Bài viết


 
  VN
  13      


     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
Lễ hội Tây Thiên năm 2013 tổ chức từ ngày 25-3 đến 28-3 (tức ngày 14-2 đến ngày 17-2 năm Quý Tỵ) tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chiều 8-2 (28 tết) bí thư thành ủy Hà Nội Pham Quang Nghị thăn chợ hoa tết Hà Nôil
Diva mặc chiếc váy lộng lẫy và chinh phục khán giả bằng chất giọng cao, đẹp khi kết hợp cùng dàn nhạc giao hưởng đường phố trong buổi mở màn Luala Concert, chiều 10/11 ở Hà Nội.
Đã  lâu rồi từ ngày cho ra triển lãm ảnh Mẹ Và Quê Hương đến hôm nay mới lại có dip chup về mẹ.
  MVNAH ở Song Phượng, Mẹ Tạ thị Lười,khi hỏi tên mẹ tôi không khỏi ngac nhiên,nhưng đó là tên bố mẹ đặt cho, năm nay mẹ tròn 90 tuổi. Mẹ có một cô con gai duy nhất hy sinh trên trận địa phòng không bảo vệ đập phùng

Đang truy cập: 51
Lượt truy cập: 9620135





                                           

"HẬU 30/4 & NHỮNG CÂU HỎI Câu chuyện ai là người thảo văn bản đầu hàng của tướng Dương Văn Minh trưa ngày 30/4/1975


 

 "HẬU 30/4 & NHỮNG CÂU HỎI Câu chuyện ai là người thảo văn bản đầu hàng của tướng Dương Văn Minh trưa ngày 30/4/1975

