lên ở quê đều thấy một phần ký ức của mình.

Những ngôi nhà trong các sáng tác ở quê hương Xuân Hồng của anh có đặc trưng là nhà 3 gian 2 trái, có bể nước và giếng nước, đường làng ngõ xóm xếp gạch.

Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 7


Điểm đặc biệt, trong các tác phẩm của họa sĩ Trần Nguyên đều có hình ảnh con người, đây vừa là điểm nhấn vừa giúp bức tranh trở nên sống động hơn.

Bên cạnh hồi ức lại các khung cảnh ở quê hương mình, họa sĩ Trần Nguyên cũng dành thời gian đi thực tế ở các vùng quê, làng cổ khác: làng cổ Đường Lâm, làng Cự Đà… để làm đa dạng các sáng tác của mình.

Cầm chiếc máy ảnh, quyển sổ, cây bút, chàng họa sĩ 9X lên xe máy đi khắp mọi nơi, bắt gặp cảnh đẹp, anh liền chụp lại hoặc vẽ trực họa làm tư liệu.

Theo họa sĩ Trần Nguyên, khó khăn nhất của anh khi theo đuổi dòng tranh này là những góc quê đang dần mai một, "bê tông hóa" hoặc không còn nguyên trạng: "Khi đi thực tế, các khung cảnh đều không còn nguyên vẹn mà thiếu vài chi tiết nào đó. Có chỗ thì còn ngôi nhà, có chỗ thì còn con đường. Tôi thường hỏi người dân địa phương, đọc tài liệu để chắp nối chúng lại với nhau tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh".

Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 8


Trong một lần đi thực tế, tình cờ anh nhìn thấy trên con đường làng có hình ảnh 2 ông bà đang dắt tay nhau, anh liên chụp lại và 2 tuần sau tác phẩm ra đời.

Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 9


Tranh của họa sĩ Trần Nguyên được vẽ bằng chất liệu sơn dầu và acrylic.
Hồn quê thân thương qua những nét vẽ của họa sĩ 9X - 10


Mỗi bức tranh anh sáng tác trong khoảng 2 tuần, cứ ở nhà vẽ khoảng nửa tháng anh lại khoác máy ảnh lên đường đi thực tế.

Họa sĩ Trần Nguyên bày tỏ mong muốn: "Qua những bức tranh, tôi muốn giúp những người lớn tuổi ghi chép lại ký ức và mong muốn các thế hệ trẻ được cảm nhận về cuộc sống sinh hoạt, khung cảnh làng quê thời ông bà, bố mẹ mình đã trải qua".

Họa sĩ 9X đã tham gia một số triển lãm mỹ thuật của Thủ đô, triển lãm ở Nam Định, triển lãm Đồng Bằng Sông Hồng. Năm 2020, anh cũng tham gia triển lãm ở Hội nghị Cấp cao ASEAN.

Trong thời gian tới, anh vẫn tiếp tục theo đuổi dòng tranh về làng quê với những chủ đề về cuộc sống sinh hoạt, con người. Anh cũng lên kế hoạch đến các vùng miền khác của dải đất hình chữ S để ghi lại "hồn quê" ở đó.

Cuộc sống ngày một hiện đại, khi chúng ta trưởng thành, gánh nặng "cơm áo gạo tiền" giữ chân ta ở lại những thành phố xa hoa và ồn ào. Sẽ có những lúc mệt mỏi, chúng ta bất chợt hoài niệm về một làng quê cổ kính, yên bình, nơi lưu giữ những ký ức về thời ấu thơ. Những tác phẩm của họa sĩ trẻ Trần Nguyên đã chạm tới ký ức tuổi thơ của nhiều người. Có lẽ, đây chính là tấm vé về tuổi thơ mà nhiều người tìm kiếm.

Hà Hiền



Sức hấp dẫn của "Nụ hôn" qua một thế kỷ: Tình yêu luôn là cốt lõi

Bức "The Kiss" (Nụ hôn) khắc họa những xúc cảm dịu dàng, tha thiết trong tình yêu và tạo nên rung cảm trong mọi thế hệ người xem tranh.

Sức hấp dẫn của Nụ hôn qua một thế kỷ: Tình yêu luôn là cốt lõi - 1


Khi vẽ, danh họa Gustav Klimt thích mặc chiếc áo choàng rộng màu xanh đậm.

Trong một khu ngoại ô giàu có của Vienna (Áo), có một tòa biệt thự trang nhã màu trắng từng có xưởng vẽ của danh họa người Áo Gustav Klimt.

Giờ đây, tòa biệt thự này được biết tới với tên Klimt Villa, công trình đã trải qua nhiều thay đổi lớn sau những đợt sửa chữa. Dù vậy, các căn phòng bên trong villa vẫn duy trì kết cấu ban đầu. Trong xưởng vẽ vẫn còn những bài trí nguyên bản theo chính cách sắp đặt khi xưa của danh họa Gustav Klimt.

Xưởng vẽ là một căn phòng ngập tràn ánh sáng tự nhiên, cho phép ta hình dung về không gian làm việc chan hòa ánh nắng của vị danh họa lúc sinh thời. Khi vẽ, Klimt thích mặc chiếc áo choàng rộng màu xanh đậm. Trong xưởng vẽ có đặt một chiếc giường, trên đó vắt chiếc áo choàng vốn gắn bó với ông trong hoạt động sáng tạo.

Gia tài nghệ thuật giàu giá trị và rất... "được giá"

Sức hấp dẫn của Nụ hôn qua một thế kỷ: Tình yêu luôn là cốt lõi - 2


Bức "Chân dung Adele Bloch-Bauer I" của Gustav Klimt.

Bức "The Kiss" (Nụ hôn) đã trở thành một trong những tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới. Trưng bày trong bảo tàng Belvedere của Vienna (Áo), tác phẩm chỉ nằm cách Klimt Villa vài cây số. Siêu phẩm hội họa này đã thu hút hàng trăm ngàn lượt khách tham quan mỗi năm.

Bức "The Kiss" ít khả năng xuất hiện trên thị trường trong tương lai gần, nhưng nhiều tác phẩm khác của danh họa Gustav Klimt đã đạt được những mức giá gây sửng sốt trong những năm gần đây.

Tranh của Gustav Klimt đã luôn được giá ngay từ khi ông còn đang sống. Các bức tranh chân dung của Klimt đặc biệt đắt giá. Nhưng không chỉ thành công về mặt thương mại, những bức họa của Gustav Klimt còn gây thỏa mãn về mặt thị giác cho người xem, cho dù là những người không am hiểu nhiều về nghệ thuật.

Xem tranh ông, người ta cảm nhận rõ ràng niềm khát khao dành cho những rung cảm đẹp, những xúc cảm lãng mạn. Trong tranh của Klimt, người xem tìm thấy vẻ đẹp thẩm mỹ tinh tế nhưng cũng rất dễ cảm thụ.

Sức hấp dẫn của Nụ hôn qua một thế kỷ: Tình yêu luôn là cốt lõi - 3


Bức "Chân dung Adele Bloch-Bauer II" được danh họa Gustav Klimt thực hiện hồi năm 1907 với giá 150 triệu USD.

Hồi năm 2016, "nữ hoàng truyền hình" Mỹ Oprah Winfrey từng bán ra tác phẩm "Chân dung Adele Bloch-Bauer II" được danh họa Gustav Klimt thực hiện hồi năm 1907 với giá 150 triệu USD, trước đó, bà Oprah Winfrey mua tác phẩm này với giá chưa đầy 90 triệu USD hồi năm 2006.

Vài tháng sau, tỷ phú người Nga - Dmitry Rybolovlev bán bức "Water Serpents II" của Klimt cho một nhà sưu tập tư nhân với giá lên tới 170 triệu USD.

Từ họa sĩ gây tranh cãi tới danh họa nổi tiếng thế giới

Sức hấp dẫn của Nụ hôn qua một thế kỷ: Tình yêu luôn là cốt lõi - 4


Ảnh chụp đen trắng của bức "Philosophy" (Triết học). Tác phẩm đã bị hủy hoại trong Thế chiến II.

Sinh ra ở ngoại thành Vienna hồi năm 1862, Gustav Klimt là con trai thứ hai của một người thợ kim hoàn. Điều này lý giải tại sao Gustav Klimt hay đưa chất liệu vàng ròng vào trong tác phẩm của mình và ông có một giai đoạn gọi là "giai đoạn vàng" trong sự nghiệp hội họa, khi ấy, ông thường sử dụng những lá vàng để đưa vào các bức tranh.

Sau khi học xong Đại học, Gustav Klimt và người anh trai của mình được giao đảm nhận việc tô điểm cho những công trình khác nhau tại Vienna, bao gồm việc thực hiện các tác phẩm bích họa và phù điêu cho các công trình như nhà thờ, nhà hát, bảo tàng...

Cha và anh trai của Gustav Klimt cùng qua đời trong năm 1892. Sự việc này đã có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp của Gustav Klimt. Sau mất mát này, ông bắt đầu từ bỏ phong cách nghệ thuật cổ điển mà mình đã theo đuổi trước đó, một phong cách giúp đưa lại cho ông vị trí nhất định trong giới họa sĩ, để theo đuổi phong cách mới mẻ hơn, có tính chất đặc trưng riêng biệt hơn.

Ông thôi tham gia các hội nhóm họa sĩ vốn mang những quan niệm truyền thống về hội họa, để cùng với một số nghệ sĩ thành lập nên hội nhóm mới và theo đuổi những phong cách hội họa mới. Điều này được ông thực hiện tại thành phố Vienna từ năm 1897.

Sức hấp dẫn của Nụ hôn qua một thế kỷ: Tình yêu luôn là cốt lõi - 5


Ảnh chụp đen trắng của bức "Medicine" (Dược học). Tác phẩm đã bị hủy hoại trong Thế chiến II.

Năm 1900, Gustav Klimt thực hiện một tác phẩm gây tranh cãi có tên "Philosophy" (Triết học). Đây là bức đầu tiên trong bộ 3 bức tranh được thực hiện theo đơn đặt hàng để trưng bày trong sảnh lớn của Đại học Vienna. Bức "Philosophy" khắc họa những nhân vật khỏa thân với những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng.

Ngay lập tức, các giảng viên trong trường đã bày tỏ sự tức giận, họ không thể chấp nhận tác phẩm này cũng như bộ ba tác phẩm mà Klimt thực hiện để trưng bày trong sảnh bởi các tác phẩm này đều khắc họa những hình người khỏa thân, khiến các giảng viên cho rằng bộ tác phẩm có tính chất... khiêu dâm.

Sự việc lùm xùm này hóa ra lại giúp nhiều cho sự nghiệp của Gustav Klimt. Những bức họa bị phản đối ấy sau đó được đem trưng bày tại một triển lãm quốc tế tổ chức ở Paris (Pháp), tại đây, bức "Medicine" (Dược học) - một tác phẩm nằm trong bộ ba bức tranh khắc họa những ý niệm về triết học, dược học và luật học, do Gustav Klimt thực hiện - đã giành được giải nhất tại cuộc triển lãm.

Thành công này đánh dấu sự bắt đầu của "giai đoạn vàng" trong sự nghiệp hội họa của Gustav Klimt. Bởi từ đây, ông được biết tới nhiều hơn trên quy mô quốc tế, Gustav Klimt liền bắt tay vào thực hiện những tác phẩm về sau giúp ông trở thành danh họa nổi tiếng thế giới.

Trong số này có bức họa nổi tiếng "Chân dung Adele Bloch-Bauer I" từng trải qua chặng hành trình chìm nổi trong Thế chiến II. Nhiều năm sau, người cháu gái của nhà Bloch-Bauer - bà Maria Altmann đã vận động thành công để tác phẩm được trả về cho gia đình bà, sau khi họ bị thất lạc tác phẩm vì những yếu tố biến động thời cuộc.

Năm 2006, gia đình bà Maria Altmann quyết định bán bức tranh này tại một cuộc đấu giá, tác phẩm đạt mức 135 triệu USD và trở thành bức tranh đắt nhất thế giới ở thời điểm bấy giờ.

Sức hấp dẫn của Nụ hôn qua một thế kỷ: Tình yêu luôn là cốt lõi - 6


Bức "Judith and the Head of Holofernes" được Gustav Klimt thực hiện năm 1901.

Một siêu phẩm ra đời

Tác phẩm đỉnh cao trong "giai đoạn vàng" của sự nghiệp Gustav Klimt được thực hiện vào năm 1908, đó chính là bức "The Kiss" (Nụ hôn). Bức tranh khắc họa hai người yêu nhau đang ôm lấy nhau. Tác phẩm đã được mua bởi nhà chức trách của Áo trong ngày đầu tiên bức tranh này được trưng bày trước công chúng. Mức giá được trả khi ấy tương đương với 185.000 USD hiện nay.

Thời điểm ấy, con số này đã được xem là mức giá "không tưởng". Một số chuyên gia hội họa cho rằng tác phẩm "The Kiss" khắc họa Gustav Klimt và bạn gái của ông khi đó - bà Emilie Flöge, nhưng không có những bằng chứng thuyết phục để khẳng định giả thuyết này.

Sức hấp dẫn của Nụ hôn qua một thế kỷ: Tình yêu luôn là cốt lõi - 7


Tác phẩm đỉnh cao trong "giai đoạn vàng" của sự nghiệp Gustav Klimt được thực hiện vào năm 1908, đó chính là bức "The Kiss" (Nụ hôn).

Với kích thước 180 cm x 180 cm, bức "The Kiss" gây ấn tượng mạnh đối với người xem tranh, bởi cả sự lạ lẫm và nét dịu dàng. Lấy cảm hứng từ những bức tranh khảm của Nhật và sức hấp dẫn của tình yêu đối với nhân loại, tác phẩm "The Kiss" có sử dụng những lá vàng - một phong cách đặc trưng của Gustav Klimt để tạo nên hiệu ứng mạnh đối với người xem.

"The Kiss" khắc họa những xúc cảm dịu dàng, tha thiết trong tình yêu và tạo nên rung cảm trong mọi thế hệ người xem tranh.

Danh họa Gustav Klimt (1862 - 1918) qua đời vì đột quỵ năm 55 tuổi, tức khoảng một thập kỷ sau khi ông thực hiện bức "The Kiss", ông mãi được xem là một trong những luồng ánh sáng rạng rỡ nhất soi chiếu vào nghệ thuật hiện đại của Vienna.

Gustav Klimt là một vị danh họa thiên tài trong cách khắc họa cảm xúc trong tranh. Hơn một thế kỷ sau khi ông qua đời, những tác phẩm mà Gustav Klimt để lại vẫn gây ấn tượng mạnh đối với hậu thế và trở nên đắt giá hơn bao giờ hết.

Bích Ngọc
Theo Artsy/Art Daily




Hai bức tranh được công nhận Bảo vật quốc gia

Hoi hoa Viet Nam anh 1

Câu 1: Họa sĩ nào có 2 bức tranh được công nhận Bảo vật quốc gia?

  • Trần Văn Cẩn
  • Nguyễn Sáng

    Đến nay, 7 bức tranh của các họa sĩ đã được công nhận là Bảo vật quốc gia. Họa sĩ Nguyễn Sáng là tác giả duy nhất có tới 2 bức tranh được công nhận.

  • Dương Bích Liên
  • Nguyễn Gia Trí
Hoi hoa Viet Nam anh 2

Câu 2: Bức tranh nào sau đây do họa Nguyễn Sáng sáng tác?

  • kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ
  • Thanh niên thành đồng
  • Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc
  • Cả A và B

    Cả 2 bức tranh Kết nạp Đảng ở Điện Biên PhủThanh niên thành đồng đều do họa sĩ Nguyễn Sáng vẽ. Hai bức tranh này đều được công nhận là Bảo vật quốc gia.

Hoi hoa Viet Nam anh 3

Câu 3: Họa sĩ Nguyễn Sáng quê ở tỉnh nào hiện nay?

  • An Giang
  • Tiền Giang

    Nguyễn Sáng (1923-1988) là họa sĩ có nhiều đóng góp cho hội họa hiện đại Việt Nam. Ông sinh năm 1923 tại thành phố Mỹ Tho của tỉnh Tiền Giang ngày nay. Nguyễn Sáng là họa sĩ có tinh thần cách mạng. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông lên chiến khu Việt Bắc để tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

  • Hậu Giang
  • Bắc Giang
Hoi hoa Viet Nam anh 4

Câu 4: Ông từng tốt nghiệp trường nào?

  • Cao đẳng Sư phạm Hà Nội
  • Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương

    Năm 1938, ông thi đỗ Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (nay là Đại học Mỹ thuật Việt Nam), ngôi trường đại học hàng đầu của Việt Nam về đào tạo Mỹ thuật, đã sản sinh ra nhiều họa sĩ tài danh.

  • Đại học Tổng hợp Hà Nội
  • Đại học Y khoa Sài Gòn
Hoi hoa Viet Nam anh 5

Câu 5: Trong nhóm “Tứ kiệt” của hội họa Việt Nam, Nguyễn Sáng được xếp...?

  • Thứ nhất
  • Thứ hai
  • Thứ ba

    Nguyễn Sáng là họa sĩ có tư tưởng, giải quyết vấn đề xã hội lớn lao, với hình họa và màu sắc hiện đại, giản dị không khô khan, không sáo rỗng. Ông cũng chính là thành viên nhóm tứ kiệt của làng hội họa Việt Nam, được xếp thứ ba: Nghiêm, Liên, Sáng, Phái.

  • Thứ tư
Hoi hoa Viet Nam anh 6

Câu 6. Họa sĩ Nguyễn Sáng được xem là cây đại thụ ở thể loại tranh nào?

  • Sơn dầu
  • Sơn mài

    Cùng Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tư Nghiêm, ông là cây đại thụ của sơn mài Việt Nam. Những tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Sáng là sơn mài. Nếu Nguyễn Gia Trí đưa sơn mài đến đỉnh cao của những cảnh thần tiên, Nguyễn Sáng đẩy sơn mài đến đỉnh cao với tầng lớp đời thường, chiến tranh, cách mạng, những xung đột của cuộc sống hiện tại. Ông bổ sung vào sơn mài bảng màu vàng, xanh, diệp lục với cách diễn tả phong phú.

  • Rỉ đồng
  • Sơn son
Hoi hoa Viet Nam anh 7

Câu 7. Bức tranh nào do Nguyễn Sáng vẽ?

  • Thiếu nữ bên hoa sen
  • Chân dung bà Đôn Thư
  • Thiếu nữ trong vườn chuối
  • Cả 3 đáp án trên

    Ngoài 2 bức tranh Thanh niên thành đồngKết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ đã được công nhận Bảo vật quốc gia, Nguyễn Sáng còn có nhiều sáng tác để đời khác như: Thiếu nữ bên hoa sen, Chùa tháp Phổ Minh, Thiếu nữ trong vườn chuối, Chân dung bà Đôn Thư, Chọi trâu, Đấu vật...

Kiến thức của bạn không tồi 5/7



Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam qua những bức họa nổi tiếng


Thieu nu Viet Nam qua tranh anh 1

Câu 1: “Em Thúy” là bức tranh nổi tiếng của họa sĩ nào?

  • Trần Văn Cẩn

    Em Thúy là một bức tranh sơn dầu do họa sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1943. Bức tranh mô tả hình ảnh người cháu gái 8 tuổi của họa sĩ, được coi là một kiệt tác của Trần Văn Cẩn cũng như là một trong những đại diện tiêu biểu của tranh chân dung Việt Nam thế kỷ 20. Ngoài bức họa Em Thúy năm 8 tuổi, họa sĩ Tô Ngọc Vân còn vẽ một bức họa khác về Em Thúy năm 24 tuổi.

  • Bùi Xuân Phái
  • Tô Ngọc Vân
  • Dương Bích Liên
Thieu nu Viet Nam qua tranh anh 2

Câu 2: Họa sĩ Tô Ngọc Vân là tác giả bức tranh nào sau đây?

  • Nữ dân quân vùng biển
  • Thiếu nữ áo trắng
  • Thiếu nữ bên hoa huệ

    Thiếu nữ bên hoa huệ là bức tranh gắn liền với tên tuổi danh họa Tô Ngọc Vân, cũng là tác phẩm tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam. Tranh thể hiện chân dung thiếu nữ mặc áo dài trắng nghiêng mình về phía bình huệ tây trắng (hoa loa kèn). Hình dáng cô gái cùng không gian toát lên nét dung dị, buồn vương nhẹ nhàng. Bên cạnh giá trị nghệ thuật, tranh thể hiện thú chơi hoa loa kèn tao nhã của người Hà Nội. Ngoài bức Thiếu nữ bên hoa huệ, Tô Ngọc Vân còn là tác giả 2 bức tranh nổi tiếng khác vẽ người thiếu nữ Việt Nam là Hai thiếu nữ và em bé Thiếu nữ bên hoa sen. Ảnh: Báo An ninh thủ đô.

  • Cả 3 đáp án trên
Thieu nu Viet Nam qua tranh anh 3

Câu 3: Ai là tác giả bức tranh “Thiếu nữ bên hoa cúc trắng”?

  • Dương Bích Liên

    Bức Thiếu nữ bên hoa cúc trắng của Dương Bích Liên họa vẻ đẹp cô gái với đôi mắt mở to, trong sáng, khắc họa chiều sâu nội tâm nhân vật qua đôi mắt. Những bông cúc trắng và không gian làm toát lên vẻ đẹp dịu nhẹ, kín đáo của người đẹp trong tranh.

  • Nguyễn Tư Nghiêm
  • Bùi Xuân Phái
  • Nguyễn Phan Chánh
Thieu nu Viet Nam qua tranh anh 4

Câu 4: Họa sĩ Nguyễn Gia Trí từng vẽ bức tranh người thiếu nữ Việt Nam bên hoa gì?

  • Cúc
  • Sen
  • Mai
  • Phù dung

    Thiếu nữ bên hoa phù dung là tranh sơn mài hoàn thành năm 1944 của Nguyễn Gia Trí. Tác phẩm thể hiện vẻ đẹp thiếu nữ như hiện thân của khát vọng tự do, mộng mơ. Tác giả dùng chất liệu của sơn mài truyền thống như then, son, vàng quỳ, bạc quỳ cùng vỏ trứng tạo nên những sắc vàng óng ánh, đen thăm thẳm chảy tràn trên tranh.

Thieu nu Viet Nam qua tranh anh 5

Câu 5: Họa sĩ nào là tác giả bức tranh “Thiếu nữ dâng trà”?

  • Lê Phổ

    Thiếu nữ dâng trà là một bức tranh lụa nổi tiếng của họa sĩ Lê Phổ. Bức tranh vẽ cô gái trong tà áo dài, tái hiện giai đoạn lịch sử Việt Nam những năm 1930-1945, trẻ đẹp đang thể hiện cách pha trà tinh tế. Năm 2013, bức tranh được nhà bán đấu giá nghệ thuật Sotheby's mang đấu giá ở Hong Kong với mức giá hơn 3 tỷ đồng.

  • Nguyễn Tường Lân
  • Nguyễn Tiến Chung
  • Mai Trung Thứ
Thieu nu Viet Nam qua tranh anh 6

Câu 6. Bức tranh “Hai thiếu nữ đi trên đồng lúa” do họa sĩ nào sáng tác?

  • Trần Văn Cẩn
  • Tô Ngọc Vân
  • Bùi Xuân Phái
  • Nguyễn Tiến Chung

    Bức tranh sơn mài Hai thiếu nữ đi trên đồng lúa do tác giả Nguyễn Tiến Chung sáng tác năm 1943. Tác phẩm vẽ thiếu nữ với tà áo dài bay trên cánh đồng, thể hiện niềm vui, lạc quan, yêu đời. Đây cũng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nền hội họa Việt Nam vẽ về người thiếu nữ.

Kiến thức của bạn không tồi 4/6



Họa sĩ nổi tiếng với tranh phố cổ Hà Nội

Hoa si Viet Nam anh 1

Câu 1: Họa sĩ người Việt nổi tiếng về tranh vẽ phố cổ Hà Nội?

  • Bùi Xuân Phái

    Trong số các danh họa Việt Nam, họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920-1988) nổi tiếng nhất về chủ đề tranh phố cổ Hà Nội. Ông say mê vẽ những bức tranh miêu tả lại phố cổ Hà Nội trong thế kỷ 20, đã tạo nên một dòng tranh về chủ đề này với tên gọi “Phố Phái”. Hình ảnh họa sĩ Bùi Xuân Phái được vinh danh trên Google.

  • Nguyễn Tư Nghiêm
  • Dương Bích Liên
  • Trần Văn Cẩn
Hoa si Viet Nam anh 2

Câu 2: Tên một bức tranh vẽ phố cổ Hà Nội của ông?

  • Phố vắng
  • Phố cổ Hà Nội
  • Hà Nội kháng chiến
  • Cả 3 đáp án trên

    Tranh phố của Bùi Xuân Phái vừa cổ kính lại rất hiện thực, thể hiện rõ hồn cốt của phố cổ Hà Nội thập niên 50, 60, 70. Ngắm tranh phố cổ của Bùi Xuân Phái, người xem nhận thấy họa sĩ đã gửi gắm kỷ niệm, hoài cảm cùng nỗi buồn man mác, tiếc nuối bâng khuâng trên từng nét vẽ. Cả 3 bức tranh trên đều là những sáng tác của ông về chủ đề phố cổ Hà Nội. Ảnh: Nhịp sống Hà Nội.

Hoa si Viet Nam anh 3

Câu 3: Họa sĩ Bùi Xuân Phái nổi bật với loại tranh nào?

  • Sơn mài
  • Sơn dầu

    Bùi Xuân Phái đặc biệt thành công cùng thể loại tranh sơn dầu với những tác phẩm tiêu biểu như: Phố vắng, Phố cổ Hà Nội, Hà Nội kháng chiến, Xe bò trong phố cổ, Trước giờ biểu diễn… Ảnh: VOV.

  • Tranh lụa
  • Cả 3 đáp án trên
Hoa si Viet Nam anh 4

Câu 4: Ngoài phố cổ Hà Nội, ông còn vẽ chủ đề nào?

  • Tranh chân dung
  • Tranh tĩnh vật
  • Tranh vẽ cảnh nông thôn
  • Cả 3 đáp án trên

    Ngoài phố cổ, họa sĩ Bùi Xuân Phái còn vẽ các mảng đề tài khác như: Chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật... rất thành công. Nhiều bức tranh của Bùi Xuân Phái được trao giải thưởng trong các cuộc triển lãm toàn quốc và thủ đô Hà Nội. Bùi Xuân Phái có thể vẽ trên vải, giấy, bảng gỗ hay trên giấy báo khi không có đủ nguyên liệu. Ông dùng nhiều phương tiện hội họa khác nhau như sơn dầu, màu nước, phấn màu, chì than, bút chì... Các tác phẩm của ông biểu hiện sâu xa tâm hồn người Việt, tính cách nhân bản và lòng yêu chuộng tự do, óc hài hước, đậm nét bi ai và khốn khổ. Ảnh: Tạp chí Mỹ thuật.

Hoa si Viet Nam anh 5

Câu 5: Họa sĩ Bùi Xuân Phái từng được trao giải thưởng nào sau đây?

  • Giải thưởng đồ họa Leipzig (Đức)
  • Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật
  • Giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc
  • Cả 3 giải thưởng trên

    Họa sĩ Bùi Xuân Phái từng được trao nhiều giải thưởng uy tín như: Giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1946; giải thưởng Mỹ thuật thủ đô các năm 1969, 1981, 1983, 1984; giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980; giải thưởng đồ họa Leipzig (Đức) về trình bày cuốn sách Hề chèo (1982); giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật đợt 1 năm 1996; huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam 1997. Ảnh: Tạp chí Mỹ thuật.

Hoa si Viet Nam anh 6

Câu 6: Họa sĩ Bùi Xuân Phái sinh ra tại...?

  • Hà Nội

    Họa sĩ Bùi Xuân Phái sinh ra tại tỉnh Hà Đông cũ (Hà Nội ngày nay), trong một gia đình tiểu tư sản trung lưu. Bùi Xuân Phái đã sống ở Hà Nội rất nhiều năm. Ông là nhà Hà Nội học về cấu trúc phố, con người và xã hội của thế kỷ 20. Đối với ông, Hà Nội quá thân thuộc, ông vẽ phố như trò chuyện với người bạn tri kỷ. Chính yếu tố này đã ảnh hưởng rất lớn đến phong cách nghệ thuật của ông, cùng ông tạo nên dòng tranh về phố cổ Hà Nội với tên gọi “Phố Phái”. Ảnh: Nhịp sống Hà Nội.

  • Hà Nam
  • Bắc Ninh
  • Hải Dương
Hoa si Viet Nam anh 7

Câu 7: Họa sĩ Bùi Xuân Phái từng học trường nào?

  • Đại học Tổng hợp Hà Nội
  • Đại học Sư phạm Hà Nội
  • Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương

    Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (nay là Đại học Mỹ thuật Việt Nam), cùng thời với các danh họa như Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên. Sau khi tốt nghiệp, ông tham gia kháng chiến, vẽ tranh, tham dự triển lãm nhiều nơi. Năm 1952, ông về sống tại phố Thuốc Bắc, Hà Nội cho tới khi qua đời. Ngày 1/9/2019, trang chủ của công cụ tìm kiếm Google đã vinh danh Bùi Xuân Phái nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông bằng biểu tượng Google Doodle. Ảnh: Tạp chí Mỹ thuật.

  • Đại học Kiến trúc Hà Nội

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười?

Chiêm ngưỡng các tác phẩm hội họa nổi tiếng thế giới, bạn sẽ nhận thấy có rất ít nụ cười hiện diện trên gương mặt của các nhân vật, có chăng chỉ là một thoáng mỉm cười rất nhẹ như nàng Mona Lisa.

Vì răng xấu, hay vì cười lâu sẽ... mỏi miệng?

Ngày nay, chúng ta nhìn nhận nụ cười là một biểu hiện của sự thân thiện, niềm vui và tình cảm yêu mến, nhưng trong suốt một thời kỳ dài của lịch sử hội họa, nụ cười bị xem là "không đẳng cấp, không thời thượng".

Ngày nay, mỗi khi chụp ảnh, người ta luôn cố gắng cười tươi, nhiều người tin rằng thời xưa, người xưa tránh cười khi xuất hiện trong các bức tranh chân dung là bởi ngại ngùng vì... răng xấu.

Thực tế, thời bấy giờ hiện tượng răng xấu quá thường thấy trong đời sống xã hội, đến mức người ta chẳng quan trọng việc đó nữa, họ không coi việc để lộ hàm răng xấu là một điều gì quá nghiêm trọng.

Câu trả lời cho việc thiếu vắng những nụ cười trong lịch sử hội họa kỳ thực rất đơn giản: Ngày nay, để có một nụ cười xuất hiện trong ảnh, người ta chỉ mất có vài giây, nhưng để ngồi làm người mẫu cho một bức tranh chân dung, người ta cần bỏ ra rất nhiều thời gian.

Việc ngồi làm mẫu thực sự là một công việc không đơn giản. Chúng ta đều biết việc phải giữ nụ cười một lúc lâu khiến ta "mỏi miệng" như thế nào. Những bức ảnh cười "kém tươi", gượng gạo hầu hết đều bắt nguồn từ đó.

Nụ cười vốn chỉ để xuất hiện trong một thoáng, đó là một phản ứng rất nhanh, vốn không phải một biểu cảm kéo dài, nên rất khó để giữ nụ cười được lâu, hoặc để có thể nắm bắt, ghi lại kịp thời.

Sự hiếm hoi của những nụ cười trong tranh cổ

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười? - 1


Bức "Chân dung một chàng trai" được họa sĩ người Ý Antonello da Messina thực hiện hồi năm 1470.

Nếu một họa sĩ thuyết phục được nhân vật của mình có một nụ cười mỉm, kết quả là bức chân dung ngay lập tức sẽ chứa đựng nhiều xúc cảm, nụ cười sẽ ngay lập tức trở thành tâm điểm của bức tranh chân dung.

Trong khi đó, đây lại không phải là điều mà các nhà quý tộc đặt hàng tranh chân dung mong muốn. Các nhân vật thượng lưu khi đặt hàng thực hiện tranh chân dung, họ không có nhu cầu được người đời sau nhìn nhận là người... thân thiện, dễ mến, họ chỉ muốn lưu lại hình ảnh chân dung của mình cùng với sự uy quyền, quý phái.

Họa sĩ người Ý Antonello da Messina (1430 - 1479) là một trong số rất ít họa sĩ thời Phục hưng hay đưa nụ cười vào trong tác phẩm của mình. Họa sĩ Messina sử dụng nụ cười như một cách để biểu đạt nội tâm nhân vật.

Bức "Chân dung một chàng trai" được họa sĩ Messina thực hiện hồi năm 1470 ra đời từ khá lâu trước khi danh họa người Ý Leonardo da Vinci thực hiện bức "Mona Lisa" (vẽ trong khoảng thời gian từ năm 1503 - 1519). Trong giới am hiểu hội họa, bức "Chân dung một chàng trai" từ lâu đã được xem là tác phẩm khắc họa nụ cười bí ẩn hàng đầu trong hội họa.

Một phần vì sự hiếm hoi của những nụ cười trong lịch sử hội họa, nên bức "Mona Lisa" mới mê hoặc công chúng với nụ cười bí ẩn đến vậy. Không ai biết bằng cách nào danh họa Leonardo da Vinci có thể thuyết phục nàng Mona Lisa mỉm cười như vậy, đôi môi nàng mím lại nhưng vẫn như hé một nụ cười, biểu cảm ấy thực ra cũng rất khó duy trì trong quá trình ngồi làm mẫu.

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười? - 2


Bức "Mona Lisa" của danh họa Leonardo da Vinci.

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười? - 3


Bức "St. John the Baptist" của danh họa Leonardo da Vinci.

Nghệ thuật vẽ mờ nhòa đường nét của Da Vinci đã đưa lại những vẻ đẹp bí ẩn khó giải nghĩa cho nhân vật, nụ cười của nàng Mona Lisa vẫn là đề tài của những cuộc bàn luận không hồi kết cho tới mãi sau này.

Người ta vẫn cứ mãi bàn cãi về việc nàng đang nghiêm nghị hay đang hé một nụ cười. Người ta cũng mãi bàn cãi về ý nghĩa của nụ cười (nếu có) ở Mona Lisa, rằng nàng đang mỉm cười huyền hoặc mê đắm hay đang hé một nụ cười "bề trên" như thể thấu suốt mọi điều?

Thực tế, "Mona Lisa" không phải bức tranh duy nhất mà Da Vinci đưa vào một nụ cười khó nắm bắt. Ông từng khắc họa một nụ cười bí ẩn trong bức "St. John the Baptist" (thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1513 tới 1516), trong tranh, nụ cười mỉm của thánh John cũng khiến giới phê bình hội họa quan tâm bình luận từ lâu.

"Phong cách Hà Lan": Khi nụ cười đồng nghĩa với sự phóng túng

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười? - 4


Bức "The Merry Fiddler" ("Nhạc công vui vẻ" - vẽ năm 1623) của họa sĩ người Hà Lan Gerard van Honthorst.

Trước thế kỷ 17 tại Châu Âu, giới quý tộc có một quan niệm chung rằng cười phấn khích tới mức để lộ răng ở nơi công cộng hay trong các bức tranh chân dung là một cách biểu cảm suồng sã, không dành cho những quý tộc có sự hiểu biết, sự kiềm chế và cách ứng xử chừng mực.

Người ta cho rằng cười vô tư như vậy chỉ có là đang say, hoặc là cách biểu cảm của những nghệ sĩ hay người lao động bình dân. Thuở ấy ở Châu Âu, chỉ có các họa sĩ Hà Lan là hay khắc họa nụ cười.

Vì họa sĩ Hà Lan hay khắc họa nụ cười và những cuộc vui vô tư của tầng lớp bình dân, nên "phong cách Hà Lan" trong hội họa thời bấy giờ thường là cách nói ngắn gọn của các cảnh vui chơi phóng túng được khắc họa trong tranh.

Bức "The Merry Fiddler" ("Nhạc công vui vẻ" - vẽ năm 1623) của họa sĩ người Hà Lan Gerard van Honthorst hay bức "The Concert" ("Đàn hát" - vẽ năm 1623) của họa sĩ Judith Leyster đều khắc họa những nụ cười lộ răng. Trong tranh, họa sĩ thể hiện một ý niệm của hội họa Phục hưng, rằng âm nhạc chính là một biểu hiện của tình yêu.

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười? - 5


Bức "The Concert" ("Đàn hát" - vẽ năm 1623) của họa sĩ Judith Leyster.

Khi có nhạc cụ xuất hiện trong tranh nghĩa là có những xúc cảm lãng mạn, yêu đương trong các nhân vật được khắc họa. Trong các bức tranh này, vẻ ngà ngà say và những hàm ý về tình yêu, dục vọng được họa sĩ đặc tả khá rõ.

Nhân vật nhạc công trong "The Merry Fiddler" của Van Honthorst đang nâng ly, đôi gò má ửng hồng cho thấy anh ta đã say rồi. Ba nhân vật vui tươi đàn hát xuất hiện trong bức "The Concert" của Leyster dường như sắp không làm chủ mình được nữa.

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười? - 6


Bức "Cupid as Victor" (vẽ năm 1602) của Caravaggio.

Những họa sĩ này cơ bản đều chịu ảnh hưởng bởi một họa sĩ tiên phong người Ý - Caravaggio. Bức "Cupid as Victor" (vẽ năm 1602) của Caravaggio khắc họa thần tình yêu Eros, với những nhạc cụ nằm trên sàn, thần Eros nở nụ cười rõ rệt, là một bức họa ẩn dụ về tình yêu và vẻ đẹp tuổi mới lớn.

Trong tranh, thần tình yêu Eros khỏa thân với những mũi tên nắm trong tay, miệng cười rõ nét. Nụ cười ấy hiếm thấy trong hội họa đến mức khi tác phẩm mới ra mắt, người đương thời đã bình luận và suy đoán rất nhiều.

Sức hấp dẫn của những nụ cười mỉm "giữ kẽ"

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười? - 7


Bức tranh chân dung Peter Paul Rubens khắc họa vợ của ông - "Chân dung nàng Isabella Brant" (vẽ năm 1620 - 1625).

Sức hấp dẫn của những nụ cười mỉm "giữ kẽ", giống như nụ cười ở nàng Mona Lisa, rất hấp dẫn các họa sĩ Châu Âu, họ thường đưa nụ cười kiểu này vào trong những bức tranh chân dung khắc họa phụ nữ quý tộc, xem đó như một tia gợi cảm nhẹ nhàng, giữ ý.

Những nụ cười này có thể bắt gặp trong bức tranh chân dung Peter Paul Rubens khắc họa vợ của ông - "Chân dung nàng Isabella Brant" (vẽ năm 1620 - 1625), bức "Doña Isabel de Porcel" do Francisco de Goya thực hiện năm 1805, hay bức "Madame Jacques-Louis Leblanc" do Jean-Auguste-Dominique Ingres thực hiện năm 1823.

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười? - 8


Bức "Doña Isabel de Porcel" do Francisco de Goya thực hiện năm 1805.

Tại sao lịch sử hội họa hiếm thấy những... nụ cười? - 9


Bức "Madame Jacques-Louis Leblanc" do Jean-Auguste-Dominique Ingres thực hiện năm 1823.

Kể từ khi nhiếp ảnh ra đời hồi giữa thế kỷ 19, nụ cười đã trở nên quen thuộc hơn. Các họa sĩ hiện đại cũng thường đưa nụ cười vào trong các tác phẩm khắc họa chân dung của mình để biểu đạt những ý niệm của họ.

Nhìn chung, nụ cười trong lịch sử hội họa từng mang rất nhiều ý nghĩa, trong đó, nụ cười và cách khắc họa nụ cười từng cho thấy cách người ta nhìn nhận về con người và đẳng cấp.

Bích Ngọc
Theo Artsy/Art Daily



Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này

Trên thế giới, chỉ có rất ít tác phẩm hội họa đạt được danh tiếng lớn ở tầm quốc tế, khiến công chúng dù không am hiểu hay đam mê hội họa vẫn phải biết tới.

Dưới đây là những tác phẩm đã đạt tới mức độ nổi tiếng như thế, dựa trên mức độ tìm kiếm thông tin của người dùng Internet trên các công cụ tìm kiếm phổ biến nhất hiện nay:

Bức "Mona Lisa"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 1


Họa sĩ người Ý Leonardo da Vinci thực hiện tại phẩm này trong khoảng thời gian từ năm 1503 tới 1519. Hiện tại, tác phẩm đang được trưng bày tại bảo tàng Louvre, Paris, Pháp.

Không bất ngờ khi đây là tác phẩm đứng đầu bảng, là tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới. Bức "Mona Lisa" khắc họa một người phụ nữ bí ẩn với nụ cười mang nhiều ẩn số. Dù vậy, cho tới nay, người ta cũng đã nắm được một số thông tin cụ thể xung quanh tác phẩm này.

Người xuất hiện trong tranh được cho là một phụ nữ có tên Lisa Gherardini, vợ của một nhà buôn sống ở Florence (Ý) - ông Francesco del Giocondo. Tác phẩm này đại diện cho sự cách tân trong hội họa thời bấy giờ, bởi đây là một trong những tác phẩm tranh chân dung đầu tiên tập trung cao độ vào nhân vật.

Trước đó, các bức chân dung thường đặt nhân vật trong một bối cảnh cầu kỳ và họa sĩ rất trau chuốt trong việc khắc họa bối cảnh, bên cạnh việc khắc họa nhân vật. Tác phẩm lần đầu được trưng bày trong bảo tàng Louvre hồi năm 1804.

Điều ít biết: Trước thế kỷ 20, bức "Mona Lisa" vẫn còn ít được biết tới. Nhưng hồi năm 1911, một cựu nhân viên của bảo tàng đã đánh cắp tác phẩm, bức tranh lưu lạc trong vòng 2 năm. Chính vụ trộm đã khiến tác phẩm được nhắc đến, dần trở nên nổi tiếng trong văn hóa đại chúng và kể từ đó, đây được xem là tác phẩm đỉnh cao của hội họa Phục hưng.

Bức "Bữa tối cuối cùng"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 2


Họa sĩ người Ý Leonardo da Vinci thực hiện bức bích họa trong khoảng thời gian từ năm 1495 tới 1498. Tác phẩm nằm trong nhà thờ Santa Maria delle Grazie ở Milan, Ý.

Leonardo da Vinci là họa sĩ duy nhất xuất hiện hai lần trong danh sách này. Tác phẩm "Bữa tối cuối cùng" được thực hiện trong một thời kỳ mà những hình dung về tôn giáo vẫn là chủ đề thống trị trong hội họa. Bức "Bữa tối cuối cùng" khắc họa lần cuối Chúa dùng bữa với các tông đồ. Đây là một bức bích họa khổng lồ có kích thước 4,6 x 8,8m.

Điều ít biết: Bức bích họa đã trải qua rất nhiều biến động thời cuộc, bởi người ta không thể di chuyển tác phẩm đi đâu để bảo vệ an toàn cho nó giữa bối cảnh những xung đột từng nổ ra. Tác phẩm còn từng bị phơi ra dưới nắng mưa trong thời kỳ Thế chiến II, khi ấy, phần mái nhà thờ che chở cho khu vực có bức bích họa đã bị trúng bom.

Bức "Đêm đầy sao"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 3


Họa sĩ người Hà Lan Vincent van Gogh thực hiện tác phẩm hồi năm 1889. Hiện tại, tác phẩm đang được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại nằm ở thành phố New York, Mỹ.

Bức tranh theo phong cách trừu tượng này là một minh chứng điển hình cho phong cách riêng và cách đưa cọ vẽ rất khác biệt của Van Gogh. Gam màu xanh và vàng đầy ấn tượng, cộng thêm những hình ảnh được khắc họa bằng những đường xoáy, khiến khung cảnh trong tranh như mộng mị, mê hoặc người yêu hội họa suốt nhiều thập kỷ qua.

Điều ít biết: Van Gogh đang sống trong một bệnh viện tâm thần nằm ở Saint-Rémy, Pháp, khi thực hiện bức họa này. Ông lấy cảm hứng từ bối cảnh mở ra trước cửa sổ phòng mình trong bệnh viện.

Bức "Tiếng thét"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 4


Họa sĩ người Na Uy Edvard Munch thực hiện bức họa này hồi năm 1893. Tác phẩm có một số phiên bản, trong đó, hai phiên bản được trưng bày trước công chúng hiện nằm ở Bảo tàng Quốc gia và Bảo tàng Munch ở Oslo, Na Uy.

Hồi năm 2012, một phiên bản "Tiếng thét" được thực hiện bằng chất liệu màu phấn đã bán được với giá gần 120 triệu USD tại một cuộc đấu giá.

Cũng giống như bức "Mona Lisa", có hai phiên bản của bức "Tiếng thét" đã từng bị đánh cắp hai lần (hồi năm 1994 và 2004), chính thông tin về những vụ trộm đã khiến công chúng biết nhiều hơn tới tác phẩm. Về sau này, cả hai phiên bản bị đánh cắp đều đã được tìm thấy lại.

Điều ít biết: Theo ý tưởng nguyên bản khi sáng tạo tác phẩm của họa sĩ Edvard Munch, nhân vật xuất hiện trong tác phẩm không hề tạo ra tiếng thét, mà đang cố gắng bịt tai lại để không phải nghe tiếng thét vang vọng từ bối cảnh xung quanh.

Tác phẩm này được lấy cảm hứng từ một trải nghiệm của chính họa sĩ, khi ông đang đi dạo lúc hoàng hôn ở Oslo, bầu trời rực đỏ lạ lùng khi ấy đã gây choáng ngợp mạnh đối với ông.

Bức "Guernica"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 5


Họa sĩ người Tây Ban Nha Pablo Picasso thực hiện bức họa này hồi năm 1937. Tác phẩm hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Reina Sofía, Madrid, Tây Ban Nha.

Đây là bức tranh có tuổi đời ít nhất trong danh sách này, tác phẩm khắc họa cảnh thị trấn Guernica (Tây Ban Nha) bị không kích trong thời kỳ xảy ra Nội chiến Tây Ban Nha (1936 - 1939). Tác phẩm mang đậm phong cách riêng của Picasso và khắc họa những nỗi kinh hoàng của chiến tranh. Đây là một tác phẩm hội họa thuộc đề tài phản chiến nổi bật trong thế kỷ 20.

Điều ít biết: Tác phẩm "Guernica" từng được chuyển tới Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Metropolitan ở New York, Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II, để đảm bảo an toàn cho tác phẩm. Picasso yêu cầu tác phẩm được giữ lại đó cho tới khi tình hình tại Tây Ban Nha ổn định trở lại. Tác phẩm chính thức quay trở về Madrid vào năm 1981.

Bức "Nụ hôn"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 6


Họa sĩ người Áo Gustav Klimt thực hiện bức họa này trong khoảng thời gian từ năm 1907 tới 1908. Tác phẩm hiện được trưng bày tại bảo tàng Österreichische Galerie Belvedere nằm ở Vienna, Áo.

Tác phẩm thuộc vào "thời kỳ vàng" của Gustav Klimt, ông khắc họa hai nhân vật của mình trong những bộ phục trang đầy ấn tượng, hai nhân vật có kích thước bằng người thật đắm chìm trong nụ hôn của họ. Với tác phẩm này, Klimt khẳng định rằng tình yêu chính là tâm điểm trong sự tồn tại của con người. Tác phẩm được thực hiện với đầy sức hấp dẫn và sự mê hoặc.

Điều ít biết: Các tác phẩm của Klimt rất được giá trên thị trường. Hồi năm 2016, "nữ hoàng truyền hình" người Mỹ - bà Oprah Winfrey từng bán tác phẩm "Chân dung nàng Adele Bloch-Bauer II" do danh họa Gustav Klimt thực hiện hồi năm 1907, với mức giá 150 triệu USD, lãi tới 60 triệu USD so với mức giá lúc bà mua vào.

Bức "Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 7


Họa sĩ Johannes Vermeer thực hiện tác phẩm hồi năm 1665. Hiện tại, tác phẩm đang trưng bày tại bảo tàng Mauritshuis, The Hague, Hà Lan.

Tác phẩm này thường được so sánh với bức "Mona Lisa". Thực tế, bức "Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai" không phải là một bức chân dung đích thực, mà là một dạng tranh khắc họa nhân vật giả tưởng với những yếu tố phóng tác dựa trên cảm hứng của họa sĩ.

Siêu phẩm tranh sơn dầu này gây ấn tượng bởi chính sự đơn giản lạ lùng của nó. Cô gái đội khăn màu xanh và vàng, đeo khuyên tai ngọc trai "ngoại cỡ" là hình ảnh điểm nhấn của tác phẩm, xuất hiện nổi bật trên nền tối.

Điều ít biết: Khi bảo tàng Mauritshuis trải qua đợt tu sửa từ năm 2012 tới năm 2014, tác phẩm đã được đem trưng bày tại nhiều quốc gia trên thế giới, đi đến đâu, tác phẩm cũng thu hút sự quan tâm lớn và càng trở nên nổi tiếng hơn.

Bức "Sự ra đời của thần Vệ Nữ"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 8


Họa sĩ Sandro Botticelli đã thực hiện tác phẩm này hồi năm 1485. Tác phẩm đang được trưng bày trong bảo tàng nghệ thuật Le Gallerie Degli Uffizi ở Florence, Ý.

Đây là bức tranh cổ nhất xuất hiện trong danh sách này. Tác phẩm có thể đã được đặt hàng thực hiện bởi một nhà quý tộc yêu hội họa ở Florence (Ý) thời bấy giờ. Lúc này, Botticelli bắt đầu hứng thú với những câu chuyện thần thoại Hy Lạp và đang ở thời kỳ đầu của hội họa Phục hưng, ông đã sáng tạo nên một thần Vệ Nữ tuyệt đẹp.

Điều ít biết: Danh họa Botticelli đã có những cách tân mạnh mẽ so với các họa sĩ đương thời thông qua tác phẩm này. Trước hết, ông thực hiện tác phẩm trên vải thay vì trên gỗ như thói quen của nhiều họa sĩ cùng thời.

