Bài viết


 
  VN
  13      


     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
Lễ hội Tây Thiên năm 2013 tổ chức từ ngày 25-3 đến 28-3 (tức ngày 14-2 đến ngày 17-2 năm Quý Tỵ) tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chiều 8-2 (28 tết) bí thư thành ủy Hà Nội Pham Quang Nghị thăn chợ hoa tết Hà Nôil
Diva mặc chiếc váy lộng lẫy và chinh phục khán giả bằng chất giọng cao, đẹp khi kết hợp cùng dàn nhạc giao hưởng đường phố trong buổi mở màn Luala Concert, chiều 10/11 ở Hà Nội.
Đã  lâu rồi từ ngày cho ra triển lãm ảnh Mẹ Và Quê Hương đến hôm nay mới lại có dip chup về mẹ.
  MVNAH ở Song Phượng, Mẹ Tạ thị Lười,khi hỏi tên mẹ tôi không khỏi ngac nhiên,nhưng đó là tên bố mẹ đặt cho, năm nay mẹ tròn 90 tuổi. Mẹ có một cô con gai duy nhất hy sinh trên trận địa phòng không bảo vệ đập phùng

Đang truy cập: 72
Lượt truy cập: 7821625





                                           

Tướng Đồng Sỹ Nguyên, người bạn mà Đại tướng Võ Nguyễn Giáp "tin và quý" Tướng Đồng Sỹ Nguyên, người bạn mà Đại tướng Võ Nguyễn Giáp 'tin và quý'

>>Tướng Đồng Sỹ Nguyên, người bạn mà Đại tướng Võ Nguyễn Giáp "tin và quý"

>>Tướng Đồng Sỹ Nguyên và đường Hồ Chí Minh huyền thoại

Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, "Toàn bộ cuộc đời của đồng chí Đồng Sĩ Nguyên gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và của Quân đội… một trong những vị tướng tiêu biểu của Quân đội ta. Đối với tôi, tướng Đồng Sĩ Nguyên là một trong những người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết gần gũi suốt cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc mà tôi rất tin và quý mến!”.

Còn bạn biết gì về ông?

Ông Đồng Sỹ Nguyên tên thật là gì?

A.Đồng Sỹ Nguyên

B.Nguyễn Hữu Vũ

Đáp án: Ông tên thật là Nguyễn Hữu Vũ, sinh ngày 1 tháng 3 năm 1923, tại làng Trung Thôn, xã Quảng Trung, phủ Quảng Trạch, Quảng Bình, xuất thân trong một gia đình trung lưu. Song thân ông là ông Nguyễn Hữu Khoán và bà Đặng Thị Cấp, đều là những hậu duệ của thủ lĩnh Phong trào Cần Vương. Ông là con thứ 5 trong gia đình. Cha ông mất sớm khi ông mới 10 tuổi.

C.Nguyễn Văn Đồng

Cùng với Lê Đức Anh, Đồng Sĩ Nguyên là một trong hai vị tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam được phong quân hàm vượt cấp từ...

A.Đại tá lên Trung tướng

Đáp án: Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên là một trong hai người cho đến nay được Nhà nước đặc cách phong quân hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng, do những thành tích to lớn có ý nghĩa chiến lược trên cương vị Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn, góp phần vào chiến thắng mùa xuân năm 1975.

B.Đại tá lên Thượng tướng

C.Đại tá lên Đại tướng

Ông được giao làm tư lệnh tuyến đường quan trọng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ lẫn trong thời bình. Đó là tuyến đường nào?

A.Đường Trường Sơn và Đường Hồ chí Minh

Đáp án: Thời gian Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên đảm nhận vị trí Tư lệnh (1967-1975) được xem là giai đoạn ác liệt của cuộc chiến tranh và đó là một chiến trường lớn. Từ những con đường mòn nhỏ, đường Hồ Chí Minh đã phát triển thành tuyến vận tải lớn, vào lúc cao điểm quân số lên tới trên 12 vạn người, phiên chế thành 8 sư đoàn trực thuộc cùng 1 sư đoàn cao xạ và tên lửa phối thuộc.

B.Đường Hà Nội và Quốc lộ 1C

C.Đường Trường Sơn và Quốc lộ 4D

Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia nào là do ông đề xuất xây dựng?

A.Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn

B.Nghĩa trang liệt sĩ Đường 9

Ông từng đảm nhiệm vị trí Bộ trưởng của hai bộ. Đó là những Bộ nào?

A.Bộ Quốc phòng và Bộ Xây dựng

B.Bộ Quốc phòng và Bộ Giao thông vận tải

C.Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông vận tải


Vĩnh biệt tướng Trường Sơn huyền thoại Đồng Sỹ Nguyên!