lại một lần nữa dậy sóng MXH vài hôm nay. Một số người trong cuộc thì cho rằng người chấp bút là Đại uý Trung đoàn phó bộ binh Phạm Xuân Thệ. Còn nhiều nhân chứng lại khẳng định Trung tá chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng. Cuộc hội thảo diễn ra ở Quân đoàn 2 năm đó khi ông Tùng đã về hưu với quân hàm đại tá. Còn Đại uý Thệ cấp dưới năm xưa đã lên Trung tướng - Tư lệnh Quân đoàn 2. Thế nên “miếng bánh chiến công” đã được chia đều cho cả hai như sau: Ông Thệ soạn bản văn đầu hàng cho ông Minh đọc còn ông Tùng soạn và đọc bản chấp nhận đầu hàng. Khi ông Tùng không tán thành với kết luận đó khiến nhà báo Tây Đức Borries Gallasch người chứng kiến từ đầu đến cuối phải lên tiếng. Ông nói, xin trích: “Ông Thệ vào Dinh trước ông Bùi Tùng. Nhưng khi đó trong Dinh rất hỗn loạn. Chẳng ai bảo được ai. Trật tự chỉ được thiết lập khi ông Bùi Tùng xuất hiện sau đó ít phút". Và rồi sau đó: "Ông Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu và ông Bùi Tùng đã rời khỏi phòng, theo sau là những người đã có mặt tại đây để sang đài phát thanh. Chúng tôi bước xuống cầu thang ra bãi cỏ, đến ngang chỗ vòi phun nước, tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu leo lên một chiếc xe jeep được bảo vệ bởi hai chiến sĩ giải phóng. Đại úy Phạm Xuân Thệ đi xe này. Chính ủy Bùi Tùng và một người lính khác lên chiếc xe thứ hai. Tôi đang đứng ngay cạnh chiếc xe jeep nói chuyện với ông Bùi Tùng bằng tiếng Pháp, cố gắng xin ông ta để được lên xe. Ông gật đầu đồng ý. Luật sư Đỉnh với bộ râu dài cũng leo lên chiếc xe jeep này và chúng tôi lái đi. Chỉ có hai chiếc xe này của chúng tôi chạy giữa thành phố lúc ấy - một thành phố đã từng sôi sục mà nay sự sợ hãi bỗng nhiên được làm dịu đi - qua tòa đại sứ Mỹ trống hoác, đến đài phát thanh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một. Những kỹ thuật viên của chính đài này đã tháo chân dung của Nguyễn Văn Thiệu từ trên tường xuống và ném qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi ngồi bất động một lát. Ông Mẫu quạt mặt mình bằng một quyển sách. Tổng thống Dương Văn Minh và chính ủy xe tăng Bùi Tùng ngồi trên hai chiếc ghế và tôi ngồi giữa họ tại một chiếc bàn nhỏ. Ông Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh giấy màu xanh. Ông viết khá vất vả. Có lúc ngồi bất động trong khi thảo ra được một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến đấu cho một mục đích, thật là khó để biết phải viết như thế nào. Nhưng rồi cũng viết xong. Cuối cùng mọi người đã sẵn sàng, nhưng không ai trong số người này biết sử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rất rõ ràng những việc phải làm: ông Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố vào máy ghi âm của tôi, việc này được lặp đi lặp lại đến ba lần. Lần đầu tiên ông Minh chần chừ vì được yêu cầu phải đọc là: "Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn", nhưng ông ấy chỉ muốn nói: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh...”. Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận: không nhượng bộ ông Minh. Ông Minh phải nói: "Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn". Nhưng ông Minh không đọc được bản viết tay của chính ủy Tùng và nói sai nhiều lần. Tất cả mọi thứ lại phải được đọc lại từ đầu. Chật vật mãi cuối cùng cũng đã xong…" Phóng viên báo Tuổi Trẻ cũng lén chụp được tờ giấy pơ luya màu xanh nhàu nhĩ này với nét chữ của ông Tùng tại Bảo tàng Quân đoàn 2 ở Bắc Giang Nhưng không hiểu sao, sau đó văn bản này không thấy còn chưng bày ở đó nữa... Nhận định về việc này, nhà thơ Trần Đăng Khoa