Thứ hai, khỏa thân vẫn là đề tài hiếm thấy thời bấy giờ, việc ông khắc họa thần Vệ Nữ đã thể hiện sự táo bạo tiên phong vượt ra ngoài khuôn khổ. Không những thế, tác phẩm có kích thước lớn, thần Vệ Nữ xuất hiện ở vị trí trung tâm càng cho thấy sự táo bạo của Botticelli.

Bức "Các thị nữ"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 9


Họa sĩ người Tây Ban Nha Diego Velázquez thực hiện tác phẩm hồi năm 1656. Tác phẩm hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Prado, Madrid, Tây Ban Nha.

Madrid là thành phố duy nhất xuất hiện trong danh sách này tới hai lần, thành phố này có tác phẩm "Guernica" (đã đề cập ở trên) và bức "Các thị nữ". Đây là tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của họa sĩ Diego Velázquez, cũng là tác phẩm có kích thước lớn hàng đầu trong sự nghiệp của ông.

Sự phức tạp trong bố cục tác phẩm đã khiến giới phê bình và công chúng hứng thú suốt nhiều thế kỷ. Tác phẩm vừa khắc họa đời sống trong Hoàng gia Tây Ban Nha, vừa là một bức chân dung tự họa của họa sĩ Velázquez, ông chính là nhân vật xuất hiện ở góc trái.

Điều ít biết: Tác phẩm được đặt hàng thực hiện bởi vua Philip IV của Tây Ban Nha, ông trị vì từ năm 1621 tới 1665. Tác phẩm được trưng bày trong cung điện của Hoàng gia Tây Ban Nha cho tới năm 1819 thì chuyển sang trưng bày tại bảo tàng Prado.

Bức "Tạo ra Adam"

Không yêu hội họa, cũng phải biết bí mật của 10 bức tranh nổi tiếng này - 10


Họa sĩ người Ý Michelangelo thực hiện tác phẩm bích họa này trong khoảng thời gian từ năm 1508 tới 1512. Tác phẩm bích họa nằm trên trần nhà nguyện Sistine ở Vatican.

Đây là tác phẩm mỹ thuật nổi tiếng nhất trong sự nghiệp hội họa của Michelangelo. Tác phẩm bích họa nằm trên trần nhà nguyện khắc họa Chúa và Adam đang vươn cánh tay, hai ngón tay của họ gần chạm vào nhau.

Hình thể của Adam cho thấy một khía cạnh tài năng khác của Michelangelo, đó là sự am hiểu của ông về cơ thể người, Michelangelo còn được biết tới với bức tượng "David", một trong những tác phẩm điêu khắc nổi tiếng nhất thế giới.

Điều ít biết: Trần nhà nguyện Sistine đã từng bị ám khói sau hàng thế kỷ người ta thắp nến bên trong nhà nguyện. Sau quá trình phục chế lâu dài kết thúc vào năm 1989, người ta ngỡ ngàng được thấy những sắc màu nguyên bản rất tươi sáng và đầy ấn tượng mà Michelangelo từng sử dụng cho tác phẩm.

Bích Ngọc
Theo Time Out/Art Daily




Thị trường tranh Việt

Chủ nhật, 25/4/2021, 22:53 (GMT+7) Đã lưu

Có lẽ do gene từ ông ngoại nên tôi thích vẽ. Tôi dành hơn 30 năm nghiên cứu về hội họa, tập trung vào hội họa Đông Dương.

Tôi may mắn có những quan hệ tương đối mật thiết với hậu duệ của danh họa Victor Tardieu và bậc thầy Inguimberty nên được tiếp cận nhiều tài liệu tiếng Pháp về mỹ thuật Đông Dương. Tôi cũng tìm thấy rất nhiều hồ sơ của Victor Tardieu tại Viện nghệ thuật quốc gia Pháp, gom gộp chúng lại với lưu trữ của gia đình. Trong số đó có thư từ giữa học trò và họa sĩ Victor Tardieu khi ông còn làm hiệu trưởng Trường Mỹ thuật Đông Dương.

Càng đọc tư liệu, xem nhiều tác phẩm của danh họa Đông Dương, tôi càng say mê và nhận thấy có nhiều điều công chúng chưa tỏ tường.

Trong những lưu trữ của gia đình tôi có một văn bản viết tay rất xưa cũ trình bày ý tưởng của ông ngoại tôi, họa sĩ Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ, về việc lập một trường mỹ thuật.

"Lập nên một đại học để đào tạo lấy nghệ sĩ có tài duy trì nền tảng mỹ thuật của tổ tiên để lại, ngõ hầu cải tạo, sáng lập lấy một nền mỹ thuật Đông Phương có cá tính Việt Nam", ông tôi viết.

Tốt nghiệp trường Bưởi năm hai mươi tuổi, ông ngoại tôi vào làm tại sở Tài chánh Đông Dương cùng với Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu và Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Vì có khiếu vẽ, biệt hiệu Nam Sơn đã xuất hiện thường xuyên qua các tranh bìa, minh họa bằng bút lông, bút sắt, mực nho trang trí cho các báo chí thời bấy giờ như Đông Dương tạp chí hay Nam Phong tạp chí, Viễn Á.

Khi gánh vác việc trang trí cho Hội quán sinh viên An Nam tại số 9 đường Vọng Đức, ông tôi được Chủ tịch danh dự của hội quán, cũng là Giám đốc Nha chính trị của Phủ toàn quyền Đông Dương, ông Louis Marty, giới thiệu với họa sĩ danh tiếng người Pháp Victor Tardieu năm 1921.

Ban đầu, Victor Tardieu tỏ vẻ ngần ngại vì ông thường tuyên bố "trong nghệ giới có rất nhiều người được triệu đến song rất ít được chọn". Nhưng sau khi xem tranh vẽ của Nam Sơn, ông đã nhận hướng dẫn chàng trai trẻ vào con đường nghệ thuật.

Niềm say mê mỹ thuật và hội họa đã khiến Nam Sơn trình bày với Victor Tardieu ý tưởng "ngông cuồng", mở ra một trường Mỹ thuật, bởi ông biết giáo sư sẽ trở về Pháp và có thể vĩnh viễn không quay lại nơi đây.

Victor Tardieu viết phúc trình "Nghệ thuật An Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai" đệ trình Toàn quyền Đông Dương. Bản phúc trình được chuẩn y bởi Toàn quyền Martial Merlin.

Ngày 27/10/1924, xuất hiện trong Công báo nghị định thành lập ngôi trường dưới tên trường Mỹ thuật Đông Dương, trực hệ Giáo đoàn Pháp tại Hà Nội, dưới sự hướng dẫn và kiểm soát của nha Học chính. Victor Tardieu là hiệu trưởng.

Ngày 1/10/1925 đánh dấu buổi khai trường Mỹ thuật Đông Dương. Nam Sơn là trợ giáo, thư ký, quản lý chi tiêu và thủ thư cùng đồng sự Inguimberty đã chuẩn bị buổi tuyển sinh được tổ chức cùng lúc tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn, PhnomPenh và Vientiane với sự tham dự của 270 thí sinh. Chương trình học ba năm được mở đầu với 10 sinh viên trúng tuyển và khoảng hai mươi thí sinh dự bị.

Cuộc hành trình về phương Đông của Victor Tardieu những tưởng chỉ một năm theo học bổng của Giải thưởng Đông Dương, nhưng giữ chân ông ở lại xứ này đến hết cuộc đời.

Trong suốt thời gian làm hiệu trưởng, ông đã không ngừng nâng cao trình độ của sinh viên bằng cách dung hòa hai nền mỹ thuật Đông - Tây. Các thầy Pháp hướng dẫn học sinh Việt vẽ theo cách Tây, nhưng dùng tâm tình Việt. Điều đó tạo nên một dòng nghệ thuật hoàn toàn khác, mà cho đến giờ nó vẫn còn nguyên giá trị.

Dấu ấn của thời kỳ này sâu sắc đến mức tạo ra trường phái tranh Đông Dương. Ngày càng có nhiều nhà sưu tập quốc tế yêu thích dòng tranh này. Tôi rất tự hào.

Vừa qua, Kỷ lục họa phẩm Portrait of Mademoiselle Phuong (tạm dịch: "Chân dung cô Phương") của họa sĩ Mai Trung Thứ đạt giá 3,1 triệu USD, khoảng 72,3 tỷ đồng, chỉ là một trong nhiều bằng chứng cho thấy mỹ thuật Đông Dương ngày càng có chỗ đứng trên thị trường nghệ thuật thế giới.

Đây là niềm hân hoan cho mỹ thuật Việt, tuy ta không thể đánh giá nghệ thuật qua giá trị kinh tế.

Nhưng, nhìn nhận thẳng thắn, tôi cho rằng giá trị cũng như sự nhận biết tranh Đông Dương và nền mỹ thuật Việt trên thị trường quốc tế vẫn chưa xứng tầm.

So sánh với các dòng tranh khác tại châu Á như Trung Quốc hay Nhật Bản, giá trị tranh Đông Dương phải hơn thế. Tôi tin rằng, những kỷ lục như 1,4 triệu USD bức "Khỏa thân" của cố danh họa Lê Phổ hay 3,1 triệu USD của "Chân dung cô Phương" sẽ bị phá vỡ trong một ngày rất gần. Những mức giá mới sẽ có thể là 4-5 triệu USD.

Có buồn không khi giá tranh đồng môn của ông tôi bên Pháp là họa sĩ Foujita, Nhật Bản và Từ Bi Hồng, Trung Quốc đã lên đến hàng chục triệu USD, còn tranh mình cán mốc 3 triệu USD thì đã vui mừng lắm, trong khi tầm mức của tranh Đông Dương nào kém tranh của Foujita hay Từ Bi Hồng.

Một nguyên nhân của câu chuyện khiến thị trường tranh Việt một thời gian dài như đứa trẻ không lớn được, giới sưu tập, giới chuyên môn nước ngoài không đánh giá cao, là do chính chúng ta.

Từ khi dòng tranh quý Đông Dương được khai quật và trả giá tương đối cao trong thời kỳ các họa sĩ Việt vẫn khó khăn, thị trường tranh trong nước bỗng phát triển nhanh do số nhà sưu tập, nhà đầu tư tăng dần cùng tầng lớp trung lưu đang hình thành. Người Việt thấy cái lợi trước mắt, lập nên hàng loạt lò tranh giả, khéo léo đưa những bức tranh ấy sang nước ngoài đấu giá. Rồi những nhà sưu tập lại mua chúng đem về nước. Ví dụ điển hình là tranh của Bùi Xuân Phái, đến nỗi thiên hạ phải thảng thốt kêu lên: "Họa sĩ Bùi Xuân Phái mất rồi mà sáng tác nhiều hơn lúc ông còn sống!".

Vấn nạn tranh giả khiến ngành mỹ thuật không nâng tầm lên được như các nước Đông Á. Mỹ thuật Việt vẫn chưa được định vị trên thị trường.

Ở Pháp cũng như nhiều nước, tất cả đều rõ ràng ngay từ trứng nước. Luật lệ được đặt ra chặt chẽ để bảo vệ tác giả. Pháp, Mỹ, Nhật, Thụy Điển, Bỉ... đều đã ban hành những quy định rất rõ ràng, cụ thể về bảo vệ quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật. Ngoài ra, từ lâu, giữa các nước trên thế giới đã có những công ước, hiệp ước quốc tế về bảo vệ quyền tác giả như Công ước Toàn cầu về bản quyền, Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả.

Riêng tại Pháp, làm giả tranh của họa sĩ, vi phạm tác quyền có thể bị kết án 2-3 năm tù, bị phạt 150 đến 300 ngàn Euro, tương đương 4 đến 8 tỷ đồng.

Nếu tranh ghi rõ xuất xứ, đề hẳn là "tranh chép" thì đó là vấn đề rất khác. Ở nước ngoài, người ta vẫn chép tranh của các danh họa và bày bán ở các khu du lịch, nhưng các bức tranh ấy có giá của quà kỷ niệm. Hoạt động ấy được coi là thương mại, chịu quy định của luật thương mại.

Còn thị trường tranh Việt bị hỗn loạn. Người giàu bắt đầu "chơi tranh" nhưng không mấy ai nhìn ra đâu là tranh nhái, tranh giả. Tôi gặp những nhà sưu tầm chuyên nghiệp không dám chi tiền mua một bức tranh của các tên tuổi đã đi vào lịch sử nghệ thuật châu Á vì lo ngại về uy tín. Một số bức tranh Đông dương đem ra bán nhưng bị quy vào tranh giả.

Việc bài trừ tranh sao chép trái phép ở Việt Nam không dễ. Thói quen "copy" tranh đã ăn sâu vào suy nghĩ của một số người. Ngay cả trong môi trường sư phạm, một số thầy cô còn sao chép tranh để dự thi. Thậm chí, họ còn hớn hở khoe. Họ ăn cắp cái đẹp, đánh cắp công trình sáng tạo của người khác mà lại tự hào.

Làm sao thay đổi tư duy sao chép này, thay đổi suy nghĩ của thợ chép để họ thấy đó là một hành động ăn cắp, để giúp người ta ý thức được những sai lầm?

Bảo tàng, các hội mỹ thuật và nhà nghiên cứu hãy đồng lòng trong việc giữ gìn uy tín của tranh Đông Dương nói riêng và tranh Việt. Mặt khác, những điều luật minh bạch về tác quyền và sở hữu trí tuệ trong nghệ thuật phải được thực thi phân minh.

Hội Mỹ thuật, từ thời Nguyễn Đỗ Cung đã cho phép chép một số tranh Đông Dương làm quà cho nước bạn, hôm nay nên cùng cơ quan liên quan mạnh dạn lên tiếng để phân biệt rõ ràng tranh nào là tranh giả. Tuy thời gian trôi qua quá lâu, không còn phân định được thật giả, nhưng lịch sử của nó vẫn còn tồn tại qua các tài liệu hoặc chứng từ, nay cần được đánh số, ghi chú người sưu tập và lưu giữ ở đâu.

Đây là công việc khó khăn và tế nhị, cần nỗ lực của tất cả mọi phía: cơ quan quản lý văn hóa, quản lý thị trường và tác quyền, nhà buôn bán và cả nhà sưu tầm, người môi giới.

Mỹ thuật là vẻ đẹp. Chân thành với nó để có thể giành lại được nền mỹ thuật trong sáng và uy tín với thế giới.

Ngô Kim Khôi




Đại gia Việt ngày càng "chịu chơi", chi 40 tỷ đồng để sở hữu một bức tranh

"Có người bỏ ra 30- 40 tỷ đồng, trị giá bằng căn biệt thự để sở hữu một bức tranh. Còn những thương vụ mua bán tranh "khủng" hơn nhưng không được công khai…", nhà sưu tập tranh Nguyễn Minh tiết lộ.

"Đại gia Việt chi 30-40 tỷ để sở hữu một bức tranh là… bình thường"

Sự kiện bức tranh của họa sĩ Mai Trung Thứ, "Chân dung Madam Phương" được bán với mức giá 3,1 triệu USD trong phiên đấu giá "Beyond Legends: Modern Art Evening Sale" tại Sotheby's Hong Kong, diễn ra lúc 17h30 ngày 18/4 khiến giới nghệ thuật Việt Nam rúng động.

Bức tranh được bán khởi điểm với giá 500 nghìn USD, sau đó nâng dần lên 1,9 triệu USD, 2 triệu USD, 2,1 triệu USD, 2,5 triệu USD và dừng ở mức 2,573 triệu USD. Sau khi tính thuế phí, bức tranh đạt 3,1 triệu USD, trở thành là bức tranh Việt có giá công khai cao nhất của nền mỹ thuật Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại.

Theo kinh nghiệm của nhà nghiên cứu Phạm Long, "Chân dung Madam Phương" có thể do một nhà sưu tập Việt Nam mua.

Đại gia Việt ngày càng chịu chơi, chi 40 tỷ đồng để sở hữu một bức tranh - 1


Bức "Chân dung Madam Phương" của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 24.375.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 72,5 tỷ đồng). 

Trao đổi với phóng viên Dân trí, nhà sưu tập tranh Nguyễn Minh cũng cho rằng việc các nhà sưu tập hay các đại gia Việt Nam bỏ ra hàng chục tỷ đồng để sở hữu bức tranh không còn là chuyện lạ.

"Đại gia Việt ngày càng chịu chơi và chịu chi. Có người sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn, kể cả 30-40 tỷ đồng trị giá cả căn biệt thự hạng sang để sở hữu một bức tranh. Đấy là những thông tin được công khai, còn những thương vụ "khủng" hơn thì chỉ có người bán tranh và mua tranh biết mà thôi.

Ngày xưa, kinh tế khó khăn, ăn không đủ nói gì đến chữ "chơi tranh" hay thưởng thức nghệ thuật? Khi cuộc sống phát triển, tài chính dư thừa, nhiều người mới nghĩ đến hưởng thụ theo sở thích. Có người thích sưu tập ô tô, có người lại thích sưu tập tranh…

Tôi nghĩ, đấy là trào lưu, xu hướng tốt cho xã hội chúng ta, thúc đẩy nền văn hóa mỹ thuật Việt Nam, để có thể sánh vai với những nước có nền mỹ thuật phát triển, văn minh như Pháp, Ý…"

Theo nhà sưu tập tranh Nguyễn Minh, tranh của những họa sĩ xuất thân từ trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương được các đại gia Việt "săn đón" nhất. Có thể kể tên một số danh họa như: Bùi Xuân Phái, Gia Trí, Lê Phổ, Phạm Hậu…

"Trong nước thì tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái là nổi tiếng nhất, được nhiều người thích nhất nhưng không phải tranh có mức giá được mua cao nhất. Nếu nói về họa sĩ có nhiều tranh bán với giá cao nhất phải nói đến Lê Phổ.

Họa sĩ Mai Trung Thứ có bức "Chân dung Madam Phương" vừa bán với mức giá được công khai kỷ lục là 3,1 triệu USD. Nhưng trước đó, Lê Phổ mới là họa sĩ có nhiều bức tranh được bán với mức giá rất cao.

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí từng có những bức tranh được bán với giá 4-5 triệu USD, nhưng không được bán công khai. Họa sĩ Phạm Hậu cũng có những bức tranh giá trên 1 triệu USD", nhà sưu tập tranh Nguyễn Minh tiết lộ.

Đại gia Việt ngày càng chịu chơi, chi 40 tỷ đồng để sở hữu một bức tranh - 2


Bức "Khỏa thân" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 26/5/2019, đạt mức giá 10.925.000 đô la Hồng Kông (tương đương 32,5 tỷ đồng).
Đại gia Việt ngày càng chịu chơi, chi 40 tỷ đồng để sở hữu một bức tranh - 3


Bức "Le Bain de Mer - Tắm biển" của Lê Phổ bán được với giá hơn 11,7 tỉ đồng.

Cuộc đấu giá rượt đuổi "nghẹt thở" của đại gia mê tranh

Họa sĩ Nguyễn Minh (Minh Phố) cho biết, nhiều vị khách không tiếc tiền của, thời gian và công sức để có thể sở hữu bức tranh mình yêu thích. "Có những bức tranh của họa sĩ trẻ, đồng nghiệp của tôi được bán với mức giá 500-600 ngàn USD cũng không phải chuyện hiếm. Ngay như thời điểm Covid- 19, cũng không tác động nhiều đến hoạt động mua bán tranh", anh nói.

Chia sẻ thêm về thú chơi tranh của các đại gia Việt, họa sĩ Minh Phố cho biết: "Tôi từng chứng kiến cuộc đấu giá "nghẹt thở" của một bức tranh. Giá khởi điểm chỉ khoảng 5 ngàn USD, nhưng vì nhiều người đều mong muốn sở hữu bức tranh đó nên cuộc "rượt đuổi" đến mức giá 50 ngàn USD thì chỉ còn hai vị. Và hai vị khách tiếp tục đấu giá đến mức 65 ngàn USD thì dừng lại. Sau khi kết thúc cuộc đấu giá, họ đã bắt tay nhau chia sẻ về niềm yêu thích bức tranh. Người thua cuộc gửi lời chúc mừng tới người thắng cuộc...".

Anh chia sẻ thêm: "Có những vị đại gia mê tranh và sẵn sàng chi giá cao ngay cả khi bức tranh đang trong quá trình hoàn thiện. Có người còn yêu cầu họa sĩ… vẽ thêm vào bức tranh theo ý thích của mình. Tuy nhiên, không phải họa sĩ nào cũng dễ dàng chiều theo ý của khách hàng.

Với cá nhân tôi, tôi đã từng từ chối bán tranh cho vị khách dù trả giá cao nhưng không trân trọng tác phẩm của mình".

Theo họa sĩ Minh Phố, cũng có người mua tranh giá cao nhưng không am hiểu về hội họa: "Tôi được người bạn nhờ tư vấn cho một vị khách. Vị đó muốn mua bức tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái và hỏi tôi: "Có biết tranh Bùi Xuân Phái không?", Giá tranh của Bùi Xuân Phái là bao nhiêu?" Chỉ cần nghe cách hỏi, tôi biết họ không am hiểu về tranh rồi".

Đại gia Việt ngày càng chịu chơi, chi 40 tỷ đồng để sở hữu một bức tranh - 4


Bức tranh sơn mài "Dân làng" của họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 30/9/2018, đạt mức giá 6.120.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 18,2 tỷ đồng).

Cũng theo họa sĩ Minh Phố, người mua tranh rất đa dạng và hoạt động mua bán tranh ngày càng sôi động. "Người mua tranh có thể vì mục đích biếu tặng, mua về treo ở nhà để thưởng lãm, sưu tập và cũng có người đầu tư. Dù là mục đích gì thì các họa sĩ cũng cảm ơn vì nhờ có sự đồng hành của họ mà các họa sĩ trẻ như chúng tôi thêm động lực trong công việc sáng tạo nghệ thuật".

Xoay quanh câu chuyện "đầu tư tranh", nhà văn - họa sĩ Trần Thị Trường tiết lộ: "Rất nhiều đại gia mua tranh không chỉ chơi mà còn là phương thức đầu tư. Một đại gia mua tranh của tôi từng nói: "Đầu tư vào hội họa là… đầu tư an toàn". Bởi đầu tư bất động sản hay lĩnh vào nào đó có thể có rủi ro nhưng đầu tư vào tranh thì an toàn vì họ sở hữu, nhìn thấy hàng ngày. Với những nhà đầu tư tranh, họ mua vào và có kênh để bán ra, rất chuyên nghiệp"…

Nguyễn Hằng



8 tác phẩm đánh dấu sự khởi sắc của tranh Việt trong năm 2021

Tại sự kiện đấu giá mỹ thuật quy mô lớn vừa được tổ chức tại Hồng Kông, 8 bức tranh của các danh họa Việt được đưa ra đấu giá và đều đạt những mức giá cao hơn kỳ vọng, thậm chí xác lập kỷ lục.

Cuộc đấu giá mỹ thuật "Beyond Legends: Modern Art Evening Sale" đã vừa được nhà đấu giá Sotheby tổ chức tại Hồng Kông vào ngày 18/4 vừa qua. Tại sự kiện, có 8 bức tranh của các danh họa Việt Nam được đưa ra đấu giá. Có bức đã xác lập mức giá kỷ lục mới cho tranh Việt, những bức khác cũng đều vượt qua mức giá ước đoán ban đầu của nhà đấu giá.

Cùng điểm lại 8 tác phẩm của các danh họa Việt vừa xuất hiện tại cuộc đấu giá lớn này...

8 tác phẩm đánh dấu sự khởi sắc của tranh Việt trong năm 2021 - 1


Bức họa "Hai người phụ nữ" của họa sĩ Vũ Cao Đàm

Bức họa "Hai người phụ nữ" của họa sĩ Vũ Cao Đàm (1908 - 2000) đạt mức giá 4.032.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 12 tỷ đồng), mức giá ước đạt ban đầu của Sotheby là 1,4 đến 2,8 triệu đô la Hồng Kông. Bức tranh lụa có kích thước 88,5 x 60cm.

Những bức tranh lụa của Vũ Cao Đàm rất hiếm có bởi trong giai đoạn đầu của sự nghiệp, ông chủ yếu tập trung vào điêu khắc, còn giai đoạn sau lại tập trung vào tranh sơn dầu. Tác phẩm "Hai người phụ nữ" khắc họa hai cô gái trẻ trong một bố cục chặt chẽ, hai cô đang có một khoảnh khắc dịu dàng, thân mật bên nhau, giúp nhau chải tóc.

Vẻ đẹp của hai người phụ nữ trong tranh là vẻ đẹp của sự trang nhã, thuần khiết, tinh thần toát lên từ tác phẩm là những xúc cảm thân mật, dễ chịu giữa hai cô gái. Các phổ màu trong tranh tôn nhau lên, những sự mờ nhòa đầy chủ ý giữa các mảng màu khiến cảnh hiện ra vừa thực vừa ảo, khó phân định được cảnh quan bên trong và bên ngoài căn phòng.

Cách Vũ Cao Đàm sử dụng màu sắc cho thấy ông vừa là bậc thầy trong phối màu vừa là bậc thầy trong thư pháp, bởi ông đã sử dụng những kiến thức về thư pháp để điều khiển đầu bút lông tạo nên hiệu ứng mờ nhòa giữa các mảng màu, kết quả là một bức tranh đặc tả được vẻ dịu dàng, trang nhã, những đường cong mềm mại của hai cô gái.

8 tác phẩm đánh dấu sự khởi sắc của tranh Việt trong năm 2021 - 2


Bức "Hai người phụ nữ ngắm bể cá vàng" của họa sĩ Lê Phổ

Bức "Hai người phụ nữ ngắm bể cá vàng" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, với mức giá 5.983.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 17,7 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 69 x 53cm. Mức giá ước đạt ban đầu mà Sotheby đưa ra là 2,8 - 3,8 triệu đô la Hồng Kông.

Bức tranh có hình ảnh cá vàng và sen trắng, hình ảnh hai người phụ nữ trang nhã cùng nhau ngắm bể cá, những cặp hình ảnh này chứa đựng nhiều ý niệm thẩm mỹ trong đó. Với cá vàng và hoa sen, họa sĩ muốn bức tranh của mình chứa đựng biểu trưng của sự may mắn, sinh sôi, sự thuần khiết, lạc quan, cùng với đó là ý niệm rằng những điều tốt đẹp sẽ luôn đi cạnh nhau, "có đôi, có cặp".

Tác phẩm là sự hài hòa của màu sắc, cho thấy cách đưa cọ bậc thầy của họa sĩ Lê Phổ, khiến tác phẩm có một vẻ mỏng manh, trong suốt đầy mê hoặc. Người xem tranh như cảm nhận được làn gió nhẹ đang thổi tấm rèm, lay tấm khăn, vương tà áo của hai người phụ nữ.

8 tác phẩm đánh dấu sự khởi sắc của tranh Việt trong năm 2021 - 3


Bức "Chân dung Madam Phương" của họa sĩ Mai Trung Thứ 

Bức "Chân dung Madam Phương" của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 24.375.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 72,5 tỷ đồng). Đây hiện được xem là mức giá cao kỷ lục trả cho một tác phẩm được thực hiện bởi một họa sĩ người Việt.

Bức tranh sơn dầu kích thước 135,5 x 80cm được thực hiện vào năm 1930. Tác phẩm ban đầu được Sotheby ước đoán đạt mức giá chỉ từ 7,5 đến 9,3 triệu đô la Hồng Kông.

Tác phẩm được xem như một biểu tượng của vẻ đẹp phụ nữ Á Đông, ngay từ tác phẩm đầu tiên này, khi bức tranh được trưng bày tại triển lãm ở Paris, Pháp, họa sĩ Mai Trung Thứ đã thu hút sự quan tâm và khiến nhiều nhà sưu tầm hỏi mua, sự kiện đã đánh dấu việc ông bắt đầu đạt được danh tiếng lớn, với phong cách hội họa được ghi nhận bởi cả giới chuyên môn và thị trường.

Điều quan trọng hơn thế, tác phẩm này còn thâu tóm lại được những xúc cảm sâu sắc của họa sĩ dành cho nhân vật, một phụ nữ quý phái vốn được cho là có mối quan hệ tình cảm với họa sĩ và khiến ông đặc biệt ngưỡng mộ, trân trọng. Thâu tóm những xúc cảm dành cho bà Phương, tác phẩm có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp của họa sĩ bởi cả chất liệu, kích thước, nhân vật và hoàn cảnh...

Trong bộ phim điện ảnh "Mùi đu đủ xanh" (1993), một bộ phim đặc sắc của đạo diễn Trần Anh Hùng, bức tranh từng xuất hiện trong một số phân cảnh và mang ý nghĩa biểu tượng cho người phụ nữ hiện đại.

8 tác phẩm đánh dấu sự khởi sắc của tranh Việt trong năm 2021 - 4


Bức tranh lụa "Trò chuyện" thực hiện bởi họa sĩ Vũ Cao Đàm

Bức tranh lụa "Trò chuyện" thực hiện bởi họa sĩ Vũ Cao Đàm hồi thập niên 1940, tác phẩm có kích thước 44,5 x 53,5cm. Giá ước đạt ban đầu ở mức từ 2 - 3 triệu đô la Hồng Kông. Mức giá thực tế mà tác phẩm vừa đạt được hồi cuối tuần qua là 4.284.000 đô la Hồng Kông (tương đương 12,7 tỷ đồng).

Trong tác phẩm, hai cô gái hiện lên như hai thiên thần, hoàn toàn hòa hợp với phong cảnh xung quanh. Tác phẩm của họa sĩ Vũ Cao Đàm như thể một cảnh mộng, hai cô gái đi chân trần, ở trong trạng thái hoàn toàn thư thái, thoải mái, hai cô như chìm sâu vào cuộc trò chuyện của mình.

Tác phẩm khiến người xem cảm thấy cần phải nín lặng, để tôn trọng bầu không khí thân mật, thanh tao giữa hai cô gái được khắc họa như hai thiên thần trên thảm cỏ. Việc họa sĩ đưa nhân vật ra bối cảnh ngoài trời cho thấy tư duy hội họa của ông có tiếp thu phong cách của hội họa Châu Âu.

8 tác phẩm đánh dấu sự khởi sắc của tranh Việt trong năm 2021 - 5


Bức "Cô gái làm thơ" của họa sĩ Mai Trung Thứ

Bức "Cô gái làm thơ" của họa sĩ Mai Trung Thứ, một tác phẩm tranh lụa thực hiện hồi năm 1943, kích thước 73 x 50,3cm, có mức giá ước đạt ban đầu từ 3,2 tới 4 triệu đô la Hồng Kông. Tại cuộc đấu giá, tác phẩm đã đạt mức giá 6.225.000 đô la Hồng Kông (tương đương 18,5 tỷ đồng).

Tác phẩm khắc họa một người phụ nữ trẻ đang mơ mộng trong góc căn phòng tĩnh lặng, cô đang muốn viết một bài thơ, ngồi trên sàn và nghiêng đầu nhìn về phía người xem tranh, cô gái duyên dáng và vô tư lự ấy đang trải qua một khoảnh khắc của những xúc cảm dịu êm đầy cảm hứng.

Bức họa được thực hiện năm 1943, lúc này chiến tranh đang xảy ra tại Việt Nam, họa sĩ Mai Trung Thứ khắc họa một cô gái trong trạng thái bình yên mơ mộng như một cách để nói lên niềm khát khao về hòa bình và những nếp nhà bình yên.

Vượt lên trên thực tế tàn khốc của chiến tranh, họa sĩ khắc họa vẻ đẹp của một ngày xuân ấm áp, cô gái như chìm trong mộng mị, cô thư thả, dịu dàng trong từng động tác, từng ánh nhìn với một tâm thế lạc quan, một diện mạo thuần khiết, cô tận hưởng không gian dễ chịu của riêng mình.

Những sắc màu trong tranh cũng góp phần tạo nên khoảnh khắc yên bình, tĩnh lặng, những nếp gấp của tà áo duyên dáng hé lộ vẻ đẹp của người con gái. Cô hiện lên với vẻ đẹp thánh thiện, thoát tục và thanh tao, điều này có được là nhờ những gam màu mà họa sĩ sử dụng, từ trắng ngà cho tới vàng sáng.

Dù không sống ở Việt Nam thời kỳ này, nhưng những tác phẩm của họa sĩ Mai Trung Thứ luôn chứa đựng những mơ ước của cá nhân ông dành cho quê nhà, với ước vọng về hòa bình, yên ấm cho mỗi gia đình.

8 tác phẩm đánh dấu sự khởi sắc của tranh Việt trong năm 2021 - 6


Bức tranh sơn mài "Cảnh ngôi chùa cổ ở miền bắc Việt Nam" của họa sĩ Phạm Hậu

Bức tranh sơn mài "Cảnh ngôi chùa cổ ở miền bắc Việt Nam" của họa sĩ Phạm Hậu (1903 - 1995) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 8.040.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 24 tỷ đồng). Tác phẩm có kích thước 104,5 x 183cm được thực hiện trong thập niên 1930. Mức giá ước đoán ban đầu là từ 3,2 tới 4 triệu đô la Hồng Kông.

Phạm Hậu là họa sĩ tiên phong trong lĩnh vực tranh sơn mài của hội họa hiện đại Việt Nam. Tác phẩm "Cảnh ngôi chùa cổ ở miền bắc Việt Nam" chứa đựng vẻ đẹp cảnh vật đặc trưng của Việt Nam và được đánh giá là một trong những tác phẩm sơn mài xuất sắc nhất của Phạm Hậu.

Ông cũng được đánh giá là một trong những họa sĩ xuất sắc nhất của dòng tranh sơn mài tốt nghiệp từ trường Mỹ thuật Đông Dương.

8 tác phẩm đánh dấu sự khởi sắc của tranh Việt trong năm 2021 - 7


Bức "Người phụ nữ bên các con" của họa sĩ Lê Thị Lựu

Bức "Người phụ nữ bên các con" của họa sĩ Lê Thị Lựu (1911 - 1988) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 6.830.000 đô la Hồng Kông (tương đương 20,2 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 99 x 74cm được thực hiện vào thập niên 1960.

Mức giá ước đoán ban đầu của tác phẩm này được Sotheby đưa ra ở mức 900.000 tới 1,6 triệu đô la Hồng Kông. Họa sĩ Lê Thị Lựu được nhận vào học ở trường Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội hồi năm 1926, bà là một hiện tượng hiếm có, trở thành một nữ họa sĩ độc đáo xuất hiện trong ngôi trường mỹ thuật chủ yếu chỉ có nam giới.

Vượt lên những cản trở trong quan niệm phân biệt giới tính thời bấy giờ, bà Lê Thị Lựu đã trở thành một nguồn lực sáng tạo đặc biệt của hội họa hiện đại Việt Nam thời kỳ đầu, trở thành người phụ nữ tài năng, bản lĩnh đứng bên cạnh những nam họa sĩ bậc thầy như Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Vũ Cao Đàm, tạo nên bộ tứ tài năng nổi tiếng của trường Mỹ thuật Đông Dương.

Là một người phụ nữ mạnh mẽ, một người mẹ giàu tình yêu thương, bà Lê Thị Lựu luôn tôn vinh hình ảnh người phụ nữ trong các tác phẩm của mình, họ là hiện thân của sự mạnh mẽ, bền bỉ, sự dịu dàng, nhân từ, và thường gắn với bối cảnh gia đình. Cảnh người mẹ bế người con nhỏ trong lòng, ánh mắt dịu hiền trìu mến nhìn cô con gái nhỏ ngồi bên tập khâu vá quá đỗi đẹp đẽ, mến thương.

Các sắc màu trong tranh tương trợ lẫn nhau, làm nên quang cảnh hài hòa và khiến hình ảnh người mẹ trở nên nổi bật, làn da của các nhân vật cũng rất giàu sức sống. Hình ảnh ba mẹ con trong tranh quá đỗi hòa hợp và toát lên niềm vui thuần khiết, giản dị, đầy ấm cúng.

Trong sự nghiệp của mình, bà Lê Thị Lựu không sáng tác nhiều và hiếm khi nào vẽ một bức tranh lụa kích thước lớn như thế, nên tác phẩm này đã khiến các nhà sưu tập rất quan tâm và trả giá cao.

8 tác phẩm đánh dấu sự khởi sắc của tranh Việt trong năm 2021 - 8


Bức "Làm dáng" của họa sĩ Mai Trung Thứ

Bức "Làm dáng" của họa sĩ Mai Trung Thứ được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 4.410.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 13 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 45,5 x 59,5cm được thực hiện vào năm 1966. Mức giá ước đoán ban đầu của tác phẩm này được Sotheby đưa ra ở mức 1,4 tới 2,5 triệu đô la Hồng Kông.

Bức họa đặc tả hai người phụ nữ đang chiêm ngưỡng vòng cổ của nhau. Thực tế, tác phẩm này họa theo những bức họa cổ điển nổi tiếng của hội họa Pháp khắc họa nữ quý tộc Gabrielle d'Estrés và người em gái của mình. Từ những nhân vật và câu chuyện của giới quý tộc Châu Âu, họa sĩ Mai Trung Thứ đã có những biến đổi ngoạn mục để tạo nên một bức tranh đẹp khắc họa hai cô gái Việt.

Bích Ngọc
Theo Sotheby


12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế

Trong tháng 4 này, bảng xếp hạng về giá của các siêu phẩm hội họa Việt Nam có sự biến động về thứ hạng, có những tác phẩm mới xuất hiện trên thị trường đấu giá đã lọt top "siêu phẩm đắt giá".

Hãy cùng nhìn lại top 12 siêu phẩm hội họa đắt giá nhất được thực hiện bởi các danh họa người Việt. Các tác phẩm này từng gây tiếng vang trên thị trường đấu giá mỹ thuật quốc tế và xác lập nên những mức giá cho thấy rằng: các tác phẩm của danh họa Việt Nam đang ngày càng trở nên đắt giá.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 1


Bức "Chân dung Madam Phương" của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 24.375.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 72,5 tỷ đồng). Bức tranh sơn dầu kích thước 135,5 x 80cm được thực hiện vào năm 1930.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 2


Bức "Khỏa thân" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 26/5/2019, đạt mức giá 10.925.000 đô la Hồng Kông (tương đương 32,5 tỷ đồng). Bức tranh sơn dầu kích thước 90,5 x 180,5cm được thực hiện hồi năm 1931.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 3


Bức "Tan mộng" của họa sĩ Tô Ngọc Vân (1906-1954) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 26/5/2019, đạt mức giá 9.125.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 27 tỷ đồng). Bức tranh lụa kích thước 92,5 x 57cm được thực hiện hồi năm 1932.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 4


Bức "Đời sống gia đình" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 2/4/2017, đạt mức giá 9.100.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 27 tỷ đồng). Bức tranh lụa có kích thước 82 x 66cm được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1937-1939.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 5


Bức tranh sơn mài "Cảnh ngôi chùa cổ ở miền bắc Việt Nam" của họa sĩ Phạm Hậu (1903 - 1995) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 8.040.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 24 tỷ đồng). Tác phẩm có kích thước 104,5 x 183cm được thực hiện trong thập niên 1930.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 6


Bức "Người phụ nữ bên các con" của họa sĩ Lê Thị Lựu (1911-1988) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 6.830.000 đô la Hồng Kông (tương đương 20,2 tỷ đồng). Tác phẩm có kích thước 99 x 74cm được thực hiện vào thập niên 1960.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 7


Bức "Em bé và chú chim" của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 27/5/2018, đạt mức giá 6.700.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 20 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 65 x 50cm được thực hiện năm 1931.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 8


Bức "Nhìn từ đỉnh đồi" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Christie Hồng Kông bán ra ngày 22/11/2014, đạt mức giá 6.520.000 đô la Hồng Kông (tương đương 19,3 tỷ đồng). Tác phẩm tranh sơn dầu có kích thước 113 x 192cm được thực hiện năm 1937.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 9


Bức "Cô gái làm thơ" của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 6.225.000 đô la Hồng Kông (tương đương 18,5 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 73 x 50,3cm được thực hiện hồi năm 1943.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 10


Bức tranh sơn mài "Dân làng" của họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 30/9/2018, đạt mức giá 6.120.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 18,2 tỷ đồng). Tác phẩm có kích thước 99 x 198cm được thực hiện năm 1939.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 11


Bức "Hai người phụ nữ ngắm bể cá vàng" của họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 18/4 vừa qua, đạt mức giá 5.983.000 đô la Hồng Kông (tương đương hơn 17,7 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 69 x 53cm.

12 siêu phẩm hội họa Việt đắt giá nhất trên thị trường đấu giá quốc tế - 12


Bức "Gia đình" của họa sĩ Lê Phổ được nhà đấu giá Sotheby Hồng Kông bán ra ngày 30/9/2018, đạt mức giá 5.880.000 đô la Hồng Kông (tương đương 17,4 tỷ đồng). Tác phẩm tranh lụa có kích thước 72 x 59,5cm được thực hiện vào khoảng năm 1935-1940.

Bích Ngọc
Theo Christie/Sotheby




"Chân dung Madam Phương" có giá 72 tỷ đồng: Kỷ lục mới của hội họa Việt Nam

Đây hiện được xem là mức giá cao kỷ lục trả cho một tác phẩm được thực hiện bởi một họa sĩ người Việt.

Chân dung Madam Phương có giá 72 tỷ đồng: Kỷ lục mới của hội họa Việt Nam - 1


"Portrait de Mademoiselle Phuong", một họa phẩm của họa sĩ Mai Trung Thứ.

"Portrait de Mademoiselle Phuong", một họa phẩm của họa sĩ Mai Trung Thứ, đã vừa được rao bán đấu giá tại Hồng Kông bởi nhà đấu giá Sotheby. Mức giá sau cùng được trả cho tác phẩm là 24.375.000 đô la Hồng Kông (tương đương gần 72,5 tỷ đồng). Đây hiện được xem là mức giá cao kỷ lục trả cho một tác phẩm được thực hiện bởi một họa sĩ người Việt.

Tác phẩm "Chân dung Madam Phương" vốn có nhiều thập kỷ nằm trong bộ sưu tập tranh của một người phụ nữ gốc Việt có tên Dothi Dumonteil. Bức tranh sơn dầu có kích thước 135,5 x 80cm được thực hiện vào khoảng năm 1930, trên tranh có chữ ký của họa sĩ.

Tác phẩm đã từng xuất hiện trong một số phân cảnh của bộ phim từng được đề cử tại giải Oscar - "Mùi đu đủ xanh" (1993) của đạo diễn Trần Anh Hùng. Khi tác phẩm được đem trưng bày tại Paris (Pháp) hồi năm 1931, tác phẩm đã nhanh chóng lọt vào mắt xanh của các nhà sưu tầm và sớm được hỏi mua.

Tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp của họa sĩ Mai Trung Thứ

Chân dung Madam Phương có giá 72 tỷ đồng: Kỷ lục mới của hội họa Việt Nam - 2


Bức tranh chân dung được đánh giá là một tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980).

Bức tranh chân dung được đánh giá là một tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980), trong đó, người xem vừa nhìn thấy tài năng của ông trong lĩnh vực hội họa, vừa tìm thấy sự dịu dàng, tinh tế trong cách thức ông khắc họa chân dung phụ nữ.

Đây là tác phẩm có kích thước lớn nhất mà ông từng thực hiện trong sự nghiệp của mình và là một dấu ấn đậm nét trên con đường sáng tác hội họa của ông. Thời điểm thực hiện tác phẩm (năm 1930) là khi ông đang chuẩn bị cho việc tốt nghiệp tại trường Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội.

Tác phẩm sơn dầu này được đánh giá là đặc biệt hiếm có bởi họa sĩ Mai Trung Thứ chủ yếu quan tâm tới chất liệu tranh lụa trong phần lớn sự nghiệp của mình. Ban đầu tác phẩm được trưng bày tại triển lãm của trường Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội, một năm sau, tác phẩm được trưng bày tại Paris. Sự kiện này đã mở đường để họa sĩ bước vào thế giới hội họa Châu  Âu.  

Tác phẩm được xem như một biểu tượng của vẻ đẹp phụ nữ Á Đông, ngay từ tác phẩm đầu tiên này, họa sĩ Mai Trung Thứ đã thu hút sự quan tâm và khiến nhiều nhà sưu tầm hỏi mua, sự kiện đã đánh dấu việc ông bắt đầu đạt được danh tiếng tầm quốc tế, với phong cách hội họa được ghi nhận bởi cả giới chuyên môn và thị trường.

Điều quan trọng hơn thế, tác phẩm này còn thâu tóm lại được những xúc cảm sâu sắc của họa sĩ dành cho nhân vật, một phụ nữ quý phái vốn được cho là có mối quan hệ tình cảm với họa sĩ và khiến ông đặc biệt ngưỡng mộ, trân trọng. Thâu tóm những xúc cảm dành cho bà Phương, tác phẩm có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp của họa sĩ bởi cả chất liệu, kích thước, nhân vật và hoàn cảnh...

Bích Ngọc
Theo Sotheb



Tại sao bức tranh "Chân dung Madam Phương" đạt kỷ lục 3,1 triệu USD?

Mochi |

Tại sao bức tranh

"Chân dung Madam Phương" - bức tranh sơn dầu quý hiếm của họa sĩ Mai Trung Thứ trở thành bức tranh Việt có mức giá ước chừng cao nhất từ trước đến nay.

Xuất hiện trong phiên đấu giá "Beyond Legends: Modern Art Evening Sale" tại Sotheby's Hong Kong, tác phẩm Chân dung Madam Phương của họa sĩ Mai Trung Thứ gây xôn xao khi đạt mức giá kỷ lục 3,1 triệu USD. 

Bức tranh được bán khởi điểm với giá 500 nghìn USD, sau đó nâng dần lên 1,9 triệu USD, 2 triệu USD, 2,1 triệu USD, 2,5 triệu USD và dừng ở mức 2,573 triệu USD. Sau khi tính thuế phí, bức tranh đạt 3,1 triệu USD, trở thành là bức tranh Việt có mức giá ước chừng cao nhất từ trước đến nay.


Tại sao bức tranh Chân dung Madam Phương đạt kỷ lục 3,1 triệu USD? - Ảnh 1.

Tác phẩm Chân dung Madam Phương (Portrait of Mademoiselle Phuong), sơn dầu trên vải, 135,5 x 80 cm.

Chân dung Madam Phương là tác phẩm của họa sĩ Mai Trung Thứ (1906 - 1980), một trong bốn danh hoạ Việt Nam xuất thân từ trường Mỹ Thuật Đông Dương và thành danh ở Pháp.

Tên tuổi ông trong hội họa gắn liền với những tác phẩm tranh lụa về đề tài phụ nữ, trẻ em, cuộc sống thường ngày dưới cái nhìn mang đầy màu sắc văn hóa Á Đông những năm đầu thế kỷ 20.

Chân dung Madam Phương là bức tranh sơn dầu được ông vẽ để miêu tả người tình - một phụ nữ trẻ thuộc tầng lớp quý tộc Hà Nội. 

Bức tranh được Sotheby’s miêu tả "là một tác phẩm hoành tráng nhưng rất dịu dàng và gần gũi. Bức tranh lôi cuốn này còn thể hiện sự ngưỡng mộ sâu sắc của Mai Thứ đối với người mẫu, một quý cô được đồn đại là người yêu của nghệ sĩ".

Bức tranh quý hiếm này từng được triển lãm lần đầu tiên tại trường Mỹ Thuật Đông Dương vào năm 1930, trước khi sang Paris tham dự Triển Lãm Quốc Tế Thuộc Địa năm 1931. 

Ngoài ra, Chân dung Madam Phương cũng xuất hiện trong các phân cảnh của phim Mùi Đu Đủ Xanh (The Scent of Green Papaya) năm 1993 của đạo diễn Trần Anh Hùng, như một biểu tượng văn hóa trong tác phẩm điện ảnh đại chúng nổi tiếng của Việt Nam.

Tại sao bức tranh Chân dung Madam Phương đạt kỷ lục 3,1 triệu USD? - Ảnh 2.

Ông bà Pierre và bà Dothi Dumonteil.

Theo Sotheby's, bức chân dung là một trong các tác phẩm thuộc bộ sưu tập tư nhân của một nhóm chủ sở hữu nhà Dumonteil - Les Souvenirs d’Indochine: The Madame Dothi Dumonteil Collection (Tạm dịch: Ký ức Đông Dương: bộ sưu tập của Madam Dothi Dumonteil).

Madam Dothi (Đỗ Thị Lan) - người từng là chủ nhân của bức tranh - là người con gốc Huế di cư đến Pháp từ khi còn rất nhỏ. Trước khi kết hôn và trở thành một nhà sưu tầm nghệ thuật, Madam Dothi từng được biết đến với tư cách người mẫu thời trang cho các nhà Haute Couture như Pierre Cardin, Dior, Chanel và là nàng thơ của nhà thiết kế Yves Saint Laurent.

Cùng với chồng, Pierre Dumonteil - một nhà sưu tầm và nhà đấu giá có kiến thức uyên bác về lịch sử và thị trường nghệ thuật, Madam Dothi Dumonteil đồng sáng lập Galerie Dumonteil, có trụ sở ở Paris và các chi nhánh ở Thượng Hải (Trung Quốc) và Manhattan (New York).

Trong suốt hơn 3 thập niên cùng nhau theo đuổi nghệ thuật Hiện Đại và Đương Đại từ trời Âu sang đất Á, hai ông bà đã mua lại những tác phẩm của hoạ sĩ Mai Thứ (bao gồm Portrait of Mademoiselle Phuong) và nhiều hoạ sĩ Việt Nam khác, bổ sung vào bộ sưu tập của gia đình Dumonteil.




Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý

Ngô Anh |

Họa sĩ Thành Chương cùng vợ tới chia vui với Mỹ Linh - khi nữ ca sĩ khai trương học viện âm nhạc Young Hit Young Beat tại Hà Nội ngày 8/4.

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 1.

Ngô Hương là người vợ thứ 3 của họa sĩ Thành Chương. Bà thu hút người đối diện ở vẻ thanh thoát, sang trọng và nhan sắc xinh đẹp. Thành Chương yêu mến Ngô Hương tới độ, Nhà văn Nguyễn Quang Thiều mô tả: "Trước kia, ông vẫn thường lang thang với chúng tôi. Từ khi có gia đình mới, ông không lang thang nữa".

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 2.