Thiếu tướng PHAN KHẮC HY, nguyên Phó Tư lệnh bộ đội Trường Sơn |

Vĩnh biệt tướng Trường Sơn huyền thoại Đồng Sỹ Nguyên!
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên đến thăm bộ đội Trường Sơn. Ảnh: TƯ LIỆU

Một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước có đức độ và tài năng, một người học trò ưu tú của Bác Hồ.

Chỉ còn hơn hai tháng nữa là kỷ niệm 60 năm mở đường Trường Sơn, nơi ghi dấu bao kỷ niệm, ân tình của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên với bộ đội Trường Sơn. Ban liên lạc Bộ đội Trường Sơn đã lên kế hoạch cho sự kiện trọng đại này. Vậy mà anh đã ra đi để lại biết bao thương cảm, bùi ngùi của bao thế hệ bộ đội Trường Sơn...

Dấu ấn từ việc đổi chiến thuật, đổi phương châm

Nhắc về tướng Đồng Sỹ Nguyên, chúng ta không thể quên dấu ấn của ông, vị tư lệnh của Binh đoàn Trường Sơn trong những ngày đầu mở đường Trường Sơn. Lúc ấy, trong giai đoạn đầu soi đường Trường Sơn, ta gặp nhiều khó khăn.

Bí mật xoi đường với phương châm “đi không dấu, nấu không khói” nên khối lượng hàng hóa, thuốc men, vũ khí chi viện chiến trường miền Nam còn thấp do chưa có kinh nghiệm, chủ trương chưa đúng, đồng thời do bị ngăn cản, đánh chặn, phá hoại của không quân Mỹ rất ác liệt.

Tuy nhiên, khi được trung ương điều vào tiếp quản đường Trường Sơn, tướng Nguyên đã khai thông được nhiều bế tắc, tuyến chi viện này phát triển mạnh mẽ, tạo thành hệ thống đường dọc, đường ngang chằng chịt xuyên núi rừng Trường Sơn, thậm chí vươn sang nước bạn Lào.

Vĩnh biệt tướng Trường Sơn huyền thoại Đồng Sỹ Nguyên! - Ảnh 1.

Thiếu tướng PHAN KHẮC HY

Giai đoạn đầu soi đường với phương châm bí mật, bất ngờ nhưng không quân của Mỹ quá mạnh nên không thể tiếp tế lớn cho miền Nam. Do vậy, tướng Nguyên đề xuất chủ trương cơ giới hóa, mà cơ giới hóa thì cần hệ thống cầu cống, đường sá nhiều mới đảm đương khối lượng hàng hóa, thuốc men, vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam.

Như vậy, lúc này đã công khai với địch chứ không bí mật như trước nữa. Ta phải mở đường, địch đánh ta thì ta đánh lại, đánh địch mà đi và bảo vệ hệ thống chi viện. Có thể nói đây là công lao, dấu ấn lớn của Tư lệnh bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên trên tuyến đường Trường Sơn.

Trong khoảng thời gian bám trụ trên tuyến lửa huyết mạch, tướng Nguyên là người bám trụ đường Trường Sơn lâu nhất, chỉ huy tài tình, lập nhiều chiến công, tập hợp nhiều lực lượng, phương tiện, cách thức đánh thắng phá hoại của đế quốc Mỹ ngay trên tuyến chi viện.

Chính tướng Nguyên đã đề xuất những kế hoạch táo bạo, sâu sắc, đánh giá được thực lực địch-ta vì lúc đó tâm lý còn ngán ngại Mỹ. Tuy nhiên, ông Nguyên đã khẳng định mình đánh thắng Mỹ. Đó như một động lực để các lực lượng bộ đội xốc tới, gây lòng tin cho bộ đội, cán bộ chỉ huy lúc đó.

Tướng Nguyên đã để lại nhiều dấu ấn trong suốt quá trình đối phó với cuộc đánh phá, ngăn chặn điên cuồng của Mỹ trên tuyến chi viện này như sáng tạo phương châm “địch đánh một, ta làm mười” hay “cầu đường đi trước một bước”, “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”... Cùng đó là sự chỉ huy hợp đồng binh chủng bảo vệ giao thông vận tải trên toàn chuyến chi viện Trường Sơn.

Cần nhớ lúc này giao thông vận tải trên đường Trường Sơn không chỉ đơn thuần là giao thông mà là một chiến trường, mà chiến trường này là chiến trường hợp đồng binh chủng.

Chính vì cách đặt vấn đề căn cơ, đúng thực lực như vậy nên công tác chỉ đạo xuyên suốt và hiệu quả đạt được rất cao. Từ đó phát huy thế mạnh của ta, hạn chế thế mạnh của địch, đi đến thắng lợi trên chiến trường.