viết: Như vậy, mọi việc đã quá rõ ràng. Người thảo văn bản đầu hàng cho Tổng thống Dương Văn Minh và văn bản chấp nhận đầu hàng của Quân Giải phóng là ông Bùi Tùng chứ không phải ông Phạm Xuân Thệ. Đấy là chứng nhận của một nhân chứng, một người trong cuộc, lại là một nhà báo nổi tiếng quốc tế. Vậy thì còn tranh cãi gì nữa. Chuyện này đã có thể khép lại được rồi. Hy vọng đây là bài viết cuối cùng nói về một sự thật hiển nhiên, không có gì còn phải bàn cãi nữa. Tuy nhiên, chưa thấy Viện Lịch sử Quân sự có động thái gì phản ứng lại trước sự thật lịch sử này! Tôi rất mong Viện Lịch sử Quân sự cần phải kết luận lại. Vì đó là khoa học. Nếu nhập nhẹm, người ta sẽ không còn tin vào những trang sử khác cũng rất vinh quang của quân đội. Điều đó mới thật sự nguy hại.” (https://bigschool.vn/ai-thao-loi-tuyen-bo-dau-hang-cho-duong-van-minh-doc) Liên hệ chuyện viết lại lịch sử trong tấm Bia tưởng niệm ghi danh liệt sĩ ở làng tôi (Lai Xá, Kim Chung, Hoài Đức, TP Hà Nội) có một việc như sau: Liệt sỹ Nguyễn Văn Vạn là một trong 13 chiến sĩ cảm tử quân đầu tiên hy sinh trong ngày quân Pháp gây hấn ở TP Hải Phòng vào sáng ngày 20/11/1946 (trước ngày toàn quốc kháng chiến đúng 1 tháng). Chứng kiến sự kiện này là hai nhà khoa học nổi tiếng hiện đang sống ở Paris là: GSTS Nguyễn Quang Riệu và GSTS Nguyễn Qúi Đạo. Ngày hy sinh của chú Vạn còn được ghi rõ trong tấm Bằng Tổ Quốc Ghi Công rồi. Mà không hiểu vì sao trong văn bia, năm hy sinh của chú được lùi lại một năm là: 1947? Theo tôi được biết, thông qua Phó GS-TS Nguyen Van Huy, cả hai chú Riệu và Đạo cũng đã xác minh ngày chú Vạn hy sinh là 20/11/1946. Vì chú Vạn trước lúc hy sinh đang làm thợ ảnh cho bố của các chú ở tiệm hình Phúc Lai trước cửa Nhà hát lớn Hải Phòng ở phố Bonnal (phố Ngô Quyền ngày nay) nên chú Vạn đã gắn bó thân thiết với gia đình cụ Phúc Lai. Có ý kiến cho rằng vì trong tấm Bằng Tổ Quốc Ghi Công người ta ghi chú Vạn nguyên quán Hải Phòng. Nên không thể ghi tên chú lên đầu tấm bia của làng được. Mà theo tiêu chí ghi tên liệt sỹ theo thời điểm hy sinh. Ai hy sinh trước ghi trước, hy sinh sau ghi sau. Đó là nguyên nhân LS Vạn bị đẩy xuống số 2 chỉ còn cách lùi năm hy sinh của chú 1 năm: từ 1946 xuống 1947 (?) Nếu LS Nguyễn Văn Vạn hy sinh ở một nơi đèo heo hút gió thì không nói làm gì. Nhưng nó diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật ở một thành phố lớn và còn là những liệt sỹ đầu tiên của Nước Việt Nam DCCH sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập. Viết về sự hy sinh của 13 liệt sỹ đầu tiên này, báo Nhân Dân số ra ngày 17/09/2010 có đoạn như sau: “Cuộc chiến đấu quyết liệt, không cân sức kéo dài đến chiều tối đã làm quân Pháp kinh ngạc và hoảng sợ. Nhà hát Lớn thành phố được giữ vững, 50 tên Pháp phơi thây ngổn ngang, nhiều tên bị thương nặng, hai xe thiết giáp bị phá hủy. Một ngày đêm ròng rã chiến đấu, các chiến sĩ đã chiến đấu đến người cuối cùng. "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", 13 đồng chí đã anh dũng hy sinh, tám đồng chí bị giặc bắt do bị thương nặng. Sau khi ngừng bắn, chiều 22-11, nêu gương chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ, cả thành phố tổ chức lễ truy điệu, tiễn đưa các chiến sĩ về nơi an nghỉ cuối cùng. Trận chiến đấu tại Nhà hát Lớn thành phố ngày 20-11-1946 là mốc son chói lọi và trở thành ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Hải Phòng hằng năm.” (https://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/12967702-.html) Chú Vạn được sinh ra ở Làng Lai, là hậu duệ của hai dòng họ Nguyễn-Phạm là các dòng họ to và đông đinh nhất của làng. Chú mồ côi cha khá sớm. Theo sự giới thiệu của cụ Lang Kiệu - Phạm Văn Khởi (cụ Khởi là anh ruột cụ Sáu mẹ chú Vạn), hai mẹ con chú xuống Hải Phòng giúp việc nhà cho cụ Phúc Lai - Nguyễn Văn Đính. Như chú Riệu tâm sự “cô Vạn (cụ Sáu) được cả 3 chú (Riệu, Quyền và Đạo) coi như mẹ mình. Vì cô Vạn chăm cho chúng tôi từ khi mới lọt lòng cho tới khi khôn lớn. Buổi sáng mà không nhờ cô Vạn gọi thì y như rằng mấy anh em ngủ nướng bị muộn học..., khóc om, dỗi hờn...”