"Đi đâu ông cũng phải có Ngô Hương, làm gì cũng có chị. Tiếp khách có, ăn cơm bụi có, trả lời phỏng vấn báo chí cũng có", và thậm chí là "Ông đã say đắm vẽ hàng nghìn bức tranh, say đắm xây cho mình cả cái phủ vĩ đại - phủ Thành Chương. Nhưng tôi thấy niềm say đắm hơn cả lúc này với ông lại chính là cái gia đình nhỏ bé".

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 3.

Ngô Hương xuất thân từ 1 gia đình có truyền thống nghệ thuật: Bố là nhạc sĩ Ngô Quốc Hải, mẹ là nghệ sĩ kịch nói Kim Dung.

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 4.

Ca sĩ Mỹ Linh rạng ngời hạnh phúc trong buổi khai trương học viện của chính mình.

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 5.

Ca sĩ Dương Hoàng Yến.

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 6.

NTK Đức Hùng.

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 7.

Xuân Bắc luôn là tâm điểm của trẻ thơ mỗi khi anh xuất hiện.

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 8.

Xuân Bắc đi cùng vợ con.

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 9.
Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 10.

Ca sĩ Nhật Thủy

Vợ xinh đẹp của Họa sĩ Thành Chương gây chú ý - Ảnh 11.

Gia đình Mỹ Linh




Tranh quý "bảo vật quốc gia" suýt bị bán với... "giá bèo"

Một bức họa vừa được định giá 1.500 euro (tương đương hơn 41 triệu đồng) rất có thể là một tác phẩm của danh họa Caravaggio với giá trị lên tới 50 triệu euro (hơn 1.370 tỷ đồng).

Tranh quý bảo vật quốc gia suýt bị bán với... giá bèo - 1


Bức họa này được thực hiện vào khoảng thế kỷ 17, có tên "Vòng gai". Tác phẩm vốn được cho là do họa sĩ người Tây Ban Nha Jusepe de Ribera thực hiện.

Sự nghi ngờ đã khiến nhà chức trách Tây Ban Nha áp dụng lệnh cấm tạm thời đối với việc đưa bức tranh này ra nước ngoài, để các chuyên gia trong nước có thể thẩm định giá trị thực sự của tác phẩm trước khi đưa ra quyết định sau cùng.

Bức họa này được thực hiện vào khoảng thế kỷ 17, có tên "Vòng gai". Tác phẩm vốn được cho là do họa sĩ người Tây Ban Nha Jusepe de Ribera thực hiện, nhưng nhanh chóng, tác phẩm này đã bị nhà chức trách yêu cầu rút ra khỏi một cuộc đấu giá. Mức giá ước đạt mà nhà đấu giá đưa ra cho tác phẩm là 1.500 euro (tương đương hơn 41 triệu đồng).

Cuộc đấu giá dự kiến được tiến hành tại thành phố Madrid hôm thứ 5 tuần này. Ban đầu, đây không phải một sự kiện đình đám nhưng đã bất ngờ thu hút sự quan tâm của truyền thông quốc tế.

Bức "Vòng gai" có kích thước 111cm x 86cm, hiện tại, bức họa đang được nghiên cứu kỹ lưỡng bởi các chuyên gia hội họa để xác định nghi vấn.

Thực tế, nghi vấn này hoàn toàn có cơ sở bởi họa sĩ người Tây Ban Nha Jusepe de Ribera vốn từng theo học hội họa ở Rome (Ý) và rất sùng bái phong cách hội họa của Caravaggio, đặc biệt là cách Caravaggio sử dụng nghệ thuật "chiaroscuro" (cách sử dụng màu sáng tối đối lập mạnh mẽ).

Tranh quý bảo vật quốc gia suýt bị bán với... giá bèo - 2


Bức "Vòng gai" do Caravaggio thực hiện vào năm 1607

Nhà chức trách trong lĩnh vực văn hóa của Tây Ban Nha cho biết họ đã nhanh chóng đưa ra lệnh cấm bán tranh ra nước ngoài, sau khi nhận được cuộc gọi phản ánh từ nhóm chuyên gia tại Bảo tàng Quốc gia Prado hồi đầu tuần này.

Các chuyên gia của bảo tàng này cho biết họ nhận thấy có những bằng chứng về mặt phong cách hội họa và những mối liên hệ để tin rằng đây là tác phẩm của Caravaggio.

Nhà chức trách sẽ phối hợp với các chuyên gia để tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng tác phẩm dựa trên các kỹ thuật hiện đại và chứng cứ khoa học, cộng thêm những tranh luận của giới phê bình hội họa về mặt phong cách của tác phẩm.

Chuyên gia hội họa người Ý Vittorio Sgarbi cho biết ông đã sớm có những nghi ngờ về tác giả thực sự của bức tranh kể từ tháng trước, khi những thông tin đầu tiên về tranh bắt đầu xuất hiện trên thị trường: "Giá của tác phẩm này, nếu đúng là của Caravaggio, có thể lên tới 100-150 triệu euro nếu bán cho tư nhân, và 50 triệu euro nếu bán cho các bảo tàng".

Bà Maria Cristina Terzaghi - chuyên gia hội họa người Ý, giảng viên tại Đại học Rome (Ý), một người chuyên nghiên cứu phong cách tranh Caravaggio, cũng tin rằng tác phẩm này chính là của vị danh họa người Ý: "Cách phối màu trong tác phẩm này rất đặc trưng cho phong cách của Caravaggio".

Tuy vậy, cũng có chuyên gia lên tiếng theo hướng ngược lại, bà Nicola Spinosa, một chuyên gia về hội họa Ý thế kỷ 17 nhận định: "Theo tôi, đó không phải tranh Caravaggio, mà là một bức tranh chất lượng được thực hiện theo phong cách của ông".

Bích Ngọc
Theo The Guardian

Khỏa thân trong hội họa hiện đại "lột xác" nhờ một bộ tranh bị "tuýt còi"

Họa sĩ người Ý Amedeo Modigliani (1884 - 1920) được xem là người làm mới đề tài khỏa thân trong hội họa hiện đại, ông là một trong những bậc thầy được nể trọng của hội họa hiện đại.

Thiên tài hội họa đoản mệnh

Khỏa thân trong hội họa hiện đại lột xác nhờ một bộ tranh bị tuýt còi - 1


Dù sớm qua đời khi còn trẻ, lúc mới 35 tuổi vì bệnh lao màng não, nhưng Modigliani đã kịp để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử hội họa.

Dù sớm qua đời khi còn trẻ, lúc mới 35 tuổi vì bệnh lao màng não, nhưng Modigliani đã kịp để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử hội họa. Ông nổi tiếng nhất với những bức tranh khỏa thân theo phong cách hiện đại với những đường nét gương mặt, thân hình... được kéo dài siêu thực.

Những tác phẩm của Amedeo Modigliani không được đón nhận nồng nhiệt khi ông còn sống. Ông hầu như chưa được chứng kiến thành công nào của bản thân lúc sinh thời, nhưng sau này, sự nghiệp và tầm vóc của ông được nhìn nhận lại. Tác phẩm của Modigliani đã từng có những lần xác lập kỷ lục về giá trên thị trường hội họa.

Không có nhiều họa sĩ tạo được sức nóng bền bỉ trong tác phẩm như Modigliani. Ngay từ đầu, khi còn chưa được công chúng ưa chuộng như hiện nay, những tác phẩm của Modigliani đã được các họa sĩ, nhà phê bình nghệ thuật, nhà sưu tầm hội họa đương thời rất quan tâm, đề cao.

Nhưng số phận đã quá khắc nghiệt với Modigliani khi khiến ông sớm qua đời vì bệnh tật và không được chứng kiến những thành công lớn trong sự nghiệp của mình.

Lý giải về sức hấp dẫn lâu bền trong tác phẩm của Modigliani, giám đốc nghệ thuật của Bảo tàng Nghệ thuật Houston (Mỹ) - bà Alison de Lima Greene từng giải thích một cách thẳng thắn: "Đó chính là sức nóng gợi cảm, niềm đam mê, khao khát cháy bỏng trong các tác phẩm của ông. Những bức tranh của ông quá đỗi nóng bỏng.

"Có nhiều người vốn không quan tâm tới hội họa, thậm chí không yêu thích hội họa, nhưng lại rất yêu thích tranh của Modigliani. Không chỉ những bức tranh khỏa thân của ông mới hấp dẫn, mà ngay cả những bức khắc họa người phụ nữ có khoác lên mình tấm vải cũng khiến người xem bị mê hoặc và khao khát được chiêm ngưỡng".

Khỏa thân trong hội họa hiện đại lột xác nhờ một bộ tranh bị tuýt còi - 2


Không có nhiều họa sĩ tạo được sức nóng bền bỉ trong tác phẩm như Modigliani. (Tác phẩm nằm trong chùm tranh khỏa thân được Modigliani thực hiện trong giai đoạn từ năm 1916 tới 1919)

Gần đây, các tác phẩm của ông luôn tạo nên những tin chấn động tại các cuộc đấu giá với những con số đạt được thuộc vào hàng kỷ lục. Năm 2015, bức "Nu couché" từng được ông thực hiện hồi năm 1917, được nhà đấu giá Christie đưa ra chào bán tại New York, mức giá sau cùng đạt 170,4 triệu USD, ngay lập tức, tác phẩm thuộc vào hàng những siêu phẩm hội họa đắt nhất thế giới.

Năm 2018, bức "Nu couché (sur le côté gauche)" thực hiện hồi năm 1917 được nhà đấu giá Sotheby bán ra tại New York (Mỹ) với mức giá 157,2 triệu USD. Đây là mức giá cao nhất từng được trả cho một tác phẩm nghệ thuật trong lịch sử hoạt động của nhà đấu giá này.

Người làm mới đề tài khỏa thân trong hội họa hiện đại

Khỏa thân trong hội họa hiện đại lột xác nhờ một bộ tranh bị tuýt còi - 3


Những người mẫu xuất hiện khỏa thân trong tranh của Modigliani cho tới hôm nay không còn rõ danh tính. (Tác phẩm nằm trong chùm tranh khỏa thân được Modigliani thực hiện trong giai đoạn từ năm 1916 tới 1919)

22 bức tranh khỏa thân dáng nằm của Modigliani hiện tại đa phần đều thuộc quyền sở hữu của các bảo tàng lớn trên thế giới, ông bắt đầu tìm đến đề tài này từ năm 1908, nhưng phải tới năm 1914, ông mới phát triển được những nét riêng độc đáo trong đề tài này.

Lúc này, người bảo trợ của Modigliani - nhà buôn nghệ thuật Léopold Zborowski đã hào phóng thuê phòng vẽ, người mẫu, mua dụng cụ vẽ cho vị họa sĩ trẻ tuổi chưa có nhiều thành công. Zborowski cũng hỗ trợ cho cuộc sống của Modigliani, nhờ đó, Modigliani có thể chuyên tâm sáng tác trong một khoảng thời gian.

Những người mẫu xuất hiện khỏa thân trong tranh của Modigliani cho tới hôm nay không còn rõ danh tính. Modigliani không bao giờ vẽ những người phụ nữ gắn bó với ông trong những bức họa khỏa thân, đối với những người mẫu xa lạ được mời tới, ông cảm thấy thoải mái và vì thế mà thực hiện nên những tác phẩm đầy ấn tượng.

Tổng cộng, Modigliani đã vẽ 22 bức khỏa thân dáng nằm và 13 bức khỏa thân dáng ngồi trong quãng thời gian từ năm 1916 tới 1919. Khi tổ chức triển lãm hồi năm 1917 với sự hỗ trợ của người bảo trợ Zborowski, sự kiện đã gây nên những bàn cãi lớn trong dư luận và ngay lập tức bị cảnh sát yêu cầu phải dừng lại.

Sự kiện triển lãm lùm xùm ấy chỉ cho thấy rõ hơn sự đen đủi trong sự nghiệp của Modigliani lúc sinh thời, mà không giúp gì cho các tác phẩm của ông, để chúng được biết đến, yêu thích, hay bán ra được giá hơn.

Khỏa thân trong hội họa hiện đại lột xác nhờ một bộ tranh bị tuýt còi - 4


Nhận định chung của giới hội họa là Modigliani đã sáng tạo nên những bức chân dung tinh tế, giàu cảm xúc nhất trong thế kỷ 20. (Tác phẩm nằm trong chùm tranh khỏa thân được Modigliani thực hiện trong giai đoạn từ năm 1916 tới 1919)

Chỉ tới sau này, những tác phẩm được trưng bày trong triển lãm ngày ấy mới được nhìn nhận lại là những tác phẩm giúp làm mới đề tài khỏa thân trong hội họa hiện đại, và xác lập nên những mức giá kỷ lục tại các cuộc đấu giá trong những năm qua.

Nhận định chung của giới hội họa là Modigliani đã sáng tạo nên những bức chân dung tinh tế, giàu cảm xúc nhất trong thế kỷ 20.

Dù Modigliani kết giao với các họa sĩ thuộc trường phái Lập thể, và các bức tranh của ông cũng phảng phất chất siêu thực với những đường nét cơ thể kéo dài phi thực tế, nhưng chính điều đó lại khiến phong cách của ông trở nên độc đáo, riêng biệt.

Xuất thân của Modigliani

Sinh năm 1884 ở Livorno (Ý), trong một gia đình vốn từng giàu có, Modigliani là một đứa trẻ ốm yếu, bị viêm màng phổi, thương hàn, lao. Mẹ của Modigliani đã tự dạy con học tại nhà. Bà sớm nhận ra và khuyến khích năng lực nghệ thuật ở con trai.

Sau khi đến thăm hết các bảo tàng lớn tại Ý từ khi còn ở tuổi thiếu niên và đã theo học hội họa ở Livorno, Florence, và Venice (Ý), Modigliani tìm đến Paris (Pháp) hồi năm 1906. Khi ấy, Modigliani gây chú ý bởi diện mạo như một ngôi sao điện ảnh: đẹp trai với mái tóc dày và sẫm màu, xoăn tự nhiên, Modigliani gây ấn tượng như thể một công tử giàu có phóng túng.

Khỏa thân trong hội họa hiện đại lột xác nhờ một bộ tranh bị tuýt còi - 5


Năm 2015, bức "Nu couché" từng được ông thực hiện hồi năm 1917, được nhà đấu giá Christie đưa ra chào bán tại New York, mức giá sau cùng đạt 170,4 triệu USD.

Về sau này, Modigliani trở nên... phóng túng thật. Chàng họa sĩ trẻ tuổi chìm trong rượu và chất gây nghiện. Những nghệ sĩ đương thời trân trọng tài năng của Modigliani trong lĩnh vực hội họa và điêu khắc, cách sống của ông cũng được nhiều bạn bè nghệ sĩ yêu mến.

Nghệ sĩ điêu khắc người Anh Jacob Epstein từng có thời kết giao với Modigliani, đã nhận xét rằng: "Với bạn bè, Modigliani luôn là người có sức cuốn hút, anh thông thái trong chuyện trò và không bao giờ màu mè, kiểu cách dù dưới bất cứ khía cạnh nào".

Phần lớn những tác phẩm khiến hậu thế nhớ về Modigliani được ông thực hiện trong 5 năm cuối đời. Chính trong những năm tháng cuối đời ấy, Modigliani thực hiện bộ tranh khỏa thân có tính chất bước ngoặt đối với mảng đề tài này trong hội họa hiện đại. Những tác phẩm này về sau làm nên những kỷ lục về giá trong thập niên 2010.

Đặc biệt, bức "Nu couché" hiện nằm trong số những tác phẩm hội họa đắt nhất thế giới. Bộ tranh này hiện được hậu thế đánh giá cao nhất trong sự nghiệp của Modigliani, nhưng nó đã từng gây nên scandal tại Paris hồi năm 1917, khi lần đầu một triển lãm solo của Modigliani được mở ra, đó cũng là lần duy nhất ông có một triển lãm solo trong sự nghiệp.

Khỏa thân trong hội họa hiện đại lột xác nhờ một bộ tranh bị tuýt còi - 6


Năm 2018, bức "Nu couché (sur le côté gauche)" thực hiện hồi năm 1917 được nhà đấu giá Sotheby bán ra tại New York (Mỹ) với mức giá 157,2 triệu USD.

Lúc bấy giờ, khi triển lãm vừa được mở ra, cảnh sát đã có mặt để đóng cửa triển lãm bởi cho rằng những tác phẩm này là... khiêu dâm.

Modigliani qua đời ngày 24/1/1920, tối hôm sau, hôn thê của ông - Jeanne Hebuterne tự sát. Lễ tang của ông có sự đưa tiễn của đông đảo giới nghệ sĩ tại Paris lúc bấy giờ. Trên bia mộ đề: "Tử thần đã tới đưa anh đi khi vinh quang vừa mới hé".

Bích Ngọc
Theo Artsy/Art Dependence


Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế?

Cảnh tắm rất thường thấy trong lịch sử hội họa, cho tới tận hôm nay, cảnh tắm vẫn tiếp tục hấp dẫn họa sĩ đương đại, đặc biệt là những người đam mê khắc họa vẻ đẹp cơ thể người.

Dù đề tài này cũng cổ xưa như đề tài khỏa thân trong hội họa, nhưng vị trí của nó trong dòng chảy nghệ thuật thì chưa bao giờ lỗi thời, thậm chí sẽ mãi là một đề tài có tính đương đại ở mọi thời kỳ.

Trong đời sống con người từ xa xưa, tắm không chỉ là việc... vệ sinh, mà đôi khi còn được xem như một nghi thức quan trọng. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy trên đảo Crete (Hy Lạp) những công trình đặc biệt chỉ dành riêng cho việc tắm gội, những công trình này được dựng lên từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên.

Cảnh tắm là một đề tài quen thuộc được khắc họa trên các bình, vò của người Hy Lạp cổ đại. Cảnh tắm cũng được đề cập tới nhiều trong thần thoại Hy Lạp - La Mã, điều này cho thấy tầm quan trọng của việc tắm trong ý niệm của người xưa.

Nhà thơ người Ý - Ovid sống ở thế kỷ thứ 1 từng kể câu chuyện thần thoại về chàng thợ săn Actaeon và nữ thần Diana trong tuyển tập thơ thần thoại "Metamorphoses" của mình. Câu chuyện dữ dội kể rằng chàng Actaeon, một thợ săn, khi đang theo dấu con mồi thì vô tình bắt gặp nữ thần Diana tắm trong rừng cùng với các nàng tiên nữ.

Quá giận dữ, nữ thần Diana đã biến Actaeon trở thành một con nai và khiến chàng bị chính bầy chó săn của mình... xé xác. Về sau, câu chuyện về chàng Actaeon xấu số đã trở thành một đề tài được các họa sĩ Phục hưng yêu thích và tạo nên những siêu phẩm lưu truyền hậu thế.

Cảnh tắm trong hội họa Phục hưng

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 1


Bức "Diana và Actaeon" thực hiện từ năm 1556 - 1559 bởi danh họa Titian.

Đáng kể hàng đầu là bức "Diana và Actaeon" thực hiện từ năm 1556 - 1559 bởi danh họa Titian, một bậc thầy của hội họa Phục hưng chuyên khắc họa những nữ thần khỏa thân đẹp mê hoặc và những cuộc đi săn dữ dội (hai đề tài mà Titian biết rằng các khách hàng quý tộc của mình vô cùng ưa chuộng).

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 2


Bức "Người phụ nữ bắt con ruồi" thực hiện năm 1638 bởi họa sĩ người Pháp Georges de La Tour.

Những tác phẩm khắc họa cảnh tắm khác được thực hiện bởi các danh họa thời Phục hưng còn có thể kể tới bức "Người phụ nữ bắt con ruồi" thực hiện năm 1638 bởi họa sĩ người Pháp Georges de La Tour.

Danh họa người Hà Lan Rembrandt từng thực hiện bức "Bathsheba trong nhà tắm" hồi năm 1654, đây được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Rembrandt. Bức tranh vừa gợi cảm vừa giàu xúc cảm, xoay quanh câu chuyện về nàng Bathsheba xinh đẹp, nhà vua đem lòng yêu nàng nên đã sắp đặt để chồng nàng phải ra chiến trường.

Số phận của người chồng đã sớm bị định đoạt, chàng phải chết. Bức họa của Rembrandt được khắc họa từ góc nhìn của chính... nhà vua, khi ông ta đang ngắm trộm nàng Bathsheba tắm.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 3


Danh họa người Hà Lan Rembrandt từng thực hiện bức "Bathsheba trong nhà tắm" hồi năm 1654.

Dù câu chuyện cổ này đã được rất nhiều họa sĩ thể hiện qua nét cọ của mình, đặc biệt là chi tiết nhà vua ngắm nàng Bathsheba tắm, nhưng bức họa của Rembrandt đặc biệt hơn các tác phẩm khác bởi nó có một sự tập trung cao độ với cấu trúc chặt chẽ nhấn vào nhân vật người đẹp, làm toát lên vẻ đẹp tuyệt trần, những nét cọ và các gam màu được nhận định là đỉnh cao tuyệt mỹ.

Bức họa không chỉ khắc họa vẻ đẹp của nàng Bathsheba mà còn đặc tả được sự giằng xé nội tâm của nàng, khi người chồng ra trận, lành ít dữ nhiều, nàng ở nhà bị nhà vua si mê, ông ta bày ra mưu kế nhằm quyến rũ nàng, để có được nàng một cách trọn vẹn.

Bức họa đặc tả được cả dáng hình và nội tâm nhân vật. "Bathsheba trong nhà tắm" được nhiều nhà phê bình hội họa đánh giá là một trong những bức họa vĩ đại nhất của hội họa phương Tây (tác phẩm hiện trưng bày ở bảo tàng Louvre, Paris, Pháp).

Cảnh tắm trong hội họa Pháp thế kỷ 18-19

Trong hội họa Pháp thế kỷ 18-19, những danh họa như François Boucher, J.A.D. Ingres, và Eugène Delacroix đều mượn ý niệm thanh cao, thoát tục của việc gột rửa, nhằm sử dụng cảnh tắm như một cái nền đẹp đẽ để biểu đạt vẻ đẹp khỏa thân một cách tự nhiên, mềm mại.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 4


Bức "Nữ thần Diana tắm" do danh họa người Pháp François Boucher thực hiện hồi năm 1742.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 5


Bức "Nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ" được danh họa người Pháp Jean-Auguste-Dominique Ingres thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1852-1859.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 6


Bức "Những người phụ nữ tắm" thực hiện bởi danh họa người Pháp Eugène Delacroix hồi năm 1854.

Cảnh tắm trong hội họa hiện đại

Khi đời sống ngày càng trở nên hiện đại, việc đưa hệ thống dẫn nước vào trong nhà trở nên phổ biến trong các biệt thự của giới nhà giàu, hiện tượng này xuất hiện cùng thời điểm với những bước đi mới của hội họa hiện đại.

Cảnh tắm trước đó vốn được khắc họa trong quang cảnh ngoài trời, trong hồ nước, dòng suối, giờ đây được thay đổi bối cảnh, đưa vào trong phòng kín và tạo nên những hình ảnh nhân vật với cá tính, biểu cảm hoàn toàn khác lạ.

Những bức tranh khắc họa phụ nữ tắm của danh họa người Pháp Edgar Degas cho thấy rõ ràng cảnh tắm từ một hoạt động có tính cộng đồng, đã trở thành một việc riêng tư của mỗi người.

Thời kỳ này, cảnh tắm tiếp tục mê hoặc những họa sĩ hiện đại như Georges Seurat, Pierre-Auguste Renoir, Paul Cézanne, và Paul Gauguin, họ khắc họa một đề tài có tính truyền thống theo những cách nhìn mới, dạng thức mới để biểu đạt vẻ đẹp hình thể.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 7


Bức "Người phụ nữ trong chậu tắm" của Edgar Degas, vẽ năm 1886.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 8


Bức "Sau khi tắm" của Pierre-Auguste Renoir, vẽ năm 1910.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 9


Bức "Những người đi tắm" của Paul Cézanne, vẽ năm 1898 - 1905.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 10


Bức "Những phụ nữ Tahiti đi tắm" của Paul Gauguin, vẽ năm 1892.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 11


Bức "Những người đi tắm ở Asnières" của Georges Seurat, vẽ năm 1884.

Chẳng hạn như bức "Những người đi tắm ở Asnières" của Georges Seurat khắc họa cảnh tắm sông với một phong cách khiến người xem đương đại cảm thấy tác phẩm không có sự xa cách về mặt thời gian.

Bức họa đặc tả một nhóm người đi tắm sông và nằm nghỉ bên bờ sông. Quan sát kỹ hơn, người ta thấy tác phẩm hé lộ những chi tiết đương đại: Ở phía chân trời, có những nhà máy công nghiệp thuộc ngoại thành Paris, những nhà máy này nhả khói lên bầu trời.

Cảnh tắm trong hội họa thế kỷ 20

Ở thập niên 1920, cảnh tắm vẫn rất quen thuộc trong hội họa hiện đại, Matisse, Georges Braque, Pablo Picasso, Pierre Bonnard, và Jean Metzinger đều khắc họa cảnh tắm với những nét hiện đại của hội họa thế kỷ 20.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 12

Nhấn để phóng to ảnhBức "3 người đi tắm" của Henri Matisse, vẽ năm 1907.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 13


Bức "Người đi tắm" của Georges Braque, vẽ năm 1925.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 14


Bức "Đi tắm" của Pablo Picasso, vẽ năm 1908.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 15


Bức "Tắm" của Pierre Bonnard, vẽ năm 1925.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 16


Bức "Người đi tắm (Khỏa thân)" của Jean Metzinger, vẽ năm 1937.

Trường phái lập thể biến hóa hình hài quen thuộc của những người phụ nữ trở thành những mảng khối lạ lùng. Trường phái siêu thực còn đi xa hơn thế, như Salvador Dalí, ông chỉ khắc họa một phần hình thể của nhân vật. Joan Miró thậm chí khắc họa theo kiểu "ý niệm" đến mức người xem... chẳng thấy nhân vật đâu.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 17


Bức "Khỏa thân trong nước" của Salvador Dali, vẽ năm 1925.

Tại sao các nhân vật trong siêu phẩm hội họa hay... đi tắm thế? - 18


Bức "Người phụ nữ tắm" của Joan Miro, vẽ năm 1925.

Xuyên suốt lịch sử hội họa, cảnh tắm vẫn thường gắn liền với hình ảnh người phụ nữ. Có rất ít tranh khắc họa cảnh... đàn ông tắm, được biết tới nhiều nhất chắc chỉ có bức "Les Baigneurs" của Picasso. Đề tài hội họa khắc họa cảnh tắm chính là một biến thể của đề tài khỏa thân, ở đó, người ta tìm thấy vẻ đẹp, sự tôn vinh cái Đẹp.

Vẻ đẹp con người và những xúc cảm chân thật luôn là đề tài hấp dẫn đối với mọi thời đại, phản ánh quan niệm thẩm mỹ của từng thời kỳ. Bằng cách làm mới, làm sống động một đề tài cũ, các họa sĩ đã làm đổi thay nghệ thuật qua từng thời kỳ.

Bích Ngọc
Theo Artsy





Họa sĩ Trần Thế Vĩnh đang 'Vọng' về đâu?

Tiểu Vũ | 22/10/2020, 18:36

Họa sĩ Trần Thế Vĩnh đang vọng về đâu? Đó là câu hỏi thú vị dành cho triển lãm và cuốn sách cùng tên của anh vừa ra mắt công chúng hôm nay…

Ngày 22.10, họa sĩ Trần Thế Vĩnh đã có buổi giới thiệu cuốn sách Vọng và triển lãm cùng tên đến với công chúng.

51 bức tranh chân dung các nghệ sĩ tiêu biểu của Việt Nam xuất hiện trong tập sách Vọng (NXB Hội Nhà văn 10.2020) cũng được trưng bày tại phòng triển lãm mỹ thuật Mai House Saigon, TP.HCM từ ngày 28.10 - 7.11.2020.

bia-1.jpg
Bìa cuốn sách Vọng của Trần Thế Vĩnh

51 bức tranh do Trần Thế Vĩnh vẽ và đưa vào cuốn sách được xem là bức phác thảo tổng quan về những gương mặt đã làm nên một giai đoạn rực rỡ cho nền nghệ thuật nước nhà trong thế kỷ 20.

Những nhân vật xuất hiện trong tranh của Trần Thế Vĩnh ngoài họa sĩ Vĩnh Phối - người thầy thời đại học của anh, còn lại là những tên tuổi lẫy lừng như  thầy Tuệ Sỹ, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Vũ Hoàng Chương, Hoàng Cầm, Quang Dũng, nhạc sĩ Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Y Vân, Lam Phương, Trúc Phương…

pham-duy.jpg
Chân dung của cố nhạc sĩ Phạm Duy

Đặc biệt, Trần Thế Vĩnh cũng đưa vào Vọng chân dung của những nghệ sĩ  rất tài hoa nổi tiếng nhưng vì một vài lý nào đó nên họ ít được xuất hiện trên các phương tiện truyền thông như Tô Thùy Yên, Trầm Tử Thiêng, Nguyễn Hữu Đang, Hữu Loan, Trần Dần, Hoàng Thi Thơ…

tran-the-vinh-5.jpg
Trần Thế Vĩnh bên những bức chân dung văn nghệ sĩ

Dù Trần Thế Vĩnh tự nhận mình vẽ nhân vật bằng sự đồng điệu “không áp đặt”, “vẽ trong vô thức”, nhưng khi xem tranh của Vĩnh, người xem vẫn đọc được những “mật ngữ” và thông điệp ẩn giấu trong mỗi bức chân dung nhân vật. Đó là cuộc đời, thân phận và cả tác phẩm của họ thăng trầm theo chuyển biến của thời cuộc. Có những cuộc đời được nhìn nhận lại, nhưng cũng có người bị khuất lấp trong lớp bụi thời gian và sự định kiến... Vì vậy, vẽ cũng là cách để Trần Thế Vĩnh đưa những tài hoa ấy đến gần với công chúng hơn.

img_0288.jpg
Chân dung của nhà báo Nguyễn Hữu Đang

Có thể nói, mỗi bức chân dung của Trần Thế Vĩnh đều gợi nhớ một điều gì đó rất cụ thể. Ví dụ bên cạnh bức chân dung Nguyễn Hữu Đang nhà báo - văn nghệ sĩ nổi tiếng ở miền Bắc trong thập niên 40 - 50 của thế kỷ trước, Trần Thế Vĩnh viết: “Đã là một sĩ phu tất sẽ có khí phách, là một trí thức tất sẽ mong muốn tự do và sẽ chống lại áp bức bất công. Nguyễn Hữu Đang là người như thế. Trong loạn thế có thể sự lựa chọn ban đầu khác hẳn về sau, nhưng do thời thế đưa đẩy anh hùng cũng phải bị lạc lối mặc dù tâm tưởng không hề muốn”.

img_0289.jpg
Chân dung của nhà thơ Tô Thùy Yên

Nhận xét về tranh và sách Vọng, nhà nghiên cứu Hà Trọng Vũ viết: “Những gì chúng ta nhìn và thấy được từ những chân dung này qua ý thức nghệ thuật không chỉ tái hiện diện mạo nhân vật, mà ngụ ý sự đồng hiện cuộc đời, phẩm cách và tác phẩm của họ như một toàn thể. Mẫu số chung của những chân dung này là họ đều gánh chung một vận mệnh trong cái đêm dài lịch sử, và nếu ghép những gương mặt này lại, ta có được bức chân dung chung cho một thời đại nhiều biến thiên, 'rằng lời bạc mệnh cũng là lời chung'."

img_0290.jpg
Chân dung của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng

Vẽ gần như là một cái nghiệp suốt đời của Trần Thế Vĩnh, anh chia sẻ: “Ngày nào tôi cũng vẽ, và thường vẽ vào buổi chiều đến đêm khuya. Vẽ cần sự tĩnh lặng bên trong lẫn bên ngoài và cùng với đó là sự nhập tâm. Dù trước lúc ấy, tôi đã đọc và nghiên cứu nhiều tác phẩm của họ, hiểu thơ ca và tư tưởng, nhưng khi vẽ, tôi quên mọi ngôn ngữ ấy đi để tập trung vào ngôn ngữ của chính mình. Không áp đặt. Vẽ trong vô thức. Và chính lúc này là khoảnh khắc diệu kỳ tạo nên trạng thái thăng hoa để đạt được một tác phẩm tốt.

Sự định tâm vô cùng quan trọng trong nghiệp sáng tác của người họa sĩ. Quá khứ của anh ta có thể băng qua nhiều biến cố, với những vết sẹo chưa lành, nhưng anh ta phải chấp nhận rằng mọi chuyện đã trôi vào dĩ vãng, lắng đọng và sắp xếp lại, thì lúc này anh ta có thể nhìn thấy chính mình qua những gì anh ta đã trải qua.

minh-duc-hoai-trinh.jpg
Chân dung của Minh Đức Hoài Trinh - một nữ sĩ nổi tiếng ở miền Nam trước 1975

"Vẽ xong thì thật sự sung sướng, y như tôi đang đối diện với chính mình, thích có người bạn cụng ly bia và ngồi với nhau tâm sự, chia sẻ. Hoặc không, tôi sẽ châm điếu thuốc và ngắm bức hình trong trạng thái miên man, say đắm”.

Trần Thế Vĩnh sinh năm 1986, người làng Phúc Lộc, xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; tốt nghiệp Đại học Nghệ thuật Huế năm 2010. Hiện anh là một họa sĩ tự do đang sống và vẽ tại Sài Gòn.

Từ năm 2005 đến nay anh đã có hàng chục triển lãm mỹ thuật khác nhau. Trần Thế Vĩnh cũng giành giải đặc biệt Dogma vào năm 2013.

bay-co-don-cua-luong-luu-_481594919223.jpg

Nhận xét của họa sĩ Lương Lưu Biên về tranh của Trần Thế Vĩnh

“Hầu hết chân dung Vĩnh vẽ đều đạt đến những sắc thái sinh động, chân thật này, cộng với bút pháp khoáng đạt, linh hoạt, người xem thích thú với những cá tính sáng tạo khác biệt và mạnh mẽ được thể hiện. Đồng thời, sự tung tẩy của những vệt sơn cũng làm giảm đi độ chuẩn xác chi tiết, gây cảm giác xóa nhòa của thời gian, mang tính gợi ý hay tạo ra những khoảng trống để một lần nữa đến lượt người xem sẽ tự mình lấp đầy bức tranh một cách tự do bằng những cảm xúc và hiểu biết riêng tư của họ với nhân vật được vẽ. Họ sẽ như lần đầu được gặp lại những người quen đã xa cách lâu ngày với đầy tình cảm qua tác phẩm các nhân vật để lại”.




Michelangelo: Từ họa sĩ bị "bỉ bôi" tới đỉnh cao hội họa Phục hưng

Khi được giao nhiệm vụ vẽ bích họa cho trần nhà nguyện Sistine, Michelangelo đã phải nhận lấy sự nghi ngờ của giới mỹ thuật đương thời. Họ xì xầm nghi ngại và cả cười thầm đắc chí.

Để họ không còn cớ gì xì xào về năng lực của mình, ông chỉ còn cách sử dụng cây cọ vẽ để tạo nên những siêu phẩm không ai chối cãi được. Giờ đây, những bức bích họa trên trần nhà nguyện Sistine được xem như biểu tượng đỉnh cao của nghệ thuật Phục hưng.

Michelangelo được biết tới nhiều nhất với vai trò một nghệ sĩ điêu khắc, cho tới khi Giáo hoàng Julius II quyết định giao cho ông nhiệm vụ vẽ bích họa cho trần nhà nguyện Sistine. Chàng thanh niên xứ Florence mới 24 tuổi khi thực hiện bức tượng "Pieta" khắc họa Đức Mẹ ôm thi hài Chúa. Bức tượng "David" của Michelangelo khi ấy cũng cho thấy tài năng của Michelangelo trong đặc tả cơ thể người.

Nhưng người đương thời chưa biết tới ông trong vai trò họa sĩ bậc thầy. Những màu sắc và bố cục các bức bích họa trên trần nhà nguyện Sistine cho tới nay vẫn còn mê hoặc hậu thế. Những tác phẩm này là minh chứng ngoạn mục cho thấy năng lực hội họa thiên tài của Michelangelo. Nhưng trước khi bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ, Michelangelo đã gặp vô vàn khó khăn...

Michelangelo: Từ họa sĩ bị bỉ bôi tới đỉnh cao hội họa Phục hưng - 1


Michelangelo được biết tới nhiều nhất với vai trò một nghệ sĩ điêu khắc, cho tới khi Giáo hoàng Julius II quyết định giao cho ông nhiệm vụ vẽ bích họa cho trần nhà nguyện Sistine.

Hồi đầu thế kỷ 16, Rome là một tâm điểm của nghệ thuật, rất nhiều công trình lớn được tu bổ, sửa sang, được tô điểm bằng các tác phẩm nghệ thuật, các bức bích họa. Nhiều họa sĩ danh tiếng khi ấy đã có mặt ở Rome, đẳng cấp của họ được thể hiện qua công trình mà họ được giao phó đảm nhận.

Khi ấy, Michelangelo chủ yếu được biết tới với vai trò nghệ sĩ điêu khắc, vốn bị nghi ngờ về năng lực hội họa, ông đã bị các đối thủ gièm pha khi được giao đảm nhận việc thực hiện loạt bích họa trên trần nhà nguyện Sistine, thậm chí, nhiều đối thủ còn háo hức coi nhiệm vụ này là một thách thức, một cái bẫy có thể vĩnh viễn nhấn chìm tên tuổi Michelangelo.

Khi ấy, nhà nguyện Sistine so với các công trình khác ở Rome chỉ là một công trình giản dị và đương nhiên là một dự án "hạng nhẹ" dành cho họa sĩ "hạng hai".

Nhưng ngay cả với dự án "hạng hai" này, các đối thủ trong lĩnh vực nghệ thuật của Michelangelo lúc bấy giờ cũng vẫn cảm thấy ông không xứng đáng được giao, họ thậm chí còn "hí hửng", bởi họ tin rằng ông không có năng lực hội họa thực thụ, chỉ cần thực hiện vài mảng bích họa đầu tiên là sẽ bị bẽ mặt vì năng lực quá yếu kém, không đảm đương nổi công trình.

Những sự nghi ngờ

Michelangelo: Từ họa sĩ bị bỉ bôi tới đỉnh cao hội họa Phục hưng - 2


Khi được giao nhiệm vụ vẽ bích họa cho trần nhà nguyện Sistine, Michelangelo đã phải nhận lấy sự nghi ngờ của giới mỹ thuật đương thời. Họ xì xầm nghi ngại và cả cười thầm đắc chí.

Những ý kiến phản đối công khai việc giao cho Michelangelo đảm đương công trình đã chỉ rõ ra rằng Michelangelo vốn chỉ được học sơ qua về bích họa tại xưởng của họa sĩ Domenico Ghirlandaio ở Florence hồi năm 13 tuổi. Michelangelo thực tế chưa có tác phẩm bích họa để được giới làm nghề công nhận về năng lực.

Hơn thế, ngay chính Michelangelo cũng từng nói về những yếu điểm của mình trong hội họa, và chính ông tự nhận rằng tài năng thực thụ của mình là dành cho điêu khắc chứ không phải hội họa.

Khi ấy, những bức bích họa trên các bức tường đứng của nhà nguyện Sistine đã được thực hiện bởi các họa sĩ khác. Michelangelo được giao nhiệm vụ vẽ bích họa trên toàn bộ trần của nhà nguyện, một cấu trúc đồ sộ trải ra trên hơn 500 mét vuông. Đây là một công việc gây choáng ngợp đối với cả những họa sĩ tài năng và giàu kinh nghiệm với rất nhiều khó khăn, thử thách.

Mặc dù vậy, Michelangelo không nao núng, ông là một nghệ sĩ giàu tính thực tế, ông hứng thú với những khoản thù lao được đưa ra và cũng rất biết cách để thương lượng thêm nữa. Muốn làm Michelangelo sợ hãi, nản lòng và từ bỏ ngay từ khi chưa bắt tay vào công việc là không đơn giản.

Những kế hoạch phác thảo cũng được phía tòa thánh Vatican đưa ra nhằm hỗ trợ Michelangelo, nhưng ông đều gạt đi vì cho rằng các ý tưởng ấy... quá "xoàng", sau cùng, ông được quyền tự thực hiện theo ý tưởng của riêng mình. Công việc này sẽ kéo dài trong 4 năm, bắt đầu từ năm 1508.

Các bức bích họa do Michelangelo thực hiện trên trần nhà nguyện Sistine khắc họa những điều được kể trong Kinh thánh, về sự sáng tạo ra thiên đàng, ra đất, ra nước, ánh sáng, bóng tối, loài người, về chuyện của Adam và Eve ở vườn địa đàng, về trận đại hồng thủy...

Những thách thức

Michelangelo: Từ họa sĩ bị bỉ bôi tới đỉnh cao hội họa Phục hưng - 3


Khắc họa đặc tả "Sự tạo ra Adam"

Những vấn đề đã nảy sinh trong quá trình Michelangelo thực hiện các bức bích họa. Ông vẽ màu trực tiếp trên lớp vữa thạch cao ẩm, bằng cách ấy, màu sẽ thực sự thấm sâu bám chắc, nhưng điều này đòi hỏi người thực hiện phải chính xác trong từng động tác, không có chỗ cho sai lầm và cũng không thể sửa chữa được.

Thời gian cũng là thách thức đối với Michelangelo, ông phải tranh thủ khi ánh sáng mặt trời còn đủ để làm việc cặm cụi không nghỉ với tư thế duy nhất là ngồi trên giàn giáo và ngửa cổ vẽ trong suốt 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Khi kết thúc một ngày làm việc, ông luôn mệt mỏi rã rời.

Hơn thế, phương pháp thực hiện bích họa ở Florence mà ông vốn quen thuộc lại không phù hợp với khí hậu ở Rome, một số bức bích họa vừa thực hiện xong thì bị nấm mốc, lại phải gỡ bỏ để thực hiện lại, ban đầu, mọi việc diễn ra rất chậm chạp khiến các chức sắc ở tòa thánh Vatican cảm thấy sốt ruột và liên tục phải giục giã Michelangelo xúc tiến công việc.

Rất nhiều căng thẳng đã xảy ra, nhưng cuối cùng, vào năm 1512, sau 4 năm làm việc tận hiến cả về thể chất và tinh thần, Michelangelo đã hoàn tất công việc có tính chất biểu tượng đối với hội họa thời kỳ Phục hưng.

Quay trở lại nhà nguyện

Michelangelo: Từ họa sĩ bị bỉ bôi tới đỉnh cao hội họa Phục hưng - 4


Khắc họa đặc tả "Sự tạo ra Eva"

Những đóng góp nghệ thuật của Michelangelo dành cho nhà nguyện Sistine vẫn chưa dừng lại. Hơn 20 năm sau, vào năm 1536, phía tòa thánh Vatican lại mời Michelangelo thực hiện một bức bích họa nữa để khắc họa "Sự phán xét cuối cùng" trên bức tường phía sau bệ thờ.

Khi ấy, Michelangelo đã hơn 60 tuổi, ông nhận lời, và khi tác phẩm được hoàn tất vào năm 1541, tác phẩm ấy một lần nữa lại khiến người ta choáng ngợp và là bằng chứng vững bền cho thấy tài năng hội họa thực thụ của ông qua năm tháng.

"Sự phán xét cuối cùng"

Trải qua thời gian hàng thế kỷ với những biến động lớn trong xã hội, những thay đổi về quan niệm thẩm mỹ, cách thức tư duy đã khiến các bức bích họa của Michelangelo cũng phải chịu đựng những sự phán xét trái chiều qua từng thời kỳ.

Đã có lúc người ta lên án việc chi ra nhiều tiền để trưng trổ nghệ thuật như vậy là không phù hợp, đã có lúc người ta cho rằng những hình ảnh khỏa thân mà Michelangelo khắc họa trong nhà nguyện là quá đà, các chi tiết nhạy cảm ấy cần phải bị "kiểm duyệt". Sau đó, những đặc tả nhạy cảm về cơ thể người đã phải bị che đi.

Michelangelo: Từ họa sĩ bị bỉ bôi tới đỉnh cao hội họa Phục hưng - 5


Khắc họa đặc tả "Sự sa ngã khiến Adam và Eva bị đuổi khỏi thiên đàng"

Ngay sau khi Michelangelo qua đời ở tuổi 88 hồi năm 1564, họa sĩ Daniele da Volterra đã là người đầu tiên được giao nhiệm vụ chỉnh sửa lại những tác phẩm có yếu tố khỏa thân nhạy cảm trong nhà nguyện Sistine, hình vẽ những chiếc lá, những lớp vải đã được thực hiện đè lên trên tác phẩm nguyên bản.

Sau cùng, đến thập niên 1980 - 1990, một cuộc phục chế quan trọng đã được tiến hành trên các bức bích họa trong nhà nguyện Sistine, những mảng màu che phủ, những chiếc lá "tế nhị" được các chuyên gia xóa bỏ đi, để những lớp màu chân thực, những chi tiết sống động mà Michelangelo từng thực hiện được hé lộ trở lại.

Những khắc họa bậc thầy của Michelangelo về cơ thể người cũng được nhìn nhận xứng tầm hơn. Cho tới tận hôm nay, những bức bích họa của nhà nguyện Sistine vẫn có sức hút lớn đối với công chúng.

Đứng trước những tác phẩm bích họa này, người xem luôn bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp và chiều sâu của tác phẩm.

Những bức bích họa trên trần nhà nguyện Sistine là minh chứng cho hai năng lực nghệ thuật thiên tài của Michelangelo - hội họa và điêu khắc, đây cũng được xem là đỉnh cao của hội họa Phục hưng và cho tới giờ, vẫn còn khiến hậu thế mê mải nhìn ngắm.

Bích Ngọc
Theo National Geographic




Bức họa của cố họa sĩ Mai Trung Thứ từng xuất hiện trong phim 'Mùi đu đủ xanh' sắp lên sàn đấu giá Sotheby’s

Nhật Hạ | 08/03/2021, 15:12

Xuất hiện trong nhiều phân cảnh phim “Mùi đu đủ xanh” (1993) của đạo diễn Trần Anh Hùng, tác phẩm hội họa mang tên “Portrait de Mademoiselle Phuong” (Chân dung cô Phương) của cố danh họa Mai Trung Thứ có mặt trên sàn đấu giá Sotheby’s.

Chân dung cô Phương là tác phẩm tranh sơn dầu của danh họa Mai Trung Thứ (1906-1980) vẽ vào năm 1930.

mudidudu.jpg
Bức họa "Chân dung cô Phương" của cố danh họa Mai Trung Thứ

Bức tranh miêu tả chân dung cô Phương ngồi thư thái trên băng ghế gỗ, màu sắc ánh vàng nhẹ nhàng vô cùng tinh tế đặc trưng của danh hoạ. Khi cho ra đời tác phẩm này, cố danh họa Mai Trung Thứ vẫn đang làm giáo viên dạy vẽ tại trường Lycée Francais de Hue (Trung học Pháp tại Huế).

Mai Trung Thứ là một họa sĩ nổi tiếng của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Ông là một trong những họa sĩ tốt nghiệp khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Phần lớn cuộc đời ông sống và hoạt động nghệ thuật tại nước Pháp.

Chân dung cô Phương là một tác phẩm khá hiếm về chất liệu cũng như thuộc thời kỳ đầu của danh họa trước khi sang Pháp. Đây cũng là một trong số ít bức tranh được chọn cho Exposition Coloniale Internationale (Triển lãm quốc tế thuộc địa) tại Paris vào năm 1931.

Bức họa Chân dung cô Phương sau này thuộc sở hữu của bà Dothi Dumonteil, một người Pháp gốc Việt. Dothi Dumonteil cùng chồng Pierre Dumonteil, một nhà môi giới nghệ thuật, sở hữu bộ sưu tập nghệ thuật châu Á đồ sộ. Cô cũng từng là nguồn cảm hứng cho các thiết kế Haute Couture của nhà thiết kế tài năng Pháp Yves Saint Laurent.

duduxanh.jpg
Bức tranh xuất hiện len lỏi trong một phân cảnh bộ phim Mùi đu đủ xanh của đạo diễn Trần Anh Hùng 

Tác phẩm này sau đó đã được Trần Anh Hùng, đạo diễn gốc Việt mượn và đưa vào một số phân cảnh của phim “Mùi đu đủ xanh” (The Scent of Green Papaya).

Vào 18.4 tới, cùng với nhiều tác phẩm khác trong bộ sưu tập nghệ thuật hiện đại của bà Dothi Dumonteil, bức họa Chân dung cô Phương sẽ lên sàn đấu giá Sotheby’s. Theo ước tính, giá của tác phẩm sẽ được bán từ 50.000 đến 80.000 USD.




Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm

Vẻ đẹp gợi cảm và sức mạnh quyền lực trong tranh Titian thể hiện sự nắm bắt tâm lý rất tốt của ông đối với các nhà quý tộc đương thời - những người say mê ái tình và săn bắn.

Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm - 1


Chân dung tự họa của Titian (thực hiện vào năm 1567)

Ngày 27/8/1576, danh họa Titian (tên thật Tiziano Vecellio) qua đời vì bệnh dịch tại Venice. Khi ấy, ông đang ở tuổi gần 90, người ta không thể biết chính xác tuổi của ông bởi năm sinh của ông không còn được lưu lại rõ ràng.

Vài tuần sau khi Titian qua đời, người con trai mà ông yêu thương và đánh giá cao nhất, người mà ông kỳ vọng sẽ có thể kế nghiệp mình, cũng ra đi vì bệnh dịch.

Trong cuộc đời của vị danh họa bậc thầy người Ý, ông và xưởng vẽ do ông đứng đầu đã thực hiện nhiều siêu phẩm hội họa, đáng kể trong số này phải nói tới bộ 7 bức tranh trong chùm tranh "Poesie" (Những bài thơ) được thực hiện và hoàn tất trong khoảng thời gian từ năm 1551 tới 1562.

Chùm tranh này được vị danh họa lấy cảm hứng từ bài thơ được sáng tác từ hồi thế kỷ thứ nhất bởi nhà thơ Ovidius - bài thơ "Metamorphoses", trong đó, những câu chuyện thần thoại về sự hình thành và biến đổi của thế giới được khắc họa qua những câu thơ.

Bộ tranh "Poesie" được đặt hàng thực hiện bởi nhà vua Philip II của Tây Ban Nha. Nhà vua cho phép vị danh họa - người đang được xem là họa sĩ nổi tiếng nhất Châu Âu thời bấy giờ - được tự do sáng tạo trong quá trình thực hiện tác phẩm.

Tính đến nay, chùm tranh này đã có lịch sử tồn tại hơn 440 năm và vẫn tiếp tục được hậu thế đánh giá cao, coi như những siêu phẩm hội họa vô giá. Trải qua thời gian, chùm tranh này đã phân tán, xé lẻ, thuộc về các viện bảo tàng, các bộ sưu tập khác nhau.

Những chủ đề mà Titian lựa chọn khắc họa trong chùm tranh rất bạo liệt, như cưỡng bức, sát hại, như lừa dối, bắt cóc...

Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm - 2


Bức "Danae" (thực hiện từ năm 1554 tới 1556).

Trong bức "Danae" (thực hiện từ năm 1554 tới 1556), người con gái của vua Acrisius xứ Argos đang tình tự với thần Jupiter - vua của các vị thần, thần Jupiter đã hóa thân thành một cơn mưa vàng tìm đến gặp nàng Danae được vua cha giấu kín trong hậu cung.

Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm - 3


Bức "Venus và Adonis" (thực hiện năm 1554).

Trong bức "Venus và Adonis" (thực hiện năm 1554), nữ thần Venus khẩn nài người tình Adonis đừng đi săn, bởi nàng biết Adonis sẽ chết trong lúc đi săn. Adonis không nghe theo, chàng muốn nhanh chóng thoát ra khỏi vòng tay của nàng, sau đó, Adonis đã bị đâm chết bởi một con lợn rừng.

Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm - 4


Bức "Diana và Actaeon" (thực hiện từ năm 1556 tới 1559).

Bức "Diana và Actaeon" (thực hiện từ năm 1556 tới 1559) khắc họa chàng thợ săn trẻ tuổi Actaeon vô tình lạc vào nơi nữ thần Diana và các tiên nữ của nàng đang tắm.

Diana đáp trả lại ánh nhìn của Actaeon bằng một ánh nhìn dữ dội tựa một tia sét giáng xuống chàng trai trẻ, Actaeon giơ tay lên chống đỡ để kháng cự lại sự trừng phạt kinh hoàng dành cho mình, nhưng không thể nào, bởi nữ thần Diana đã biến chàng trở thành một con hươu và chàng sẽ bị chính bầy chó săn của mình... xé xác.

Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm - 5


Bức họa đặc tả cái chết bi kịch của Actaeon bắt đầu được thực hiện từ năm 1559.

Bức họa đặc tả cái chết bi kịch của Actaeon cũng nằm trong chùm tranh này, tác phẩm bắt đầu được thực hiện từ năm 1559 nhưng được tiến hành suốt nhiều năm mà không thể hoàn tất, và cũng không thể giao tới tay nhà vua.

Chính danh họa Titian lúc sinh thời cũng chưa từng được nhìn thấy bộ tác phẩm hội họa của mình được xuất hiện cạnh nhau. Khi ông hoàn thành xong một tác phẩm, tác phẩm ấy sẽ nhanh chóng được giao tới nhà vua Philip II của Tây Ban Nha. Cho tới khi ông qua đời, bộ tranh "Poesie" còn bức "Cái chết của Actaeon" là chưa được hoàn tất và giao đi.

Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm - 6


Bức "Diana và Callisto" (thực hiện từ năm 1556 tới 1559).

Bức "Diana và Callisto" (thực hiện từ năm 1556 tới 1559) một lần nữa đặc tả cơn giận của nữ thần Diana, tiên nữ Callisto đã bị thần Jupiter lừa gạt, tình tự dẫn tới có thai. Nữ thần Diana nghiêm cấm điều này xảy ra đối với các tiên nữ đi theo mình, khi biết chuyện của Callisto, nữ thần Diana đã rất giận dữ.

Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm - 7


Bức "Perseus và Andromeda" (thực hiện từ năm 1554 tới 1556).

Bức "Perseus và Andromeda" (thực hiện từ năm 1554 tới 1556) khắc họa nàng Andromeda bị giam bên một vách đá, nàng sẽ bị quái vật biển nuốt chửng, nhưng sau cùng, Andromeda được Perseus, con trai của nàng Danae giải cứu.

Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm - 8


Bức "Cưỡng bức Europa" (thực hiện từ năm 1560 tới 1562).

Bức "Cưỡng bức Europa" (thực hiện từ năm 1560 tới 1562) khắc họa thần Jupiter hóa thành một con bò hiền lành để lừa nàng Europa.

Loạt tranh "Poesie" khắc họa những câu chuyện thần thoại qua nét vẽ của một thiên tài hội họa. Titian lúc sinh thời được đánh giá là một danh họa khôn ngoan, không chỉ bởi tài năng, mà còn bởi ông rất hiểu các khách hàng quý tộc của mình muốn gì.

Đối với những nam quý tộc giàu có thời bấy giờ, thứ mà họ yêu thích và quan tâm nhất chính là tình ái và săn bắn, vì vậy, Titian đã lựa chọn "lẩy" ra những câu chuyện thần thoại có chứa đựng những yếu tố này để làm thỏa mãn sở thích riêng của khách hàng đặt tranh.

Sinh thời, ông được giới mỹ thuật nhìn nhận là "mặt trời giữa những vì sao", ông là một trong những danh họa người Ý tài hoa bậc nhất, đặc biệt ông có ưu thế với tranh chân dung khắc họa trên nền phong cách, phảng phất những câu chuyện thần thoại - tôn giáo.

Phong cách hội họa của ông có ảnh hưởng đối với các họa sĩ trong thời kỳ hội họa Phục hưng tại Ý và cả trong nhiều thế hệ họa sĩ phương Tây sau này.

Sự nghiệp của ông thành công ngay từ bước khởi đầu, ông được các quý tộc săn đón, bảo trợ và đặt hàng tác phẩm, Titian chắc chắn không chỉ tài năng mà còn là một đầu óc khôn ngoan để giới quý tộc vừa trân trọng tài năng vừa ưa chuộng phong cách của ông.

Bộ tranh thần thoại 7 bức có sức mê hoặc suốt 440 năm - 9


Bức "Pietà" - bức họa cuối cùng do Titian thực hiện, được vẽ hoàn tất trong năm 1576.

Trong cuộc đời trải dài của mình, phong cách hội họa của Titian cũng có những thay đổi mạnh mẽ qua thời gian, nhưng trước sau gì, người ta vẫn nhận thấy sự hứng thú lớn lao của ông đối với các gam màu, để biểu đạt được những sắc thái tình cảm sinh động của chính tác giả và nhân vật mà ông khắc họa.

Nhưng cũng có nhiều điều ẩn ý đáng nói đến ở đây, qua cách lựa chọn đề tài phản ánh trong chùm tranh "Poesie" của Titian, có thể thấy vị danh họa lựa chọn cách khắc họa những vị thần qua lăng kính chân thực nhất, nghĩa là họ cũng có những tật xấu, cũng có lỗi lầm, có những xúc cảm giận dữ, có những hành động mâu thuẫn với nhau.

Trải qua hàng trăm năm, những tác phẩm của bậc thầy hội họa Phục hưng - Titian vẫn tiếp tục mê hoặc hậu thế, cho thấy nghệ thuật khắc họa chân dung sống động hút hồn của ông.

Trong 26 năm cuối cùng của cuộc đời (1550-1576), Titian chủ yếu vẽ tranh cho vua Philip II của Tây Ban Nha và ông được nhắc tới chủ yếu với vai trò họa sĩ đặc tả chân dung.

Lúc này, ông càng trở nên nghiêm khắc với chính mình, Titian là một họa sĩ cầu toàn đến mức gần như không bao giờ cảm thấy thỏa mãn trước những gì mình đã thực hiện, có khi ông giữ tác phẩm lại trong xưởng vẽ đến cả thập kỷ để sửa đi sửa lại những chi tiết không ưng ý.

Ông có thể gửi trả lại tranh cho khách hàng, chỉ để rồi yêu cầu nhận lại tranh để tiếp tục sửa, thêm vào những chi tiết mới chính xác, tinh tế hơn.

Chùm tranh "Poesie" được giới nghiên cứu mỹ thuật đánh giá là bộ tác phẩm xuất sắc hàng đầu trong sự nghiệp của vị danh họa.

Bích Ngọc
Theo Frieze



Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19

TPO - Thông qua vẽ tranh, một nữ họa sĩ nghiệp dư đã mô tả trọn vẹn và sinh động về cuộc sống trong một năm thi hành lênh đóng cửa ở Anh do đại dịch COVID-19.


Nữ họa sĩ ở độ tuổi 60 Sue Prince sống cùng chồng, ông Terry, tại một trang trại chăn nuôi bò hữu cơ thuộc quận Peak (vùng cao ở Anh). Cặp vợ chồng già bắt đầu thực hiện lệnh đóng cửa vào ngày 23/3/2020. Trong suốt một năm qua, họ trải qua cuộc sống tách biệt với xã hội. Gần đây, Sue được tiêm mũi vắc xin phòng COVID-19 đầu tiên.

Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 1 Nữ họa sĩ Sue Prince.

Trong thời gian này, Sue đã tìm ra cách tiêu khiển để chống buồn chán. Đó là vẽ lại sinh hoạt đời thường của bà và chồng giữa lệnh đóng cửa, từ những ngày tóc bết đến tập thể dục tại nhà thông qua Zoom… Không những chịu đừng cuộc sống bí bách, Sue còn mất cả cha ruột, ông Brian Norrie. Cha của Sue ra đi ở tuổi 91 do COVID-19 vào tháng 12/2020.

“Là một họa sĩ, cuộc sống của tôi là về những hình ảnh xung quanh tôi và vẽ lại những gì đang diễn ra. Chúng đã nhận được phản hồi đáng kinh ngạc trên mạng xã hội, được xem hàng nghìn lần. Mỗi bức vẽ mất khoảng 1-2 giờ. Nó giúp tôi cảm thấy ổn hơn trong khoảng thời gian kỳ lạ này”, Sue nói.

Sue sau đó đã gộp 84 bức tranh vẽ trong suốt một năm “ác mộng” thành cuốn sách tranh có tên “The Isolation Chronicles” (tạm dịch: Biên niên sử cô lập). Cuốn khách được bán trực tuyến với giá 34 bảng Anh (1 triệu đồng). Sắp tới, Sue tiếp tục cho ra mắt cuốn sách thứ hai với 96 bức tranh.

Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 2 Ngày 23/3/2020, Anh thi hành lệnh đóng cửa. Sue và chồng phải hủy hết mọi cuộc hẹn.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 3 Sue đến thăm bố trong viện dưỡng lão. Cái ôm lúc này cũng là xa xỉ vì phải giãn cách xã hội.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 4 Nữ họa sĩ thức dậy vào 3h30 sáng vì gặp ác mộng.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 5 Giải trí bằng cách giải đố trực tuyến.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 6  Đi mua sắm phải tuân thủ các nguyên tắc: Đeo khẩu trang, rửa tay và giữ khoảng cách.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 7 Mọi thứ trở nên yên tĩnh. Sue giết thời gian bằng cách đi bộ trên con đường vắng người.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 8 Cập nhật tin tức hàng ngày.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 9 Tham gia cuộc nhậu "từ xa" với hàng xóm.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 10 Cặp vợ chồng già được con rể hướng dẫn xem phim trực tuyến.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 11 Sue chỉnh lại tóc trước khi bắt đầu cuộc gọi video qua Zoom.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 12 Khi hy vọng COVID-19 bị đánh bại vào mùa thu dần tắt, Sue bắt đầu kế hoạch chống dịch vào mùa đông.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 13 Cảm giác lấy mẫu xét nghiệm COVID-19 không hề dễ chịu.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 14 Hát đồng ca qua Zoom.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 15 Nắm lấy tay bố lần cuối trước khi ông qua đời vào ngày 20/12/2020.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 16 Tập thể dục để nâng cao sức khỏe tại nhà.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 17 Nhen nhóm hy vọng khi chính quyền vạch ra lộ trình thoát khỏi lệnh đóng cửa.
Bộ tranh kể về một năm 'ác mộng' tách biệt với xã hội do COVID-19 - ảnh 18 Sue đã được tiêm phòng và chính thức trở lại cuộc sống bình thường.



Giới hội họa xôn xao quanh bức "Bữa tối cuối cùng"

Bức họa "Bữa tối cuối cùng" vốn được treo trong một nhà thờ ở hạt Herefordshire (Anh) trong 110 năm qua rất có thể là một tác phẩm bị thất lạc của danh họa người Ý Titian (1488 - 1576).

Giới hội họa xôn xao quanh bức Bữa tối cuối cùng - 1


Bức họa "Bữa tối cuối cùng" vốn được treo trong một nhà thờ ở hạt Herefordshire (Anh) trong 110 năm qua rất có thể là một tác phẩm bị thất lạc của danh họa người Ý Titian (1488 - 1576).

Mới đây, nhà nghiên cứu hội họa người Anh Ronald Moore đã cho ra mắt một đầu sách tổng hợp những kết quả nghiên cứu của ông xung quanh một bức họa nằm trong nhà thờ St Michael and All Angels ở thị trấn Ledbury, theo ông Moore, đây chính là một tác phẩm hội họa bị lãng quên của danh họa Titian. Ông Moore đã có những phát hiện quan trọng trong quá trình phục chế tác phẩm.

Bức tranh khổ lớn với chiều dài gần 4 mét này có những nét đặc trưng trong phong cách hội họa của Titian. Nhà nghiên cứu Ronald Moore tin rằng tác phẩm này có thể không do Titian đích thân thực hiện từ đầu đến cuối, nhưng rất có thể tác phẩm thuộc về xưởng vẽ do Titian sở hữu, chứa đựng những ý tưởng, phác họa của Titian và được các học trò thực hiện dưới sự giám sát của ông.

Trong tranh, một trong các tông đồ của Chúa có gương mặt rất giống diện mạo của danh họa Titian lúc sinh thời. Khi nghiên cứu kỹ tác phẩm bằng phương pháp chụp chiếu để phát hiện ra những chi tiết nằm ẩn dưới lớp màu vẽ, người ta còn phát hiện ra chữ ký của danh họa.

Nhà nghiên cứu hội họa Ronald Moore quan tâm tới bức họa này sau khi tìm thấy một lá thư được viết từ năm 1775 bởi một người từng sở hữu tác phẩm này - nhà sưu tầm hội họa John Skippe. Ông này chia sẻ trong thư rằng bức tranh vốn được một tu viện ở Venice (Ý) đặt hàng với xưởng vẽ của Titian.

Giới hội họa xôn xao quanh bức Bữa tối cuối cùng - 2


Chân dung của Titian (phải) thời trẻ được khắc họa trong diện mạo của một tông đồ (trái).

Giới hội họa xôn xao quanh bức Bữa tối cuối cùng - 3


Chữ ký của Titian xuất hiện trên một chiếc bình màu đen, đây cũng là vị trí đặt chữ ký của Titian trên một bức "Bữa tối cuối cùng" khác.

Ông John Skippe, vốn cũng là một họa sĩ, đã viết trong thư rằng ông mua bức tranh này từ một tu viện ở Venice, và khẳng định đây chính là tác phẩm của Titian.

Về sau này, tác phẩm này được tặng cho nhà thờ St Michael and All Angels ở thị trấn Ledbury (Anh) bởi một hậu duệ của ông Skippe vào năm 1909. Nhưng ở thời điểm trao tặng, những manh mối xác thực cho thấy đây là tác phẩm của Titian đã bị quên lãng.

Ông Moore bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm này sau khi được nhà thờ St Michael and All Angels mời tới phục chế một tác phẩm khác. Trong quãng thời gian 3 năm, ông Moore đã nghiên cứu kỹ lưỡng tác phẩm này.

"Có rất nhiều tác phẩm hội họa được treo trong các nhà thờ, thoạt trông có vẻ đều là tranh được thực hiện bởi các bậc thầy hội họa, nhưng kỳ thực đó đều là những tác phẩm học theo phong cách của các bậc thầy và được thực hiện ở giai đoạn sau. Với bức tranh này, tôi cảm nhận thấy nó khá đặc biệt, nhưng tôi không biết kỳ thực tác phẩm đặc biệt tới mức nào, cho tới khi bắt tay vào nghiên cứu kỹ lưỡng", ông Moore cho hay.

Trong quá trình tiến hành phục chế tác phẩm, ông Moore kinh ngạc nhận thấy có chữ ký của Titian xuất hiện trên tác phẩm, hơn thế, chân dung của một tông đồ được khắc họa trong tác phẩm rất giống với diện mạo của danh họa Titian thời trẻ.

Giới hội họa xôn xao quanh bức Bữa tối cuối cùng - 4


Chữ ký này giờ đây chỉ còn được nhìn thấy mờ mờ qua chụp chiếu.

Giới hội họa xôn xao quanh bức Bữa tối cuối cùng - 5


Nhà thờ St Michael and All Angels ở thị trấn Ledbury (Anh).

Sự giống nhau ở khắc họa chân dung của nhân vật tông đồ với chân dung của danh họa Titian không chỉ đơn thuần được xác nhận bằng mắt thường, mà còn bằng cách sử dụng các phần mềm nhận diện gương mặt để so sánh mức độ tương đồng. Kết quả cho thấy các đường nét của tai, mắt, mũi... đều ăn khớp.

Chữ ký của Titian trên tranh nằm ẩn trong hình ảnh chiếc bình màu đen đặt trên sàn, đây cũng chính là vị trí chữ ký của Titian được đặt trên một bức "Bữa tối cuối cùng" khác vốn cũng do ông thực hiện.

Bích Ngọc
Theo Daily Mai



Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa

 Các thi sĩ xuất hiện mỗi người mỗi vẻ qua bộ tranh ký họa chân dung kỳ công của họa sỹ Lê Sa Long.

Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa

Do ảnh hưởng của dịch COVID-19, Ngày thơ Việt Nam năm nay không thể diễn ra ở các tỉnh, thành trên cả nước. Nhân dịp này, họa sỹ Lê Sa Long giới thiệu bộ tranh ký họa sinh động chân dung các nhà thơ có nhiều đóng góp tích cực trên văn đàn thi ca Việt Nam.

Không còn xa lạ trong giới mỹ thuật TPHCM, họa sỹ Lê Sa Long (hội viên Hội Mỹ thuật TPHCM) khiến giới mộ điệu và công chúng yêu thích với nhiều bức vẽ sống động, khắc họa chân thực nhiều nhân vật khác nhau. 

Chia sẻ với Tiền Phong, họa sĩ Lê Sa Long bộc bạch: "Thơ là sự diễn đạt ngôn từ thuần khiết nhất, vì vậy tôi cảm nhận khuôn mặt mỗi nhà thơ như một cánh hoa rất đẹp - vẻ đẹp toát ra từ tâm hồn. Cho nên ở mỗi tranh, tôi đều đem hết khả năng, trút hết lòng mình với chân dung họ như một lời cảm ơn vì những cảm xúc duy mỹ mà họ mang lại làm phong phú tâm hồn tôi; cũng như họ đã làm “giàu” thêm tiếng Việt thân yêu".

Trong quá trình sáng tác, họa sĩ Lê Sa Long chứng kiến nhiều câu chuyện đến giờ anh vẫn khắc khoải mỗi khi nhớ về. Ký ức những ngày thực hiện ký họ nhà thơ Lê Minh Quốc là một trong những kỷ niệm sâu sắc mà Lê Sa Long còn nhớ mồn một. Anh kể: “Ở Việt Nam, tên tuổi nhà thơ Lê Minh Quốc có lẽ đã quá quen thuộc với mọi người và việc anh lên xe hoa ở tuổi 59 thực sự gây chấn động cho giới cầm bút. Tháng 4/2018, lễ cưới được tổ chức và năm sau bé Mì (Lê Minh Quốc Ấn) chào đời… Có cô con gái xinh xắn, anh càng làm việc hăng say hơn, cả chủ đề thơ trước đây dành cho phái đẹp nay nhường hết cho bé Mì… Vì anh không thể xa con nên khi vẽ anh, tôi phải khệ nệ mang giá, toan vẽ, màu dầu, cọ vẽ sang nhà anh 4 buổi. Khi vẽ, tôi được nghe tiếng chuông chùa gần nhà anh xen lẫn tiếng cười, khóc của bé Mì. Tinh ý bạn sẽ thấy có những vết xước là lạ trên tranh - là dấu tích do bé cũng 'xuất thần' muốn cùng tôi vẽ ba Quốc".
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 1 Chân dung ký họa nhà thơ Lê Minh Quốc dưới nét vẽ sống động của họa sĩ Lê Sa Long.

Họa sĩ Lê Sa Long cũng cho hay, tên bức tranh là “Những đôi mắt trong đêm” cũng xuất phát từ ngụ ý cho việc nhà thơ quê Quảng Nam hay thức khuya sáng tác – như những ánh đèn trên các tòa cao ốc của thành phố vẫn bật sáng xuyên đêm.

"Xúc động nhất là hôm 30/12/2020, NXB Hội Nhà văn phối hợp với Hội Nhà văn TPHCM tổ chức buổi ra mắt ấn phẩm thơ Đoàn Vị Thượng (người mà Lê Sa Long đã quen từ hơn 10 năm trước - PV). Buổi ra mắt sách thật đặc biệt khi tác giả cuốn sách không thể có mặt, nhưng bạn bè thân quý vẫn đến chật kín khán phòng.Tôi cũng có vẽ một chân dung tặng anh như một sự thể hiện tình nghĩa, tình thơ, tình bè bạn nhiệt thành, ấm áp dành cho anh.

Hôm ấy anh không có mặt nhưng anh trai anh đã thay mặt cảm ơn tôi và chia sẻ là nhà thơ rất thích và xúc động về tình nghệ sĩ", họa sỹ Lê Sa Long chia sẻ, và cho biết chưa đầy hai tháng sau ngày đó nhà thơ Đoàn Vị Thượng đã ra đi mãi mãi. "Viếng anh, nhìn thấy tranh anh treo ở phòng lòng tôi như chùng xuống", họa sĩ Lê Sa Long bộc bạch.

Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 2 Chân dung nhà thơ Đoàn Vị Thượng.

Lê Sa Long cho biết anh thích vẽ trực họa nhân vật hay người mẫu, vì nó đem lại cảm xúc mạnh và khi đó người họa sĩ có thể điều chỉnh góc độ, bố cục, ánh sáng…

"Tôi quan niệm rằng, nếu sáng tác theo chủ đề nào thì tùy vào cảm hứng, tâm trạng mà người   họa sĩ chọn ra bố cục và sử dụng màu sắc; còn nếu đã vẽ chân dung thì yếu tố quan trọng đầu   tiên là phải vẽ “giống thần thái” nhân vật đó, không cần ghi tên vẫn nhận ra nhân vật. Có những bức khi vẽ gần xong mà thấy không ra thần thái, tâm hồn nhân vật hoặc thiếu cảm   xúc thì tôi đành bỏ, vẽ lại tranh mới" - Lê Sa Long.

Cũng có những tác giả/ bạn thơ ở xa không thể tiếp xúc, hay đã mất thì họa sĩ Lê Sa Long đành phải nhờ cậy vào nguồn hình ảnh tư liệu gia đình, trang Facebook cá nhân hay trên Internet. "Có khó khăn vì không phải hình nào cũng chuẩn cũng đẹp, cũng rõ, và nhất là phải tạo ra cảm xúc, cũng như phải tưởng tượng “nhập vai” như đang vẽ tác giả trước mặt. Trên thế giới, các họa sĩ đều gặp tình huống này và phải xử lý tình huống như vậy (nhất là khi vẽ tranh đề tài lịch sử) hay chân dung gia đình…", họa sĩ Lê Sa Long nói thêm.

Họa sĩ Lê Sa Long cho biết, nếu cuối năm nay dịch COVID-19 đi qua, anh sẽ ra mắt triển lãm tranh chân dung Văn nghệ sĩ Việt Nam, trong đó có chân dung các nhà thơ yêu quý để phục vụ rộng rãi nhu cầu thưởng lãm của công chúng, bạn bè.

Cùng ngắm loạt tranh chân dung các nhà thơ được họa sĩ Lê Sa Long ký họa:

Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 3 Chân dung nhạc sĩ, thi sĩ Văn Cao.
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 4 Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 5 Nhà thơ Đỗ Trung Quân.
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 6 Nhà văn, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 7 Nhà thơ Hữu Loan.
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 8 Nhà thơ Nguyễn Duy.
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 9 Nhà thơ Du Tử Lê.
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 10 Nhà thơ  Nguyễn Thánh Ngã.
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 11 Nhà thơ, nhà báo Trần Tuấn.
Ngày thơ, ngắm chân dung các nhà thơ tên tuổi Việt Nam qua tranh ký họa  - ảnh 12 Nhà thơ Lê Thị Kim.

Họa sĩ Lê Sa Long sinh năm 1968 tại Sa Đéc ( Đồng Tháp). Từng đậu thủ khoa Đại học Mỹ thuật TPHCM năm 1994. Anh hiện là giảng viên Đồ họa Trường Đại học Mở TPHCM, hội viên Hội Mỹ thuật TPHCM.

Họa sĩ Lê Sa Long từng đoạt giải nhất “Chân dung ký họa màu nước” do Hội Mỹ thuật TPHCM tổ chức (năm 1999), giải nhì cuộc thi “Vẽ về Đất nước con người Rumani” nhân kỷ niệm 100 năm Quốc khánh Rumani (1/12/1918 – 1/12/2018) do Lãnh sự quán Rumani tại TPHCM tổ chức (1/2019), cùng nhiều giải thưởng khác. Anh cũng tham gia nhiều triển lãm trong và ngoài nước.

Tháng 4/2020, họa sĩ Lê Sa Long thực hiện triển lãm cá nhân “Lời thiên thu gọi” gồm 32 tranh về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Sau đó là triển lãm “Khẩu trang và người nổi tiếng” gồm 40 tranh người nổi tiếng đeo khẩu trang, diễn ra từ ngày 24/10 đến đầu tháng 11/2020.




Lần đầu tiên được xem tranh Van Gogh giấu kín suốt một thế kỷ

Bức tranh do danh họa Vincent Van Gogh vẽ từ năm 1887 lần đầu tiên được trưng bày để công chúng chiêm ngưỡng sau hơn một thế kỷ giấu kín.

Lần đầu tiên được xem tranh Van Gogh giấu kín suốt một thế kỷ - 1


Bức "Scène de rue à Montmartre" (Cảnh đường phố ở Montmartre)

Bức "Scène de rue à Montmartre" (Cảnh đường phố ở Montmartre) đã nằm trong bộ sưu tập tư nhân của một gia đình tại Pháp trong suốt hơn một thế kỷ qua. Giờ đây, bức tranh sẽ lần đầu tiên được trưng bày để công chúng chiêm ngưỡng kể từ khi tác phẩm được danh họa Van Gogh thực hiện hồi mùa xuân năm 1887.

"Scène de rue à Montmartre" nằm trong một chùm tranh khắc họa quang cảnh nhìn từ nơi có cối xay gió Moulin de la Galette, đây là khu vực đỉnh đồi Montmartre, từ đây, có thể trông rộng ra quang cảnh xung quanh thành phố.

Bức họa được thực hiện trong quãng thời gian hai năm mà vị danh họa người Hà Lan lưu lại thành phố Paris trong căn hộ ở chung với người em trai Theo nằm trên đường Rue Lepic.

Bức tranh đã thuộc về một nhà sưu tầm người Pháp hồi năm 1920, bức họa vẫn thuộc về gia đình này kể từ đó đến nay và chưa từng được trưng bày ra trước công chúng. Tác phẩm tới đây sẽ được đem triển lãm tại London, Amsterdam và Paris trước khi được rao bán đấu giá vào tháng 3 năm nay. Tác phẩm được kỳ vọng sẽ đạt mức giá từ 5-8 triệu euro (tương đương từ 140 đến 224 tỷ đồng).

"Rất ít tác phẩm được Van Gogh thực hiện từ thời kỳ này còn thuộc về những nhà sưu tập tư nhân, đa phần các tác phẩm từ thời ấy đều đã thuộc về các viện bảo tàng danh tiếng trên thế giới. Sự xuất hiện của tác phẩm này trên thị trường không nghi ngờ gì sẽ trở thành một sự kiện quan trọng", đại diện nhà đấu giá tại Pháp cho hay.

Thời kỳ này, khu vực Montmartre nhanh chóng biến đổi từ một ngôi làng bình dị, có tính chất thôn quê, trở thành một khu náo nhiệt rất được người Paris yêu thích tìm đến bởi có nhiều quán cafe, nơi đây cũng là điểm đến thu hút giới nghệ sĩ, học giả và nhà văn bởi có một bầu không khí phóng khoáng rất khác biệt.

Van Gogh sống tại Paris trong hai năm, từ năm 1886 tới 1888, sau đó, ông chuyển tới sống ở thành phố Arles (Pháp). Chính thời kỳ lưu lại Paris đã tạo nên nền tảng cho phong cách độc đáo của Van Gogh về sau này.

Lúc này, Van Gogh đang chịu ảnh hưởng của những danh họa thuộc trường phái ấn tượng như Monet và Pissarro, ông cũng bị hấp dẫn bởi những họa sĩ trẻ đương thời như Paul Signac, Émile Bernard và Henri de Toulouse-Lautrec.

Bích Ngọc
Theo The Guardian



Dòng chữ viết trên siêu phẩm "Tiếng thét" hé lộ điều bí mật

Dòng chữ viết bằng bút chì trên tranh đã trở thành chủ đề gây tranh cãi trong giới chuyên gia mỹ thuật từ lâu, gần đây, có phát hiện mới xung quanh dòng chữ này.

Dòng chữ viết trên siêu phẩm Tiếng thét hé lộ điều bí mật - 1


Bức họa "Tiếng thét" trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Na Uy

Bức họa này có thể hé lộ về tình trạng sức khỏe tinh thần của danh họa người Na Uy Edvard Munch (1863 - 1944). Bức họa "Tiếng thét" (thực hiện năm 1893) đã trở nên quen thuộc đối với công chúng từ hơn một thế kỷ nay. Tác phẩm cũng khiến giới chuyên gia mỹ thuật không ngừng phân tích, đưa ra những cách hiểu xung quanh một tác phẩm trứ danh.

Nhìn chung, tác phẩm này được xem như một ẩn dụ về sự khủng hoảng, về nỗi giận dữ trong sự tồn tại của con người. Tác phẩm đã đi vào văn hóa đại chúng và còn trở thành cảm hứng cho những biểu tượng cảm xúc emoji. Mới đây, giới chuyên gia hội họa lại đưa thêm một chi tiết ấn tượng mới vào những hiểu biết chung về tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp của danh họa Edvard Munch.

Một dòng chữ nhỏ xíu được viết bằng bút chì ở góc trên bên trái của một trong bốn phiên bản của bức "Tiếng thét" đề rằng: "Chỉ có thể được vẽ nên bởi một người điên". Dòng chữ này từ lâu đã là chủ đề của những cuộc tranh cãi, bàn luận trong giới chuyên gia về việc ai là người viết ra dòng chữ này.

Ban đầu, người ta cho rằng dòng chữ này được viết bởi chính danh họa, nhưng về sau, người ta lại cho rằng đó là do một người nào đó khác viết lên. Nhưng một phân tích mới đây được tiến hành bởi các chuyên gia tại Bảo tàng Quốc gia Na Uy tin rằng dòng chữ này thực sự do chính họa sĩ Edvard Munch viết nên.

Bà Mai Britt Guleng, một chuyên gia về các tác phẩm của danh họa Munch, hiện đang làm việc tại Bảo tàng Quốc gia Na Uy, đã nghiên cứu về dòng chữ viết bằng bút chì này từ lâu, sau nhiều năm tháng cùng các cộng sự phân tích chuyên sâu về dòng chữ này, cuối cùng, bà kết luận rằng đây chính là dòng chữ viết tay của danh họa Edvard Munch.

Người ta đã phát hiện ra dòng chữ này từ năm 1904. Bà Guleng tin rằng dòng chữ này có thể tiết lộ nhiều điều về trạng thái tinh thần của danh họa. Các chuyên gia ban đầu cũng tin rằng dòng chữ này đã được ông Munch viết lên tranh hồi năm 1895, sau khi tham gia một cuộc gặp mặt, tại đây, một sinh viên y khoa đã nói rằng tác phẩm "Tiếng thét" chỉ có thể được vẽ nên bởi... một người điên.

Dòng chữ viết trên siêu phẩm Tiếng thét hé lộ điều bí mật - 2


Danh họa Edvard Munch lúc sinh thời

Bà Guleng nhận định: "Hành động viết lên tranh thể hiện nhiều điều, nó vừa là sự hài hước, dí dỏm, vừa là sự thành thật về tình trạng sức khỏe tinh thần bất ổn của ông Munch.

"Ông Munch thực ra rất nghiêm túc trong việc nhìn nhận về tình trạng sức khỏe tinh thần của mình, ông rất đau khổ bởi trong gia đình ông vốn có những thành viên có vấn đề tâm thần, ông rất lo lắng về điều đó và thường cho thấy bản thân ông cũng rất quan tâm tới chuyện này".

Ông Munch đã nhiều lần đề cập lại về cuộc gặp hồi năm 1895 trong những lá thư của mình. Bà Guleng tin rằng danh họa Munch còn bị ám ảnh về bệnh tật sau khi phải chứng kiến người chị gái qua đời vì căn bệnh lao phổi, sau này, mẹ ông cũng suy sụp sức khỏe vì cùng căn bệnh này.

Bà Guleng nhận định đây chính là những dấu hiệu khiến người ta có thể tin rằng danh họa Edvard Munch đã viết dòng chữ bằng bút chì trên tranh, như một hành động hài hước để tự ông đối diện với những chỉ trích xung quanh tác phẩm của ông, cũng như là cách để ông đối diện với những khốn cùng trong nội tâm mình, những vấn đề tâm lý vốn đã xuất hiện ở ông từ thời điểm ấy.

Bà Guleng nhận định: "Đối với ông Munch, việc ông cần phải tự kiểm soát, tự hiểu được mình cũng như cách người khác hiểu về ông rất quan trọng. Dòng chữ bút chì có thể là một hành động khiến ông có cảm giác mình nắm được quyền kiểm soát, bởi những người khác khi ấy đã nói rằng ông bị điên, việc ông viết dòng chữ bút chì lên tranh giống như kiểu: Ừ, tôi sẽ gây cười từ điều họ nói".

Dòng chữ viết trên siêu phẩm Tiếng thét hé lộ điều bí mật - 3


Bức họa "Madonna" trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Na Uy

Nhìn chung, dòng chữ này thường không được quan tâm đến và vốn vẫn được mặc định là do danh họa Munch viết lên tranh, cho tới năm 2008, chuyên gia hội họa người Na Uy - ông Gerd Woll tin rằng đây không phải dòng chữ do ông Munch viết, lúc bấy giờ, những cách nhìn nhận và luồng ý kiến trái chiều mới bắt đầu phân tách ra.

Bà Guleng và các cộng sự đã sử dụng công nghệ để phân tích nét chữ trên tranh với nét chữ của danh họa Munch trong các lá thư để đi tới kết luận rằng đây chính là chữ của ông Munch.

Tới đây, bức họa này sẽ được trưng bày trong tòa nhà mới xây của Bảo tàng Quốc gia Na Uy, nằm ở Oslo, dự kiến công trình khánh thành vào năm 2022.

Tại đây, tác phẩm sẽ được trưng bày bên cạnh những tác phẩm nổi tiếng khác của vị danh họa, như bức "Madonna", "Vũ điệu cuộc sống", "Tự họa với điếu thuốc" trong một phòng trưng bày dành riêng để tôn vinh các tác phẩm của danh họa Edvard Munch.

Nhìn chung, các chuyên gia hội họa nghiên cứu về sự nghiệp của Edvard Munch (1863 - 1944) đều hiểu rằng ông vốn biết rất rõ về những bất ổn trong sức khỏe tinh thần của mình, và Munch càng phải chịu áp lực nhiều hơn bởi cách nhìn nhận của người đương thời đối với vấn đề này, bởi khi ấy người ta vẫn còn nhiều kỳ thị khắc nghiệt.

Bích Ngọc
Theo The Guardian




Chiêm ngưỡng bức tranh chân dung đáng kể thứ hai trong lịch sử mỹ thuật

Đây là bức tranh chân dung đắt giá thứ hai trong giới mỹ thuật, được thực hiện bởi một bậc thầy của hội họa Phục hưng, hãy cùng chiêm ngưỡng bức tranh chân dung có giá hơn 2.000 tỷ đồng...

Chiêm ngưỡng bức tranh chân dung đáng kể thứ hai trong lịch sử mỹ thuật - 1


Chiêm ngưỡng bức tranh chân dung đáng kể thứ hai trong lịch sử mỹ thuật

Một bức tranh chân dung được thực hiện từ thế kỷ 15 bởi danh họa người Ý - Sandro Botticelli đã vừa được bán ra với giá 67 triệu bảng (tương đương 2.117 tỷ đồng).

Đây là mức giá kỷ lục trả cho tác phẩm của họa sĩ Sandro Botticelli tính tới thời điểm hiện tại. Bức họa "Young Man Holding a Roundel" (Chàng thanh niên cầm chiếc đĩa tròn) được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1470 - 1480 và là một trong những tác phẩm được đánh giá cao nhất của danh họa Botticelli.

Cuộc đấu giá thu hút sự quan tâm của những người mua đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Sau cùng, một người mua đến từ London (Anh) đã chiến thắng những người tham gia đấu giá khác và giành được quyền sở hữu tác phẩm.

Nhân vật xuất hiện trên chiếc đĩa tròn nhỏ là một vị thánh với bàn tay phải đang giơ lên trong một động tác như đang ban phước. Đây là một tác phẩm có thật từng được thực hiện hồi thế kỷ 14 bởi họa sĩ người Ý Bartolommeo Bulgarini.

Chiêm ngưỡng bức tranh chân dung đáng kể thứ hai trong lịch sử mỹ thuật - 2


Đây là bức tranh chân dung đắt giá thứ hai trong giới mỹ thuật, được thực hiện bởi một bậc thầy của hội họa Phục hưng, hãy cùng chiêm ngưỡng bức tranh chân dung có giá hơn 2.000 tỷ đồng...

Cuộc đấu giá đã được nhà đấu giá tổ chức trực tuyến do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Mức giá mà bức tranh chân dung này vừa đạt được đã xác lập vị thế ấn tượng cho tác phẩm, giờ đây, "Young Man Holding a Roundel" sẽ là một trong những bức tranh chân dung quan trọng nhất từng được bán ra tại một cuộc đấu giá.

Đây là bức tranh chân dung đắt giá thứ hai được thực hiện bởi một bậc thầy của hội họa Phục hưng, trước đó, bức "Salvator Mundi" của danh họa Leonardo da Vinci đã từng đạt được mức giá ngoạn mục 327 triệu bảng (tương đương hơn 10.325 tỷ đồng) tại một cuộc đấu giá tổ chức hồi năm 2017.

Giờ đây, bức "Young Man Holding a Roundel" của Sandro Botticelli sẽ đứng chung nhóm với những bức tranh đắt giá khác, như bức "Portrait of Adele Bloch-Bauer II" của danh họa Gustav Klimt (từng được bán ra với mức giá tương đương 2.020 tỷ đồng hồi năm 2006), bức "Portrait of Dr Gachet" của danh họa Vincent Van Gogh (từng đạt mức giá tương đương 1.863 tỷ đồng hồi năm 1990).

Mức giá mà bức "Young Man Holding a Roundel" vừa đạt được cũng là mức giá cao nhất trả cho một tác phẩm hội họa được bán ra tại một cuộc đấu giá trong vòng 2 năm trở lại đây.

Chiêm ngưỡng bức tranh chân dung đáng kể thứ hai trong lịch sử mỹ thuật - 3


Bức "The Birth of Venus" (Sự ra đời của thần Vệ Nữ) của danh họa Botticelli 

Bức "Young Man Holding a Roundel" đã được truyền qua nhiều thế hệ trong một gia đình quý tộc sinh sống tại Wales (Vương quốc Anh) trong suốt 200 năm.

Giới nghiên cứu mỹ thuật không biết về sự tồn tại của bức tranh này, cho tới lần đầu tiên tác phẩm này xuất hiện trên thị trường hồi đầu thế kỷ 20. Sau đó, tác phẩm đã có 40 năm trưng bày để công chúng chiêm ngưỡng, sau khi ông trùm bất động sản tại New York - Sheldon Solow mua lại tác phẩm này hồi năm 1982 với mức giá chỉ 810.000 bảng (tương đương 25,5 tỷ đồng).

Chiêm ngưỡng bức tranh chân dung đáng kể thứ hai trong lịch sử mỹ thuật - 4


Bức "Primavera" của danh họa Botticelli 

Tác phẩm đã được trưng bày tại nhiều triển lãm danh tiếng trên thế giới. Danh họa Botticelli (1445 - 1510) là một trong những danh họa nổi tiếng nhất của hội họa Phục hưng, cho tới giờ, chỉ còn lại khoảng hơn một chục tác phẩm của ông còn tồn tại trên thế giới. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của danh họa Botticelli có thể kể tới bức "The Birth of Venus" (Sự ra đời của thần Vệ Nữ) và "Primavera".

Bích Ngọc
Theo Daily Mail




Người phụ nữ săn lùng "kho báu" cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Những tác phẩm hội họa theo trường phái mỹ thuật Đông Dương của các họa sĩ lớn nằm rải rác trong dân như kho báu lớn. Bà Yến được cơ quan giao nhiệm vụ mua những bức đó về trưng bày và nghiên cứu.

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Hải Yến (SN 1941) là con gái của học giả, nhà báo Nguyễn Tường Phượng - chủ bút tạp chí Tri Tân, xuất bản từ năm 1941 - 1946.

Mặc dù sinh ra trong cái nôi báo chí nhưng người phụ nữ gốc Hà thành lại chọn con đường về mỹ thuật.

Người phụ nữ săn lùng kho báu cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Hải Yến, người chuyên săn lùng "kho báu" trong dân

Bà Yến kể, năm 1962, ông Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, giao cho họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung làm Viện trưởng Viện Mỹ thuật Việt Nam (tên ban đầu của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) và mở triển lãm tranh.

Để chuẩn bị thành lập Viện, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung chủ trương tuyển nhân sự từ các khoa sử, khoa văn, đào tạo thành chuyên gia, nhà nghiên cứu mỹ thuật.

Người phụ nữ săn lùng kho báu cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Bà Yến học khoa Văn (khóa 2) - trường Đại học Sư phạm Hà Nội cùng nhà thơ Phạm Tiến Duật và Nguyễn Khoa Điềm.

Năm 1964, bà tốt nghiệp và quyết định về công tác tại Viện Mỹ thuật Việt Nam. Bà Yến được Viện trưởng giao nhiệm vụ đến Thư viện quốc gia ở Tràng Thi (Hoàn Kiếm, Hà Nội) chép tư liệu.

"Thời xưa muốn tìm tư liệu phải vào thư viện chép lại. Khi ghi chép, phải đảm bảo chữ đẹp, thông tin rõ ràng, trình bày khoa học", bà nói.

Hoàn thiện 2 năm làm tư liệu, bà tiếp tục được giao nhiệm vụ nghiên cứu về lịch sử cổ đại, tham gia các buổi khai quật khảo cổ.

Sau đó, bà được phân công đi "săn lùng" các bức tranh Đông Dương (mỹ thuật cận đại), tìm cách mua về trưng bày và nghiên cứu trong bảo tàng.

"Số lượng tranh Đông Dương của Việt Nam như kho báu khổng lồ nằm trong dân nhưng việc mua tranh gặp nhiều khó khăn", nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hải Yến chia sẻ.

Bà nghe tin gia đình nào có tranh là lặn lội đạp xe đến. Trong số những chuyến đi lùng mua tranh, bà Yến nhớ như in lần gặp cụ Phùng Thị Yến ở số 17 Cao Bá Quát (Ba Đình, Hà Nội).

Gia đình cụ Phùng Thị Yến thuộc tầng lớp giàu có, sở hữu nhiều bức tranh quý hiếm. Cụ là người gốc Hà Nội nên giữ nếp sống khá chuẩn mực, chú trọng đến cử chỉ và cách nói năng của người đối diện.

Người nào ăn mặc xuề xòa, phong thái bộp chộp, cụ sẵn sàng đuổi về.

Bà Yến lúc này mới ra trường, tuổi đời còn trẻ, chưa va chạm nhiều. Tuy nhiên, vốn sinh ra và lớn lên trong gia đình trí thức, từ bé đã được cha mẹ dạy về lễ nghi nên bà đã ghi điểm với cụ Phùng Thị Yến ngay lần đầu gặp mặt.

Buổi gặp đó, bà Yến ngồi đối diện với người phụ nữ có khuôn mặt nghiêm nghị.

Cụ Phùng Thị Yến gọi người giúp việc bưng ra một chiếc khay, trên khay bạc đựng cốc và 1 ống nhổ, đặt trước mặt khách. Cụ cất lời: "Mời chị xơi".

Nếu người khác không biết, sẽ cầm cốc nước uống luôn nhưng bà Yến điềm tĩnh nhấp một ngụm nhỏ xúc miệng rồi ý tứ nhổ vào ống.

Sau công đoạn này, người giúp việc nhà cụ Phùng Thị Yến mới mang ấm trà ướp hoa sen ra mời.

"Ngày xưa ở nhà, tôi cũng phục vụ mẹ tôi như vậy nên tôi biết. Người Hà Nội xưa không uống trà ngay mà phải xúc miệng cho sạch mới uống. Như vậy mới cảm nhận được hết vị ngon của trà. Cụ Yến là người khó tính, cụ muốn thử thách xem tôi có đủ tiêu chuẩn để tiếp hay không?", bà Yến kể.

Vượt qua màn thử thách "toát mồ hôi", bà Yến nhận được sự cởi mở hơn của gia chủ, được họ mời xem tranh.

Quá trình trao đổi, kiêng nhất là nói đến từ mua bán tranh. Phần lớn các gia đình đều có điều kiện hoặc bức tranh có ý nghĩa nào đó với họ.

Bà Yến đã mở lời khen ngợi: "Bức tranh của bác đẹp quá, giá mà được trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật cho người dân chiêm ngưỡng thì hay quá".

Cụ bà Phùng Thị Yến gật gù nhưng không trả lời đồng ý hay từ chối mà nhắc bà Yến để lại địa chỉ liên hệ, sẽ cho người báo tin.

Bà Yến ra về, thấp thỏm chờ đợi. Chiều hôm sau, cụ Phùng Thị Yến sai người giúp việc nhắn cô nhân viên Viện Mỹ thuật Việt Nam đến gặp.

Lần này, cụ Phùng Thị Yến bảo bà chọn tranh mang về. Trong bộ sưu tập của cụ, bà Yến lựa được 3 tấm của bức tranh "Hội đình Chèm" của họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ.

Bức tranh "Hội đình Chèm" là một tác phẩm sơn mài gồm 5 tấm được họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ sáng tác vào năm 1942.

Ba tấm ở nhà cụ Phùng Thị Yến hiện trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu hội họa, 2 tấm kia bị thất lạc trong chiến tranh.

Ngày 22/9/2020, một phiên bản của tác phẩm "Hội đình Chèm" được đưa ra đấu giá ở Pháp. Tranh đạt mức giá gần 22,6 tỉ đồng.

Người phụ nữ săn lùng kho báu cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam - 3

Nhấn để phóng to ảnh

"Sau khi đưa tranh đi, tôi quay lại thưa chuyện với cụ Phùng Thị Yến, gửi cụ 500 đồng và nói: Cụ cho phép Bảo tàng gửi chút quà cảm ơn cụ đã chăm sóc, lưu giữ bức tranh cẩn thận. Khi đó, 500 đồng là số tiền rất lớn. Bởi lương tôi mỗi tháng được vài chục là đủ sống", bà Yến chia sẻ thêm.

Ngoài gia đình cụ Phùng Thị Yến, bà Yến đã đi khắp nơi quanh Hà Nội, sang cả tỉnh thành khác tìm tranh.

Nhiều bức bà còn vô tình phát hiện nằm vạ vật ở chuồng trâu, chuồng bò hay kê làm bàn ăn…

"Tất cả các bức tranh ở phòng cận đại của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam" là tôi đi mua", bà Yến nhấn mạnh.

Bí quyết phát hiện tranh giả

Sau năm 1970, Viện Mỹ thuật Việt Nam tách thành 2 cơ quan riêng biệt là Viện nghiên cứu Mỹ Thuật (sát nhập với trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam) và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Bà Yến thuộc quân số của Bảo tàng. Năm 1997 bà nghỉ hưu. Nay, bà là Phó chủ tịch Hội đồng Phê bình mỹ thuật thuộc Hội Mỹ thuật Việt Nam và giảng dạy tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội.

Nhà nghiên cứu 79 tuổi tâm sự, công việc thẩm định tranh không hề đơn giản, đòi hỏi người thẩm định phải có kinh nghiệm và am hiểu về trường phái, phong cách, nét vẽ và tiểu sử của tác giả bức tranh…

Người phụ nữ săn lùng kho báu cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Bà chứng kiến nhiều bức tranh giả được làm tinh vi, hoàn hảo giống như thật khiến người trong nghề, không cẩn thận cũng bị nhầm lẫn.

Một trong các tác phẩm hội họa hay bị làm giả là của họa sĩ Bùi Xuân Phái. Ông nổi tiếng với các bức tranh về phố cổ Hà Nội.

Sau năm 1984, các tác phẩm của ông được công chúng biết đến rộng rãi. Chúng vừa có giá trị nghệ thuật, vừa có giá trị vật chất.

Trên thị trường bắt đầu xuất hiện các tác phẩm giả của ông. Khi các nhà nghiên cứu mỹ thuật tiếp cận, đã bối rối khó phân biệt được giả - thật. Bởi, bức tranh giả cũng sử dụng loại giấy báo như vậy.

Một lần bà Yến phát hiện những tờ báo in thập niên 60, 70 bỗng được thu mua với giá cao.

Mãi sau bà tìm hiểu ra mới biết, cụ Phái, cụ Nguyễn Tư Nghiêm hay vẽ tranh trên giấy báo cũ. Sản xuất vào thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ trước. Khi vẽ, làm màu mềm đi, giấy lại hút màu tạo thành một đặc trưng riêng. Các chất liệu giấy sau này sẽ khó tạo được nét vẽ như vậy.