. Khi chú Vạn lớn, lại theo học và làm thợ ngay tại tiêm Phúc Lai cho tới lúc hy sinh. Sau khi chú Vạn mất, cụ Lang Kiệu xuống đón cụ Vạn lên Hà Nội chăm sóc cho hai con gái cụ Khởi là cô Qúy và cô Kỳ. Khi các cô lấy chồng, cụ Sáu lại chăm nom nâng giấc cho con cái của hai cô cho tới khi cụ trăm tuổi về an giấc ngàn thu trên cánh đồng làng. Vì cụ goá chồng ở vậy nuôi chú Vạn cho tới khi chú Vạn hy sinh nên sau khi viên tịch cụ Phạm Thị Sáu được nhà nước phong danh hiệu BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG. Theo lời đi huấn của cụ Lang Kiệu, chú Phạm Văn Quy hiện làm giỗ cho cụ Sáu hàng năm vào ngày 22 tháng giêng âm lịch. Còn chú Vạn chẳng biết vào ngày 27 tháng mười âm lịch (20/11/1946) có ai làm giỗ không? *Ảnh 1+2: Bút tích và hình ảnh của ông Bùi Văn Tùng trưa ngày 30/4/1975 *Ảnh 3: Văn bia Tưởng niệm Liệt sỹ Làng Lai Xá: số thứ tự 2 là chú Vạn - hy sinh năm 1947 *Ảnh 4: Bằng TQGC ghi chú Vạn hy sinh 20/12/1946 Ảnh 5: Bằng BMVNAH - cụ Phạm Thị Sáu". Bạn có thể chọn bạn có muốn thêm điều này vào dòng thời gian của mình không.
Cuong đã viết: HẬU 30/4 & NHỮNG CÂU HỎI Câu chuyện ai là người thảo văn bản đầu hàng của tướng Dương Văn Minh trưa ngày 30/4/1975 lại một lần nữa dậy sóng MXH vài hôm nay. Một số người trong cuộc thì cho rằng người chấp bút là Đại uý Trung đoàn phó bộ binh Phạm Xuân Thệ. Còn nhiều nhân chứng lại khẳng định Trung tá chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng. Cuộc hội thảo diễn ra ở Quân đoàn 2 năm đó khi ông Tùng đã về hưu với quân hàm đại tá. Còn Đại uý Thệ cấp dưới năm xưa đã lên Trung tướng - Tư lệnh Quân đoàn 2. Thế nên “miếng bánh chiến công” đã được chia đều cho cả hai như sau: Ông Thệ soạn bản văn đầu hàng cho ông Minh đọc còn ông Tùng soạn và đọc bản chấp nhận đầu hàng. Khi ông Tùng không tán thành với kết luận đó khiến nhà báo Tây Đức Borries Gallasch người chứng kiến từ đầu đến cuối phải lên tiếng. Ông nói, xin trích: “Ông Thệ vào Dinh trước ông Bùi Tùng. Nhưng khi đó trong Dinh rất hỗn loạn. Chẳng ai bảo được ai. Trật tự chỉ được thiết lập khi ông Bùi Tùng xuất hiện sau đó ít phút". Và rồi sau đó: "Ông Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu và ông Bùi Tùng đã rời khỏi phòng, theo sau là những người đã có mặt tại đây để sang đài phát thanh. Chúng tôi bước xuống cầu thang ra bãi cỏ, đến ngang chỗ vòi phun nước, tổng thống Dương Văn Minh và thủ tướng Vũ Văn Mẫu leo lên một chiếc xe jeep được bảo vệ bởi hai chiến sĩ giải phóng. Đại úy Phạm Xuân Thệ đi xe này. Chính ủy Bùi Tùng và một người lính khác lên chiếc xe thứ hai. Tôi đang đứng ngay cạnh chiếc xe jeep nói chuyện với ông Bùi Tùng bằng tiếng Pháp, cố gắng xin ông ta để được lên xe. Ông gật đầu đồng ý. Luật sư Đỉnh với bộ râu dài cũng leo lên chiếc xe jeep này và chúng tôi lái đi. Chỉ có hai chiếc xe này của chúng tôi chạy giữa thành phố lúc ấy - một thành phố đã từng sôi sục mà nay sự sợ hãi bỗng nhiên được làm dịu đi - qua tòa đại sứ Mỹ trống hoác, đến đài phát thanh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chúng tôi đi vào phòng thu nhỏ trên lầu một. Những