Bà liên tưởng đến các bức tranh của cụ Phái và cho rằng, có thể người ta mua lại các tờ báo đó với mục đích làm giả tranh cụ Phái nên ngoài chất liệu, bà bắt đầu tìm những dấu hiệu đặc trưng khác của họa sĩ này.

Bằng nghiệp vụ đúc kết qua nhiều năm nghiên cứu, bà kiểm tra các bức tranh mặc dù giống từ chất liệu, nét vẽ, nhưng thẩm định chữ ký lại có nhiều khác biệt.

"Mỗi thời kỳ, cụ Phái ký một dạng chữ khác nhau. Ví dụ: Những năm 60 cụ ký một kiểu, đến thập niên 80 cụ ký một kiểu và vị trí chữ ký ở đâu trên bức tranh. Người sao chép thời đó chưa tinh tường đến mức độ làm giả chữ ký", bà Yến nói thêm.

Bà Yến cho hay, hiện nay công nghệ làm tranh giả ngày càng tinh vi hơn. Ngoài chữ ký cũng có một số bí quyết để phát hiện tranh giả, người trong nghề khó tiết lộ.

Thái Minh




'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

Hoạ sĩ Thành Chương đã nhận xét như vậy về 'Người thổi sáo' - triển lãm trưng bày 53 bức tranh với các chất liệu sơn dầu, màu nước, pastel của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.


Người thổi sáo là tên triển lãm cá nhân lần đầu tiên của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được khai mạc sáng 7/1 tại Trung tâm Art Space, ĐH Mỹ Thuật, Hà Nội và sẽ kéo dài đến hết ngày 15/1/2021. Triển lãm này do nhóm Nhân sĩ Hà Đông đứng ra tổ chức.

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'
Khai mạc triển lãm, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được bạn bè tới ủng hộ rất đông.

Triển lãm Người thổi sáo gồm hơn 53 bức tranh với các chất liệu sơn dầu, màu nước, pastel. Bức tranh khổ lớn nhất là 150cm x 180cm và bức nhỏ nhất là 50cm x 70cm. Hầu hết số tranh trong triển lãm này nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vẽ trong 3 năm gần đây, còn lại là những bức được mượn lại của những người đã mua chúng.

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'
Không gian triển lãm trưng bày 53 tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Làm tất cả nhưng không phải trở thành tất cả

Bước vào hội họa, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều quan niệm vẽ không để trở thành họa sĩ chuyên nghiệp mà đơn giản chỉ cho bản thân được sống thêm trong một thế giới riêng khác, sống đắm mê trong sáng tạo và sau cùng, làm dài rộng thêm cho cuộc đời để được sống nhiều nhất.

Chỉ coi mình là "người đi ngang qua cánh đồng hội họa" nên nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có cách thức sáng tạo hội họa cũng chẳng giống ai. Ông thường vẽ không có phác thảo. Ông đứng trước toan, quết nhát màu đầu tiên lên toan và cứ thế cuốn theo màu sắc ấy.

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

Tự nhận là một người lúng túng, vụng về khi đặt chân vào thế giới hội họa, thế nhưng Nguyễn Quang Thiều lại may mắn được một người bạn thân thiết, họa sĩ Lê Thiết Cương, dặn rằng: "Hãy vẽ đi, đừng hỏi ai điều gì cả. Hãy vẽ tất cả những gì mà ông muốn vẽ. Hãy vẽ tất cả những gì mà ông cảm giác. Ông đừng lệ thuộc. Ông đừng đi học vẽ vào độ tuổi này nữa".

Không chỉ có họa sĩ Lê Thiết Cương, nhiều người bạn họa sĩ của ông bằng cách này hay cách khác đều muốn ông vẽ, buộc vẽ, phải vẽ. Họa sĩ Đào Hải Phong cho bút, cho màu. Họa sĩ Hoàng Phượng Vỹ thì cho toan,… đều như những thông điệp thúc giục nhà thơ: "Hãy vẽ đi!".

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

Chia sẻ tại triển lãm, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều bày tỏ chưa bao giờ xúc động đến thế. Ông nói: "Tôi làm tất cả mọi thứ: vẽ tranh, làm thơ, dịch sách, viết tiểu thuyết, viết truyện thiếu nhi, viết kịch, làm báo, nấu ăn, trông cháu, làm đèn cù… làm tất cả nhưng không phải để tôi trở thành tất cả. Tôi làm tất cả vì tôi muốn được sống một cách nhiều nhất. 

Tôi luôn nghĩ một ngày mình cần 48 tiếng đồng hồ để làm tất cả những điều mình muốn. Mặc dù công việc bận mù mịt nhưng không có điều gì có thể dừng tôi lại trong sáng tạo, chìm đắm trong thế giới của ngôn ngữ, của màu sắc. Bởi vì như thế tôi mới được sống tốt nhất".

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

Nguyễn Quang Thiều mộng du qua cánh đồng hội hoạ

Hoạ sĩ Lê Thiết Cương chia sẻ: "Tôi được Nguyễn Quang Thiều cho xem tranh cách đây 4 tháng để chọn ra được 53 bức trong triển lãm này. Nguyễn Quang Thiều tự nhận mình là người đi ngang qua cánh đồng hội hoạ và bị hình màu thôi miên nhưng tôi lại nghĩ khác. Nguyễn Quang Thiều mộng du qua cánh đồng hội hoạ.

Để viết một tiểu thuyết, làm bài thơ hay truyện ngắn khó nhất là tìm ra cái giọng của mình. Tôi cho rằng Nguyễn Quang Thiều đã chọn chính xác cho giọng hội hoạ của mình là giọng mộng du. Bởi, có qua mộng du mới bật ra được vẻ đẹp vô lý của có lý. Nó không cần phải quá quan trọng về màu gì, hình gì, bút pháp gì, bố cục đậm nhạt gì mà toàn bộ cái mộng du đó nó sẽ chỉ huy người hoạ sĩ. Đấy là cái đẹp của Nguyễn Quang Thiều".

Hoạ sĩ Đào Hải Phong chia sẻ, anh quen nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cỡ chục năm và biết rõ lộ trình vẽ của ông. "Tôi luôn thấy rằng Nguyễn Quang Thiều rất có lửa để cho giới hoạ sĩ, giới văn chương thơ ca được hâm nóng trong những lúc có vẻ đang nguội lạnh. Nguyễn Quang Thiều rất có gu trong hội hoạ. Dù không được học trường lớp nào nhưng Nguyễn Quang Thiều sử dụng màu rất nhuần nhị.

Với tôi đây là một trong những nhà thơ vẽ mà tôi thích nhất từ trước tới nay. Tranh của Nguyễn Quang Thiều nhìn không bị mệt mặc dù ông ấy vẽ đôi khi rất ẩn chứa điều gì đó. Nhưng quan trọng nhất đối với tôi vẽ để Nguyễn Quang Thiều giải thoát chính mình. Nguyễn Quang Thiều thông minh khi tới với hội hoạ bằng con đường tắt như vậy. Quan trọng nhất đối với Nguyễn Quang Thiều là thống nhất về phong cách, ngay cả trong giới chuyên nghiệp, học hành ra chưa chắc đã có sự thống nhất phong cách đó.

Không nên so sánh với Nguyễn Quang Thiều với hoạ sĩ chuyên nghiệp. Nguyễn Quang Thiều chỉ nên là Nguyễn Quang Thiều mà thôi, như thế thật công bằng với ông ấy", hoạ sĩ Đào Hải Phong chia sẻ.

Hoạ sĩ Thành Chương là người theo dõi Nguyễn Quang Thiều bước vào con đường hội hoạ ngay từ đầu và chứng kiến sự phát triển của "nhà thơ vẽ", thế nhưng đến với triển lãm này ông bị bất ngờ. "Tôi không nghĩ rằng Nguyễn Quang Thiều bước vào hội hoạ lại đoàng hoàng chững chạc như thế này. Gần đây có nhiều nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn bước sang làm hội hoạ và được cho là thành công. Thế nhưng theo tôi, vì họ đã thành danh trên con đường của họ trước đó thì nghiễm nhiên bước sang hội hoạ, tên tuổi của họ đã đảm bảo cho sự thành công.

 

Nhưng với tôi, nhà thơ bước sang hội hoạ thành công không nhiều. Trước đây có nhạc sĩ Văn Cao, Trịnh Công Sơn là hai nhạc sĩ tài năng bước sang lĩnh vực hội hoạ rất thành công và bây giờ, hoạ sĩ Nguyễn Quang Thiều là người thứ 3. Ở Trịnh Công Sơn có hồn nhiên trong hội hoạ, lãng mạn trong nghệ thuật tạo hình, Văn Cao thông minh, khúc triết trong nghệ thuật tạo hình của mình thì trong tranh của Nguyễn Quang Thiều hội tụ cả hai điều đó. Nguyễn Quang Thiều lại có điều khác nữa mà ở Trịnh Công Sơn, Văn Cao không có bởi ông là con người của chữ nghĩa, là con người của cội nguồn gốc rễ quê hương làng xóm sâu nặng. Nên trong tranh của Nguyễn Quang Thiều đậm chất làng xóm quê hương.

Hội hoạ quan trọng là tạo hình, thật nguy hại nếu tác phẩm nào của hoạ sĩ lại mang tinh thần văn thơ vào. Nhưng riêng với Nguyễn Quang Thiều lại không bị như thế. Việc đưa chữ vào trong tranh khó, tôi cũng từng làm rồi nhưng chữ nghĩa Nguyễn Quang Thiều đưa vào tranh rất tài tình, tạo ra mảng miếng bức tranh thêm đa dạng phong phú".

Một số tranh trưng bày trong triển lãm:

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'
'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

'Nguyễn Quang Thiều đưa chữ nghĩa vào tranh rất tài tình'

Tình Lê


Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: 'Tôi là người đi ngang qua cánh đồng hội hoạ'

Lần đầu tiên triển lãm các tác phẩm hội hoạ của mình, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều không cảm thấy áp lực bởi ông bảo: "Tôi không phải là họa sĩ mà chỉ là kẻ bị màu sắc thống trị".


Người thổi sáo là tên triển lãm cá nhân lần đầu tiên của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều sẽ khai mạc 10h ngày 7/1/2021 tại ĐH Mỹ Thuật Việt Nam và sẽ kéo dài đến hết ngày 15/1/2021. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã có những chia sẻ xung quanh triển lãm này. 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: 'Tôi là người đi ngang qua cánh đồng hội hoạ'
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều sẽ có triển lãm đầu tiên vào ngày 7/1/2021.

Vẽ tranh xây được căn nhà nhỏ 2 tầng cho mẹ

- Cơ duyên nào đưa ông thành "nhà văn cầm cọ"?

Tôi bắt đầu vẽ từ tháng 1/2005. Ngày đó dịch giả, họa sĩ Phạm Long Quận - bạn của tôi từ Cuba về đã gửi tranh, toan và màu vẽ tại nhà tôi. Một buổi trưa ông lấy một tuýp màu bóp nhẹ lên toan. Một màu vàng lộng lẫy hiện ra và cuốn tôi theo. Bạn thúc giục tôi vẽ cùng với màu vàng đầu tiên vẽ lên toan cuốn tôi đi không thể nào cưỡng nổi.

Và chỉ 5 tháng sau tôi được nhà văn Hoàng Minh Tường lôi vào cuộc triển lãm có tên Nhà văn vẽ cùng các nhà văn, họa sĩ Trần Nhương, Đỗ Minh Tuấn và Đoàn Lê. Trong triển lãm đó tôi mạnh dạn bày 14 bức. Tôi tặng bạn bè 3 bức và 11 bức còn lại tôi bán được hết. Số tiền bán tranh đã giúp tôi xây một ngôi nhà nhỏ hai tầng ở làng Chùa cho bố mẹ. Sau đó tôi "gác cọ" và nghĩ rằng sẽ không vẽ thêm nữa vì đã 48 tuổi. Muốn vẽ thì phải học, tuổi tôi còn bao thứ phải lo, không có thời gian tập trung để học.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: 'Tôi là người đi ngang qua cánh đồng hội hoạ'
Lần đầu tiên triển lãm các tác phẩm hội hoạ của mình, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều không thấy áp lực. 

- Điều gì thôi thúc ông cầm cọ trở lại và ở tuổi 63 lại cho ra mắt triển lãm cá nhân đầu tiên?

Năm 2012, tôi tới chơi nhà ông Trịnh Văn Sỹ, một thành viên của nhóm nhân sĩ Hà Đông. Vừa bước vào phòng, khách tôi sững người lại. Trước mắt tôi là những bức tranh giấy tôi vẽ từ 7 năm trước giờ được đóng khung treo trang trọng. Đấy là những bức tranh tôi vẽ bằng phấn sáp và mực màu. Hoá ra, nhà thơ Dương Kiều Minh - hàng xóm vì thấy tôi vứt những bức vẽ đó đi thì nhặt lại, trước khi mất đã đưa cho ông Sỹ giữ. 

7 năm bỏ vẽ nhưng vì ông Sỹ xây nhà mới và muốn tôi vẽ bức tranh tặng ông, tôi lưỡng lự nhưng do mối thân tình nên nhận lời. Bức tranh Người thổi sáo 1 ra đời vì chiều bạn. 

- Người thổi sáo ấn tượng với ông như thế nào mà bức tranh đầu tiên khi cầm cọ trở lại và khi triển lãm đầu tiên ông cũng lấy tên đó?

Trước hết tôi là một cậu bé thổi sáo ở quê. Ngày xưa chỉ có hai thứ mà những đứa trẻ, thanh niên hay những người ở làng quê có thể chơi được. Thứ nhất là đàn bầu - nó bằng ống tre, ống bơ sữa bò, với một cái dây phanh xe đạp để gảy, không có tăng âm, cho nên phải ngồi sát mới nghe được. Thứ hai là sáo - được làm từ cây trúc ở dọc bờ rào, bọn trẻ con chúng tôi hay kéo ra ngoài đê ngồi thổi sáo.

Tôi từng trải qua những ngày tháng mang một nỗi phiền muộn mà không thể thoát ra được. Một sáng có một người thổi sáo mù đi qua nơi tôi ngồi uống cà phê ở thị xã Hà Đông. Tôi đã cầu khẩn người thổi sáo mù thổi cho tôi một khúc nào đó mà người thổi sáo mù muốn thổi nhất. 

Giai điệu của khúc sáo ấy đã thay đổi tôi. Những phiền muộn trong lòng tôi bấy lâu nay đã tan biến. Những tháng ngày sau, tôi đã luôn ngồi ở quán cà phê vỉa hè ấy để mong gặp lại người thổi sáo mù. Nhưng tôi không bao giờ thấy người thổi sáo mù đi qua nữa. Không hiểu sao, cho đến bây giờ tôi vẫn tin buổi sáng mùa Thu ấy người thổi sáo mù đã từ dãy núi cao đi xuống thành phố.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: 'Tôi là người đi ngang qua cánh đồng hội hoạ'

- Ngoài hình tượng cây sáo thì những hình ảnh như chim bồ câu, bình gốm hay đôi mắt cũng xuất hiện chủ đạo trong tranh của ông. Ông có thể lý giải gì về hình tượng này?

Tuổi thơ tôi hay nuôi chim, từ chim sẻ đến chim sáo,... Lớn lên, trong đầu tôi có những tư tưởng lớn hơn, đó là những con chim bồ câu - luôn tạo ra một thế giới thanh bình. Chúng ta đã tàn phá thiên nhiên, đấy là sai lầm. Thiên nhiên rất quan trọng với con người, cây cối là chủ đạo nhưng thực tình tôi vẽ cây xấu quá, mấy lần thử rồi nhưng tôi không thấy ưng nên đành thôi. Còn bây giờ tôi đã vẽ những cây theo cách của mình. 

Bình gốm đã ăn vào sâu ký ức của tôi. Lúc nào trong ký ức khi tôi trở về nhà, cái đầu tiên bằng khứu giác tôi cảm nhận được là mùi khói bếp, còn thị giác dâng lên đó là những chiếc lọ gốm trong bếp: lọ đựng mắm, lọ đựng hạt giống. Ngày xưa khi đi chợ ở quê, tôi rất thích đi qua những nơi bán niêu, nồi, chõ.

Trong quan niệm của tôi có 3 cái bình quan trọng: một bình đựng nước, một bình đựng chữ và một bình đựng hạt giống. Với tôi, chỉ có 3 bình đó tạo thành nhân loại, tạo thành thế giới, tạo thành văn hoá. Nếu mất một trong 3 bình đó thì chúng ta sẽ không thể làm gì cả. Nếu như một ngày thế giới tàn lụi, có người đem đến cho tôi 3 bình gốm ấy thì tôi có thể xây dựng lại thế gian này. Tất cả những hình ảnh trên nó mang tính biểu tượng, nó gắn bó với tuổi thơ của những người ở thế hệ tôi.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: 'Tôi là người đi ngang qua cánh đồng hội hoạ'

Tôi là người bị màu sắc thống trị

- Là "nhà văn cầm cọ", hội hoạ có vị trí thế nào trong sự nghiệp của ông?

Gọi là sự nghiệp cũng không đúng, hội hoạ giống như một phương tiện để tôi sống nhiều hơn so với người khác. Vì khi làm thơ tôi nhìn thế gian ở một góc và khi sáng tác tranh tôi lại nhìn thế gian thêm một góc nữa, tôi chơi đàn bầu cũng vậy. Thế nên tôi muốn nhìn thế gian đủ đầy thôi. Và chỉ khi sáng tác tận cùng mới mong có thể mang đến điều gì đó.

Người ta hỏi tôi có ý định bán tranh không? thì tôi vẫn bán. Bởi đó là người ta đang chia sẻ với mình, yêu thích là sự chia sẻ trung thực nhất. Tôi rất vui khi có người thích xem và quyết định mua tranh của tôi. Nhiều người nói rằng họ không biết hội hoạ nhưng xem tranh của tôi họ rất thích. Bởi vì họ thấy trong đó những câu chuyện đồng cảm với mình.

Tôi không phải hoạ sĩ vẽ tranh để sống. Tôi cứ "trồng" tranh trên cánh đồng ấy, ai đi qua muốn mua thì cứ lấy. Không ai có thể cản tôi trên con đường này. Tôi không phải là một họa sĩ mà chỉ là kẻ bị màu sắc thống trị. Tôi là người đi ngang qua cánh đồng hội hoạ. 

Tôi là "nhà văn cầm cọ" nhưng may mắn thay nhận được đánh giá từ mọi người là thoát ra được những văn chương thơ phú để vẽ lên những điều mình thích. Chắc sẽ chẳng ai phán xét tranh của tôi, vì tôi đâu phải hoạ sĩ chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản. Tôi chẳng học cách phối màu, tôi chỉ vẽ màu này gần màu kia, tôi thấy ưng và thấy nói hợp nhau là được.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: 'Tôi là người đi ngang qua cánh đồng hội hoạ'

- Vậy với ông, nghệ sĩ được làm điều mình thích đó là một thành công?

Tôi cho đó là thành công lớn nhất. Bởi vì nếu ta mong chờ ai cũng như Picasso, hay Nguyễn Du thì tất cả chết hết rồi. Vì có hàng triệu người làm thơ, người vẽ. Họ làm thơ, họ vẽ để được bày tỏ, cảm nhận cuộc sống này. Còn nếu chỉ để trở thành một cái gì đó chúng ta sẽ không đi đến đâu. Tại sao mỗi ngày lại có một nhà thơ, một bài thơ ra đời? Bởi vì họ cần viết để cho họ, tạo nên giá trị cho thế gian này.

Tôi không minh chứng cho nghệ thuật nhưng tôi có thể là nhân chứng của một đời sống nghệ sĩ. Một bên là danh tiếng, một bên là đời sống, nó khác nhau hoàn toàn. Những người làm thơ là minh chứng của đời sống thi ca, còn những nhà thơ vĩ đại hãy cứ làm thơ vĩ đại. Những người vĩ đại làm những việc vĩ đại. Có những người làm nên đời sống và có những người thay đổi đời sống. 

- Trước ngày diễn ra triển lãm, ông còn trăn trở điều gì muốn vẽ?

Thực ra chẳng ai nghĩ mình đã đi hết con đường, chẳng ai nghĩ mình hoàn thiện. Tôi học Tiếng Việt 63 năm nhưng tôi vẫn bị sai chính tả, sai ngữ pháp, hoặc Tiếng Việt của tôi không đủ để tôi bày tỏ cảm giác bên trong mình. Cho nên là người vẽ cơ bản tôi nghĩ lăn tăn và mong muốn có thêm thời gian hơn nữa để vẽ không chỉ thường trực trong tôi mà còn trong mỗi nghệ sĩ làm nghề chân chính.

Đã thấy vẽ đẹp không ai vẽ nữa, cũng như thấy hoàn thiện trong thi ca rồi không ai làm thơ nữa. Chúng ta luôn cảm giác bị thất bại trước những cái chúng ta làm ra. Tôi luôn khuyên những người trẻ, khi làm thơ hãy in tập thơ ra, để thấy sự thất bại của mình ở đâu, và tiếp tục hoàn thiện trong tập thơ mới. Điều đó có vẻ hơi cầu toàn, nhưng đó là mong muốn của tôi.

Tình Lê


Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông

Bảo tàng Nghệ thuật đương đại Flamingo ra mắt công chúng nằm giấu mình giữa rừng thông trưng bày các tác phẩm của gần 70 nghệ sĩ trong nước và quốc tế.


Ngày 26/12 tại Đại Lải, Vĩnh Phúc đã diễn ra khai mạc Bảo tàng Nghệ thuật đương đại Flamingo với hơn 120 tác phẩm nghệ thuật, được đóng góp bởi gần 70 nghệ sĩ trong nước và quốc tế. 

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông
Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông.

Ông Dương Quang Ứng - Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thể thao Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc chia sẻ, đây là bảo tàng tư nhân ngoài trời độc đáo kết tinh từ dự án Art in the forest (AIF) – một dự án phi lợi nhuận tổ chức thường niên từ năm 2015 với sự đầu tư chỉn chu, từ nghệ sĩ, chất lượng tác phẩm đến không gian trưng bày.

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông
Hoạ sĩ Vũ Hồng Nguyên nhận quyết định bổ nhiệm là Giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật đương đại. 

Hoạ sĩ Vũ Hồng Nguyên - Giám đốc Bảng tàng Nghệ thuật đương đại Flamingo chia sẻ, mang tinh thần nghệ thuật là nghệ thuật, nghệ thuật không gánh trên vai bất cứ trọng trách nào khác, AIF đã làm tốt vai trò của người dẫn đường để kiến tạo nên một không gian nghệ thuật đích thực – nơi tôn vinh những người nghệ sĩ tài năng và các tác phẩm giá trị, trở thành cầu nối đưa nghệ thuật tới gần hơn với công chúng.

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông
Nhiều nghệ sĩ đến từ Việt Nam, Canada, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Nepal, Italia, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Tây Ban Nha... có tác phẩm trưng bày tại bảo tàng.

"Bảo tàng này không chỉ mang đến giới mộ điệu một không gian nghệ thuật độc đáo mà còn đại diện cho một giai đoạn phát triển của xã hội. Khai mạc Bảo tàng đã có 56 tác phẩm điêu khắc bằng đá, nhôm, gỗ, thép không gỉ và gần 70 tác phẩm hội họa với các chất liệu sơn mài, sơn dầu, acrylic...

Các tác phẩm này là thành quả sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc trong suốt 6 năm qua của nhiều nghệ sĩ đến từ Việt Nam, Canada, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Nepal, Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore, Tây Ban Nha... Toàn bộ thành quả ấy được trưng bày rải rác giấu mình dưới rừng thông", hoạ sĩ Vũ Hồng Nguyên chia sẻ. 

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông
Đã có 6 cuộc triển lãm tổ chức tại đây trước khi chính thức ra mắt Bảo tàng.

Trung tâm Bảo tàng là cụm các container – nơi hiện diện nhiều tác phẩm hội họa và điêu khắc nhỏ, đặt trên diện tích 4 ha và được thiết kế từ năm 2017. Đây cũng là địa điểm các nghệ sĩ làm việc, thực hành và thảo luận nghệ thuật đồng thời ấp ủ ý tưởng cho những sáng tác điêu khắc quy mô lớn. Hiện tại, khu vực này vẫn đang được mở rộng bằng cách lắp đặt thêm nhiều container mới.

Trước khi chính thức ra mắt Bảo tàng này, đã có 6 mùa triển lãm được tổ chức, bộ sưu tập tác phẩm cũng ngày một dày hơn, kết nối những tâm hồn đồng điệu vị nghệ thuật và gửi gắm đến công chúng nhiều triết lý nhân sinh sâu sắc.

Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Flamingo mở cửa từ 26/12/2020 và tiếp tục duy trì đến mùa triển lãm thường niên năm 2021.

Một vài hình ảnh trong buổi chính thức ra mắt Bảo tàng:

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông

Bảo tàng nghệ thuật đương đại giấu mình dưới rừng thông

Tình Lê



Chuyện người con thứ 6 của nhà văn Kim Lân

 Anh là con thứ 6 trong gia đình 7 anh chị em, cha đã nổi tiếng rồi mà đa phần anh chị em cũng là người nổi tiếng. Nhưng chính vì thế Từ Ninh lại chọn một cách ứng xử khác. Từ Ninh lặng lẽ bề ngoài nhưng cái tôi bên trong mãnh liệt. Anh bảo: Sợ nhất khi người ta khen tranh tôi đẹp giống tranh… anh Thành Chương.

Từ Ninh và các con khi nhỏ (ảnh: NVCC)
Từ Ninh và các con khi nhỏ (ảnh: NVCC)

Nguyễn Từ Ninh học cùng lớp, cùng trường với họa sỹ Đào Hải Phong. Nhưng Phong chuyên sâu mảng thiết kế phim ảnh, còn Ninh theo mảng thiết kế sân khấu. Tốt nghiệp Đại học Sân khấu Điện ảnh năm 1987, anh vào Sài Gòn, làm cho đoàn kịch Trẻ. Vài năm sau chán, lại ra Hà Nội, trở thành họa sỹ tự do từ bấy đến nay.  Gần 30 năm cầm cọ nhưng Từ Ninh chỉ làm 2 triển lãm cá nhân, tham gia một số triển lãm nhóm, ngại phát biểu nọ kia trước đám đông, thế nên người trong nghề biết anh, người ngoài nghề thì chịu. Từ Ninh nhận, anh không hoạt ngôn, khá vụng về ăn nói, nên thiệt. Sang năm, anh sẽ cố gắng mở một cuộc triển lãm với ý nghĩa kỷ niệm 100 năm ngày sinh cha anh, nhà văn Kim Lân (1/8/1920-7/8/2007). Kính yêu cha nhưng Từ Ninh chia sẻ: Anh không muốn núp bóng người cha nổi tiếng. “Mình vẫn phải là mình, dù hay, dở thế nào. Bố viết văn, con viết văn, vẫn chút gì đó dựa hơi”. Từ Ninh cũng không muốn ảnh hưởng anh, chị của mình trên con đường nghệ thuật. Ninh bảo: “Khi tôi vẽ tranh, tôi sợ nhất người ta khen tranh đẹp thế, giống tranh Thành Chương, anh tôi. Khen thế là giết tôi rồi. Tôi phải thay đổi để không có gì gợi nhớ Thành Chương”.

Chẳng phải cứ dát vàng là đắt giá

“Có khi nào nhà văn Kim Lân buồn vì các con chẳng ai nối nghiệp cha không?”, tôi hỏi Từ Ninh. Anh đáp chậm rãi: “Không đâu. Cha tôi cũng muốn các con theo hội họa hơn viết văn”. Qua Từ Ninh được biết, nhà văn Kim Lân khi trẻ từng có thời gian phụ họa sỹ Nguyễn Gia Trí làm tranh sơn mài. Ông cũng thích hội họa, cũng vẽ chơi chơi. Tên “Nguyễn Từ Ninh” do chính nhà văn Kim Lân đặt: “Từ Ninh vừa có nghĩa Từ Sơn- Bắc Ninh, quê cha, lại vừa là tên một nhân vật trong “Thủy Hử” (1 trong 108 thủ lĩnh Lương Sơn Bạc). Bố tôi thích đọc “Tam quốc”, “Thủy hử”. Như tên anh tôi “Nguyễn Mạnh Đức” bắt nguồn từ nhân vật Tào Mạnh Đức (Tào Tháo) trong “Tam quốc diễn nghĩa”.

Nếu cha anh là nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm viết về làng quê Việt Nam thì Từ Ninh lại gắn bó với mảng đề tài gia đình, anh thủy chung với chất liệu sơn mài nhưng không chọn sơn ta mà ưa sơn Nhật. Trước hết, vì sơn ta không chọn anh, anh bị sơn “ăn mặt”. Sơn Nhật phóng khoáng, chất liệu rẻ hơn sơn ta. Theo Từ Ninh: “Không nên máy móc, công thức quá. Sơn ta có những hạn chế về màu, về nhiều thứ khác. Sơn ta phải có buồng ủ riêng cho tranh. Đang mải mê hứng thú lại đem ủ, kết bạc, kết vàng… Trong khi đó sơn Nhật như sơn dầu, pha được tất cả các loại màu”. Song anh thừa nhận: Hạn chế của sơn ta lại làm nên nét độc đáo của nó. Giống như đàn bầu có mỗi một dây nhưng thánh thót, “ru lòng người sâu thẳm”.  So với sơn Nhật, sơn ta bền màu với thời gian hơn. Song sơn Nhật bay màu đều, khiến tranh sáng lên, trong hơn, chứ không phải chỗ bay màu, chỗ không, nên bức tranh vẫn đẹp. Từ Ninh nói: “Chọn sơn mài vì tôi thấy mình làm chủ chất liệu hơn, cho dù chọn sơn mài vất vả hơn chất liệu khác, như sơn dầu chẳng hạn”.

Một số người cho rằng: Tranh sơn mài truyền thống, sơn ta, có giá hơn hẳn so với tranh Việt dùng sơn Nhật.  Họa sỹ Từ Ninh cười: Không phải cứ dát vàng thì đắt tiền đâu. Giá trị bức tranh nằm ngoài vàng, bạc… Từ Ninh chưa bao giờ bán được nhiều tranh như Đào Hải Phong nhưng Đào Hải Phong lại rất trân trọng Từ Ninh. Phong bảo, nếu là khách hàng anh sẽ mua tranh của một vài tác giả không đình đám, trong số đó có Từ Ninh: “Ninh vẽ hay”, Phong nhận xét. Và một thứ khác khiến Phong trọng Ninh hơn cả chuyện tranh pháo, ấy là nhân cách. Một bữa cà phê với nhau, Ninh có việc nên về trước. Chờ Ninh lên xe máy, Phong chỉ cho tôi cái ngón út bị mất 2/3 của Ninh: “Biết vì sao hắn bị mất ngón tay út không? Kể riêng cô nghe nhé, là hắn tự chặt đấy, khi có người vu oan cho hắn ăn cắp. Hắn không phân bua, chặt luôn ngón út và khẳng định: Hắn không làm chuyện đó, rồi bỏ đi”. Trong mắt Đào Hải Phong, Từ Ninh có khí chất “anh hùng Lương Sơn Bạc”, như tên.

 15 năm gà trống nuôi con

Trở lại chủ đề gắn bó trong tranh Từ Ninh: Gia đình. Anh giải đáp thắc mắc của tôi với giọng nửa đùa, nửa thật: “Ừ, thì thiếu gì thì vẽ nấy”. Từ Ninh “một mình” đã lâu. Chia tay vợ, anh nuôi 2 cô con gái, khi đó cô gái út mới được hơn 2 tuổi, lại có bệnh hen suyễn. Hầu như không tháng nào Từ Ninh không phải đưa con vào viện, thức đêm chăm con ở viện đã thành chuyện bình thường của Ninh. Hồi hai con còn nhỏ, Từ Ninh chẳng dám đi xa, đến nhà ở cũng phải mua loanh quanh trong phố, tiện để hai con đi học. Nay hai con gái của anh đã lớn, cô con gái đầu đã là sinh viên năm thứ ba, Đại học Mỹ thuật. Con gái thứ hai đã 17, 18 tuổi, đang học nhạc ở Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội. Vì thế, Từ Ninh mới mua đất xây nhà, gần sông. Anh khoe với tôi tổ ấm của ba bố con. Trên diện tích 70 m2, anh xây nhà 3 tầng, tầng trên cùng dựng ngôi nhà gỗ. Mặt ngôi nhà hướng thẳng ra sông. Nơi đây yên tĩnh nhưng không hoang vu, chạy xe một lát đã vào ngay phố cổ. Từ Ninh thích sống bên sông hoặc sống trên núi. Ninh còn một ngôi nhà trên núi nữa. Anh đã từng đưa hai con lên núi sống.

Quan điểm giáo dục của Từ Ninh khác nhiều bậc phụ huynh thời nay: “Tôi không ép con học, học vừa phải, chủ yếu đọc sách, nghe nhạc, xem phim, đi chơi. Học giỏi mấy mà vô cảm, không biết cảm thông, chia sẻ thì cũng chẳng có giá trị gì”. Anh hướng nghiệp cho các con từ khi chúng mới lên lớp 7. Con gái lớn ban đầu thích theo nghề y nhưng sau một thời gian lại thay đổi ý định, chuyển sang hội họa. Anh cũng đồng ý và đầu tư cho con. Con gái út thích đàn, anh cổ vũ con thi vào một trường nghệ thuật.

Trong hai cô con gái, Từ Ninh nhìn thấy gái út rất có khả năng nối nghiệp ông nội, nhà văn Kim Lân. Bởi cô bé viết văn tốt, có góc nhìn lạ. Thí dụ, trước đây khi nhận được đề văn yêu cầu viết về gia đình, cô bé lại đặt trọng tâm bài viết ở cánh cửa ra vào. Cánh cửa ngôi nhà như nhân chứng trong gia đình. Khi cô bé bước chân ra ngoài một thế giới khác rộng mở với bao hoài bão, mơ ước đón chờ. Nhưng hạnh phúc thì nằm sau cánh cửa. Hạnh phúc khác niềm vui. Cô bé phân biệt rõ ràng. Trong bài, gái út của Từ Ninh viết: Gia đình tôi không được hoàn chỉnh như những gia đình khác. Chúng tôi không có mẹ. Nhưng tôi không cần sự hoàn chỉnh đó. Và đối với tôi bây giờ cái không hoàn chỉnh, chính là hoàn chỉnh. Ba bố con. Thế là đủ. Nhắc lại đoạn văn của con gái, Từ Ninh cười hạnh phúc: “Con bé đầy cá tính”.  Khi đề văn yêu cầu viết về môt danh lam thắng cảnh của đất nước, con gái Từ Ninh lại chọn viết về bến đò. Khi khác, cô bé lại viết về trại cùi dưới chân đèo Hải Vân, để nói đèo Hải Vân không chỉ đẹp ở cảnh mà còn đẹp ở tình người. Chính Từ Ninh khi dẫn hai con đi du lịch đã đưa chúng vào thăm trại cùi (trại phong).

15 năm nuôi con một mình, hỏi Từ Ninh có thấy cực hay không? Anh tâm sự: “Tôi không hiểu thế nào là vất vả. Nuôi hai đứa từ năm 2005, thành quá quen rồi, thấy thanh thản, thấy vui”. Từ Ninh không dùng roi vọt để dạy con nhưng anh khá nghiêm khắc. Hồi bé, đi học về, các con mách, bị bạn bắt nạt. Anh nói: Bố sẽ nói chuyện với cô giáo một lần, lần sau các con phải tự giải quyết lấy. Bố mẹ sinh ra các con không phải để người ta đánh đập, kể cả còn bé, các con phải tự biết cách bảo vệ mình. Các con không được bắt nạt ai nhưng không được để ai xúc phạm các con. Quý hơn mọi thứ trên đời là lòng tự trọng”.

Chuyện người con thứ 6 của nhà văn Kim Lân - ảnh 1 Tranh Từ Ninh (NVCC)
Trong hai cô con gái, Từ Ninh nhìn thấy gái út rất có khả năng nối nghiệp ông nội, nhà văn Kim Lân. Bởi cô bé viết văn tốt, có góc nhìn lạ.
 

Khúc “biến tấu” từ cuộc đời mùi vị

Từ Ninh nuôi con bằng những đồng tiền bán tranh. Tuy không bán được đều đều, song có vài phòng tranh trước tết Tây và Noel lại lấy của anh một lượng tranh lớn để bán cho khách nước ngoài và Việt kiều về thăm quê. Mỗi đợt như thế anh thu được một số tiền kha khá, mỗi tháng lại rút ra, tiêu dần. Nhưng sau năm 2010, việc bán tranh không được thuận lợi như trước, Từ Ninh vẫn tiếp tục phải mưu sinh, vì con cái. Anh theo anh trai của mình, họa sỹ Nguyễn Mạnh Đức, tức Đức Nhà sàn, phục dựng văn hóa cổ, lúc nhận việc ở Văn Miếu, lúc ở phố cổ: “Năm 2018, chúng tôi làm “Một thoáng Việt Nam” ở Hội An cho một tập đoàn lớn. Chúng tôi làm những ngôi nhà đặc trưng ở đồng bằng sông Cửu Long, như nhà điền chủ, nhà của Bạch Công Tử… Sau đó, ra nhà Nam bộ, nhà của người Chăm, nhà rông- Tây Nguyên. Cứ thành từng cụm như thế. Rồi nhà rường Huế, nhà Bắc bộ… nhà người Tày, người Thái”.

Chính sự thúc bách của cuộc sống, sự yêu cầu của công việc đã ảnh hưởng đến hội họa Từ Ninh. Tranh anh có những biến chuyển, chứ không tuân theo một phong cách từ đầu đến cuối. Anh khoe với tôi bức “Biến tấu” đẹp như tấm thảm Ba Tư được miêu tả trong những câu chuyện cổ và chia sẻ: “Thực ra bức này tôi vẽ hỏng, song lại vẽ đè lên. Vẽ thế này in trên kính thành tranh kính, có đèn rọi phía sau thì đẹp tuyệt vời”. Nếu như có một cuộc sống gia đình ấm êm, đủ đầy đúng nghĩa, chắc gì tranh Từ Ninh đã “biến tấu” như bây giờ? Tôi hỏi Từ Ninh: “Anh thấy mình được mất gì từ nghề họa?”. Ninh cười, không trả lời thẳng câu hỏi: “Tôi thấy họa sỹ được thể hiện cái tôi mạnh mẽ, độc lập hơn so với nhà văn”.



Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ”

Họa sĩ Kim Thái là phu nhân của nhà điêu khắc nổi tiếng Lê Công Thành. Bà bắt đầu con đường sáng tác mỹ thuật từ năm 1962 với nhiều mảng đề tài: phong cảnh, đời sống, dân quân, bộ đội, nông dân, mẹ con, thiếu nhi và vẻ đẹp khoả thân của người phụ nữ… 

Theo nữ hoạ sĩ, bà vẽ nude - khoả thân nghệ thuật một cách rất tự nhiên vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của con người và càng vẽ nhiều lại càng… nghiện.

Nhiều người cho rằng, hoạ sĩ Kim Thái là nữ hoạ sĩ hiếm hoi có một khối lượng tranh nude đồ sộ và đa dạng. Tranh của bà mang phong cách và có sức hút rất riêng. Mỗi bức tranh của bà đều "toả" ra những nét dung dị, phóng khoáng, tự nhiên và gợi cảm.

Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ” - 1


Hoạ sĩ Nguyễn Thị Kim Thái bên di ảnh của chồng và bức điêu khắc gỗ Hồ Xuân Hương.

Là nữ hoạ sĩ sáng tạo hàng nghìn bức tranh nude gây tiếng vang. Nhiều người thắc mắc, không biết bà đến với tranh nude trong hoàn cảnh nào?

Tôi bắt đầu con đường sáng tác mỹ thuật cách đây 58 năm. Thời điểm đó, tôi vẽ rất nhiều thể loại và đề tài khác nhau. Trong đó, mảng đề tài vẻ đẹp nguyên thuỷ tôi rất thích vẽ và thường hay vẽ. Cho đến thời điểm này, tôi vẫn đang tiếp tục vẽ mảng đề tài này.

Tôi không thích cách gọi vẽ tranh khoả thân nghệ thuật hay tranh nude mà thích gọi là vẽ tranh vẻ đẹp nguyên thuỷ của con người. Tôi quan niệm vẻ đẹp nguyên thuỷ của con người thời nào cũng đẹp và luôn mang tính cổ xưa, nguyên sơ. Tất cả mọi di sản hiện nay mà chúng ta có đều bắt nguồn từ vẻ đẹp cổ và xưa ấy. Tục ngữ có câu “Người ta là hoa đất” cơ mà.

Nhiều người cho rằng, thời điểm thập niên 60, không phải ai cũng dám vẽ tranh nude bởi những định kiến thời đó vẫn còn nặng nề. Bà có gặp nhiều khó khăn khi sáng tạo mảng đề tài này?

Tôi không gặp khó khăn gì cả vì chủ yếu vẽ ở nhà hoặc ở trường. Thời chúng tôi học ở trường Đại học học Mỹ thuật Hà Nội đã phải vẽ mảng đề tài này rất nhiều. Đôi khi những bức hình hoạ hoặc bức vẽ học đã có vẻ đẹp của tranh rồi. Tuy nhiên, vì thời đó mọi người vẫn chưa hiểu nhiều về tranh khoả thân nghệ thuật hay vẻ đẹp nguyên thuỷ nên tôi không bày ra nhiều.

Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ” - 2


Những bức tranh khoả thân nghệ thuật của hoạ sĩ Kim Thái thường không có nỗi buồn.

Tôi quan niệm, vẻ đẹp con người rất nguyên sơ, nguyên thuỷ và cổ kính nên khi vẽ tôi thường không bị vướng mắc bởi những tư tưởng hoặc quan niệm của đời sống thực. Chẳng hạn, con người thì người ta còn phân biệt tầng lớp nọ, tầng lớp kia; giai cấp nọ, giai cấp kia; dân tộc nọ, dân tộc kia… nhưng đã vẽ khoả thân là không để mình vướng mắc những điều đó. Khi chỉ còn vẻ đẹp nguyên thuỷ thì con người ai cũng như ai.

Tất nhiên, tôi cũng phải thừa nhận rằng, càng về sau này, mình vẽ mảng đề tài này có sự đằm chín, phóng khoáng và tinh tế hơn. Tính đến thời điểm hiện tại, tôi đã vẽ được khoảng một nghìn bức tranh vẻ đẹp nguyên thuỷ. Tranh vẻ đẹp nguyên thuỷ không phải là nhiều nhất trong gia tài nghệ thuật của tôi nhưng cũng là mảng tôi yêu thích và có nhiều cảm hứng.

Bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào chất chứa những thông điệp riêng của tác giả. Bà có thường gửi gắm quan điểm của mình vào các tác phẩm?

Mỗi khi đặt bút vẽ, tôi thường mang tâm thái hồn nhiên và thoải mái nhất. Tôi ít khi đặt những suy tư hoặc cảm xúc nặng nề vào tác phẩm. Tranh vẽ vẻ đẹp nguyên thuỷ của tôi cũng thế, tôi thường nghiêng về đời sống vui tươi, hạnh phúc và niềm yêu đời.

Những số phận, thân phận, bi kịch hoặc cái gì sâu sắc quá tôi cũng không thích. Đặc biệt, tôi hay vẽ vẻ đẹp của những người lao động hoặc vẻ đẹp của người phụ nữ bình dị chứ không có các cô tiểu thư khuê các yểu điệu.

Tức là tôi nhìn thấy vẻ đẹp nguyên thuỷ đó trong góc nhìn đời thường nhất. Có lẽ vì thế mà đa phần các tác phẩm tôi thể hiện thường mang vẻ đẹp nhẹ nhàng, tự nhiên và bình dị nhất.

Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ” - 3


Hoạ sĩ Kim Thái: “Tôi vẽ khoả thân vì yêu vẻ đẹp nguyên thuỷ của phụ nữ” - 4


Những tác phẩm vẽ vẻ đẹp nguyên thuỷ của người phụ nữ của họa sỹ Kim Thái thường có những nét khác biệt.

Có chuyên gia nhận xét rằng, nhìn tranh nude của bà người ta nhận ra ngay bởi bầu ngực của người phụ nữ được thể hiện một cách rất đặc biệt. Bà nói sao về điều này?

Bộ ngực hay bầu vú của người phụ nữ chính là bộ phận để nuôi sống con người. Cho nên, phần ngực tôi thường vẽ có tính biểu hiện hơn so với những bộ phận khác.

Tại sao lâu lắm rồi bà không tổ chức triển lãm?

Trước đây, lúc chồng tôi là nhà điêu khắc Lê Công Thành còn sống thì tôi muốn tổ chức triển lãm để ông ấy được vui. Từ ngày ông ấy rời cõi tạm, tôi cũng không nghĩ nhiều đến chuyện ấy nữa. Chắc có một dịp nào đó tôi sẽ triển lãm một số tác phẩm mới nhất.

Cảm ơn bà đã chia sẻ thông tin.

Hà Tùng Long


Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài

TPO - Thông tin về việc tác phẩm của họa sĩ Lê Phổ được bán với giá kỷ lục trong phiên đấu giá tại Pháp khiến nhiều người yêu tranh Việt không khỏi tự hào.


Mới đây, website của nhà đấu giá Aguttes (Pháp) công bố bức tranh “Thiếu nữ bên hoa mẫu đơn - Jeune fille aux pivoines” của danh họa Lê Phổ được bán với giá kỉ lục là gần 33 tỉ đồng tại phiên đấu giá “Họa sĩ châu Á” diễn ra hôm 6/10.

Theo thông tin được đăng tải, “Thiếu nữ bên hoa mẫu đơn” được vẽ bằng mực màu trên lụa, có kích thước 91x71 cm. Giá khởi đầu của tác phẩm này khoảng 500.000 - 800.000 euro, tuy nhiên khi kết thúc phiên đấu giá, con số cuối là 1.164.760 euro (bao gồm cả thuế và phí giao dịch), tương đương 32,6 tỉ đồng.

“Với ‘Thiếu nữ bên hoa mẫu đơn’, Lê Phổ hớp hồn người xem bằng khả năng phóng bút điêu luyện của mình. Độ sâu của màu sắc, khổ lớn và tình trạng bảo quản đáng ngạc nhiên là những điểm rất tích cực cho tác phẩm này...

Qua bàn tay của Lê Phổ, vẻ đẹp của cô gái trẻ trong tranh toát ra sự ngọt ngào, duyên dáng gợi nhớ đến nét tinh xảo trong những bức chân dung về phụ nữ của các họa sĩ vào thế kỷ 16 kết hợp đặc trưng riêng của vùng Viễn Đông”, website của Aguttes nhận định.

Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 1 Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa mâu đơn" của Lê Phổ (Ảnh: Aguttes)

Hồi cuối tháng 5 năm 2019, tại phiên đấu giá “Thế kỷ 20 và Nghệ thuật đương đại” của nhà Christie’s Hong Kong, một bức tranh của Lê Phổ có tên “Nue - Khỏa thân” cũng từng được bán với giá 10,925 triệu HKD (1,391 triệu USD, khoảng 32,5 tỷ đồng). Trước đó, vào năm 2017, tác phẩm có tên “Family Life - Đời sống gia đình” của nam danh họa cũng lập kỷ lục về tranh Việt đấu giá, với mức 1,172 triệu USD.

Được biết phiên đấu giá “Họa sĩ châu Á” bao gồm 30 tác phẩm do một số họa sĩ nổi tiếng tại Việt Nam và Châu Á thời kì đầu thế kỷ 20 như Nguyễn Phan Chân, Lê Phổ, Mai Trung Thứ hay Vũ Cao Đàm vẽ.

Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 2 Tác phẩm “Hai chị em trên ban công” được vẽ trên lụa của Lê Phổ trong phiên đấu giá.
Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 3 Bức tranh “Cô gái trẻ trong vườn hoa - Young Girls in a Flower Garden” của Lê Phổ.
Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 4  
Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 5 Hai tác phẩm của Tác phẩm của Mai Trung Thứ trong phiên đấu giá.
Hé lộ bức tranh của danh họa Lê Phổ vừa được bán với giá kỷ lục ở nước ngoài - ảnh 6 Tác phẩm của Nguyễn Phan Chánh.

Theo Aguttes


Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude

TPO - Doãn Hoàng Lâm là “con nhà nòi”. Cha anh là đạo diễn nổi tiếng Doãn Hoàng Giang, mẹ anh, Nguyệt Ánh, nữ diễn viên sở hữu nhan sắc xinh đẹp của thập niên 70. Nhưng Doãn Hoàng Lâm chưa bao giờ “dựa hơi” gia đình. Anh đi con đường của riêng mình. Doãn Hoàng Lâm là một họa sỹ chuyên nghiệp, được biết đến nhiều với những bức tranh đàn bà trong trạng thái “nguyên thủy”.


Tháng 9 vừa qua, trong triển lãm nhóm có tên “Toan” cùng với Tào Linh, Nguyễn Văn Chung, anh đã khoe 15 bức tranh chỉ vẽ đàn bà. Phải chăng trong mùa dịch anh muốn “cứu rỗi” thế giới bằng vẻ đẹp của chị em?

Doãn Hoàng Lâm: Trong số 15 bức tranh ở “Toan” thì có 13 bức chỉ vẽ một cô. Đó là cơ duyên để gặp một nỗi ám ảnh trên đời. Người đó gây cho tôi cảm xúc để làm việc. Trong tranh biểu hiện, cảm xúc là của chính tác giả, chứ không nhất thiết nhân vật trong tranh phải ghê gớm thế. Vấn đề là họ mang lại cảm xúc cho người nghệ sỹ thật ghê gớm. Đó là cơn cớ. Họa sỹ biểu hiện cần cảm xúc để làm việc, mà cảm xúc không bịa được. Thí dụ, họa sỹ vẽ phong cảnh nông thôn nếu xuất phát từ nông dân thật sự, có đi chăn trâu, cắt cỏ sẽ vẽ rất khác. Chứ còn bây giờ bảo tôi vẽ nông thôn thì tôi chỉ vẽ được cái vỏ nông thôn.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 1 Một tác phẩm của Doãn Hoàng Lâm tại triển lãm "Toan" hồi tháng 9 (Ảnh: Internet)

Anh vẽ về phụ nữ nhiều hơn cả trong sự nghiệp cầm cọ, tính đến thời điểm này?