kỹ thuật viên của chính đài này đã tháo chân dung của Nguyễn Văn Thiệu từ trên tường xuống và ném qua cửa sổ ra sân. Chúng tôi ngồi bất động một lát. Ông Mẫu quạt mặt mình bằng một quyển sách. Tổng thống Dương Văn Minh và chính ủy xe tăng Bùi Tùng ngồi trên hai chiếc ghế và tôi ngồi giữa họ tại một chiếc bàn nhỏ. Ông Tùng thảo văn kiện đầu hàng trên một mảnh giấy màu xanh. Ông viết khá vất vả. Có lúc ngồi bất động trong khi thảo ra được một vài từ rồi đến từ nữa, rồi lại thay thế bằng những từ khác. Sau 30 năm chiến đấu cho một mục đích, thật là khó để biết phải viết như thế nào. Nhưng rồi cũng viết xong. Cuối cùng mọi người đã sẵn sàng, nhưng không ai trong số người này biết sử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng hướng dẫn rất rõ ràng những việc phải làm: ông Minh cần phải đọc lại bản tuyên bố vào máy ghi âm của tôi, việc này được lặp đi lặp lại đến ba lần. Lần đầu tiên ông Minh chần chừ vì được yêu cầu phải đọc là: "Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn", nhưng ông ấy chỉ muốn nói: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh...”. Họ tranh luận qua lại và cuối cùng đi đến thỏa thuận: không nhượng bộ ông Minh. Ông Minh phải nói: "Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn". Nhưng ông Minh không đọc được bản viết tay của chính ủy Tùng và nói sai nhiều lần. Tất cả mọi thứ lại phải được đọc lại từ đầu. Chật vật mãi cuối cùng cũng đã xong…" Phóng viên báo Tuổi Trẻ cũng lén chụp được tờ giấy pơ luya màu xanh nhàu nhĩ này với nét chữ của ông Tùng tại Bảo tàng Quân đoàn 2 ở Bắc Giang Nhưng không hiểu sao, sau đó văn bản này không thấy còn chưng bày ở đó nữa... Nhận định về việc này, nhà thơ Trần Đăng Khoa viết: Như vậy, mọi việc đã quá rõ ràng. Người thảo văn bản đầu hàng cho Tổng thống Dương Văn Minh và văn bản chấp nhận đầu hàng của Quân Giải phóng là ông Bùi Tùng chứ không phải ông Phạm Xuân Thệ. Đấy là chứng nhận của một nhân chứng, một người trong cuộc, lại là một nhà báo nổi tiếng quốc tế. Vậy thì còn tranh cãi gì nữa. Chuyện này đã có thể khép lại được rồi. Hy vọng đây là bài viết cuối cùng nói về một sự thật hiển nhiên, không có gì còn phải bàn cãi nữa. Tuy nhiên, chưa thấy Viện Lịch sử Quân sự có động thái gì phản ứng lại trước sự thật lịch sử này! Tôi rất mong Viện Lịch sử Quân sự cần phải kết luận lại. Vì đó là khoa học. Nếu nhập nhẹm, người ta sẽ không còn tin vào những trang sử khác cũng rất vinh quang của quân đội. Điều đó mới thật sự nguy hại.” ( https://l.facebook.com/l.php?u=https%3A%2F%2Fbigschool.vn%2Fai-thao-loi-tuyen-bo-dau-hang-cho-duong-van-minh-doc&h=AT1914oB-tpeQmj0SxhNn6JElUftMkUyLt0DRkRMslK93lyhotR-F3jOHB_wAwlV0YmAZUePqKNxuBnSgGnj9Pyy3TUmtvnSUhCvDCzSNkZNiKKezJxAmGxK2FgGPY7GnUmBrJmZUJT1v4f7cyvMJMkaF0E) Liên hệ chuyện viết lại lịch sử trong tấm Bia tưởng niệm ghi danh liệt sĩ ở làng tôi (Lai Xá, Kim Chung, Hoài Đức, TP Hà Nội) có một việc như sau: Liệt sỹ Nguyễn Văn Vạn là một trong 13 chiến sĩ cảm tử quân đầu tiên hy sinh trong ngày quân Pháp gây hấn ở TP Hải Phòng vào sáng ngày 20/11/1946 (trước ngày toàn quốc kháng chiến đúng 1 tháng). Chứng kiến sự kiện này là hai nhà khoa học nổi tiếng hiện đang sống ở Paris là: GSTS Nguyễn Quang Riệu và GSTS Nguyễn Qúi Đạo. Ngày hy sinh của chú Vạn còn được ghi rõ trong tấm Bằng Tổ Quốc Ghi Công rồi. Mà không hiểu vì sao trong văn bia, năm hy sinh của chú được lùi lại một năm là: 1947? Theo tôi được biết, thông qua Phó GS-TS Nguyen Van Huy, cả hai chú Riệu và Đạo cũng đã xác minh ngày chú Vạn hy sinh là 20/11/1946. Vì chú Vạn trước lúc hy sinh đang làm thợ ảnh cho bố của các chú ở tiệm hình Phúc Lai trước cửa Nhà hát lớn Hải Phòng ở phố Bonnal (phố Ngô Quyền ngày nay) nên chú Vạn đã gắn bó thân thiết với gia đình cụ Phúc Lai. Có ý kiến cho rằng vì trong tấm Bằng Tổ Quốc Ghi Công người ta ghi chú Vạn nguyên quán Hải Phòng. Nên không thể ghi tên chú lên đầu tấm bia của làng được. Mà theo tiêu chí ghi tên liệt sỹ theo thời điểm hy sinh. Ai hy sinh trước ghi trước, hy sinh sau ghi sau. Đó là nguyên nhân LS Vạn bị đẩy xuống số 2 chỉ còn cách lùi năm hy sinh của chú 1 năm: từ 1946 xuống 1947 (?) Nếu LS Nguyễn Văn Vạn hy sinh ở một nơi đèo heo hút gió thì không nói làm gì. Nhưng nó diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật ở một thành phố lớn và còn là những liệt sỹ đầu tiên của Nước Việt Nam DCCH sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập. Viết về sự hy sinh của 13 liệt sỹ đầu tiên này, báo Nhân Dân số ra ngày 17/09/2010 có đoạn như sau: “Cuộc chiến đấu quyết liệt, không cân sức kéo dài đến chiều tối đã làm quân Pháp kinh ngạc và hoảng sợ. Nhà hát Lớn thành phố được giữ vững, 50 tên Pháp phơi thây ngổn ngang, nhiều tên bị thương nặng, hai xe thiết giáp bị phá hủy. Một ngày đêm ròng rã chiến đấu, các chiến sĩ đã chiến đấu đến người cuối cùng. "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", 13 đồng chí đã anh dũng hy sinh, tám đồng chí bị giặc bắt do bị thương nặng. Sau khi ngừng bắn, chiều 22-11, nêu gương chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ, cả thành phố tổ chức lễ truy điệu, tiễn đưa các chiến sĩ về nơi an nghỉ cuối cùng. Trận chiến đấu tại Nhà hát Lớn thành phố ngày 20-11-1946 là mốc son chói lọi và trở thành ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Hải Phòng hằng năm.” ( https://l.facebook.com/l.php?u=https%3A%2F%2Fwww.nhandan.com.vn%2Fchinhtri%2Fitem%2F12967702-.html&h=AT3NbEgab2QpMWJlzRsc7daymMw-zCr2rx5ThbBQwd-kpsyptUi6DRm7XipoQ0OBrCooPxFQf7TyhmjdYMgkWqcqcaUWDRVbR77Hpm_DwPV1p3o21mONzlh09FAtBgwagCPnWMjCSQH4xYsb3b5n8Pl3h9w) Chú Vạn được sinh ra ở Làng Lai, là hậu duệ của hai dòng họ Nguyễn-Phạm là các dòng họ to và đông đinh nhất của làng. Chú mồ côi cha khá sớm. Theo sự giới thiệu của cụ Lang Kiệu - Phạm Văn Khởi (cụ Khởi là anh ruột cụ Sáu mẹ chú Vạn), hai mẹ con chú xuống Hải Phòng giúp việc nhà cho cụ Phúc Lai - Nguyễn Văn Đính. Như chú Riệu tâm sự “cô Vạn (cụ Sáu) được cả 3 chú (Riệu, Quyền và Đạo) coi như mẹ mình. Vì cô Vạn chăm cho chúng tôi từ khi mới lọt lòng cho tới khi khôn lớn. Buổi sáng mà không nhờ cô Vạn gọi thì y như rằng mấy anh em ngủ nướng bị muộn học..., khóc om, dỗi hờn...”. Khi chú Vạn lớn, lại theo học và làm thợ ngay tại tiêm Phúc Lai cho tới lúc hy sinh. Sau khi chú Vạn mất, cụ Lang Kiệu xuống đón cụ Vạn lên Hà Nội chăm sóc cho hai con gái cụ Khởi là cô Qúy và cô Kỳ. Khi các cô lấy chồng, cụ Sáu lại chăm nom nâng giấc cho con cái của hai cô cho tới khi cụ trăm tuổi về an giấc ngàn thu trên cánh đồng làng. Vì cụ goá chồng ở vậy nuôi chú Vạn cho tới khi chú Vạn hy sinh nên sau khi viên tịch cụ Phạm Thị Sáu được nhà nước phong danh hiệu BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG. Theo lời đi huấn của cụ Lang Kiệu, chú Phạm Văn Quy hiện làm giỗ cho cụ Sáu hàng năm vào ngày 22 tháng giêng âm lịch. Còn chú Vạn chẳng biết vào ngày 27 tháng mười âm lịch (20/11/1946) có ai làm giỗ không? *Ảnh 1+2: Bút tích và hình ảnh của ông Bùi Văn Tùng trưa ngày 30/4/1975 *Ảnh 3: Văn bia Tưởng niệm Liệt sỹ Làng Lai Xá: số thứ tự 2 là chú Vạn - hy sinh năm 1947 *Ảnh 4: Bằng TQGC ghi chú Vạn hy sinh 20/12/1946 Ảnh 5: Bằng BMVNAH - cụ Phạm Thị Sáu