Doãn Hoàng Lâm: Đúng. Tôi vẽ phụ nữ nhiều nhất. Đó là cơ duyên thôi. Chính sự trải nghiệm trong cuộc sống của tôi, khiến tôi có được cơ duyên đó.  Tôi nói rất thật nhưng như đùa: Mọi thứ quan trọng tôi  hiểu biết được là do phụ nữ dạy cho nhiều (cười).

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 2  (Ảnh: Internet)

15 bức tranh vẽ đàn bà trong triển lãm “Toan” vừa qua, với nhiều trạng thái, tư thế, trong đó có cả trạng thái “nguyên thủy”, được anh vẽ vào những thời điểm nào?

Doãn Hoàng Lâm: Tôi vẽ trong cùng một giai đoạn. Bắt đầu từ khoảng đầu năm nay, chừng tháng 2, tháng 3 đến tháng 9, trong khoảng nửa năm.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 3 Trong khoảng nửa năm,  Doãn Hoàng Lâm đã trình làng 15 bức tranh về đàn bà (Ảnh: Đ.N)

Anh bắt đầu cầm cọ từ bao giờ?

Doãn Hoàng Lâm: Tôi học ĐH Mỹ  Thuật, ra trường từ năm 1999. Năm 2000 tôi có triển lãm đầu tiên. Triển lãm đó bắt  nguồn từ  cảm xúc của tôi về đường phố Hà Nội,  về những đứa trẻ ăn xin, về những phận người sống trên hè phố. Khi đang học tôi đã yêu chủ nghĩa biểu hiện mà chủ nghĩa biểu hiện cần một cơn cớ, một cảm xúc mạnh. Những con người vất vưởng đầu đường xó chợ, những kiếp sống nghèo khó… Đời sống của họ quá khốc liệt. Chính sự khốc liệt ấy đánh động rất mạnh đến tôi.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 4 Ngay cả khi đi theo mảng đề tài khác Doãn Hoàng Lâm vẫn không bỏ quên chị em (Ảnh: Đ.N)

Vậy khi nào anh bắt đầu vẽ đàn bà?

Doãn Hoàng Lâm: Tôi vẽ đàn bà cũng song song với những giai đoạn như thế. Tạo hóa ban cho phụ nữ một vẻ đẹp không gì sánh được. Ngay những bài học trong trường mỹ thuật đã vẽ phụ nữ rồi.

Khi nào anh bắt đầu vẽ nude?

Doãn Hoàng Lâm: Thì tôi cũng thích vẻ đẹp nguyên thủy, cũng bị ám ảnh bởi vẻ đẹp nữ tính và bị cuốn hút bởi cái mãnh liệt trong đời sống tinh thần của người phụ nữ nữa.


Doãn Hoàng Lâm: Có, ông cũng thích vẽ nhưng amateur, nghiệp dư, thôi. Ông không được đào tạo về vẽ.

Ngoài đàn bà và nude anh còn vẽ gì khác?

Doãn Hoàng Lâm: Một mảng khác tôi cũng thích là chân dung. Tôi vẽ cả chân dung đàn ông và trẻ con nhưng ngay mảng này tôi cũng thích vẽ phụ nữ nhất. Phần lớn tôi vẽ chân dung phụ nữ .

Phụ nữ trong tranh anh ngày xưa khác gì so với phụ nữ trong tranh anh hiện tại?
Doãn Hoàng Lâm: Thay đổi nhiều chứ. Những ai xem tranh tôi cách đây 20 năm sẽ nhận ra. Nhưng có cái chung: Chủ nghĩa biểu hiện vẫn rất mạnh mẽ. Có những bức ngày xưa còn mạnh hơn thế này nhiều lần, mạnh khủng khiếp, nhưng tôi cho rằng, cảm xúc hồi ấy có khi là cảm xúc mình bịa, mình nhầm tưởng. Khi biết hơn, lớn hơn thì tôi không cần bịa, cái cụ thể đã quá đủ.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 5 Đàn bà trong tranh Doãn Hoàng Lâm thay đổi theo sự trải nghiệm cảm xúc của tác giả 

Vẽ nude khi thuê người mẫu chuyên nghiệp khác gì so với vẽ nude bằng cảm xúc từ hiện thực đời sống?

Doãn Hoàng Lâm: Nhiều người mẫu cho tôi cảm giác rất dễ chịu, có thể mình sẽ vẽ bức tranh êm ái. Nhưng bạn thấy đó, chỉ có 2 bức trong triển lãm “Toan” tôi vẽ mẫu thật. Còn lại là cảm xúc đời sống. Khác ở chỗ với cảm xúc đời sống tôi không cần trực họa. Tôi muốn vẽ bằng cảm giác nhiều hơn là vẽ một thân thể. Còn nữa, người mẫu chuyên nghiệp thì phải thuê. Vẽ cô mẫu không chuyên nghiệp thì không phải thuê mà đời sống thúc mình phải vẽ (cười). Khi mình có ý tưởng mơ hồ thì thuê người mẫu để lắp vào bố cục. Chuyện đó khác hoàn toàn một người khiến mình bắt mình phải vẽ, không thể không vẽ được.

Anh bán được nhiều tranh nude không?

Doãn Hoàng Lâm: Bây giờ người ta sưu tập tranh khỏa thân cũng nhiều. Tôi biết có nhà sưu tập chỉ sưu tập tranh khỏa thân, không mua bất cứ loại tranh nào khác. Ông ta có khoảng 30 bức của tôi và hàng trăm bức của tác giả khác nữa. Các nhà sưu tập mua tranh trường phái biểu hiện là mua một phần đời sống của tác giả. Họ trải nghiệm chung với tác giả trong tác phẩm đó.

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 6 Tranh nude của Doãn Hoàng Lâm hiện tại chủ yếu bán cho khách Việt (Ảnh: Đ.N)

Khách tây hay khách Việt đến với anh nhiều hơn?
Doãn Hoàng Lâm: Cách đây khoảng 15 năm tôi hầu như không bán được bức tranh nào cho người Việt Nam, 100% là người nước ngoài. Bây giờ thì ngược lại, toàn người Việt Nam gõ cửa.

Giá tranh của anh ra sao?
Doãn Hoàng Lâm: Giá tranh chẳng do tôi quyết định. Nó là quy luật cung cầu. Tôi không phải họa sỹ đắt hàng nếu đắt hàng hơn có thể giá cao hơn. 

Vì sao anh nghĩ mình không phải họa sỹ đắt hàng? 

Doãn Hoàng Lâm: Tôi chịu đó. Vì do người mua quyết định. Nhưng có thể tranh của tôi xa rời hoàn toàn tính trang trí. Chúng không thể trang trí nhà cửa được. Tranh của tôi có thể treo ở bất cứ đâu nhưng không nhằm mục đích trang trí. Thí dụ một người sưu tập có thể treo tranh của tôi giữa phòng khách, nếu họ thích. Đó là họ đồng cảm với tôi, muốn có một phần đời sống của tôi trong nhà của họ. Họ nhìn vào đó, cảm thấy được chia sẻ, chứ không phải trang trí nhà.
 

Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm: Đam mê bất tận với nude - ảnh 7 Họa sỹ Doãn Hoàng Lâm tại triển lãm "Toan" (Ảnh: Đ.N)

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc

Ngày 09/10 tới đây, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sẽ diễn ra triển “Ngày rộng”. Triển lãm góp thêm một món quà ý nghĩa dành tặng mảnh đất Thủ đô nhân dịp kỷ niệm 1010 năm Thăng Long - Hà Nội.

Đây là triển lãm tập hợp các tác phẩm đặc sắc của 8 họa sĩ đến từ nhiều vùng miền trong cả nước gồm: Phùng Văn Tuệ, Nguyễn Lê Anh, Nguyễn Quang Hoan, Phạm Hoàng Hà, Phạm Thị Hồng Sâm, Trần Cường, Phạm Đức Trọng và Phạm Văn Khải.

Mỗi người một phong cách, một cá tính sáng tạo riêng... Tuy nhiên, hơn 50 tác phẩm hội họa đa dạng ở đề tài, phong phú trong cách thể hiện sẽ mang đến cho người xem nhiều cảm xúc mới.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 1


Phạm Thị Hồng Sâm bên tác phẩm mang phong cách trừu tượng do chính mình sáng tác.

Nếu như Họa sĩ Nguyễn Lê Anh và Phạm Đức Trọng đắm đuối với phong cảnh, chân dung, tĩnh vật... thì họa sĩ Trần Cường với lối vẽ biểu hiện sẽ mang đến cho người xem những tác phẩm thú vị thể hiện bản ngã của con người.

Nếu Phùng Văn Tuệ diễn tả tinh tế những chuyển động của cuộc sống bằng ngôn ngữ biểu hiện trừu tượng thì Phạm Thị Hồng Sâm lại cuốn người xem vào sự chuyển động của ánh sáng qua sự biến ảo của không gian.

Để rồi hòa vào đó là một Phạm Hoàng Hà giao ca cùng phong cảnh nông thôn Việt Nam, một Nguyễn Quang Hoan đắm đuối với khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống làng quê bình dị và một Phạm Khải ấn tượng với cầu Long Biên lịch sử cùng nhịp sống mới nơi thôn quê … Tất cả tạo nên một bản hòa ca của nghệ thuật và sức trẻ.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 2


Tranh của Phạm Đức Trọng.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 3


Tranh của Phạm Hoàng Hà.

Triển lãm “Ngày rộng”, ngoài việc kết nối những tâm hồn đồng điệu trong nghệ thuật thì còn chuyển tải một thông điệp đến với người xem đó là “Đôi khi vì công việc, vì cuộc sống vội vàng, ồn ã, mà chúng ta quên mất đâu đó trong cuộc sống này, vẫn còn biết bao điều tốt đẹp. Hãy lắng lại, sống chậm rãi để thưởng thức nghệ thuật, thưởng thức những khoảnh khắc ngọt ngào của cuộc sống, để thấy trân quý và yêu thương nhau hơn”.

“Chúng tôi đặt tên “Ngày rộng” cho triển lãm này, vừa là nhắc nhở chính mình, vừa là để gửi đến công chúng một thông điệp: “Chúng ta nên tạo ra cho mình những ngày rộng, tháng dài, sống bình tĩnh, chậm lại một chút để có thể thúc sự cảm nhận được vẻ đẹp ẩn sâu trong những tác phẩm nghệ thuật và cuộc đời này”, đại diện nhóm hoạ sĩ chia sẻ.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 4


Tranh của Nguyễn Lê Anh.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 5


"Với đề tài thiên nhiên, tôi muốn lột tả về tình yêu quê hương đất nước, yêu cảnh đẹp nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Nó gắn liền với tuổi thơ, với cội nguồn, với bao kỷ niệm khó quên", Phạm Quang Hoan chia sẻ.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 6


"Một phần cuộc sống tôi vẽ chính bản thân mình" - Phạm Văn Tuệ bộc bạch.

8 họa sĩ gửi thông điệp “sống bình tĩnh” thông qua 50 bức tranh đặc sắc - 7


"Tôi tự chọn cho mình hình ảnh là một người kể chuyện bằng tranh, tôi tìm kiếm những mẩu chuyện", Nguyễn Lê Anh tâm sự.

Hà Tùng Long



Thì thầm với gốm cùng họa sĩ Ngô Trọng Văn – Nguyễn Thị Dũng

Vợ chồng nghệ sĩ Ngô Trọng Văn – Nguyễn Thị Dũng - Ảnh: NVCC
Ngày 12.9 tới đây, tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM sẽ diễn ra triển lãm "Lời thì thầm" của hai vợ chồng họa sĩ Ngô Trọng Văn và Nguyễn Thị Dũng với hàng trăm tác phẩm làm từ gốm.

Triển lãm sẽ kéo dài từ Thứ 7 ngày 12.9 đến hết ngày 21.9, mở cửa từ 8 giờ đến 17 giờ hàng ngày, từ thứ 2 đến Chủ nhật.

Dưới đây là vài nét phác họa con đường đi đến với nghệ thuật gốm cặp vợ chồng nghệ sĩ này:

Ngô Trọng Văn – Con đường gập ghềnh với gốm

Hoạ sĩ Ngô Trọng Văn mang tới triển lãm bộ tác phẩm “Nguyệt dạ” gồm 8 tác phẩm với nhiều kích cỡ khác nhau.

“Với tôi, người phụ nữ đẹp nhất ở độ trăng tròn. Nguyệt dạ đại diện cho tính nữ, cho cái đẹp tròn trịa, dịu dàng, mềm mại, nhưng đặc biệt là luôn ẩn chứa những câu chuyện đầy tính thân phận, nỗi cô đơn, tính kiên nhẫn, sự hy sinh lặng thầm. Phụ nữ như bông hoa quỳnh không dễ phô diễn, lúc nở đẹp nhất, toả sáng nhất lại rơi vào những thời khắc ngặt nghèo hoặc những bối cảnh, không gian éo le, vẻ đẹp rực rỡ ấy chưa chắc đã được người đời chiêm ngắm. Nhưng cũng chính vì giá trị lặng thầm mà vô cùng quyến rũ đó, tính nữ luôn giữ một quyền lực mềm khiến cho một nửa còn lại của thế giới không thể làm ngơ” – Ngô Trọng Văn tự sự.

8 tác phẩm trong bộ “Nguyệt dạ” là sự thể hiện ý niệm hoàn chỉnh về tính nữ trong quan niệm của Ngô Trọng Văn, có những khoảnh khắc thanh xuân tươi trẻ, có cả thời khắc người phụ nữ mang bầu.

Mặc dù ý niệm về tính nữ được thể hiện đậm nét trong “Nguyệt dạ” nhưng với bộ tác phẩm này, Ngô Trọng Văn đã tìm được một cách thể hiện khác biệt, mới mẻ về ngôn ngữ hình khối chứ không phải chỉ là những vuốt ve mềm mại dáng nét phụ nữ thông thường.

Ngô Trọng Văn xuất thân đã là sinh viên theo học ngành gốm, nhưng đi làm gốm cực quá, cuộc sống với gánh lo cơm áo gạo tiền cuốn trôi khiến Văn bỏ gốm đi học thiết kế thời trang, mở công ty, rẽ hướng hoạt động.

Nhưng sau mấy năm thử sức trong lĩnh vực khác, bên trong Văn vẫn đau đáu nỗi niềm với ngôn ngữ của hoả biến. Và cuối cùng, anh không thoát được khỏi niềm đam mê với đất, với lửa.

Ngô Trọng Văn bên tác phẩm "Mơ hoa"

Đồng hành trong gia đình nhỏ cùng Ngô Trọng Văn là một hoạ sĩ gắn bó với gốm trên hai mươi năm Nguyễn Thị Dũng. Nguyễn Thị Dũng nổi tiếng là không chịu thất bại, cho dù nghiên cứu quá nhiều và cũng không ít lần bật khóc vì không đón được tác phẩm ra lò.

Thấy vợ miệt mài say sưa, trái tim "rừng rực" lửa gắn bó với hình khối, với những cánh hoa gốm nối nhau nở ra sáng rực sau mỗi mẻ nung, sợi dây rung cảm đã truyền vào sâu thẳm trong Ngô Trọng Văn những cảm xúc thổn thức với gam màu, hình khối, thách thức qua từng mẻ nung đã kéo anh trở lại cùng đam mê thuở trước.

Vậy là Ngô Trọng Văn quyết định quay lại với gốm kể từ năm 2014, hai vợ chồng cùng đầu tư mua lò nung, thuê xưởng, mỗi người mỗi góc miệt mài suy tư với gốm.

“Hạt trời” màu nâu, có màu sắc của hạt cà phê Tây Nguyên, có hình dáng của tượng gỗ Tây Nguyên, nặng khoảng 100 kg, kích cỡ gần bằng người thật, sức một người không thể bê nổi.

Bức tượng gốm sần sùi khắc khổ mà lúc nung xong nhiều thợ gốm cứ lắc đầu tưởng là sản phẩm hỏng, họ không biết rằng Ngô Trọng Văn đã tính toán hết cho những lớp đất sần sùi sau nung, vỡ toác ra màu nâu của đất, được hoạ sĩ mang về kỳ cạch hoàn chỉnh tác phẩm ở công đoạn mài đi nhiều khúc quanh, nhiều đồi núi, thung lũng, với rất nhiều “địa hình” hiểm trở.

“Cuộc sống là vậy. “Hạt trời” được gieo xuống, thì cho dù đất đai màu mỡ hay khô cằn đá sỏi hạt cũng phải nảy mầm, phải vươn lên, đón ánh sáng, chiến đấu với tất cả các thế lực xung quanh để sinh tồn” – Ngô Trọng Văn chia sẻ.

Ngoài ra, Ngô Trọng Văn còn mang đến triển lãm những tác phẩm khác như “Nữ hoàng”, “Hề xiếc” (Bộ 2 tác phẩm)…,

Ngô Trọng Văn chia sẻ: “Khá đáng tiếc là hôm đi xin phép triển lãm thì quên không gửi ảnh tác phẩm nên bị bỏ lỡ mất tác phẩm “Nhịp trầm” không mang đến giới thiệu với công chúng yêu nghệ thuật”.

Khác với “Nguyệt dạ” tôn vinh tính nữ, “Nhịp trầm” là một tác phẩm đầy tính tự sự nam tính, giống như cách nghĩ, lối ứng xử, đường đi nước bước đầy trầm tĩnh của một người đàn ông.

Mỗi tác phẩm gốm đều phải trải qua quy trình từ lúc nặn, chờ khô, đem nung qua lửa, mất vài tháng liền.

“Có sáng tác sử dụng men sâu nhiều màu, khi ra lò, tác phẩm phồng lên tùm lum, nổ như bọt xà phòng, phải thêm công đoạn mài sẽ ra hiệu ứng khác. Thậm chí mài xong, có thể nung lại lần 2, rồi lại mài tiếp. Như bộ 8 tác phẩm “Nguyệt dạ” là nung tới 3 lần. Để hoàn thiện một tác phẩm, phải mất tới vài tháng” – Ngô Trọng Văn chia sẻ.

Ngô Trọng Văn - Nguyễn Thị Dũng bên tác phẩm "Mộng dưới hoa"

Nói về 4 chiếc bình gốm cỡ cực lớn, trong đó có 2 chiếc sáng tác chung với vợ, Ngô Trọng Văn kể: “Lần đó đi trại sáng tác, hai vợ chồng đăng ký làm bình cỡ lớn vì chỉ có ở không gian đó mới có đủ điều kiện và có lò để nung tác phẩm cỡ lớn như vậy. Nhưng đáng tiếc là chiếc bình đầu tiên nung xong vỡ vụn thành hàng trăm mảnh nhỏ. Đứng nhìn đống mảnh vỡ, vừa tiếc, vừa nản. Nhưng cuối cùng, hai vợ chồng cùng quyết chí làm lại. Và để chắc ăn thì làm luôn một cặp. Cả hai lao vào làm điên cuồng để kịp thời gian. Cuối cùng, thật may mắn là thành phẩm tuyệt đẹp được đón ra lò”.

Cặp bình gốm men cỡ lớn (112x55) là công sức sáng tạo chung của cả hai vợ chồng họa sĩ Ngô Trọng Văn – Nguyễn Thị Dũng được đặt tên là “Mộng dưới hoa” và “Mơ hoa”.

Nguyễn Thị Dũng – Niềm đam mê rực cháy

Ngay trong những ngày đầu tiên của năm mới 2020, hoạ sĩ Nguyễn Thị Dũng và Ngô Trọng Văn đã cùng tham gia triển lãm “Gốm Sài Gòn” 2020 (từ ngày 4.1 đến hết ngày 15.1.2020) với hàng trăm tác phẩm khoe vẻ độc đáo ngôn ngữ của hỏa biến cùng với 5 hoạ sĩ khác đến từ nhiều vùng miền.

Nguyễn Thị Dũng mang tới triển lãm hồi đầu năm khoảng 20 tác phẩm, trong đó serie Mầm xanh đã được Dũng sáng tác trong các năm 2017-2018; serie chủ đề Những đóa hoa nẩy mầm (hoa Cúc, Cúc mẫu tử, Mẫu đơn…) được sáng tác năm 2019 và chủ đề hoa trái của năm 2020 gồm có Hoa và trái bưởi, Hoa và trái chuối, Mùa xuân

Với triển lãm “Lời thì thầm” lần này (từ 12.9 đến hết ngày 21.9.2020), Nguyễn Thị Dũng mang tới thêm vài chục bộ tác phẩm gốm, mỗi bộ là hàng chục tác phẩm khác nhau.

Thế mạnh men, màu và tính sáng tạo liên tục đã khiến Nguyễn Thị Dũng nổi bật trong việc đưa các sản phẩm gốm thông dụng trở thành những tác phẩm nghệ thuật. Đồng thời, tác phẩm nghệ thuật gốm của Dũng luôn mang tính hữu dụng thực tế, phải sử dụng được chứ không phải chỉ để trưng bày.

Nguyễn Thị Dũng bên tác phẩm Bình mẫu đơn tím

Chẳng hạn như những chiếc bình trà, được Nguyễn Thị Dũng đánh giá là khó nhất trong các kỹ thuật gốm, vì phải nhanh, nhất quán, không được bỏ qua các “giai đoạn vàng” trong chế tác. Màu sắc của ly, bình trà, tống, khay… phải thống nhất. Đã vậy, hoạ sĩ muốn làm bình trà phải có cảm xúc rất nhiều đủ thăng hoa để gửi gắm vào từng bộ tác phẩm.

Khó vậy, nhưng Nguyễn Thị Dũng đã tự nâng mức thách thức bản thân lên rất cao. Chỉ trong một năm, Dũng làm tới vài trăm bộ bình trà. Triển lãm “Lời thì thầm” lần này, Dũng sẽ giới thiệu khoảng 10 bộ.

Đặc biệt, chiếc bình trà kiểu cổ không cho nước vào từ bên trên mà lật đáy bình lên để châm nước đã được Nguyễn Thị Dũng nghiên cứu, chế tác thành công.

Nguyễn Thị Dũng miệt mài nặn từng cánh hoa

Hoạ sĩ kể: “Hồi đầu những người chơi đồ cổ cho Dũng xem ảnh, nghe họ tả hoài nhưng vẫn không hiểu phải làm thế nào. Lúc đầu chế tác thử, chỉ có cái quai ấm thôi cũng phải cắt gọt 2 ngày mới xong, nghĩ cực quá mà đến lúc vào lò nung xong, thành phẩm nhìn thì đẹp mắt nhưng không xài được vì cái vòi nó bị bít. Dù đã hỏng đến vài lần nhưng tôi không nản, mà ngưng lại để suy nghĩ. Tôi không chịu thua. Nghĩ cho chín rồi mới làm lại, và những lần gần đây đã thành công rồi. Bình châm trà mẫu xưa độc đáo hoàn toàn có công dụng thực sự”.

Quá trình hỏa biến mang lại điểm độc đáo của tác phẩm gốm và tác động đến cảm xúc của người nghệ sĩ...

“Tính tôi, chỉ thích làm đồ khó. Nhất là màu và men, người khác thì lúc được lúc không nhưng tôi có thể kiểm soát màu rất tốt. Phải để tác phẩm trong một phòng riêng, chờ khô tự nhiên trong 2-3 tháng, đạt đủ độ ẩm mới bắt đầu làm men. Làm bộ tác phẩm hoặc hai bộ thì phải đợi đủ bộ mới chuyển đi nung. Tôi thường làm rất nhiều màu men, lúc dày lúc mỏng, có độ đậm nhạt khác nhau, nếu nung các mẻ khác nhau thì màu men sẽ không đều, nên có những bộ tác phẩm phải chờ nhau từ đầu năm đến cuối năm mới được chuyển đi nung” – Họa sĩ Nguyễn Thị Dũng cho biết.

Nguyễn Thị Dũng - Ngô Trọng Văn tại lò gốm

Họa sĩ cho biết cảm giác rất thú vị mỗi lần đốt lò và ra lò gốm, nên dù rất mệt nhưng vẫn bị đam mê gốm kích thích khám phá, trải nghiệm.

“Nhiều bộ tác phẩm có hàng ngàn cánh hoa, hai tác phẩm là 2.000 cánh hoa, tôi phải làm việc liên tục cả ngày cả tối, kéo dài 6 tháng mới xong một bộ tác phẩm, nắn từng cánh, rồi đập, xong 1.000 cánh hoa muốn… rụng tay luôn. Làm xong một bộ tác phẩm là bị trật khớp, phải nghỉ đến cả tháng cái tay mới có thể hoạt động trở lại” – Nguyễn Thị Dũng kể.

Không phải lúc nào cũng có thể thành công. “Hồi hai vợ chồng quyết định cùng làm chung chiếc bình lớn đầu tiên, mất tới nửa tháng sáng tác, đến lúc vào lò nung, nó bể thành hàng trăm mảnh luôn, trời ơi, buồn gì mà buồn đến não cả ruột. Nản mất … 1 ngày. Đến chiều lại quyết định làm lại. Lần này thì làm luôn hai cái. Mà tôi lạ lắm, hễ cứ thấy đất là … mê tơi luôn, lao vào làm không cần ăn, khỏi cần ngủ, quên mất tiêu chuyện cái bình trước đó mới bể tanh bành. Đó chính là bộ bình “Mơ hoa” và “Mộng dưới hoa” – Nguyễn Thị Dũng trải lòng.

Nói về những tác phẩm sáng tác chung, Nguyễn Thị Dũng kể: “Anh Văn tạo hình và bố cục còn tôi thì làm bông, hoa và màu men. Khó khăn nhất với một tác phẩm làm chung là hai người phải đồng thuận được trong nội dung câu chuyện chuyển tải vào tác phẩm. Thật vui vì “đứa con chung” của hai vợ chồng đã lấy được những điểm mạnh nhất từ cả hai người”.

Tiểu Vân




Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật

Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật - 1


Bức họa “Head of a Bearded Man” (Đầu người đàn ông nuôi râu) vốn từ lâu bị xem là tranh giả, không phải do danh họa Rembrandt (1606-1669) thực hiện

Bức họa “Head of a Bearded Man” (Đầu người đàn ông nuôi râu) vốn từ lâu bị xem là tranh giả, không phải do danh họa Rembrandt (1606-1669) thực hiện.

Nhưng một nghiên cứu gần đây lại nhận thấy rằng khung gỗ nguyên bản của bức tranh này trùng khớp với chất liệu khung gỗ được sử dụng cho bức “Andromeda Chained to the Rocks” (Nàng Andromeda bị xích vào tảng đá) do danh họa Rembrandt thực hiện.

Bức “Đầu người đàn ông nuôi râu” là một bức tranh cỡ nhỏ khắc họa một người đàn ông lớn tuổi với vẻ ngoài buồn bã, mệt mỏi. Vì vốn bị xem là tranh giả, “nhái” theo phong cách của Rembrandt, nên tranh chỉ được treo ở tầng hầm của viện bảo tàng Ashmolean nằm ở thành phố Oxford, hạt Oxfordshire, Anh.

Nhưng sau khi có phát hiện mới về chất liệu khung gỗ, người ta có thể xác nhận rằng tác phẩm này quả thực đã được thực hiện tại xưởng vẽ của vị danh họa và có thể còn do chính vị danh họa thực hiện.

Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật - 2


Bảo tàng Ashmolean

Vì vậy, bảo tàng Ashmolean lại một lần nữa đem tranh ra trưng bày. Bức vẽ được thực hiện vào khoảng năm 1630 bỗng được giới hội họa quan tâm vì hành trình “long đong, lận đận”, biến đổi... thật giả khó lường.

Bức họa từng được tặng cho bảo tàng vào năm 1951, khi tranh được chuyển tới bảo tàng, tác phẩm được đề là “tranh của Rembrandt”. Nhưng tới năm 1981, bức tranh bị phủ nhận và từ đây bị xem là tranh giả, sau khi một nhóm chuyên gia chuyên nghiên cứu về tranh Rembrandt kết luận như vậy.

Đại diện bảo tàng Ashmolean - bà An Van Camp nhớ lại: “Họ xem tranh và kết luận đây không phải tranh của Rembrandt, rằng đây là tranh nhái theo phong cách của Rembrandt và có thể đã được thực hiện ở cuối thế kỷ 17, không đúng với quãng thời gian lúc sinh thời của vị danh họa”.

Ngay lập tức tranh bị chuyển xuống tầng hầm của bảo tàng. Bà An Van Camp bắt đầu làm việc tại bảo tàng Ashmolean từ năm 2015 và có để tâm tới bức tranh nhỏ này, “một bức tranh mà không ai muốn nói về nó bởi đó là tranh nhái theo phong cách Rembrandt”.

Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật - 3


Danh họa Rembrandt trong một bức chân dung tự họa

Gần đây, bảo tàng có tiến hành trưng bày tranh về sự nghiệp hội họa thời trẻ của vị danh họa. Bức họa nhỏ càng khiến bà An Van Camp nghĩ đến, bởi linh cảm khiến bà tin rằng đây không phải tranh giả: “Với tôi, đó chính là phong cách của Rembrandt.

“Chính vị danh họa đã thực hiện những bức tranh nhỏ khắc họa chân dung đặc tả gương mặt của những người đàn ông lớn tuổi với vẻ buồn bã, cô đơn, trầm ngâm. Đó chính là phong cách điển hình của Rembrandt khi ông sinh sống ở thành phố Leiden (Hà Lan) vào khoảng năm 1630”.

Sau đó, bức họa đã được ông Peter Klein phân tích lại, ông Klein là một chuyên gia hàng đầu thế giới về tính toán tuổi gỗ, xác định chất gỗ.

Sau quá trình kiểm định, ông Klein khẳng định rằng khung gỗ của bức “Đầu người đàn ông nuôi râu” chính là chất liệu gỗ thuộc cùng một cây vốn được sử dụng để làm khung cho bức “Andromeda Chained to the Rocks” (một tác phẩm của Rembrandt, hiện đang trưng bày tại bảo tàng Mauritshuis, thành phố Den Haag, Hà Lan).

Theo ông Klein, khung gỗ của cả hai bức tranh đều thuộc về cùng một cây sồi từng được đốn hạ ở vùng Baltic trong khoảng thời gian từ năm 1618-1628. “Sau quãng thời gian nghiên cứu chất gỗ, chúng tôi có thể khẳng định bức chân dung ‘Đầu người đàn ông nuôi râu’ được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1620-1630”, ông Klein kết luận.

Là “tranh giả” suốt 3 thập kỷ, tác phẩm bất ngờ “có cơ” thành... tranh thật - 4


Bức “Andromeda Chained to the Rocks” (Nàng Andromeda bị xích vào tảng đá) 

Các hoạt động nghiên cứu đều cho thấy bức tranh này quả thực đã được thực hiện tại xưởng họa của Rembrandt, những nghiên cứu tiếp theo sẽ được tiến hành tới đây để xác định có phải đích thân vị danh họa đã thực hiện bức vẽ này hay không. Dù vậy, ngay lập tức, bức tranh đã được treo ở vị trí mới lý tưởng hơn so với vị trí trước đó ở... tầng hầm.

Bích Ngọc
Theo The Guardian





Thứ sáu, 28/08/2020 - 07:53

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật

Trong lịch sử hội họa, đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng từng trở thành “đối tượng bị hại” trong những vụ tấn công gây bàng hoàng, sửng sốt.

Mona Lisa (Nàng Mona Lisa)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 1


Bức "Mona Lisa"

Bức “Mona Lisa” được thực hiện bởi danh họa Leonardo da Vinci đã từng phải trải qua những cuộc tấn công lớn nhỏ và hiện giờ tác phẩm đã được bảo vệ rất cẩn thận.

Hồi năm 1911, tác phẩm bị đánh cắp khỏi bảo tàng Louvre bởi một nhân viên từng làm việc cho bảo tàng, người này có tên Vincenzo Peruggia, Vincenzo từng tham gia vào việc dựng khung kính bảo vệ cho tác phẩm.

Anh ta tiến hành vụ trộm bằng cách trốn trong một phòng chứa đồ vệ sinh, khi bảo tàng đóng cửa lúc cuối ngày, Vincenzo lẻn ra đánh cắp bức tranh và giấu tranh bên dưới chiếc áo khoác rộng trong quá trình tẩu thoát. Vincenzo Peruggia vốn là một người Ý, anh ta mong muốn đưa tác phẩm về với các bảo tàng, triển lãm ở Ý.

Người này giữ tranh trong căn hộ của anh ta suốt hai năm rồi bị bắt trong một lần bán tranh cho giám đốc của một triển lãm ở Florence, Ý. Tranh được trưng bày tại triển lãm này trong hai tuần rồi lên đường trở về bảo tàng Louvre (Pháp) vào đầu năm 1914. Vincenzo Peruggia bị phạt 6 tháng tù giam.

Trong thời kỳ diễn ra Thế chiến II, tranh được đưa đi “sơ tán”. Trải qua những biến động đầu tiên này, bức “Mona Lisa” vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng tới năm 1956, một thanh niên có tên Ugo Ungaza Villegas đã ném một hòn đá về phía bức tranh khi tham quan bảo tàng Louvre, lực ném quá mạnh khiến lớp kính bảo vệ bị vỡ và những mảnh vỡ văng vào tranh, khiến một mẩu sơn của tranh bị bong ra, đó là ở chỗ cùi trỏ bên trái của nàng Mona Lisa.

Lý do khiến bức tranh được lắp khung kính từ hồi thập niên 1950 là bởi trước đó, có một người đàn ông tuyên bố đã đem lòng yêu bức tranh và định dùng dao để... cắt tranh đem đi. Ngay sau đó, kính chống đạn được lắp trước bức tranh.

Năm 1974, khi tranh được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Tokyo (Nhật Bản), một người phụ nữ đã phun sơn đỏ lên lớp kính bảo vệ tranh.

Năm 2009, một phụ nữ đã ném một chiếc cốc mua tại bảo tàng Louvre về phía bức tranh, chiếc cốc va vào lớp kính bảo vệ rồi vỡ tan.

The Night Watch (Phiên tuần đêm)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 2


Bức "The Night Watch"

Bức tranh từng được phủ một lớp sơn bóng tối màu, khiến tác phẩm đưa lại cảm nhận về cảnh tượng buổi đêm, dẫn tới cái tên “Phiên tuần đêm” được giới hội họa quốc tế quen dùng bấy lâu nay, dù thoạt tiên ban đầu, danh họa Rembrandt đặt một cái tên khác rất dài cho tác phẩm của mình.

Hồi năm 1911, một người thợ đóng giày thất nghiệp đã định dùng dao rạch tác phẩm để thể hiện nỗi bất mãn, chán chường của mình. Nhưng chính lớp phủ bóng khá dày của tác phẩm đã cứu nguy cho bức họa, những nhát dao đã không thể rạch xuyên qua lớp phủ bóng ấy.

Năm 1975, bức họa lại bị tấn công bằng dao bởi một người đàn ông thất nghiệp có tên Wilhelmus de Rijk, nhưng lần này, lực đâm quá mạnh nên để lại những vết cắt lớn trên tranh.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 3


Bức "The Night Watch" sau khi bị tấn công

Người đàn ông này vốn “không bình thường”, vì vậy, sau khi gây ra vụ việc, anh ta không phải chịu án phạt, mà được đưa đi điều trị tâm thần rồi tự sát vào năm 1976. Về phần bức tranh “Phiên tuần đêm”, người ta cần tới 4 năm mới có thể phục chế xong xuôi, nhưng tác phẩm không thể được như xưa, vết dao cắt vẫn có thể nhận ra nếu nhìn sát vào bề mặt tranh.

Năm 1990, một bệnh nhân tâm thần bỏ trốn lại tạt axit lên tranh bằng một chai xịt mà y cất giấu trong người. Nhân viên bảo vệ đã nhanh chóng can thiệp và xịt nước lên tranh khiến dung dịch axit bị pha loãng, chỉ tác động được tới lớp phủ bóng của tranh và mưa kịp ngấm sâu xuống các lớp màu bên dưới. Sau đó, tranh lại phải trải qua phục chế.

Rokeby Venus (Thần Vệ Nữ ở Rokeby)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 4


Bức "Rokeby Venus"

Vào năm 1914, một người phụ nữ có tên Mary Richardson đã bước vào Bảo tàng Quốc gia London (Anh) để tấn công bức họa nổi tiếng của danh họa Diego Velázquez bằng một con dao... thái thịt. Richardson đã để lại 7 vết rạch lớn trên tranh, dù vậy, về sau, may mắn là các vết rạch này đều được sửa chữa thành công.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 5


Bức "Rokeby Venus" sau khi bị tấn công

Richardson chịu án phạt tù 6 tháng. Về sau, trong một cuộc phỏng vấn hồi năm 1952, người phụ nữ này từng nói rằng bà ta không thích “cách những người đàn ông nhìn hau háu tác phẩm này mỗi khi đến thăm bảo tàng”.

Guernica

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 6


Bức "Guernica"

Năm 1974, một người đàn ông có tên Tony Shafrazi đã phun sơn đỏ lên bức tranh được thực hiện bởi danh họa Pablo Picasso, rất may sau đó, bức họa đã được phục chế thành công.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 7

Bức "Guernica" sau khi bị tấn công

Danaë

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 8


Bức "Danaë"

Hồi năm 1985, tác phẩm của danh họa Rembrandt đã bị tấn công bởi một người đàn ông có tên Bronius Maigys, người này về sau được xác định là có tâm thần bất ổn. Y đã hắt axit lên bề mặt tranh rồi dùng dao rạch hai nhát. Toàn bộ khoảng giữa của bức tranh liền bị bay màu rất mạnh, tác động nặng nề tới dung mạo nàng Danaë trong tranh.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 9


Bức "Danaë" sau khi bị tấn công

Hoạt động phục chế được bắt đầu tiến hành ngay trong ngày bức tranh bị tấn công và diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 1985-1997 mới có thể đưa bức tranh gần trở về với nguyên bản ban đầu.

Pieta (Đức Mẹ sầu bi)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 10


Tác phẩm điêu khắc "Pieta"

Tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của nghệ sĩ Michelangelo đã từng phải trải qua nhiều lần phục chế. Lần đầu, 4 ngón tay trên bàn tay trái của tượng Đức Mẹ bị gãy khi tác phẩm được di chuyển vị trí. Sự cố đã được sửa chữa, phục chế hồi năm 1736.

Vào năm 1972, một người đàn ông bị tâm thần có tên Laszlo Toth đã bước vào Vương Cung Thánh Đường Thánh Peter ở Vatican rồi dùng búa tấn công tác phẩm điêu khắc. Với 15 nhát búa, kẻ này đã làm gãy cánh tay của tượng Đức Mẹ, làm vỡ chóp mũi, sứt mẻ mi mắt. Những du khách có mặt ngay lập tức chạy lại để khống chế Toth.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 11


Tác phẩm trước và sau khi được phục chế

Một số du khách khác đã nhặt lấy những mẩu đá hoa cương rơi xuống sàn, về sau, có một số người đem trả lại, nhưng rất nhiều người trong số này không làm được như vậy. Nhóm phục chế đã phải cắt đá ở phía sau lưng tượng để dùng cho hoạt động phục chế. Giờ đây, tượng cũng được bảo vệ bởi kính chống đạn.

The Virgin and Child with St Anne and St John the Baptist (Đức mẹ Đồng trinh và Chúa hài đồng cùng Thánh Anne và Thánh John)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 12


Bức "Đức mẹ Đồng trinh và Chúa hài đồng cùng Thánh Anne và Thánh John"

Tác phẩm của danh họa Leonardo da Vinci từng bị một người đàn ông tâm thần bất ổn có tên Robert Cambridge tấn công bằng súng hồi năm 1987. Người đàn ông này đã dùng súng ngắn bắn lớp kính bảo vệ khiến lớp kính này vỡ vụn, các mảnh vỡ bắn vào bề mặt tranh đã gây nên những vết rách. Dù vậy, sau đó, hoạt động phục chế đã giúp đưa bức tranh trở về trạng thái ban đầu.

Black On Maroon (Màu đen trên màu nâu)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 13


Bức "Black On Maroon"

Ngày 7/10/2012, tác phẩm “Black on Maroon” do họa sĩ Mark Rothko thực hiện đã bị tấn công bằng sơn đen. Kẻ tấn công tự cho mình là một nghệ sĩ siêu hiện thực và có quyền thêm thắt vào tác phẩm của họa sĩ khác để đưa lại thông điệp mới. Người này có tên Wlodzimierz Umaniec. Y viết tên mình, số 12 và một dòng chữ tuyên bố đây là tác phẩm thuộc một trường phái do y sáng tạo nên.

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 14


Những dòng chữ mà Wlodzimierz Umaniec đã viết

Wlodzimierz Umaniec bị phạt hai năm tù giam. Hoạt động phục chế đã mất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc mới đưa lại kết quả như ý. Khi tác phẩm được đem trưng bày trở lại hồi tháng 5/2014, Wlodzimierz Umaniec đã thể hiện sự hối hận và lên tiếng xin lỗi vì những gì đã gây ra.

“Argenteuil Basin with a Single Sailboat” (Vịnh Argenteuil và một con thuyền)

Những vụ tấn công siêu phẩm hội họa gây chấn động giới nghệ thuật - 15


Bức "Vịnh Argenteuil và một con thuyền"

Hồi năm 2012, khi đến thăm Triển lãm Quốc gia Ireland, một người đàn ông có tên Andrew Shannon đã đấm vào bức tranh và gây nên vết rách lớn trên tác phẩm. Người ta đã phải mất 18 tháng để phục chế bức tranh, kể từ đó, tác phẩm được lắp kính bảo vệ.

Dù được phục chế, nhưng vẫn có khoảng 7% lớp sơn của bức tranh nguyên bản bị mất đi sau cú đấm. Shannon sau đó bị phạt 5 năm tù.

Bích Ngọc

Theo Time Out/Daily Art Magazine



Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật

Cuốn hồi ký của người con gái đầu lòng sẽ cho thấy một danh họa Picasso rất khác khi ở trong vai trò của một người cha, khác xa với những tai tiếng của ông trong vị trí một người tình.
Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 1


Danh họa Pablo Picasso (giữa) bên con gái Maya (đứng ngoài cùng bên phải) và nữ diễn viên người Pháp Vera Clouzot trong một bức ảnh chụp hồi năm 1955

Trong ký ức của cô con gái đầu lòng, danh họa Picasso là một người cha rất giàu tình yêu thương và sự trìu mến đối với con, rất khác với hình ảnh mà ông thường được khắc họa trong tình trường.

Khi danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso (1881-1973) đang trong cuộc hôn nhân với người vợ đầu - vũ công ba-lê Olga Khokhlova, thì ông bị hút hồn bởi nàng thơ 17 tuổi tình cờ bắt gặp trên đường phố Paris (Pháp) hồi năm 1927.

Khi ấy, ông hơn nàng thơ Marie-Thérèse Walter 28 tuổi. Walter nhanh chóng trở thành người mẫu xuất hiện trong những bức tranh chân dung gợi cảm của Picasso, giữa họ nảy sinh một cuộc tình và Walter đã sinh cho vị danh họa một cô con gái, trước khi ông có nàng thơ mới tiếp sau đó - Dora Maar, một nữ nhiếp ảnh gia kiêm họa sĩ.

Cô con gái mà Picasso có với Walter được đặt tên là Maya Ruiz-Picasso, hiện giờ người con gái của vị danh họa đã ở tuổi 84. Bà Maya đã kể lại những ký ức của mình về cha trong cuốn hồi ký “Picasso and Maya: Father and Daughter” (Picasso và Maya: Cha và con gái), cuốn sách sẽ được ra mắt vào tháng tới.

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 2


Nàng thơ Marie-Thérèse Walter thời trẻ

Trong cuốn hồi ký, bà Maya chia sẻ những gì bà còn nhớ về những người tình đi qua cuộc đời cha mình, về mối quan hệ thân thiết, gắn bó mà mình có với cha. Người giúp bà thực hiện cuốn hồi ký này chính là con gái của bà - nhà nghiên cứu lịch sử hội họa Diana Widmaier-Picasso.

Bà Maya chính là cô con gái đầu lòng của Picasso, ông đã thực hiện một số bức tranh chân dung khắc họa con gái mình từ nhỏ tới lớn, với những gam màu ấm áp. Nói về những bức chân dung mà Picasso từng thực hiện về nàng thơ Walter - mẹ của bà Maya, bản thân bà Maya vẫn luôn cảm thấy ngỡ ngàng trước vẻ gợi cảm được đẩy cao đầy kịch tính trong những bức chân dung ấy:

“Tôi vẫn luôn bất ngờ trước cách mà mẹ tôi được khắc họa rất chính xác trong những bức chân dung mà cha tôi thực hiện. Những cảm nhận được tạo nên trong tranh rất đúng về mẹ tôi, bà có những đường cong rất gợi cảm, bên cạnh vẻ ngoài hấp dẫn ấy, bà còn là người rất giàu tình cảm và có phong cách sống năng động, bà rất ưa vận động.

“Khi cha tôi gặp mẹ tôi, tôi nghĩ cha tôi đã ngay lập tức nhận ra những nét tương đồng với mẹ tôi, đó là lý do tại sao cha đã từng thực hiện nhiều bức tranh và bức tượng khắc họa mẹ tôi. Những tác phẩm ấy đều thể hiện rất rõ xúc cảm mà cha tôi dành cho mẹ tôi”, bà Maya nhận định.

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 3


Bức “Girl before a Mirror” (Cô gái đứng trước gương - 1932) do Picasso khắc họa Marie-Thérèse Walter

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 4


Bức “The Dream” (Giấc mơ - 1932) do Marie-Thérèse Walter làm người mẫu cho Picasso

Sự tồn tại của bà Maya cũng như mối tình giữa danh họa Picasso và nàng thơ Walter ban đầu được giữ bí mật. Chỉ vài tháng sau khi cô con gái Maya ra đời, Picasso đã bắt đầu mối tình mới với nàng thơ mới - Dora Maar.

Cuốn hồi ký của bà Maya hẳn sẽ phải đối diện với những nghi ngờ về tính chính xác, bởi cách bà khắc họa mối quan hệ giữa danh họa Picasso và mẹ mình - nàng thơ Marie-Thérèse Walter quá tích cực.

Trong thực tế, bà Walter đã không thể nào lãng quên mối tình thời thanh xuân với danh họa Picasso trong suốt phần đời về sau, năm 1977, ở thời điểm 4 năm sau khi danh họa Picasso qua đời, bà Walter tự sát ở tuổi 68.

Về phần mình, trong tư cách một người con gái của vị danh họa, bà Maya có lẽ đã lựa chọn lưu giữ lại những ký ức đẹp đẽ nhất về một người cha ấm áp, bà từng ngồi làm mẫu cho cha vẽ từ nhỏ cho tới năm 18 tuổi: “Có khi cha con tôi đang ngồi bên bàn và cha bất ngờ muốn lưu lại một khoảnh khắc biểu cảm nào đó. Cha liền nói: Đừng chuyển động! Rồi ông chạy đi tìm giấy bút, bảng vẽ...”.

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 5


Bức “First Snow” trong đó Picasso khắc họa cô con gái Maya hồi năm 1938

Bức tranh chân dung Picasso từng thực hiện hồi năm 1938 khắc họa bà Maya khi còn là một đứa trẻ - bức “First Snow” (Bông tuyết đầu tiên) - được thực hiện vào đúng ngày cô con gái nhỏ biết bước những bước đầu tiên: “Hôm đó, tôi đi một đôi giày màu hồng, về sau, cha tôi giữ đôi giày ấy làm kỷ niệm trong suốt những năm tháng của cuộc đời ông”.

Trong ký ức của bà Maya, danh họa Picasso không thích người mẫu của ông cười, ngay cả với con gái, ông cũng thường nhắc nhở không được cười khi đang ngồi làm mẫu vẽ, dù vậy, bà nhớ cha mình là người rất hài hước trong cuộc sống.

Ông cũng là người giàu tình cảm và sự quan tâm, ông từng tự tay làm nhiều đồ chơi cho con gái trong những năm tháng chiến tranh khan hiếm đồ chơi. Tự tay ông đã từng làm nhiều búp bê vải nhồi hạt đậu cho con gái chơi.

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 6

Nhấn để phóng to ảnh

Bức “Nude, Green Leaves and Bust” (Khỏa thân, lá xanh và bầu ngực - 1932) khắc họa vẻ gợi cảm của Marie-Thérèse Walter

Danh họa Picasso qua lời kể của người con gái bí mật - 7


Bức “Nude in a Black Armchair” (Khỏa thân trong chiếc ghế đen - 1932) tiếp tục khắc họa vẻ đẹp của Marie-Thérèse Walter qua nét vẽ của Picasso

Bích Ngọc

Theo The Guardian




Những bức tranh đắt giá của Picasso

Bị tuyên bố thất lạc trong suốt 50 năm qua, bức tranh “Seated Woman with Red Hat” của Picasso vừa được tìm thấy tại một viện bảo tàng thuộc bang Indiana của Mỹ.
Những bức tranh đắt giá của Picasso



Bức tranh này đã bị quên lãng trong nhà kho của bảo tàng suốt 50 năm qua. Do những sơ suất của người tiếp nhận tranh mà nó đã bị gắn nhầm tên người sáng tác là hoạ sĩ Gemmaux vì vậy bức tranh chưa từng được treo trên tường của viện bảo tàng. Những nhà quản lý ở đây dù có nhìn thấy chữ ký của danh hoạ Picasso ở góc tranh nhưng không dám tin đó là “hàng thật” mà nghĩ đó là tranh chép, khiến bức tranh bị chìm vào quên lãng trong suốt nửa thế kỷ.

Gần đây, dựa vào các công nghệ chiếu chụp hiện đại, các nhà nghiên cứu đã có thể khẳng định bức tranh nằm yên trong kho suốt nửa thế kỷ kia thật sự là một tác phẩm của Pablo Picasso và họ dự đoán giá bức tranh sẽ là một con số tương đối lớn bởi những tác phẩm của những danh hoạ nổi tiếng sau khi bị thất lạc và trải qua một cuộc phiêu lưu thú vị thường gây ra những cơn sốt trong giới sưu tầm nghệ thuật.

Khi viện bảo tàng nhận được món quà này, những giấy tờ kèm theo đều nói tác phẩm được vẽ bởi hoạ sĩ Gemmaux. Nhưng kỳ thực Gemmaux là số nhiều của từ “gemmail” - một phong cách sáng tác tranh phổ biến trong những năm 1930 với các lớp thuỷ tinh màu được gắn bằng một thứ keo lỏng trong suốt. Khi hoàn thiện việc rải thuỷ tinh và phết keo, nghệ sĩ sẽ hơ nó lên lửa để lớp keo tan chảy và hoà vào lớp thuỷ tinh màu.

Phong cách này không phải phong cách đặc trưng của Picasso và trong cả quá trình sáng tác của mình, Picasso chỉ sáng tác khoảng 50 bức tranh thuộc thể loại này trong thời kỳ ông học tập và sáng tác tại một phòng tranh ở Pháp.

Viện bảo tàng Evansville ở bang Indiana, Mỹ




Viện bảo tàng Evansville ở bang Indiana, Mỹ


Viện bảo tàng Evansville cho biết bức tranh có tựa đề Seated Woman with Red Hat (Người phụ nữ đội mũ đỏ ngồi trên ghế) đã được tặng cho bảo tàng vào năm 1963. Hiện bức tranh đã được trao cho công ty chuyên tổ chức đấu giá Guernsey tại New York để rao bán đồng thời công ty đấu giá cũng phải chịu trách nhiệm trưng bày, bảo quản, bảo vệ và mua bảo hiểm cho tranh. Hiện tại giá trị của bức tranh vẫn chưa được tính toán.

Việc lưu giữ một tác phẩm nghệ thuật có giá trị lớn đòi hỏi một tiềm lực kinh tế vững mạnh mà một viện bảo tàng nhỏ như Evansville không thể gánh vác nổi. Vì vậy, ban giám đốc bảo tàng dù rất thích thú với phát hiện mới mẻ này, họ vẫn phải quyết định rao bán bức tranh.

Chính nhờ công ty đấu giá Guernsey tới hỏi han về bức tranh cổ này mà nó mới được ban giám đốc ngó ngàng tới.

Sau một thời gian nghiên cứu về phong cách sáng tác này của Picasso, công ty đấu giá Guernsey đặc biệt chú ý tới viện bảo tàng Evansville vì nó có một bức tranh được tặng bởi nhà thiết kế công nghiệp Raymond Loewy vào đúng khoảng thời gian nó bị tuyên bố thất lạc.

Là một trong những tên tuổi lớn nhất trong nền mỹ thuật, tranh của Picasso luôn được trả những cái giá “trên trời”, bức Garcon a la Pipe của ông là một trong những bức tranh đắt nhất mọi thời đại, được trả giá 104 triệu đô la vào năm 2004.

Năm 2006, bức



Năm 2006, bức Dora Maar au Chat được bán với giá 95,2 triệu đô la, là bức tranh đắt giá thứ hai mang thương hiệu Picasso.

Năm 2006, bức

Cùng thời điểm này tại Anh, Chính phủ Anh cũng đang ra lệnh cấm tạm thời đối với việc bán ra nước ngoài bức tranh nổi tiếng của Picasso có tên Child with a Dove (Em bé và chú chim bồ câu). Bức tranh này đã được đem trưng bày trong phòng triển lãm quốc gia kể từ năm 1974.

Năm 2006, bức


Người sở hữu bức tranh này là gia đình quý tộc Aberconway, họ mua tranh dưới dạng trả góp định kỳ nhưng gần đây gia đình quý tộc này quyết định rao bán bức tranh.

Child with a Dove được vẽ năm 1901 và mang ý nghĩa lớn trong sự nghiệp của Picasso vì nó đánh dấu “thời kỳ màu xanh” của ông với rất nhiều bức sau này đều có tông chính là sắc xanh. Khi mua lại bức tranh đó hồi những năm 1970, giá của nó đã là 80 triệu đô la.

Bộ trưởng Văn hoá Anh Ed Vaizey đã tuyên bố chính thức trước báo giới ông ngăn cấm việc các tổ chức buôn bán tranh trong nước để bức tranh bị bán ra nước ngoài trước ngày 16/12/2013 cũng như bất cứ tổ chức nước ngoài nào có ý định hỏi mua tranh hoặc nhờ một đại diện trung gian thứ ba mua lại và chuyển tranh ra nước ngoài.

“Đây là cơ hội cuối cùng để chúng ta có thể giữ lại tác phẩm này cho nước Anh, thậm chí nâng tầm giá trị của nó trước khi có những đánh giá xác đáng từ các chuyên gia nghiên cứu. Các tác phẩm tranh có thể được mua nhanh chóng với giá hời bởi các tổ chức buôn bán tranh nghệ thuật trên thế giới trước khi những định hướng về giá cả được các chuyên gia trong nước đưa ra. Việc này có thể gây thiệt hại cho bên bán vì thiếu thông tin và sự hỗ trợ pháp lý về luật thuế của Nhà nước.”

Phát ngôn này của ông được đưa ra dựa trên quyết định của Uỷ ban Xuất khẩu các tác phẩm văn hoá nghệ thuật của Anh và Hội đồng Nghệ thuật Anh.

Các uỷ ban này đều cho rằng bức tranh đã được trả góp từ rất lâu và đã được trưng bày hàng chục năm tại viện bảo tàng quốc gia National Gallery tại London vì vậy nó có nhiều ý nghĩa tinh thần đối với người dân Anh.

Child with a Dove là một bức tranh rất được yêu thích và có vị trí lớn trong ngành sưu tập mỹ thuật ở Anh và được coi là một tài sản quốc gia quan trọng”, Aidan Weston-Lewis, một thành viên uỷ ban cho biết.

Bức tranh khắc hoạ một em bé ôm trong tay một chú chim bồ câu, đứng bên cạnh một quả bóng. Bức tranh thuộc về gia đình quý tộc Aberconway. Tháng 3 năm nay, công ty đấu giá Christie khẳng định thông tin rằng gia đình này đang tìm người mua lại bức tranh.

 
Hồ Bích Ngọc
Tổng hợp



Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso

Tên đầy đủ của Picasso có tất cả 23 từ. Lúc mới ra đời, bà đỡ tưởng Picasso bị chết yểu. Khi đi học, Picasso là một học sinh vô kỷ luật và thường bị đuổi ra khỏi lớp… Đó là một vài sự thật thú vị về danh họa người Tây Ban Nha.

Tên đầy đủ của Picasso có tất cả 23 từ

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso


Picasso từng được rửa tội và đặt tên là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Martyr Patricio Clito Ruíz y Picasso. Cái tên rất dài này bao gồm tên của nhiều vị thánh và tên của một số họ hàng thân thiết với gia đình. “Picasso” thực tế là tên họ thừa hưởng từ mẹ - bà Maria Picasso y Lopez. Tên của cha Picasso là Jose Ruiz Blasco.

Khi Picasso ra đời, bà đỡ tưởng rằng ông bị… chết yểu

Mẹ của Picasso đã rất khó khăn mới có thể sinh ra ông. Lúc chào đời, Picasso rất yếu ớt, đến mức bà đỡ tưởng rằng đứa bé đã bị chết yểu, vì vậy, bà đặt cậu bé Picasso lên bàn để mọi người vào chào từ biệt cậu bé tội nghiệp. Một người bác của Picasso vốn là bác sĩ - ông Don Salvador, đã thử một biện pháp rất đơn giản để cứu sống đứa cháu trai.

Ông Don Salvador vốn bị nghiện thuốc lá. Lúc vào chào từ biệt cháu, ông đang ngậm điếu thuốc trên môi. Để thử phản ứng của đứa trẻ, ông liền nhả khói thuốc lá vào mặt cậu bé. Khuôn mặt đứa cháu trai có biểu hiện khó chịu và ngay lập tức, đứa trẻ bật khóc.

Từ đầu tiên mà Picasso biết nói là “bút chì”

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso




Picasso có lẽ đã được sinh ra để làm họa sĩ. Từ đầu tiên mà ông biết nói là “piz” - một từ viết tắt của “lápiz”, trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “bút chì”. Cha của ông cũng vốn là một họa sĩ, một giáo sư giảng dạy về hội họa.

Chính cha đã cho Picasso những bài giảng đầu tiên về mỹ thuật từ khi ông lên 7. Khi Picasso ở tuổi 13, cha ông đã thề sẽ không bao giờ cầm cọ vẽ nữa bởi ông cảm thấy cậu con trai đã thực sự vượt qua mình.

Bức tranh đầu tiên của Picasso

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso




Lên 9 tuổi, Piccasso đã thực hiện hoàn chỉnh bức tranh đầu tiên có tên “Le picador” khắc họa một người đàn ông cưỡi ngựa trong một trận đấu bò tót.

Sự thật bất ngờ về cuộc đời danh họa Pablo Picasso




Bức tranh “nghiêm túc” đầu tiên mà Picasso dồn tâm sức thực hiện là “First Communion” (Lễ ban thánh thể đầu tiên) khắc họa cha mẹ và em gái của ông đang hành lễ trước bàn thờ Chúa. Picasso mới 15 tuổi khi hoàn thành bức tranh này.

Picasso là một học sinh… “vô kỷ luật”

Không nghi ngờ gì Picasso là một thiên tài trong lĩnh vực hội họa. Khi còn đi học ở trường, cậu bé Picasso cũng được đánh giá là già giặn hơn hẳn các bạn bè cùng lớp. Picasso ghét bị ra lệnh phải làm gì, vì vậy, cậu bé thường hay phạm lỗi vô kỷ luật trong lớp học, thường bị đuổi ra khỏi lớp và phải lên phòng “xưng tội” để chịu kỷ luật.

Khi ngồi trong phòng “xưng tội” - một căn phòng có bốn bức tường màu trắng với duy nhất một chiếc ghế dài để học sinh vô kỷ luật ngồi trên đó suy ngẫm về lỗi lầm của mình - Picasso cảm thấy rất yên bình và rất thích được ở trong phòng này vì ông có thể thực sự tập trung vẽ.

Mỗi khi bị đuổi ra khỏi lớp và phải lên phòng kỷ luật ngồi, ông đều mang theo giấy bút để vẽ: “Tôi rất thích căn phòng đó vì tôi có thể vẽ không ngừng nghỉ, lại chẳng bị ai làm phiền. Thời đó, tôi đã nghĩ rằng mình ở trong căn phòng này mãi cũng được”.

Có phải Picasso đã đánh cắp bức Mona Lisa?

Năm 1911, khi bức nàng Mona Lisa bị đánh cắp khỏi viện bảo tàng Louvre (Pháp), cảnh sát đã tìm đến tra hỏi một người bạn của Picasso - nhà thơ Guillaume Apollinaire. Apollinaire đã nói với cảnh sát rằng có thể Picasso chính là kẻ trộm, vì vậy, cảnh sát đã tới bắt Picasso đi để thẩm vấn, nhưng sau đó ông đã được thả ra vì không có bằng chứng phạm tội.

Xu hướng lập thể

Bức “Le Guitariste” của Pablo Picasso (vẽ năm 1910)



Bức “Le Guitariste” của Pablo Picasso (vẽ năm 1910)

Năm 1909, Picasso và một họa sĩ Pháp có tên Georges Braque đã cùng khởi xướng xu hướng tranh lập thể. Tuy vậy, ở thời điểm đó, hai vị họa sĩ đã không đặt tên cho xu hướng nghệ thuật mà mình đang đi tiên phong.

Chính nhà phê bình mỹ thuật người Pháp Louis Vauxcelles là người đầu tiên đặt tên cho xu hướng này, sau khi nhận thấy tranh của Picasso và Braque bao gồm toàn những hình khối nhỏ.

Picasso từng là bạn thân của Marc Chagall

Picasso (trái) và Chagall (phải)

Picasso (trái) và Chagall (phải)

Picasso và Chagall, hai vị họa sĩ vĩ đại của thế kỷ 20, thực tế từng là hai người bạn rất thân, cho tới một tối nọ khi Picasso tới dùng bữa ở nhà Chagall hồi năm 1964. Trong lúc chuyện vui, Picasso hỏi Chagall: “Khi nào thì cậu sẽ trở về Nga?”.

Thực tế cả Picasso và Chagall đều là những người ngoại quốc trên đất Pháp, Chagall là người Nga và Picasso là người Tây Ban Nha.

Chagall trả lời với một nụ cười: “Sau khi anh đặt chân tới Nga, tôi sẽ trở về ngay lập tức. Tôi biết rằng anh sẽ rất được người Nga yêu quý, ngoại trừ các tác phẩm của anh. Anh sẽ phải vật lộn kiếm sống ở nước Nga và tôi sẽ chờ đợi để xem anh sẽ sống như thế nào”.

Picasso không vừa lòng với câu nói này. Sau bữa tối, khi rượu đã bắt đầu ngấm và sự tỉnh táo đã không còn như lúc đầu, Picasso lại gần Chagall và bảo: “Tôi cho rằng với cậu, tất cả chỉ là vấn đề tiền bạc. Tôi biết cậu sẽ chẳng trở về quê hương mình trừ phi ở đó có thật nhiều tiền cho cậu kiếm chác”.

Nhà văn kiêm họa sĩ người Pháp Francoise Gilot cũng có mặt trong bữa tối hôm đó. Về sau, ông kể lại rằng thoạt tiên, Chagall nở nụ cười rất sảng khoái như chẳng có vấn đề gì khi nghe Picasso nói vậy, nhưng thực tế, trong lòng Chagall rất giận. Kể từ sau bữa tối đó, tình bạn của Picasso và Chagall chấm dứt.

Hai “người khổng lồ” trong lĩnh vực hội họa - Picasso và Chagall - trong những năm tháng cuối đời đều có tham vọng trở nên giàu có nhờ việc bán tranh, có lẽ vì vậy mà họ đã tan vỡ tình bạn lúc tuổi già xế bóng.

Picasso là một người đàn ông đào hoa

Picasso và người vợ thứ hai - Jacqueline Roque

Picasso và người vợ thứ hai - Jacqueline Roque

Trong suốt cuộc đời mình, Picasso có rất nhiều mối tình. Thực tế người ta không thể biết hết những người tình “thoảng qua” của ông. Picasso có hai đời vợ. Người vợ thứ nhất - Olga Khokhlova - kém ông 10 tuổi. Người vợ thứ hai - Jacqueline Roque - kém ông… 52 tuổi. Trong suốt “thiên tình sử” của mình, Picasso luôn chỉ hẹn hò với những cô gái trẻ, thường ở độ tuổi ngoài 20.

Picasso được chôn cất ở đâu?

Picasso và người vợ thứ hai - Jacqueline Roque


Picasso được chôn cất trong khuôn viên của một tòa lâu đài mà ông đã mua hồi năm 1958, nằm ở ngôi làng Vauvenargues, miền nam nước Pháp. Ngôi mộ của ông thu hút rất đông du khách đến thăm. Ông đã yên nghỉ vĩnh hằng tại đây sau khi qua đời ở tuổi 91 năm 1973.

Picasso đã mua lại lâu đài này sau khi phát hiện ra nó nằm trên sườn đồi Mont Sainte-Victoire - ngọn đồi đã từng xuất hiện hơn 30 lần trong tranh của họa sĩ Pháp theo trường phái Ấn Tượng - Paul Cézanne. Khi mua được lâu đài này, ông đã nói với mọi người rằng: “Thế là tôi đã tự mình mua được ngọn đồi của Cézanne”.

Bích Ngọc
Tổng hợp



Những nàng thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật

Dân trí

Những bức tranh, tiểu thuyết, áng thơ… nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật đều ẩn chứa sau đó một nàng thơ.

Trong lịch sử nghệ thuật, có những nàng thơ nổi tiếng, họ có sức ảnh hưởng lớn tới những nghệ sĩ danh tiếng. Dưới đây là những nàng thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật:

Marie-Therese Walter - nàng thơ của danh họa Tây Ban Nha Pablo Picasso: Picasso có nhiều nàng thơ và Walter là một trong số đó. Picasso gặp Walter năm 1927 khi đã có gia đình. Tuy vậy, không gì có thể ngăn cản ông đến với người phụ nữ khiến ông cảm thấy được truyền cảm hứng mới. Trong mối tình với Walter, Picasso đã thực hiện vô số bức tranh khắc họa nàng, nổi tiếng nhất có bức “Le Reve”. Cuối cùng, khi cảm xúc đã cạn, Picasso lại đi tìm nguồn cảm hứng mới và rời bỏ Walter. Dù vậy, cả cuộc đời còn lại của mình, Walter dành để thương nhớ Picasso, bà đã tự tử ở thời điểm 4 năm sau khi Picasso qua đời.


Marie-Therese Walter - nàng thơ của danh họa Tây Ban Nha Pablo Picasso: Picasso có nhiều nàng thơ và Walter là một trong số đó. Picasso gặp Walter năm 1927 khi đã có gia đình. Tuy vậy, không gì có thể ngăn cản ông đến với người phụ nữ khiến ông cảm thấy được truyền cảm hứng mới. Trong mối tình với Walter, Picasso đã thực hiện vô số bức tranh khắc họa nàng, nổi tiếng nhất có bức “Le Reve”. Cuối cùng, khi cảm xúc đã cạn, Picasso lại đi tìm nguồn cảm hứng mới và rời bỏ Walter. Dù vậy, cả cuộc đời còn lại của mình, Walter dành để thương nhớ Picasso, bà đã tự tử ở thời điểm 4 năm sau khi Picasso qua đời.
Dora Maar - nàng thơ của Picasso: Sau Walter, Dora Maar là nàng thơ thứ hai “đáng kể” trong cuộc đời Picasso. Nàng là một nghệ sĩ đa tài người Pháp, là nhiếp ảnh gia, họa sĩ, nhà thơ. Khi gặp nhau, Picasso đã 54 còn Maar mới 28, hai người đã truyền cảm hứng nghệ thuật cho nhau. Cuộc tình của họ kéo dài trong 9 năm và Picasso đã vẽ vô số bức chân dung về nàng. Trong ký ức Picasso, Maar là người phụ nữ của nước mắt, nàng luôn buồn bã và Picasso tìm thấy cảm hứng trong việc khắc họa nỗi buồn của nàng.


Dora Maar - nàng thơ của Picasso: Sau Walter, Dora Maar là nàng thơ thứ hai “đáng kể” trong cuộc đời Picasso. Nàng là một nghệ sĩ đa tài người Pháp, là nhiếp ảnh gia, họa sĩ, nhà thơ. Khi gặp nhau, Picasso đã 54 còn Maar mới 28, hai người đã truyền cảm hứng nghệ thuật cho nhau. Cuộc tình của họ kéo dài trong 9 năm và Picasso đã vẽ vô số bức chân dung về nàng. Trong ký ức Picasso, Maar là người phụ nữ của nước mắt, nàng luôn buồn bã và Picasso tìm thấy cảm hứng trong việc khắc họa nỗi buồn của nàng.
“Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” - nàng thơ của danh họa Hà Lan Johannes Vermeer: “Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” là bức tranh nổi tiếng thế giới và người đẹp xuất hiện trong tranh là một trong những nàng thơ nổi bật nhất của lịch sử hội họa, nhưng không ai biết nàng là ai. Bất kể điều đó, “cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” vẫn cứ là một nàng thơ không thể không nhắc tới.


“Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” - nàng thơ của danh họa Hà Lan Johannes Vermeer: “Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” là bức tranh nổi tiếng thế giới và người đẹp xuất hiện trong tranh là một trong những nàng thơ nổi bật nhất của lịch sử hội họa, nhưng không ai biết nàng là ai. Bất kể điều đó, “cô gái đeo khuyên tai ngọc trai” vẫn cứ là một nàng thơ không thể không nhắc tới.

Victorine Meurent - nàng thơ của danh họa Pháp Edouard Manet: Manet tình cờ bắt gặp Meurent trên phố khi nàng đang hối hả bước đi, ngay lập tức, cảm quan nghệ thuật của ông được kích hoạt, Manet liền nhìn nhận thế giới xung quanh theo cách hoàn toàn mới. Manet đã mời Meurent làm mẫu và đưa cô trở thành một trong những gương mặt điển hình của trường phái Ấn tượng. Những tác phẩm đáng kể trong sự nghiệp của Manet, như “Bữa trưa trên thảm cỏ” hay “Olympia” đều khắc họa Meurent.
Gala Diakonova - nàng thơ của danh họa Tây Ban Nha Salvador Dali: Gala là vợ của nhà thơ Pháp Paul Eluard, là tình nhân của họa sĩ Đức Max Ernst, vẻ đẹp Nga này còn chiếm được trái tim của danh họa Tây Ban Nha Salvador Dali dù hơn Dali tới 10 tuổi. Trong các bức tranh của Dali, Gala luôn được khắc họa như một nữ thần tình ái.


Gala Diakonova - nàng thơ của danh họa Tây Ban Nha Salvador Dali: Gala là vợ của nhà thơ Pháp Paul Eluard, là tình nhân của họa sĩ Đức Max Ernst, vẻ đẹp Nga này còn chiếm được trái tim của danh họa Tây Ban Nha Salvador Dali dù hơn Dali tới 10 tuổi. Trong các bức tranh của Dali, Gala luôn được khắc họa như một nữ thần tình ái.
George Dyer - “chàng thơ” của danh họa Anh Francis Bacon: Trước hết, Bacon là người đồng tính, vì vậy, người truyền cảm hứng cho ông phải là một… “chàng thơ”. Bacon gặp Dyer lần đầu năm 1964 khi Dyer đang đột nhập vào tư gia của Bacon với ý định ăn cắp. Kể từ đây, “kẻ trộm” Dyer trở thành “nàng thơ” của Bacon và từ bỏ cuộc sống “du thủ du thực”. Bacon đã khắc họa người tình trong rất nhiều bức chân dung. Cuộc tình giữa Dyer và Bacon kết thúc bằng bi kịch khi Dyer tự tử trong một chuyến đi cùng với Bacon tới Paris.


George Dyer - “chàng thơ” của danh họa Anh Francis Bacon: Trước hết, Bacon là người đồng tính, vì vậy, người truyền cảm hứng cho ông phải là một… “chàng thơ”. Bacon gặp Dyer lần đầu năm 1964 khi Dyer đang đột nhập vào tư gia của Bacon với ý định ăn cắp. Kể từ đây, “kẻ trộm” Dyer trở thành “nàng thơ” của Bacon và từ bỏ cuộc sống “du thủ du thực”. Bacon đã khắc họa người tình trong rất nhiều bức chân dung. Cuộc tình giữa Dyer và Bacon kết thúc bằng bi kịch khi Dyer tự tử trong một chuyến đi cùng với Bacon tới Paris.
Georgia O’Keeffe - nàng thơ của nhiếp ảnh gia Mỹ Alfred Stieglitz: Chuyện tình của nữ họa sĩ O’Keeffe và nhiếp ảnh gia Stieglitz rất nổi tiếng trong giới nghệ thuật. Trong 31 năm gắn bó, từ 1915 đến 1946, cặp đôi đã viết cho nhau hơn 25.000 lá thư tình. Khi bắt đầu yêu, Stieglitz đã 52 còn O’Keeffe mới 28. Thuở đó, Stieglitz đã là một nhiếp ảnh gia có tiếng, ông thường trưng bày những bức tranh của O’Keeffe trong triển lãm ảnh của mình, để O’Keeffe đến gần hơn với công chúng và giới phê bình. Stieglitz say mê chụp hình O’Keeffe và có tới hàng trăm bức ảnh chân dung về O’Keeffe. Stieglitz được xem là người góp công lớn trong việc đưa nhiếp ảnh trở thành một bộ môn nghệ thuật.


Georgia O’Keeffe - nàng thơ của nhiếp ảnh gia Mỹ Alfred Stieglitz: Chuyện tình của nữ họa sĩ O’Keeffe và nhiếp ảnh gia Stieglitz rất nổi tiếng trong giới nghệ thuật. Trong 31 năm gắn bó, từ 1915 đến 1946, cặp đôi đã viết cho nhau hơn 25.000 lá thư tình. Khi bắt đầu yêu, Stieglitz đã 52 còn O’Keeffe mới 28. Thuở đó, Stieglitz đã là một nhiếp ảnh gia có tiếng, ông thường trưng bày những bức tranh của O’Keeffe trong triển lãm ảnh của mình, để O’Keeffe đến gần hơn với công chúng và giới phê bình. Stieglitz say mê chụp hình O’Keeffe và có tới hàng trăm bức ảnh chân dung về O’Keeffe. Stieglitz được xem là người góp công lớn trong việc đưa nhiếp ảnh trở thành một bộ môn nghệ thuật.
Brigitte Bardot - nàng thơ của nhà biên kịch Pháp Roger Vadim: Brigitte Bardot là một trong những “biểu tượng sex” quyến rũ nhất trong lịch sử điện ảnh. Năm 1950, khi người đẹp mới 15 tuổi, nàng đã bắt đầu hẹn hò với Roger Vadim, một biên kịch trẻ 22 tuổi. Cặp đôi kết hôn năm 1952 và cùng lên kế hoạch đưa Brigitte trở thành một ngôi sao điện ảnh. Về sau, cả hai đều trở nên nổi tiếng. Brigitte đã truyền cảm hứng cho nhiều phim điện ảnh của Vadim, trong đó có phim “Và Chúa đã tạo ra phụ nữ” (1956). Đây cũng chính là bộ phim đưa Brigitte lên hàng sao điện ảnh quốc tế. Về sau, cặp đôi chia tay, nhưng Vadim vẫn luôn coi Brigitte là nàng thơ suốt cuộc đời mình.


Brigitte Bardot - nàng thơ của nhà biên kịch Pháp Roger Vadim: Brigitte Bardot là một trong những “biểu tượng sex” quyến rũ nhất trong lịch sử điện ảnh. Năm 1950, khi người đẹp mới 15 tuổi, nàng đã bắt đầu hẹn hò với Roger Vadim, một biên kịch trẻ 22 tuổi. Cặp đôi kết hôn năm 1952 và cùng lên kế hoạch đưa Brigitte trở thành một ngôi sao điện ảnh. Về sau, cả hai đều trở nên nổi tiếng. Brigitte đã truyền cảm hứng cho nhiều phim điện ảnh của Vadim, trong đó có phim “Và Chúa đã tạo ra phụ nữ” (1956). Đây cũng chính là bộ phim đưa Brigitte lên hàng sao điện ảnh quốc tế. Về sau, cặp đôi chia tay, nhưng Vadim vẫn luôn coi Brigitte là nàng thơ suốt cuộc đời mình.
Jeanne Duval - nàng thơ của nhà thơ Pháp Charles Baudelaire: Nữ diễn viên kiêm vũ công pha trộn hai dòng máu Pháp - Haiti đã là nguồn cảm hứng bất tận cho những áng thơ tình của nhà thơ Charles Baudelaire, ngoài ra, nàng cũng xuất hiện trong một số bức tranh của danh họa Pháp Edouard Manet. Tình yêu quá lớn dành cho Duval đã khiến nhà thơ Baudelaire trở nên đau khổ, đã có lần ông tự tử vì Duval.

Nhấn để phóng to ảnh

Jeanne Duval - nàng thơ của nhà thơ Pháp Charles Baudelaire: Nữ diễn viên kiêm vũ công pha trộn hai dòng máu Pháp - Haiti đã là nguồn cảm hứng bất tận cho những áng thơ tình của nhà thơ Charles Baudelaire, ngoài ra, nàng cũng xuất hiện trong một số bức tranh của danh họa Pháp Edouard Manet. Tình yêu quá lớn dành cho Duval đã khiến nhà thơ Baudelaire trở nên đau khổ, đã có lần ông tự tử vì Duval.

Nelly Ternan - nàng thơ của nhà văn Anh Charles Dickens: Cuộc tình giữa Ternan và Dickens từng được khắc họa trong bộ phim “Người phụ nữ vô hình” (2013). Ternan là một cô gái trẻ trung, xinh đẹp, đã đưa lại cho nhà văn những xúc cảm mới mẻ. Tuy vậy, cách họ đến với nhau tương đối thực dụng, về phía Ternan, cô khát khao trở thành nữ diễn viên, nhưng không thành công, lại rơi vào cảnh không tiền, không nhà, không một tấm chồng, Dickens liền trở thành phao cứu sinh của Ternan.
Vivienne Eliot - nàng thơ của nhà thơ Mỹ T.S Eliot: Cuộc hôn nhân giữa T.S Eliot và vợ - nàng Vivienne - trải qua nhiều sóng gió và kết thúc bằng ly hôn, nhưng thoạt tiên, nàng chính là nguồn cảm hứng lớn của nhà thơ, khiến T.S Eliot viết nên tập thơ “Đất hoang”. Nhưng Vivienne là người phụ nữ ưa cuộc sống phóng túng, nàng không bằng lòng với cuộc sống của một người vợ. Cuối cùng, Vivienne qua đời năm 1947 trong một bệnh viện tâm thần, một năm sau, Eliot giành giải Nobel Văn học.


Vivienne Eliot - nàng thơ của nhà thơ Mỹ T.S Eliot: Cuộc hôn nhân giữa T.S Eliot và vợ - nàng Vivienne - trải qua nhiều sóng gió và kết thúc bằng ly hôn, nhưng thoạt tiên, nàng chính là nguồn cảm hứng lớn của nhà thơ, khiến T.S Eliot viết nên tập thơ “Đất hoang”. Nhưng Vivienne là người phụ nữ ưa cuộc sống phóng túng, nàng không bằng lòng với cuộc sống của một người vợ. Cuối cùng, Vivienne qua đời năm 1947 trong một bệnh viện tâm thần, một năm sau, Eliot giành giải Nobel Văn học.

Zelda Sayre - nàng thơ của nhà văn Mỹ F. Scott Fitzgerald: Sau khi kết hôn, nhà văn Fitzgerald đã dùng những đoạn trích trong nhật ký của vợ - nàng Zelda - để đưa vào những cuốn sách của mình. Zelda chính là nguyên mẫu cho nhân vật nữ chính trong “Đêm dịu dàng” và là nguồn cảm hứng để nhà văn sáng tạo nên nhiều nhân vật nữ khác. Sinh thời, Zelda mắc những chứng bệnh tâm lý trầm trọng. Cặp vợ chồng nhà văn này đã sớm qua đời trước tuổi ngũ tuần.

Bích Ngọc
Tổng hợp


Chân dung Picasso tái xuất thị trường với giá 1.600 tỷ đồng

Bức chân dung tự họa của Picasso sắp được đem ra đấu giá với mức giá kỳ vọng ước đạt tương đương 1.600 tỷ đồng. Hiện tại, tác phẩm đắt giá nhất của Picasso có giá lên tới hơn 10.200 tỷ đồng.

Bức “Le Marin”


Bức “Le Marin”

Một bức chân dung tự họa có tên “Le Marin” do danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso thực hiện sắp tới sẽ được đem ra đấu giá. Bức tranh được kỳ vọng sẽ đạt mức giá 70 triệu USD (tương đương 1.600 tỷ đồng).

Thông tin về phiên đấu giá chắc chắn được giới sưu tầm hội họa quan tâm đã vừa được phía nhà đấu giá Christie đưa ra hồi cuối tuần này. Hiện tại, bức tranh đang trong giai đoạn đem triển lãm trước khi chính thức đưa ra đấu giá. Hoạt động triển lãm hiện đang dừng chân ở Hồng Kông.

Bức tranh sơn dầu “Le Marin” khắc họa một người đàn ông buồn bã mặc chiếc áo sọc ngang màu trắng - xanh, ngồi trên một chiếc ghế. Bức tranh được danh họa Picasso thực hiện hồi năm 1943, khi Thế chiến II đang diễn ra khốc liệt, chứng kiến những bất ổn của thời cuộc, vị danh họa đã thực hiện bức tranh chân dung này để thể hiện thái độ phản đối chiến tranh.

“Le Marin” có kích thước 130 x 81 cm, là một bức tranh được thực hiện theo khổ dọc, khắc họa người đàn ông đang tựa đầu lên tay phải, hai chân vắt chéo, tay trái để lên đầu gối.

Bức “Le Marin”


Bức “Le Marin”

Lần cuối cùng bức “Le Marin” xuất hiện trên thị trường là cách đây 21 năm tại một cuộc đấu giá những tác phẩm nghệ thuật nằm trong bộ sưu tập của một cặp đôi sống ở New York (Mỹ) - ông bà Victor và Sally Ganz.

Bức “Le Marin” sẽ được triển lãm tại Hồng Kông cho tới ngày 3/4. Bức tranh sẽ được đem đấu giá tại New York vào ngày 15/5 tại một phiên đấu giá các tác phẩm nghệ thuật thuộc trường phái Ấn tượng và Hiện đại, do nhà đấu giá Christie tiến hành.

Danh họa Picasso (1881-1973)


Danh họa Picasso (1881-1973)

“Le Marin” được kỳ vọng sẽ tạo nên những bất ngờ về giá. Hồi năm 2015, bức “Những người phụ nữ xứ Algiers (phiên bản 0)” của Picasso đã lập nên kỷ lục thế giới, trở thành bức tranh đắt giá nhất từng được bán ra tại một cuộc đấu giá. Khi đó, bức tranh đã được trả giá 179,4 triệu USD (tương đương hơn 10.234 tỷ đồng) tại phiên đấu giá do Christie tiến hành tại New York.

Về sau, kỷ lục này đã bị phá vỡ bởi bức “Salvator Mundi” do danh họa người Ý thời Phục Hưng - Leonardo Da Vinci - thực hiện.

Những bức tranh đắt giá nhất trong lịch sử hội họa xuất hiện tại các cuộc đấu giá:



1 - Bức tranh chân dung bị thất lạc từ lâu của danh họa người Ý Leonardo da Vinci - “Salvator Mundi” - đã vừa 
1 - Bức tranh chân dung bị thất lạc từ lâu của danh họa người Ý Leonardo da Vinci - “Salvator Mundi” - đã vừa được bán ra với mức giá kỷ lục, phá vỡ mọi đỉnh cao về giá từng được xác lập trước đây đối với một tác phẩm hội họa. Con số gây choáng ngợp đó là 450,3 triệu USD (tương đương 10.234 tỷ đồng).
được bán ra với mức giá kỷ lục, phá vỡ mọi đỉnh cao về giá từng được xác lập trước đây đối với một tác phẩm hội họa. Con số gây choáng ngợp đó là 450,3 triệu USD (tương đương 10.234 tỷ đồng).


2 - “Les Femmes dAlger (Version O)” (Những người phụ nữ Algiers - phiên bản O - 1955) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso, có giá 179,4 triệu USD (4.077 tỷ đồng). Tác phẩm được đấu giá hồi năm 2015 tại New York.


2 - “Les Femmes dAlger (Version O)” (Những người phụ nữ Algiers - phiên bản O - 1955) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso, có giá 179,4 triệu USD (4.077 tỷ đồng). Tác phẩm được đấu giá hồi năm 2015 tại New York.


3 - “Nu Couché” (Khỏa thân nằm tựa - 1917) của danh họa người Ý Amedeo Modigliani. Bức tranh từng được mua với giá 170,4 triệu USD (3.872 tỷ đồng) hồi năm 2015 tại New York, bởi doanh nhân người Trung Quốc Lưu Ích Khiêm.


3 - “Nu Couché” (Khỏa thân nằm tựa - 1917) của danh họa người Ý Amedeo Modigliani. Bức tranh từng được mua với giá 170,4 triệu USD (3.872 tỷ đồng) hồi năm 2015 tại New York, bởi doanh nhân người Trung Quốc Lưu Ích Khiêm.


4 - “Portrait of Dr. Gachet” (Chân dung bác sĩ Gachet - 1890) của danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh. Tác phẩm từng được mua hồi năm 1990 bởi nhà sưu tầm hội họa người Nhật Ryoei Saito với mức 82,5 triệu USD, hiện giờ tương đương với 151,2 triệu USD (3.436 tỷ đồng).


4 - “Portrait of Dr. Gachet” (Chân dung bác sĩ Gachet - 1890) của danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh. Tác phẩm từng được mua hồi năm 1990 bởi nhà sưu tầm hội họa người Nhật Ryoei Saito với mức 82,5 triệu USD, hiện giờ tương đương với 151,2 triệu USD (3.436 tỷ đồng).


5 - Bộ tranh “Three Studies of Lucian Freud” (Ba nghiên cứu về Lucian Freud - 1969) của danh họa người Anh Francis Bacon đứng thứ 5 với mức giá 142,4 triệu USD, trả giá hồi năm 2013. Hiện giờ, mức giá ấy tương đương 146,4 triệu USD (3.327 tỷ đồng).


5 - Bộ tranh “Three Studies of Lucian Freud” (Ba nghiên cứu về Lucian Freud - 1969) của danh họa người Anh Francis Bacon đứng thứ 5 với mức giá 142,4 triệu USD, trả giá hồi năm 2013. Hiện giờ, mức giá ấy tương đương 146,4 triệu USD (3.327 tỷ đồng).


6 - “Bal du moulin de la Galette” (Khiêu vũ ở cối xay gió Le moulin de la Galette - 1876) của danh họa người Pháp Pierre-Auguste Renoir từng được mua hồi năm 1990 ở mức 78,1 triệu USD, tương đương với 143,2 triệu USD (3.254 tỷ đồng) ở thời điểm hiện tại.


6 - “Bal du moulin de la Galette” (Khiêu vũ ở cối xay gió Le moulin de la Galette - 1876) của danh họa người Pháp Pierre-Auguste Renoir từng được mua hồi năm 1990 ở mức 78,1 triệu USD, tương đương với 143,2 triệu USD (3.254 tỷ đồng) ở thời điểm hiện tại.


7 - “Garçon à la pipe” (Cậu trai và chiếc tẩu thuốc - 1905) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso đứng thứ 7 với mức 104,2 triệu USD trả giá hồi năm 2004, giờ đây, con số ấy tương đương 132,1 triệu USD (3.002 tỷ đồng).


7 - “Garçon à la pipe” (Cậu trai và chiếc tẩu thuốc - 1905) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso đứng thứ 7 với mức 104,2 triệu USD trả giá hồi năm 2004, giờ đây, con số ấy tương đương 132,1 triệu USD (3.002 tỷ đồng).


8 - “The Scream” (Tiếng thét - 1895) của danh họa người Na Uy Edvard Munch. Bức vẽ từng được mua hồi năm 2012 với mức 119,9 triệu USD, hiện giờ, con số ấy tương đương 125,1 triệu USD (2.843 tỷ đồng).


8 - “The Scream” (Tiếng thét - 1895) của danh họa người Na Uy Edvard Munch. Bức vẽ từng được mua hồi năm 2012 với mức 119,9 triệu USD, hiện giờ, con số ấy tương đương 125,1 triệu USD (2.843 tỷ đồng).


9 - “Nude, Green Leaves and Bust” (Khỏa thân, lá xanh và bầu ngực - 1932) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso. Bức tranh từng được mua với giá 106,5 triệu USD hồi năm 2010, giờ đây, con số ấy tương đương 116,9 triệu USD (2.656 tỷ đồng).


9 - “Nude, Green Leaves and Bust” (Khỏa thân, lá xanh và bầu ngực - 1932) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso. Bức tranh từng được mua với giá 106,5 triệu USD hồi năm 2010, giờ đây, con số ấy tương đương 116,9 triệu USD (2.656 tỷ đồng).


10 - “Irises” (Hoa diên vĩ - 1889) của danh họa người Hà Lan Vincent van Gogh. Bức tranh từng được mua hồi năm 1987 với mức giá 53,9 triệu USD, giờ đây, con số ấy tương đương với 113,6 triệu USD (2.581 tỷ đồng).


10 - “Irises” (Hoa diên vĩ - 1889) của danh họa người Hà Lan Vincent van Gogh. Bức tranh từng được mua hồi năm 1987 với mức giá 53,9 triệu USD, giờ đây, con số ấy tương đương với 113,6 triệu USD (2.581 tỷ đồng).


11 - “Dora Maar au Chat” (Dora Maar và chú mèo - 1941) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso từng được mua với giá 95,2 triệu USD hồi năm 2006, giờ đây, con số ấy tương đương 113,1 triệu USD (2.570 tỷ đồng).


11 - “Dora Maar au Chat” (Dora Maar và chú mèo - 1941) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso từng được mua với giá 95,2 triệu USD hồi năm 2006, giờ đây, con số ấy tương đương 113,1 triệu USD (2.570 tỷ đồng).

12 - “Untitled” (Không đề - 1982) của họa sĩ Mỹ Jean-Michel Basquiat hiện tại đứng thứ 12 với mức giá 110,5 triệu USD (tương đương 2.511 tỷ đồng).

Nhấn để phóng to ảnh

12 - “Untitled” (Không đề - 1982) của họa sĩ Mỹ Jean-Michel Basquiat hiện tại đứng thứ 12 với mức giá 110,5 triệu USD (tương đương 2.511 tỷ đồng).


Bích Ngọc
Theo Daily Mail


Số phận bi đát của những “nàng thơ” trong tranh Picasso

Trong suốt cuộc đời, danh họa người Tây Ban Nha - Pablo Picasso - chỉ kết hôn hai lần nhưng ông có tới hàng trăm người tình. Khi yêu, ông rất dịu dàng nhưng khi chia tay, ông sẵn sàng làm những “nàng thơ” của mình tan nát.

Năng lượng dồi dào mà Picasso dành cho hội họa, điêu khắc, với khoảng 25.000 tác phẩm (nhiều hơn bất cứ nghệ sĩ nào từng sáng tác trong lịch sử), cũng nhiều như năng lượng mà ông dành cho việc tán tỉnh, yêu đương, hò hẹn.

Số phận bi đát của những “nàng thơ” trong tranh Picasso



Picasso và tình nhân Dora Maar - người từng nhận định về ông rằng: “Với tư cách một họa sĩ, Picasso thật phi thường, nhưng với tư cách một con người đạo đức, ông ấy là kẻ chẳng ra gì”.

Suốt cuộc đời, Picasso có 8 người tình sâu sắc nhất, họ đều có nhiều ảnh hưởng đối với việc sáng tác nghệ thuật của ông. Người tình của Picasso cũng chính là nàng thơ của ông. Để có thể trở thành nhân vật bất tử trong mỹ thuật, những người phụ nữ này đều phải “trả giá”.

Vì Picasso, hai người tình từng suy sụp tinh thần khủng khiếp, hai người tình khác từng tự sát.

Picasso có nhiều tính cách đối lập: ông vừa dịu dàng, nhạy cảm vừa ích kỷ, ngang ngược, độc đoán.

Đối với phụ nữ, sự đối lập này càng được thể hiện rõ. Một người bạn của ông - nhà văn Patrick O’Brian - cho biết: “Picasso lúc thì rất mực dịu dàng, lúc lại trở nên thù ghét, thậm chí có thiên hướng bạo lực đối với phụ nữ. Ông không bao giờ cân bằng được hai thái cực này, thực tế, ông khinh miệt trạng thái cân bằng và nhất quyết chỉ chọn một trong hai thái cực”.

Số phận bi đát của những “nàng thơ” trong tranh Picasso



Bức “Những cô gái trẻ ở Avignon” khắc họa 5 cô gái khỏa thân là tác phẩm phản ánh rõ nhất hai thái cực - vừa tôn thờ vừa khinh ghét của Picasso đối với phụ nữ.

Thực tế, Picasso bị ám ảnh bởi phụ nữ, ông không thể sống mà không có phụ nữ bên cạnh. Tiêu chí mà Picasso đặt ra đối với các người tình rất đơn giản, chỉ cần cô ấy ngoan ngoãn, dễ bảo và thấp hơn ông là được (Picasso cao 1m62).

Picasso cũng cảm thấy khó chịu với sự dựa dẫm của mình vào phụ nữ, chính vì vậy mà trong mọi mối tình, ông luôn muốn làm “kẻ thống trị” nghiệt ngã. Picasso từng nói: “Đối với tôi, chỉ có hai tuýp phụ nữ - hoặc là nữ thần hoặc là tấm thảm”.

Cách sống phóng túng của Picasso bị ảnh hưởng bởi cha - ông José Ruiz, vốn cũng là một họa sĩ. Sinh thời, ông José Ruiz thường xuyên lui tới các nhà thổ. Picasso rất thương mẹ, sau này, ông đã chọn tên của mẹ thời con gái - Picasso - để làm tên họ của mình, ông bỏ họ cha.

Những nét chính trong thiên tình sử của Picasso

Picasso có người tình đầu tiên năm 13-14 tuổi. Ở tuổi 19, ông dan díu với bạn gái của bạn, khiến người này buồn bã và tự vẫn. Bi kịch này đã được thể hiện trong loạt tranh màu xanh của ông. Trước sự ra đi của bạn, Picasso rất ân hận, buồn bã, ông chuyển tất cả nỗi buồn vào tranh. Đây là “thời kỳ màu xanh” của tranh Picasso.

“Thời kỳ màu xanh”



“Thời kỳ màu xanh”

Năm 1904, ở tuổi 23, ông gặp người tình, nàng thơ đầu tiên của đời mình - cô gái Pháp Fernande Olivier - từ đây, Picasso chấm dứt “thời kỳ màu xanh” u sầu. Ông bước vào “thời kỳ hồng đỏ” với đề tài vẻ đẹp phụ nữ.

Fernande là người tình duy nhất của Picasso được ông rất mực cưng chiều. Ông thường làm tất cả việc nhà. Về sau, Picasso nói rằng thời kỳ ở bên Fernande là thời kỳ duy nhất ông thực sự hạnh phúc. Khi Picasso bắt đầu thành công hơn cũng là khi Fernande bỏ đi theo một họa sĩ khác, chấm dứt mối tình 8 năm.

Fernande Olivier



Fernande Olivier

Picasso liền trả thù Fernande bằng cách qua lại với một người bạn của cô - Eva Gouel. Khi Eva mắc bệnh lao, Picasso đã ở bên chăm sóc tận tình suốt 3 năm. Khi Eva qua đời, Picasso đã rất đau buồn, suốt một thời gian dài, mọi mối tình của ông đều chỉ là thoảng qua.

Eva Gouel



Eva Gouel

Năm 1917, khi tới Ý để xem một buổi trình diễn balê, ông đã phải lòng một vũ công Nga có tên Olga Koklova. Ban đầu, Olga xa lánh Picasso, nhưng cuối cùng lại trở thành vợ của ông.

Olga Koklova



Olga Koklova

Cuộc sống hôn nhân của họ ban đầu rất hạnh phúc. Lúc này, Picasso đã giàu có, ông thuê người giúp việc khiến Olga cảm thấy cô không còn việc gì để làm ở nhà. Buồn chán vì sự nghiệp múa sớm kết thúc, chồng lại ra ngoài lăng nhăng, Olga bắt đầu hành hạ chồng rồi bị suy sụp tâm lý.

Bắt đầu từ đây, những bức tranh Picasso vẽ phụ nữ trở nên “biến dạng”, kỳ cục. Cuộc hôn nhân đầu tiên này kéo dài tới 37 năm nhưng Picasso và Olga chỉ thực sự chung sống 10 năm.

Bức “Người phụ nữ đi tắm biển ngồi trên bãi cát” (1929) khắc họa hình ảnh một người phụ nữ quái dị.



Bức “Người phụ nữ đi tắm biển ngồi trên bãi cát” (1929) khắc họa hình ảnh một người phụ nữ quái dị.

Sau Olga là sự xuất hiện của cô gái Pháp Marie-Thérèse Walter, khi gặp nhau, Walter 18 còn Picasso đã 46. Walter là nàng thơ hiếm hoi được Picasso khắc họa với sự dịu dàng hiếm thấy.

Đối với Picasso, Marie-Thérèse Walter là “người tình vĩ đại nhất”.



Đối với Picasso, Marie-Thérèse Walter là “người tình vĩ đại nhất”.

Sau Walter là nhiếp ảnh gia Dora Maar. Suốt một thời gian, Picasso đã cố gắng sắp xếp để hai người tình - cũ và mới của ông không đụng mặt nhau. Thế rồi một ngày họ cùng đến phòng tranh của ông một lúc. Walter nói với Picasso: “Anh phải đưa ra quyết định. Ai sẽ là người phải ra đi?”.

Picasso thực tế cảm thấy rất hài lòng khi tình huống đó xảy ra và nói với hai người tình của mình rằng họ sẽ phải chiến đấu để tìm ra người chiến thắng. Vậy là Walter và Maar bắt đầu… “đấu vật”. Dora Maar chiến thắng và có mối tình kéo dài 8 năm với Picasso.

Dora Maar



Dora Maar

Năm 1943, Picasso quen với cô gái 22 tuổi Francoise Gilot, một sinh viên luật, một họa sĩ nghiệp dư. Picasso lúc này 62 tuổi.

Khi biết mình đã bị Gilot thay thế, Dora Maar suy sụp vô cùng. Cô không còn chỗ trong phòng vẽ của Picasso nữa, phải chuyển ra ngoài sống và ngày ngày ngóng chờ điện thoại của Picasso gọi đến. Đến năm 1945, Maar hoàn toàn suy sụp đến mức Picasso phải đưa cô vào bệnh viện.

Sau Picasso, Dora Maar không còn yêu ai khác nữa. Cô là người phụ nữ yêu Picasso nhiều nhất, cũng là người phụ nữ đau khổ nhất vì ông, hình ảnh sau cùng mà Picasso nhớ về Dora Maar là người phụ nữ luôn lau nước mắt.

Bức “Người phụ nữ lau nước mắt” khắc họa Dora Maar.



Bức “Người phụ nữ lau nước mắt” khắc họa Dora Maar.

Với Gilot, cuộc sống của cô cũng không dễ chịu gì, người vợ bị ruồng rẫy từ lâu - Olga - liên tục xuất hiện để hành hạ cô. Lúc này tâm thần đã rất bất ổn, Olga thường lao vào nhà tấn công Gilot. Về sau, Olga qua đời vì bệnh ung thư năm 1954 ở tuổi 63.

Với Francoise Gilot, Picasso có hai người con. Picasso lại tiếp tục ra ngoài gặp gỡ nhiều phụ nữ khác. Cuộc sống của Gilot bắt đầu chìm vào bất hạnh, đau khổ. Họ ở bên nhau 10 năm thì “đôi người đôi ngả”.

Francoise Gilot và Picasso


Francoise Gilot và Picasso

Gilot chưa kịp ra đi thì Geneviève Laporte đã đến. Lúc này, Picasso đã 70, Laporte - một nhà thơ - mới 24. Danh tiếng của Picasso lúc này đã đến tầm quốc tế, vì vậy, ông phải giữ bí mật về Laporte để tránh lùm xùm. Cuối cùng, không chấp nhận cuộc sống của một người tình trong bóng tối, Laporte ra đi.

Picasso buồn bã vì bị “bỏ rơi”, ông vùi mình trong công việc. Khi đó, mẫu nữ mà ông yêu thích nhất là Jacqueline Roque.

Jacqueline Roque tôn thờ Picasso. Ngay từ đầu, cô đã mong muốn được ở bên ông nhưng ông thờ ơ vì còn mải quan tâm tới Laporte. Giờ đây, “tình địch” lớn nhất đã bỏ đi, “vườn không nhà trống”, Roque dễ dàng chinh phục Picasso và trở thành người vợ thứ hai của ông. Họ kết hôn và ở bên nhau 20 năm.

Francoise Gilot và Picasso



Trong 20 năm chung sống với Jacqueline, ông vẽ hơn 400 bức tranh về cô. Đây là thời kỳ làm việc năng suất nhất của ông.

Cuối đời, Picasso sống ẩn dật, không còn sôi nổi với đời sống xã hội nữa. Người ta cho rằng Jacqueline đã “trị” được ông. Quả thực Jacqueline là người có tính chiếm hữu rất cao, cô muốn Picasso là của riêng mình, vì vậy, thường cấm các con cháu của Picasso đến thăm ông.

Picasso qua đời năm 1973, ở tuổi 92. Trên mộ, Picasso yêu cầu đặt bức tượng của Marie Thérèse Walter - “người tình vĩ đại nhất”. 4 năm sau, Walter treo cổ tự vẫn vì không thể tiếp tục cuộc sống không còn Picasso. Jacqueline nghiện rượu nặng, đến năm 1986, cũng tự vẫn bằng súng vì “vị thần” của đời cô đã đi mất.

Bích Ngọc
Tổng hợp



Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh

 130 năm sau cái chết đầy bí ẩn của đại danh hoạ Van Gogh, một nhà khoa học bất ngờ cho biết đã khám phá địa điểm mà Van Gogh vẽ bức tranh cuối đời mình chỉ từ... một tấm bưu thiếp.


Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh - ảnh 1 Bức "Những rễ cây" (Tree Roots)
Ngày 29/07/1890, như mọi ngày, Van Gogh rời nhà trọ, xách bên mình giá vẽ và dụng cụ để đi vẽ tranh. Tối hôm ấy, Van Gogh trở về với viên đạn trong người và qua đời 2 ngày sau đó. Trong ngày cuối cùng này, Van Gogh đã làm gì và đi những đâu? Sự thật duy nhất mà mọi người đều biết chính là bức tranh “Những rễ cây" (Tree Roots) được vẽ vào ngày hôm ấy.
130 năm sau vào tháng 7 năm 2020, khi cả thế giới đang gồng mình chống lại dịch bệnh, một nhà khoa học trong lúc rảnh rỗi khi ở nhà tự cách ly đã khám phá địa điểm mà Van Gogh vẽ bức tranh đó chỉ từ... một tấm bưu thiếp. 
 
Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh - ảnh 2 Wouter Van Der Veen, Giám đốc Khoa học Viện Van Gogh (Pháp) và tấm bưu thiếp giúp ông tìm ra nơi Van Gogh vẽ bức tranh cuối đời mình - “Những rễ cây”.
Wouter van der Veen, Giám đốc khoa học của Viện Van Gogh, đã tìm thấy tấm bưu thiếp về làng Auvers-sur-Oise (Paris, Pháp) khi đang nghiên cứu một kho bưu thiếp thuộc đầu thế kỷ 20. Trong lúc nghiên cứu, Veen nhìn vào tấm thiệp chụp năm 1905 và cảm thấy rằng mình đã nhìn thấy những gốc cây này ở đâu đó trước đây. “Cũng giống như bất kì ai khác đang ở Pháp, tôi đang ở nhà tự cách ly và đành dùng thời gian rảnh của mình để nghiên cứu những tấm bưu thiếp. Rồi tôi nhận ra vẻ quen quen của những rễ cây trên tấm thiệp. Tuy tấm bưu thiếp chỉ được in đen trắng, tôi có cảm giác rằng những rễ cây trong tấm bưu thiếp và trong tranh của Van Gogh là một” – Der Veen chia sẻ với Reuters
Sau khi Deer Veen cảm nhận được những điểm tương đồng trên, ông đã thông báo tới Bảo tàng Van Gogh và Viện Van Gogh để tới tận nơi và chứng thực.

Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh - ảnh 3 Vị trí được cho là tương đồng giữa tấm bưu thiếp cổ và bức tranh "Những rễ cây" của Van Gogh tiết lộ nơi Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng là một triền đồi ở Auvers-sur-Oise (Pháp). 
Trong tấm bưu thiếp cổ, một người đàn ông với chiếc xe đạp, đứng cạnh một ngọn đồi dốc phủ đầy rễ cây dày chằng chịt. Sau khi nghiên cứu kĩ càng về các rễ cây, tính xác thực của tấm bưu thiếp, Bảo tàng Van Gogh đã khẳng định đây chính là nơi Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng. “Những gốc cây” có thể đã được thực hiện ở thời điểm vài tiếng trước khi danh họa Van Gogh qua đời. Địa điểm này chỉ cách 150 mét từ nhà trọ Auberge Ravoux, nơi mà Van Gogh cư trú trong những ngày tháng cuối đời.

Địa điểm này tại làng Auvers-sur-Oise đã được khoanh lại để trở thành một khu vực thăm quan và bảo tồn mới của nước Pháp. Bảo tàng Van Gogh viết trong một thông báo: “Từ ngày hôm nay, những người đến ghé thăm làng Auvers-sur-Oise để theo bước chân của Van Gogh sẽ có thêm một trải nghiệm mới trong cuộc hành trình. Đó chính là mọi người có thể đứng ở vị trí chính xác nơi nét cọ của Van Gogh lần cuối cùng chạm vào khung vẽ”.

Der Veen chia sẻ với Reuters: “Bức Những rễ cây (Tree Roots) như một lời nhắn gửi trước khi từ giã cõi đời của Van Gogh. Bức tranh khắc họa cuộc đấu tranh giữa sự sống và cái chết. Đó là một lời chia tay đầy sắc màu về cái chết và sự tái sinh”.

Tấm bưu thiếp cổ tiết lộ về cái chết bí ẩn và ý nghĩa bức tranh cuối cùng của Van Gogh - ảnh 4 Wouter Van Der Veen, Giám đốc Khoa học Viện Van Gogh (Pháp) tại triền đồi mới phát hiện
“Khi người chặt lấy những cành củi từ một thân cây, những mầm cây mới sẽ lại mọc lên từ chính thân cây ấy. Van Gogh muốn nhắn gửi rằng sự nghiệp nghệ thuật của ông ấy đã viên mãn. Cùng ngày hôm ấy, trên một cánh đồng ngô gần đó, Van Gogh đã tự kết liễu đời mình bằng một phát súng trên lồng ngực của mình và ra đi mãi mãi.” – theo Der Veen. 




Mừng hay lo khi tranh Việt vượt 'tuổi dậy thì'?

Thứ Ba, 04/04/2017 06:43 GMT+7
Vào 17h30 ngày 2/4 tại phiên đấu Modern and Contemporary Art của nhà Sotheby’s ở Hong Kong (Trung Quốc), tác phẩmFamily Life (Đời sống gia đình) của Lê Phổ đã được bán với giá 1.172.080 USD, cao gấp 3 lần giá dự kiến. Đây sẽ là cột mốc lớn trong lịch sử của mỹ thuật Việt Nam.

Theo quy ước ngầm của thị trường quốc tế, chỉ khi nào một nền mỹ thuật có tác phẩm bán từ 1 triệu USD trở lên thì nền mỹ thuật ấy mới chính thức bước qua “tuổi dậy thì” để trưởng thành. Cột mốc này như là bảo chứng đầu tiên để nhiều nhà sưu tập có thể yên tâm hơn khi bỏ số tiền lớn cho lĩnh vực được gọi là “đầu tư mạo hiểm”. Nó cũng tương tự như chỉ số tăng trưởng tích cực của chứng khoán luôn kèm theo sự thu hút việc đầu cơ.
Có câu hỏi được đặt ra: Nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam khá liên tục và phong phú, chẳng lẽ chưa có một tác phẩm nào bán hơn 1 triệu USD? Nếu đi vào những giao dịch ngầm, những tác phẩm của Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh… được bán trên 1 triệu USD là bình thường. Nhưng ở đây chỉ xét những giá trị công khai, kiểu “miếng giữa làng bằng sàng xó bếp”.

Tác phẩm “Family Life” (Đời sống gia đình) của Lê Phổ đã bán với mức giá hơn 1,1 triệu USD
Tình trạng dấm dúi, bịp bợm, thiếu minh bạch trong mỹ thuật Việt đã liên tục diễn ra trong hơn 30 năm qua, và chắc chắn còn kéo dài khá lâu. Tại sao vậy? Vì ở đây liên quan đến nạn tranh giả tranh nhái, liên quan đến cá độ, bài bạc, trốn thuế, lợi ích nhóm… Nói chung các tổ chức tài chính đen này không muốn và gần như không thể công khai các hoạt động buôn bán mỹ thuật của mình, nhưng lợi nhuận thì vẫn còn đó, nên càng duy trì tình trạng dấm dúi.
Cũng có câu hỏi: Giá bán cao nhất vậy là tác phẩm đẹp nhất? Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng vẻ đẹp thực thụ của tác phẩm và giá bán công khai trên thị trường đôi khi không song hành với nhau. Ví dụ tác phẩm có giá trị mỹ thuật tốt nhất của Lê Phổ chưa hẳn là tác phẩm có giá bán cao nhất; cũng như Family Life không phải là tác phẩm đẹp nhất của Lê Phổ. Nhiều họa sĩ suốt một thời gian dài không bán được tranh không phải vì tác phẩm họ kém nghệ thuật. Điều này cũng đúng với quy luật chung của thị trường nghệ thuật thế giới.
Thẳng thắn nhìn nhận, so với các họa sĩ thời kỳ đầu và xét trong lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam, tác phẩm của Lê Phổ không thể ở 3-4 vị trí đầu tiên. Cho nên việc tác phẩm Lê Phổ đang dẫn đầu nên nhìn ở khía cạnh khác, nó cho thấy sự minh bạch tương đối về nguồn gốc, xuất xứ, và đã quen mặt tại các phiên đấu giá quốc tế. Trong khi các họa sĩ tài năng khác ở trong nước thì bị nạn tranh giả tranh nhái làm mất niềm tin, nên khó thu hút người mua, dù giá trị nghệ thuật có thể cao hơn.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng mua nghệ thuật giá cao là một cách “khẳng định đẳng cấp”, một cách “đổi tiền ăn lãi suất hấp dẫn”, chứ chưa hẳn vì giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Cho nên, việc Lê Phổ giúp tranh Việt vượt “tuổi dậy thì” là nên mừng hay lo?
Mừng là từ nay vị thế của tranh Việt nói chung bớt lép vế, thu hút thêm các nhà đầu tư mới. Còn lo thì rất nhiều, bởi nạn tranh giả tranh nhái và tình trạng dấm dúi sẽ nương vào đây phá nát thị trường và niềm tin nhiều hơn nữa.
Vô Ưu
Thể thao & Văn hóa


Tranh Lê Phổ vẫn vào nhóm cao giá

Thứ Ba, 15/11/2011 07:31 GMT+7
Tại phiên đấu giá mùa Thu của nhà Larasati sẽ diễn ra tại Hong Kong vào ngày 26/ 11 tới đây, tranh của Lê Phổ tiếp tục vào nhóm những tác phẩm cao giá.
Phiên đấu này thuộc quy mô nhỏ và tinh chọn (dưới 100 tác phẩm), chắt lọc các họa sĩ đã ổn định tên tuổi (dù có người còn khá trẻ như I Nyoman Masriadi, sinh 1973) với giới mua bán nghệ thuật châu Á.
Tác phẩm Hòa hợp của Lê Phổ
Hai tác phẩm của Lê Phổ trong phiên đấu này có tên Hòa hợp (sơn dầu trên bố, 114,3 x 146 cm) và Hoa tulip đỏ và vàng thau (sơn dầu trên masonite, 81 x 54 cm) - không thuộc loại tiêu biểu của danh họa này; bức Hòa hợp có giá khởi điểm từ 44.800 USD cho đến 57.600 USD vì khổ lớn và có nguồn gốc rõ ràng từ Wally Findlay Galleries (Palm Beach, Florida, Mỹ). Nếu so về giá, thì tranh của Lê Phổ chỉ xếp sau các tên tuổi nổi bật như Handiwirman Sahputra, S. Sudjojono, I Nyoman Masriadi, Srihadi Soedarsono...
Tại phiên đấu này còn có tác phẩm Suy tư (sơn dầu trên bố, 60 x 80 cm, 2003) của Đặng Xuân Hòa với giá khởi điểm từ 7.000 đến 10.200 USD.
Văn Bảy


Gian nan tranh Việt hồi hương

Thứ Tư, 24/10/2018 07:03 GMT+7
 Trước đây, khái niệm “tranh Việt hồi hương” được cho là viển vông, vì suốt một thời gian dài, chỉ có bán tranh ra nước ngoài, mấy khi ra nước ngoài mua tranh. Nhưng gần đây thì tình hình đã khác, vì đang có nhiều người Việt ra nước ngoài đấu giá tranh của các thế hệ tiền bối để mang về Việt Nam.

Bức tranh lụa Thiếu nữ cầm quạt của Nguyễn Nam Sơn vừa lên sàn nhà đấu giá Aguttes của Pháp hôm 22/10/2018 là một ví dụ. Đã có 3 - 4 nhà sưu tập trong nước muốn mua tranh mang về…
Đa số dự đoán bức Thiếu nữ cầm quạt sẽ bán chừng 200.000 euro, có thể hồi hương được, nhưng kết quả đấu lên đến 440.000 euro, cộng dồn các chi phí khác thành 565.040 euro, hơn 15 tỷ đồng. Hoặc như bức lụa Đi chợ về của Trần Văn Cẩn cũng tưởng dễ mua, khi mức ước đoán từ 40.000 - 60.000 euro, nhưng kết quả đấu 230.000 euro, cộng dồn các chi phí thành 297.080 euro, gần 8 tỷ đồng.
Chú thích ảnh
Bức lụa “Thiếu nữ cầm quạt” của Nguyễn Nam Sơn
Bức Thiếu nữ cầm quạt rời Hà Nội từ năm 1938, được xem là một trong vài đại diện tiêu biểu cho kỹ thuật lụa hiện đại của họa sĩ Nguyễn Nam Sơn. Trước phiên đấu, đã có nhiều ước mơ về việc hồi hương bức tranh này, cho bảo tàng mượn treo, hoặc có những cuộc trưng bày rộng rãi cho công chúng chiêm ngưỡng.
Các bảo tàng mỹ thuật tại Việt Nam cũng chưa có được những tác phẩm xứng tầm của Nguyễn Nam Sơn và Victor Tardieu - đồng sáng lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, những người mở cánh cổng lớn cho mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Nhưng đó có lẽ chỉ là những “giá như” mà thôi.
Quan sát trực tiếp tại phiên đấu, một nhà sưu tập cho biết người mua hai bức này và vài bức khác là một phụ nữ người Việt. Theo thông tin hành lang, người này đại diện đấu cho một nhà sưu tập ẩn danh, sống ở nước ngoài. Điều có thể trông chờ ở tương lai là sự hào phóng của nhà sưu tập ẩn danh này, biết đâu ông/ bà ấy sẽ cho thuê giá rẻ, hoặc cho mượn để treo. Một triển lãm những tác phẩm đã đấu giá quốc tế là rất nên làm, nhưng Việt Nam chưa có cơ hội khả thi để thực hiện.
Chú thích ảnh
Bức lụa “Đi chợ về” của Trần Văn Cẩn
Gần đây, quan sát thị trường quốc tế, thấy nhiều nhà sưu tập Trung Quốc đã bắt đầu quan tâm đến tranh Việt, đặc biệt là tranh sơn mài và tranh lụa. Các phiên đấu tại Hong Kong (Trung Quốc), Singapore, Paris (Pháp)… đã có nhiều sự hiện diện của họ. Những nhà sưu tập nước này đang nổi lên khắp thế giới bằng phương châm “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”.
Nhìn ở khía cạnh tích cực, điều này sẽ góp phần nhanh hơn trong việc làm khan hiếm, đẩy giá và tăng giá tranh Việt. Bởi Trung Quốc đang là một thị trường nghệ thuật rộng lớn, tăng trưởng mạnh mẽ, về thị phần thì xếp ngang hàng, thậm chí cao hơn Hoa Kỳ, tùy năm. Nếu nhìn ở khía cạnh hồi hương tranh Việt, thì đang có nhiều khó khăn, thách thức, bởi giá cả leo thang chóng mặt, khiến tâm thế và túi tiền nhiều nhà sưu tập nội địa chưa theo kịp.

Theo Forbes, thế giới đang có hơn 1.420 tỷ phú USD, Việt Nam đã góp mặt 4 người. Nên cần một “giá như” cụ thể hơn, đó là “nước lên thì thuyền lên”, “phú quý sinh lễ nghĩa”, hy vọng nhiều người có điều kiện tài chính sẽ trích một phần nào đó vào việc hồi hương những tranh Việt có ý nghĩa trong lịch sử nghệ thuật. Đây cũng là việc thường thấy ở các triệu phú, tỷ phú trên thế giới. Bởi việc chấn hưng văn hóa, chấn hưng nghệ thuật nói chung, việc hồi hương tranh Việt nói riêng, không thể là việc của riêng ai.
Vô Ư



Chiêm ngưỡng tác phẩm của 19 họa sĩ đương đại hàng đầu Việt Nam

Thứ Năm, 06/08/2020 12:20 GMT+7
 Với mong muốn tôn vinh, giới thiệu các họa sĩ đã khẳng định tên tuổi, vị thế trên thị trường mỹ thuật trong nước và quốc tế, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm (Bộ VH,TTT&DL) tổ chức Triển lãm tác phẩm của các họa sĩ đương đại hàng đầu trên thị trường mỹ thuật nhằm giúp công chúng yêu nghệ thuật trong nước và quốc tế có được cái nhìn khái quát về sự hình thành và phát triển của thị trường mỹ thuật Việt Nam.
Triển lãm dự kiến khai mạc chiều nay (6/8) tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (số 66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội). Tuy nhiên, do và diễn biến phức tạp của Covid-19, BTC không tổ chức sẽ không tổ chức lễ khai mạc. Triển lãm được trưng bảy từ hôm nay (6/8/2020) đến ngày 15/8/2020 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Các tác giả, tác phẩm được lựa chọn trưng bày, giới thiệu tại triển lãm theo 2 tiêu chí, gồm: Tác giả có tác phẩm chất lượng nghệ thuật tốt, có dấu ấn cá nhân và tác giả bán được nhiều tác phẩm, có vị trí trên thị trường mỹ thuật. 

Dựa theo 2 tiêu chí trên, BTC và Giám tuyển đã lựa chọn ra 19 họa sĩ. Trong đó, có 12 họa sĩ ở Hà Nội gồm: Đặng Xuân Hòa, Bùi Hữu Hùng, Lê Thanh Sơn, Đinh Quân, Thành Chương, Trần Lưu Hậu, Lê Thiết Cương, Đào Hải Phong, Phạm Luận, Phạm An Hải, Vũ Đình Tuấn, Hồng Việt Dũng; 7 họa sĩ ở TP.HCM: Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Trần Văn Thảo, Nguyễn Tấn Cương, Hứa Thanh Bình, Lê Kinh Tài. 
Báo Thể thao & Văn hóa giới thiệu tác phẩm của 19 họa sĩ đương đại hàng đầu Việt Nam trưng bày trong triển lãm:
Chú thích ảnh
Ánh trăng - Phạm Luận - sơn dầu
Chú thích ảnh
Bùi Hữu Hùng - Em Xoan - sơn mài trên gỗ 
Chú thích ảnh
Đặng Xuân Hòa - Tuổi đời - sơn dầu
Chú thích ảnh
Đào Hải Phong - Miền yêu thương - chất liệu sơn dầu
Chú thích ảnh
Đinh Quân - Tâm thức - sơn mài 
Chú thích ảnh
Hồ Hữu Thủ - Thiếu nữ - sơn mài 
Chú thích ảnh
Hồng Việt Dũng - Phong cảnh với con thuyền nhỏ - sơn dầu
Chú thích ảnh
Hứa Thanh Bình - Bướm và hoa - sơn dầu
Chú thích ảnh
Lê Kinh Tài - Sự thật trong phản chiếu song hành  
Chú thích ảnh
Lê Thanh Sơn - Chốn bình yên - sơn dầu
Chú thích ảnh
Lê Thiết Cương - Nghĩ - sơn dầu
Chú thích ảnh
Nguyễn Tấn Cương - Cá - chất liệu tổng hợp 
Chú thích ảnh
Nguyễn Thanh Bình - Ni sư - sơn dầu
Chú thích ảnh
Nguyễn Trung - Tiếng vọng từ nơi xa - Acrylic trên giấy 
Chú thích ảnh
Phạm An Hải - Màu thời gian
Chú thích ảnh
Thành Chương - Gia đình nhà chuột - sơn mài
Chú thích ảnh
Trần Lưu Hậu - SAPA - Acrylic
Chú thích ảnh
Trần Văn Thảo - Đường xoắn ốc - Vải, chì than, acrylic trên giấy dán
Chú thích ảnh
Vũ Đình Tuấn - Mây tam diện - chất liệu lụa
Triển lãm là hoạt động góp phần ghi nhận những thành tựu, nỗ lực của họa sĩ cho sự phát triển của thị trường mỹ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần ngày càng cao của nhân dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng giao lưu văn hóa.  
Hoài Ngọc



Xem tranh của các họa sĩ 'bom tấn' trên thị trường mỹ thuật

Thứ Năm, 06/08/2020 08:08 GMT+7
 Triển lãm tác phẩm của các họa sĩ đương đại hàng đầu trên thị trường mỹ thuật sẽ diễn ra tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) vào hôm nay 6/8 và kéo dài trong 10 ngày với tác phẩm của 19 họa sĩ đương đại Việt Nam. Tuy con số thực tế có thể hơn 40 người, nhưng đa số các tên tuổi trong 19 họa sĩ này đã là một bảo chứng cho thị trường mỹ thuật hiện nay.


Đáng lý triển làm này đã diễn ra hồi tháng 4 vừa qua nhưng do đại dịch Covid-19 nên phải hoãn lại. Triển lãm có sự góp mặt của 12 họa sĩ ở Hà Nội là Trần Lưu Hậu (1928-2020), Thành Chương, Đặng Xuân Hòa, Bùi Hữu Hùng, Hồng Việt Dũng, Lê Thiết Cương, Phạm Luận, Phạm An Hải, Đinh Quân, Lê Thanh Sơn, Đào Hải Phong, Vũ Đình Tuấn. Và 7 họa sĩ ở TP.HCM là Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Tấn Cương, Hứa Thanh Bình, Nguyễn Thanh Bình, Trần Văn Thảo, Lê Kinh Tài.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Giới hạn sở thích" (sơn dầu trên bố, 180cm x 150cm, 2010) của Lê Kinh Tài
Một phác họa đáng chú ý
Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi nhận xét: “Thị trường tranh Việt Nam đang trên con đường phát triển, nhất là tranh Đông Dương với những ảnh hưởng lớn mạnh. Tuy nhiên, muốn cho thị trường tranh Việt Nam mở rộng và theo đuổi kịp trào lưu, chúng ta cần những tên tuổi mới với những hướng đi cách tân. Các họa sĩ nêu tên trong cuộc triển lãm này đã có những thành công nhất định trên thị trường quốc tế, vì sáng tác của họ có thể tách rời dòng chảy hàn lâm của tranh Đông Dương để tìm cho mình một chỗ đứng riêng biệt. Nhưng đối với thị trường tranh tại Việt Nam còn đang trong tình trạng chập chững, họ cần phải được nhắc đến nhiều hơn nữa".

"Chính vì thế, tôi cho rằng cuộc triển lãm này là một đầu tư và khuyến khích cho thị trường tranh Việt Nam có những bước tiến vững chắc hơn” - ông Khôi nhấn mạnh.
Chú thích ảnh
Tác phẩm “Màu thời gian” (sơn dầu trên bố, 120cm x 200cm, 2020) của Phạm An Hải
Tiêu chí của triển lãm này rất cụ thể: Hướng đến những tác phẩm có dấu ấn cá nhân và bán được nhiều, có vị trí trên thị trường mỹ thuật. Kể từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đang sản sinh ra thêm thị trường thứ cấp, bên cạnh thị trường sơ cấp như đã thấy. Nhưng các triển lãm gọi tên đích danh là vị thương mại, vị thị trường như triển lãm này còn quá ít. Càng ít hơn nữa, nếu xét đến các triển lãm, các sự kiện do các cơ quan nhà nước tổ chức.
“Đây là một triển lãm nhằm để tôn vinh các họa sĩ có những ảnh hưởng đến thị trường mỹ thuật Việt Nam! Đây cũng là một động thái tốt, vì vậy cần có nhiều hơn nữa, sâu rộng hơn nữa, dưới các hình thức và các chuyên đề khác nhau để thúc đẩy sự phát triển của thị trường mỹ thuật từ phía nhà nước” - họa sĩ Phạm An Hải nói.
Hiểu sai về khái niệm thị trường
Theo họa sĩ Thành Chương: “Thị trường nghệ thuật trên thế giới đã có từ lâu. Ở ta thì giờ mới đang cố gắng để có. Thị trường là cơ sở hạ tầng của một nền nghệ thuật. Nó nuôi dưỡng và thúc đẩy nghệ thuật phát triển. Nó đem nghệ thuật và niềm vui đến cho mọi người. Thế giới luôn đánh giá họa sĩ theo giá tranh trên thị trường nghệ thuật”.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Giấc mơ" (sơn mài, 120cm x 100cm, 2019) của Thành Chương
Theo dõi cộng đồng mạng mấy ngày qua, có lẽ nhiều người đang hiểu sai về khái niệm thị trường mà triển lãm này hướng đến. Rõ ràng triển lãm đã tuyển chọn được các họa sĩ thành công trên thị trường và các họa sĩ vẽ vì thị trường - cả hai đều rất quan trọng. Nếu triển lãm chỉ tuyển chọn một trong hai thì rõ ràng phiến diện. Nếu có điều gì đáng tiếc, đó là như đã đề cập ở trên, nên mở rộng số lượng (chừng 40 tác giả) và mở rộng thể loại, bởi điêu khắc, sắp đặt, đa phương tiện… cũng đã bán được giá “bom tấn” đó thôi.
Còn theo nhà môi giới mỹ thuật Philip Nguyễn Đức Tiến thì: “Đã gắn tác phẩm và tác giả với thị trường thì phải được hiểu là có số liệu thống kê tác phẩm và trị giá giao dịch trong một thời gian đủ dài, từ 5 đến 10 năm. Thống kê này phải dựa trên các dữ liệu khả tín và công khai, từ chính các họa sĩ cung cấp và từ các tổ chức thống kê độc lập. Về triển lãm này, điểm tích cực mà tôi ủng hộ là nhà tổ chức đủ mạnh dạn để gắn 19 tác giả với thị trường. Vì chỉ có thị trường mới nuôi dưỡng mỹ thuật phát triển đa dạng, cho dù nhiều các tác giả tại triển lãm này chưa hẳn đã là hàng đầu”.
Hiền Hòa



Nơi danh họa Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng

Nơi danh họa Van Gogh (1853 - 1890) vẽ bức tranh cuối cùng đã vừa được tìm thấy.

Nơi danh họa Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng - 1


Bức “Những gốc cây”

Đó là một triền đồi từng được khắc họa trong bức “Những gốc cây”. Bức họa này vốn được giới nghệ thuật nhìn nhận là bức tranh cuối cùng trong cuộc đời Van Gogh, dựa trên một số thông tin tìm thấy trong những thư từ được lưu lại. Bức “Những gốc cây” có thể đã được thực hiện ở thời điểm vài tiếng trước khi danh họa Van Gogh qua đời.

Bức “Những gốc cây” khắc họa những... gốc cây mọc trên một triền đồi ở gần ngôi làng Auvers-sur-Oise của Pháp. Địa điểm nơi danh họa Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng ở ngôi làng Auvers-sur-Oise đã được phát hiện ra bởi ông Wouter van der Veen, giám đốc nghiên cứu của Viện Van Gogh.

Ông Van der Veen đã để ý tới những gốc cây được chụp lại trên một tấm bưu ảnh chụp tại ngôi làng Auvers-sur-Oise của Pháp trong khoảng năm 1900-1910 .

Giờ đây, một cuộc nghiên cứu xung quanh bức tranh “Những gốc cây”, đối sánh với tấm bưu ảnh và tình trạng hiện tại của triền đồi đã được tiến hành, các nhà nghiên cứu tại Bảo tàng Van Gogh và một số nhà sinh vật học đã kết luận rằng địa điểm vừa được tìm thấy nhiều khả năng là nơi Van Gogh đã thực hiện những nét cọ cuối cùng trong cuộc đời mình.

Những gốc cây từng được khắc họa trong bức tranh đã tồn tại suốt 130 năm qua, kể từ khi vị danh họa qua đời. Trước nay, giới nghiên cứu mỹ thuật vẫn luôn tin rằng Van Gogh đã thực hiện bức “Những gốc cây” ngay trước khi ông tự sát bằng một phát súng bắn vào ngực.

Giờ đây, triền đồi đặc biệt này đã được đặt sau một hàng rào bằng gỗ để bảo vệ một nơi có ý nghĩa đối với cuộc đời và sự nghiệp của vị danh họa. Một buổi lễ đã được tổ chức hồi đầu tuần này, với sự tham gia của bà Emilie Gordenker, giám đốc của Bảo tàng Van Gogh nằm ở Amsterdam (Hà Lan) và ông Willem van Gogh, một hậu duệ của dòng họ Van Gogh.

Nơi danh họa Van Gogh vẽ bức tranh cuối cùng - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Hòa trộn bức bưu ảnh cổ và bức tranh của Van Gogh

Ông Wouter van der Veen, giám đốc nghiên cứu của Viện Van Gogh cho hay: “Ánh sáng mặt trời được khắc họa bởi Van Gogh đã cho thấy những nét vẽ cuối cùng trong cuộc đời vị danh họa được vẽ vào khoảng cuối buổi chiều, điều này cho ta thêm thông tin về cái ngày định mệnh đó, ngày mà vị danh họa kết thúc cuộc đời mình bằng việc tự sát”.

Ông Teio Meedendorp, một chuyên gia cao cấp tại Bảo tàng Van Gogh nhận định rằng địa điểm vừa được tìm thấy chỉ cách nhà trọ Auberge Ravoux 150 mét, nhà trọ này nằm ở làng Auvers-sur-Oise, tại đây, Van Gogh đã sống 70 ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Có thể vị danh họa đã đi qua trước những gốc cây này nhiều lần và rồi quyết định sẽ ghi lại cảnh quan này trên vải vẽ.

Ông Teio Meedendorp nhận xét: “Sự tương đồng rất lớn giữa những gốc cây xuất hiện trên bưu ảnh so với bức vẽ của Van Gogh đã cho thấy nơi đây có khả năng cao là địa điểm vị danh họa đã thực hiện bức vẽ cuối cùng trong cuộc đời mình. Việc đây là bức vẽ cuối cùng của Van Gogh khiến cho tác phẩm trở nên đặc biệt và kịch tính hơn.

“Van Gogh hẳn đã nhiều lần đi qua nơi này trên đường đi ra cánh đồng, nơi ông đã từng thực hiện vài bức vẽ trong tuần cuối cùng của cuộc đời mình, cũng là nơi ông đã quyết định kết thúc cuộc đời buồn bã của mình”.

Bích Ngọc

Theo The Guardian




Bộ ba bức tranh khắc họa cảnh biển có giá hơn 35 tỷ đồng

Bộ ba bức tranh được thực hiện bởi nghệ sĩ “ẩn diện” nổi tiếng thế giới - Banksy. Các tác phẩm này sẽ được đem ra đấu giá từ thiện với mức giá ước đạt 1,2 triệu bảng (hơn 35 tỷ đồng).

Bộ ba bức tranh khắc họa cảnh biển có giá hơn 35 tỷ đồng - 1


Loạt tranh có tên “Mediterranean Sea View 2017” (Cảnh biển Địa Trung Hải năm 2017) được quyên tặng bởi nghệ sĩ Banksy để gây quỹ cho bệnh viện ở thành phố Bethlehem.

Loạt tranh có tên “Mediterranean Sea View 2017” (Cảnh biển Địa Trung Hải năm 2017) được quyên tặng bởi nghệ sĩ Banksy để gây quỹ cho bệnh viện ở thành phố Bethlehem.

Bộ ba bức tranh thoạt trông giống như những bức tranh khắc họa phong cảnh được thực hiện hồi thế kỷ 19 với phong cách cổ điển, nhưng những chiếc áo phao nằm rải rác bên bờ biển lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác về thế giới đương đại.

Những tác phẩm này được thực hiện bởi nghệ sĩ nổi tiếng Banksy và sẽ xuất hiện tại một cuộc đấu giá để gây quỹ từ thiện cho bệnh viện ở thành phố Bethlehem.

Bộ ba bức tranh khắc họa cảnh biển có giá hơn 35 tỷ đồng - 2


Bộ ba bức tranh khắc họa cảnh biển có giá hơn 35 tỷ đồng - 3


Cuộc đấu giá được tiến hành bởi nhà đấu giá Sotheby ở London, Anh

Cuộc đấu giá được tiến hành bởi nhà đấu giá Sotheby ở London, Anh với mức giá ước đạt của bộ ba bức tranh này dao động trong khoảng từ 800.000 tới 1,2 triệu bảng Anh (tương đương từ hơn 23 tới hơn 35 tỷ đồng).

Bộ ba bức tranh “Mediterranean Sea View 2017” dành để nói về vấn đề của những người di cư tị nạn trong một thập kỷ qua. Cách khắc họa phong cảnh và lồng khung khiến tác phẩm thoạt tiên trông có vẻ cổ điển nhưng những chiếc áo phao màu cam nằm rải rác bên bờ biển lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác.

Bích Ngọc

Theo The Guardian



Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật

Những vòng 3 đẹp đẽ đã từng là nét đẹp gợi cảm, phóng khoáng được các họa sĩ, nhà điêu khắc ở thời kỳ Phục hưng chú trọng khắc họa trong các tác phẩm của mình.

Dưới đây là những vòng 3 đẹp nhất được khắc họa trong các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng:

Bức phác họa “Người đàn ông đứng khỏa thân” của danh họa người Ý Leonardo da Vinci thực hiện vào khoảng năm 1504-1506

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 1


Danh họa Leonardo da Vinci có biệt tài đưa yếu tố 3D vào trong các tác phẩm của mình, từ các bức phác họa cho tới các bức tranh, khiến tác phẩm của ông có chiều sâu thị giác và đánh thức xúc cảm trong người xem.

Với bức phác họa tôn vinh vẻ đẹp hình thể con người này, những ai từng có dịp được chiêm ngưỡng tận mắt đều nhận thấy yếu tố 3D khiến vóc dáng nhân vật như nổi lên khỏi mặt giấy vẽ. Thực tế bức phác họa “Người Vitruvian” của Da Vinci nổi tiếng hơn, nhưng bức “Người đàn ông đứng khỏa thân” lại lạ lẫm hơn.

Các bức phác họa này đều nằm trong loạt tác phẩm tôn vinh vẻ đẹp hình thể con người do vị danh họa thực hiện, cho thấy những tỉ lệ hoàn hảo lý tưởng.

Bức phác họa “Người đàn ông đứng khỏa thân” cho thấy một sự chân thực lạ lẫm, phóng khoáng hơn so với những tỉ lệ hoàn hảo vốn thường xuất hiện trong các bức phác họa hình thể người của Da Vinci. Hơn thế, bức phác họa này khắc họa phía sau người đàn ông khiến tâm điểm của bức vẽ chính là vòng 3 của nhân vật.

Bức “Louise O’Murphy” của danh họa người Pháp François Boucher, thực hiện vào năm 1752

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 2


Giới hội họa ở Pháp hồi thế kỷ 18 có những cách cảm nhận vui tươi, mới mẻ, phá cách xung quanh yếu tố gợi cảm. Cách khắc họa phóng túng trước vẻ đẹp con người cho thấy lối tư duy cởi mở của nghệ thuật khi ấy.

Bức “Venus và Adonis” của danh họa người Ý Titian, thực hiện vào năm 1554

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 3


Bức tranh khắc họa nữ thần Venus cầu xin người tình - nam thần Adonis hãy ở lại với mình. Cái ôm của Venus như muốn níu giữ còn Adonis như đang đẩy nàng ra và đã muốn rời đi. Titian đã khắc họa cả sự tuyệt vọng và sự quyết liệt của nàng trước mong muốn níu giữ người tình.

Trong tranh, gương mặt của Venus gần như bị chìm khuất, chính thân người nàng thể hiện sự dữ dội trong mong muốn níu giữ Adonis ở lại.

Tượng David của nghệ sĩ người Ý Michelangelo, được thực hiện vào năm 1504

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 4


Michelangelo sinh thời từng khẳng định rằng bức tượng David là để ngợi ca tuổi trẻ và lòng can đảm. Bức tượng David của Michelangelo vốn dĩ được xem là một trong những tác phẩm điêu khắc đỉnh cao khắc họa vẻ đẹp con người, với những đường nét và tỉ lệ tuyệt đẹp.

Tượng David của nghệ sĩ điêu khắc người Ý Donatello, được thực hiện vào năm 1440

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 5


Khi Donatello thực hiện bức tượng David, ông quyết định sẽ thực hiện theo một cách mới mẻ, táo bạo so với những bức tượng khắc họa vẻ đẹp nam giới đầy lý tưởng. Donatello để nhân vật của mình đi ủng và đội mũ dù… khỏa thân.

Tượng “Người đánh xe ngựa của thành Motya” được thực hiện từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 6


Bức tượng được thực hiện từ thời Hy Lạp cổ đại khắc họa một người đánh xe ngựa. Nhân vật được khắc họa trong trang phục mỏng manh và ôm sát đến mức người xem chắc chắn không thể bỏ qua những đường nét cơ thể của người đánh xe ngựa khỏe khoắn, trẻ trung.

Dù không còn biết danh tính của tác giả bức tượng nhưng giới nghệ thuật luôn nhìn nhận tác giả của bức tượng này là thiên tài điêu khắc, bởi rõ ràng nhân vật có mặc trang phục nhưng trang phục lại quá mỏng nhẹ và vẫn khoe ra được vẻ đẹp hình thể nhân vật, đặc biệt hơn thế, toàn bộ sự tinh tế này được thực hiện trên chất liệu đá.

Bức “The Rokeby Venus” của họa sĩ người Tây Ban Nha Diego Velázquez thực hiện trong khoảng thời gian từ 1647 đến 1651

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 7


Thần Venus trong tranh quay lưng lại người xem tranh và khoe ra những đường cong gợi cảm của mình. Đây là một trong những bức tranh nổi tiếng nhất khắc họa thần Venus.

Bức “Chiếm lấy Ganymede” thực hiện bởi họa sĩ người Ý Damiano Mazza vào khoảng năm 1575

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 8


Trong thần thoại Hy Lạp, Ganymede là vị thần tình yêu và ham muốn đồng tính. Ganymede vốn sống ở thành Troy, chàng nổi tiếng với vẻ đẹp mê hoặc và được xem như chàng thanh niên tuấn tú nhất cõi trần.

Thần Zeus thậm chí cũng bị chao đảo trước vẻ đẹp của Ganymede nên đã biến thành đại bàng bắt cóc cậu lên đỉnh Olympia, ban cho cậu sự bất tử để cậu được ở trong diện mạo thanh xuân tuấn tú mãi mãi. Để khẳng định về sức hấp dẫn của Ganymede và việc chàng bị bắt cóc đưa đi, họa sĩ Mazza đã khắc họa nhân vật Ganymede theo cách... gợi cảm nhất.

Bức “Ba nữ thần” của danh họa người Ý Raphael, thực hiện vào khoảng năm 1504-1505

Những vòng 3 đẹp nhất trong lịch sử nghệ thuật - 9


Bức tranh sơn dầu khắc họa ba nữ thần xinh đẹp, gợi cảm. Đây là bức tranh sơn dầu đầu tiên mà trong đó danh họa Raphael khắc họa nhân vật nữ khỏa thân từ cả phía trước và phía sau.

Nhiều chuyên gia hội họa nhận định rằng ba người phụ nữ trong tranh tượng trưng cho những giai đoạn trong cuộc đời của người phụ nữ, nữ thần ngoài cùng bên trái tượng trưng cho vẻ đẹp của trinh nữ, nữ thần đứng ngoài cùng bên phải tượng trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ đã trưởng thành, và nữ thần đứng giữa là người phụ nữ đã thấu hiểu nhiều điều về cuộc đời.

Bích Ngọc

Theo The Guardian





Bí mật giúp danh họa Leonardo da Vinci tạo nên siêu phẩm “Mona Lisa” - 1


Đôi mắt tinh nhanh với khả năng quan sát từng chi tiết rất nhỏ, mà thông thường nhiều người sẽ bỏ qua, có thể là một siêu năng lực mà Leonardo sở hữu

Các nhà khoa học tin rằng đôi mắt tinh nhanh khác thường của danh họa Leonardo da Vinci đã giúp ông khắc họa được vẻ đẹp và nụ cười bí ẩn của nàng Mona Lisa.

Đôi mắt tinh nhanh với khả năng quan sát từng chi tiết rất nhỏ, mà thông thường nhiều người sẽ bỏ qua, là một nét đặc biệt mà những vận động viên thể thao đẳng cấp trong các bộ môn như quần vợt hay bóng chày sở hữu.

Có thể danh họa Leonardo da Vinci cũng sở hữu đôi mắt với khả năng quan sát nhanh, phân tích chính xác tới từng chi tiết nhỏ, điều này giúp bậc thầy hội họa thời kỳ Phục hưng có thể ghi lại chính xác một thoáng biểu cảm mong manh, mà chỉ trong tích tắc có thể đã không còn bắt gặp trên gương mặt nàng Mona Lisa nữa.

Bình thường, chúng ta chỉ thấy những con chim, con chuồn chuồn bay nhanh, ta nghĩ hai bên cánh của chúng rất đối xứng nhau, nhưng những người có năng lực quan sát đặc biệt sẽ nhìn thấy cả khoảnh khắc khi các bên cánh không thực sự đối xứng với nhau.

Bí mật giúp danh họa Leonardo da Vinci tạo nên siêu phẩm “Mona Lisa” - 2


Các nhà nghiên cứu hội họa từ lâu đã có những suy luận về đôi mắt tinh nhanh của danh họa Leonardo da Vinci

Các nhà nghiên cứu hội họa từ lâu đã có những suy luận về đôi mắt tinh nhanh của danh họa Leonardo da Vinci. Giáo sư David S. Thaler của trường Đại học Basel (Thụy Sĩ) đã nghiên cứu chuyên sâu về điều này và vừa công bố những kết quả mà ông thu thập được sau quá trình tìm hiểu.

Bên cạnh đó, giáo sư Thaler cũng phân tích lý do tại sao Leonardo da Vinci có thể đưa lại cho những bức vẽ của mình chiều sâu cảm xúc rất đặc biệt.

Trước hết, giáo sư Thaler chứng minh mức độ tinh nhanh siêu phàm của đôi mắt danh họa Leonardo thông qua bản vẽ mà vị danh họa này đặc tả những đôi cánh của một con chuồn chuồn, theo đó, cánh trước và cánh sau của chuồn chuồn sẽ đập lệch nhịp với nhau. Điều này lúc đương thời chưa được nhiều người biết tới

Động tác đập cánh của con chuồn chuồn diễn ra quá nhanh và đa số chúng ta sẽ không thể nhìn ra được sự khác biệt của cánh trước, cánh sau. Về sau, việc ghi hình “slow-motion” (quay chậm) ra đời giúp chứng minh rõ ràng cho thực tế này, nhưng Leonardo đã biết được điều ấy từ 4 thế kỷ trước.

Leonardo da Vinci (1452-1519) đã biết được rằng khi đôi cánh trước của chuồn chuồn nâng lên thì cặp cánh sau sẽ hạ xuống, nhưng đối với đa phần chúng ta, năng lực thị giác không cho phép quan sát ra điều ấy.

Đôi cánh chuồn chuồn trong một thước phim quay chậm

Theo giáo sư Thaler, năng lực thiên phú này có thể là một bí mật giúp Leonardo thực hiện được những bức tranh nổi tiếng nhất trong sự nghiệp hội họa của mình: “Nụ cười của nàng Mona Lisa quá bí ẩn và hấp dẫn, bởi nó đặc tả một khoảnh khắc ngay trước khi nàng nở ra một nụ cười.

“Leonardo với khả năng thị giác nhạy bén của mình đã nắm bắt lại khoảnh khắc ngay trước khi nụ cười nở ra và giữ lại khoảnh khắc ấy để đặc tả trong tranh. Thường ký ức của chúng ta đọng lại ở một hình ảnh cố định, không phải một chuỗi chuyển động liên tiếp.

“Nhưng Leonardo và một số danh họa khác có khả năng phân tách một chuỗi chuyển động ra thành từng khoảnh khắc và thâu tóm lại một khoảnh khắc mà họ ưng ý nhất, chẳng hạn như Leonardo thâu tóm lại khoảnh khắc trước khi nàng Mona Lisa nở nụ cười”.

Ngoài ra, giáo sư Thaler cũng nghiên cứu về cách danh họa Leonardo sử dụng những hiểu biết của ông về cách vẽ 3D để biểu đạt vẻ đẹp và xúc cảm trong những tác phẩm hội họa. Leonardo vốn là bậc thầy trong kỹ thuật vẽ mờ nhoà.

05:50
Viện bảo tàng Louvre tôn vinh sự nghiệp danh họa Leonardo da Vinci

Theo đó, vị danh họa sẽ để viền màu của các hình ảnh mờ nhòa vào nhau và tạo nên một hiệu ứng giống như tranh 3D, khiến sự vật trở nên chân thực, sống động và đưa lại một góc nhìn gần gũi, giàu xúc cảm cho người xem khi đứng trước những bức tranh của ông, đặc biệt là những bức tranh đặc tả chân dung.

Hơn thế nữa, Leonardo thường chủ ý sắp xếp để thực hiện những bức tranh chân dung khi trời đã tối hoặc ít nhất không gian đã không còn sáng bừng ánh nắng mặt trời, khi ấy, ông có được sự tập trung cần có để đặc tả vẻ đẹp chân dung nhân vật, bởi lúc này hoạt động của đôi mắt đã đổi khác, con ngươi mở rộng để thu nhận nhiều ánh sáng hơn và có sự quan sát sắc sảo hơn.

Con người của nhân vật ngồi làm mẫu cũng mở to hơn, đó được xem là dấu hiệu của sự hấp dẫn và những tình cảm trìu mến, là một biểu tượng đẹp trong các bức tranh chân dung thời Phục hưng.

Bí mật giúp danh họa Leonardo da Vinci tạo nên siêu phẩm “Mona Lisa” - 3


Một tác phẩm được tin là do Leonardo thực hiện - bức “Salvator Mundi” đã được bán ra với mức giá kỷ lục trong lịch sử hội họa - 450,3 triệu USD

Bản thân Leonardo cũng từng viết trong một cuốn sổ tay của mình rằng: “Vào buổi tối, và vào những ngày thời tiết u ám, vẻ mềm mại và tinh tế mà ta có thể nắm bắt được trên khuôn của mặt của các nhân vật trở nên ấn tượng hơn hẳn...”.

Càng tìm hiểu về vị danh họa Leonardo da Vinci, người ta càng sửng sốt bởi những siêu năng lực, những hiểu biết vượt tầm thời đại mà ông sở hữu. Bởi thế, Leonardo không chỉ là một danh họa mà còn được xem là một thiên tài với những hiểu biết, kiến thức đáng nể mà cho tới hôm nay, những tri thức ấy vẫn không ngừng gây sửng sốt cho hậu thế.

Leonardo da Vinci là một thiên tài thời Phục hưng

Danh họa Leonardo di ser Piero da Vinci, hay còn được biết tới nhiều hơn với tên Leonardo da Vinci hoặc Leonardo, là một trong những nhân vật xuất sắc nhất trong vòng 10 thế kỷ trở lại đây.

Ông được xem là một học giả uyên bác, là người đem lại động lực cho sự phát triển của nghệ thuật thời kỳ Phục hưng. Ngoài hội họa, ông còn thực hiện các tác phẩm điêu khắc, thiết kế kiến trúc, phát minh khoa học, sáng tác âm nhạc, nghiên cứu toán học, thiết kế máy móc, nghiên cứu văn chương, giải phẫu, địa chất, thiên văn, thực vật, viết lách, tìm hiểu lịch sử và thuật vẽ bản đồ.

Ông đã có những phát kiến trong việc thiết kế dù lượn, trực thăng và xe tăng. Ông sinh năm 1452 ở nơi ngày nay là nước Ý và qua đời ở tuổi 67 tại nước Pháp. Ông là kết quả của một cuộc tình ngoài hôn thú giữa một công chứng viên và một người nữ nông dân.

Về sau, ông được cho theo học tại xưởng vẽ của họa sĩ nổi tiếng người Ý thời bấy giờ - ông Andrea del Verrocchio. Trong cuộc đời mình, Leonardo đã từng làm việc ở nhiều nơi, như Milan, Rome, Bologna, Venice... Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông có bức “Mona Lisa”, “Bữa tối cuối cùng”, “Người Vitruvian”.

Một tác phẩm khác được tin là do Leonardo thực hiện - bức “Salvator Mundi” đã được bán ra với mức giá kỷ lục trong lịch sử hội họa - 450,3 triệu USD tại một cuộc đấu giá tổ chức ở New York (Mỹ) hồi năm 2017.

Bích Ngọc

Theo France24/Daily Mail

 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN KHÁC

 


Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.