Nhân chứng 'bất đắc dĩ'

Thời khắc Tổng thống chế độ Việt Nam Cộng hoà đọc lời tuyên bố đầu hàng cách mạng, có sự chứng kiến của một nhân chứng thứ ba “bất đắc dĩ”.

Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái kể lại giây phút lịch sử trưa 30/4/1975. Ảnh: Phúc Lập.


Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái kể lại giây phút lịch sử trưa 30/4/1975. Ảnh: Phúc Lập.

Đó là kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, một thành viên quan trọng trong lực lượng hòa giải, hòa hợp dân tộc, vận động chính quyền Sài Gòn buông súng, tránh gây thương vong không đáng có cho lực lượng cả 2 bên.

Nhân kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng tôi gặp kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái tại Hội trường Thống Nhất (Dinh Độc Lập cũ), TP.HCM, để nghe ông hoài niệm về những giây phút lịch sử cách đây 45 năm.

Từ chối "thiên đường" để đến với cách mạng

Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái sinh năm 1940, tại Đà Nẵng, trong một gia đình công chức. Năm 1958, sau khi đỗ Tú tài Trường Thiên Hựu (Huế), ông tiếp tục học ngành Kiến trúc và Luật, Viện Đại học Sài Gòn.

Những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước, ông là một trong những nhân tố tích cực nhất trong phong trào sinh viên xuống đường biểu tình, đòi tự do, dân chủ.

Năm 1963 - 1964, chàng sinh viên Nguyễn Hữu Thái được bầu làm chủ tịch tổng hội sinh viên Sài Gòn, trở thành cái tên quen thuộc trong giới sinh viên, học sinh Sài Gòn đương thời.

Do nhiệt tình đấu tranh nên năm 1964, chàng sinh viên 24 tuổi bị bỏ tù, trở thành cái tên nổi bật trong “danh sách đen” của chế độ cũ. Trong vòng 10 năm sau đó, anh đã 3 lần bị bắt giam.

“Sau cuộc đảo chính tháng 11/1963, phái quân sự lên nắm quyền, tôi là một trong số những người dẫn đầu đoàn sinh viên xuống đường tranh đấu. Lúc đó chưa có ai giác ngộ cách mạng cả, chỉ mong chấm dứt chiến tranh, tránh đổ máu vô ích thôi.

Sang năm 1964, tôi bị bắt giam ở khám Chí Hòa. Cùng phòng giam có một số cán bộ Cộng sản. Ngay trong đêm đầu tiên, giữa tôi và họ đã tranh luận gay gắt về phương pháp đấu tranh...

Những cán bộ này đa phần hoạt động ở vùng nông thôn nên không hiểu lắm tình hình đô thị. Tuy vậy, càng tranh luận thì tôi càng bị họ thuyết phục và hiểu rằng, ngoài cuộc đấu tranh của sinh viên, trí thức chống chế độ Sài Gòn, còn có cuộc đấu tranh lớn lao của những người Cộng sản”, ông Thái mở đầu.

“Sau lần bị bắt giam ấy, tôi hiểu thêm về Đảng, về cách mạng, và dần dần giác ngộ, mặc dù tôi từng nhận được lời đề nghị của một quan chức Mỹ rằng sẽ tạo điều kiện sang Mỹ học rồi về Việt Nam làm quan chức.

Năm 1971, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức bầu cử Quốc hội và Tổng thống. Người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa bình trung lập, chuẩn bị cho “Thành phần thứ ba” như trong Hiệp định Paris.

Tôi được sự ủng hộ của tướng Dương Văn Minh, người sẽ ra tranh cử Tổng thống. Nhưng do bị nghi ngờ là người của quân giải phóng nên tôi đã thất cử. Tướng Minh vào giờ chót cũng rút lui khỏi cuộc tranh cử Tổng thống”, ông kể tiếp.

Một năm sau, Nguyễn Hữu Thái lại bị chính quyền Sài Gòn bắt giam trước ngày ký kết Hiệp định Paris về hòa bình Việt Nam, do bị tố cáo là thành phần thân Cộng. Khi người đàn ông 34 tuổi được ra tù năm 1974, tình hình đã biến chuyển nhanh theo hướng chấm dứt chiến tranh...

Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái và Đại tá Bùi Văn Tùng, nguyên Chính uỷ Lữ đoàn xe tăng 203, người soạn lời tuyên bố đầu hàng cho cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Dương Văn Minh tại Hội trường Thống Nhất. Ảnh: Phúc Lập.



Trầm ngâm giây lát, ông Thái kể tiếp: “Hồi đó, tôi đã nung nấu ý định thoát ly ra “cứ” hoạt động, nhưng không được toại nguyện. Sau này, tôi được biết, có ý kiến nói rằng tôi giao tiếp nhiều với người Mỹ nên nghi ngại, rồi có ý kiến cho rằng, tôi hoạt động công khai ngay ở Sài Gòn như vậy tốt hơn”.

Nhưng sau đó, một biến cố xảy đến, đó là khi Nguyễn Hữu Thái bị bắt đi quân dịch, trở thành giảng viên chiến tranh chính trị trong quân đội Sài Gòn rồi lại bị bắt đi tù lần thứ 3 vì vẫn chủ trương đấu tranh, hòa giải.

Ra tù, ông tiếp tục hoạt động công khai, trở thành cây bút chủ lực của báo Điện Tín do Dương Văn Minh chủ trương.






















 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN KHÁC

 


Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.