Vĩnh biệt tướng Trường Sơn huyền thoại Đồng Sỹ Nguyên! - Ảnh 2.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn. Ảnh: TƯ LIỆU

Vị tư lệnh tài ba

Về tác phong làm việc của Tư lệnh bộ đội Trường Sơn, có thể nói tướng Nguyên có trí nhớ rất tốt, ghi nhớ và đi đến tận cùng sự việc. Một sự kiện dù nhỏ ông cũng lắng nghe, từ đó có những nhận định rất sáng suốt trong chỉ đạo, xây dựng phương án tác chiến.

Từ nhận định sáng suốt nên có những chỉ đạo, hoạch định rất táo bạo, trong đó bộ đội ta vận dụng địa thế rừng núi hiểm trở và hệ thống đường kín nên khi địch phát hiện, đánh ta ban ngày thì cũng hạn chế về không gian tác chiến.

Đánh ban đêm ta hạn chế nên khi chuyển sang đánh ngày ta chiếm ưu thế trên chiến trường, tổn thất ít và không ngăn chặn dòng chi viện của ta ra chiến trường. Đây là những sáng kiến rất cụ thể, giải quyết tình hình khó khăn khi ấy trên tuyến Trường Sơn.

Nhất là khi máy bay AC-139 phát hiện ra các mục tiêu, hệ thống đường kín và chạy ban đêm, địch đã dùng thiết bị khuếch đại ánh sáng, tia hồng ngoại để tự động xạ kích, khi đó tướng Nguyên chỉ đạo cho xe chạy ngày.

Đây là cách chiếm ưu thế trời của ta, đất của ta, địch không thể ngăn chặn được. Điều này đồng nghĩa tổn thất ít, ngược lại hiệu quả chi viện rất nhiều. Đây là những sáng kiến tại chỗ của ông.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên và kỳ tích đường Trường Sơn

Trường Sơn có lịch sử xây dựng và chiến đấu kéo dài 16 năm thì tướng Đồng Sỹ Nguyên có hơn tám năm trên cương vị là tư lệnh. Trường Sơn từ một đơn vị chỉ với hơn 500 quân ngày đầu thành lập, sáu năm sau trở thành một đơn vị tương đương cấp quân khu.

Trong thời gian tướng Đồng Sỹ Nguyên làm tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559), đường Trường Sơn từ một con đường mòn nhỏ trở thành một tuyến giao thông vận tải chiến lược với cả hệ thống đường được mệnh danh là "trận đồ bát quái xuyên rừng rậm". Con đường này lúc cao điểm có hơn 12 vạn binh sĩ, trong đó có hơn một vạn là lực lượng thanh niên xung phong, phiên chế thành tám sư đoàn và một sư đoàn cao xạ tên lửa phối thuộc.

Con "đường mòn" vĩ đại ấy cuối cùng có tới 14 tuyến với 20.000 km đường bộ, 800 km đường kín, 1.500 km đường rải đá, 200 km đường nhựa, 1.500 km đường ống xăng dầu, 1.350 km cáp thông tin, 3.800 km đường giao liên, 500 km đường sông.

Không chỉ là vị tướng tài ba và có tầm nhìn sắc sảo, tướng Đồng Sỹ Nguyên còn là một vị chỉ huy có tâm, có tình thương yêu đồng chí, đồng đội tha thiết. Ông hiểu hơn ai hết nỗi khát khao cháy bỏng của những người mẹ, người cha đã hiến dâng những người con thân yêu cho Tổ quốc là được chăm lo mộ chí cho người đã khuất. Từ cuối năm 1974, kế hoạch xây dựng Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn đã được ông vạch ra. Ông chỉ thị cho các cơ quan chuyên môn dành thời gian để thiết kế, xây dựng nghĩa trang. Và tháng 3-1975, ông là người bổ nhát cuốc đầu tiên động thổ xây dựng Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn, điểm đến thường xuyên đối với thân nhân và đồng đội tri ân các liệt sĩ.

TN tổng hợp

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên , sinh năm 1923, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ GTVT, nguyên Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn, đã từ trần vào hồi 11 giờ 42 phút ngày 4-4-2019.

Năm 2015, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên gửi đơn đến UBND tỉnh Quảng Trị mong muốn sau khi từ trần được an nghỉ ở khu đồi Văn Bia, nghĩa trang Trường Sơn cùng với những đồng đội của mình và UBND tỉnh này đã đồng ý.

theo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh


Tướng Đồng Sĩ Nguyên nói về Tướng Nguyễn Chí Thanh

 Một danh tướng tài ba, một nhà lãnh đạo lớn về chính trị, quân sự, kinh tế của thời đại Hồ Chí Minh, có công lớn trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đánh Mỹ ở miền Nam.

Sáng 26/12, tại Hà Nội, Bộ Quốc Phòng, Ban Tuyên giáo TƯ, Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức hội thảo khoa học “Đồng chí Nguyễn Chí Thanh với cách mạng Việt Nam và quê hương Thừa Thiên - Huế”.

60 tham luận tại hội thảo đánh giá hơn 30 năm hoạt động cách mạng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, vị tướng lĩnh quân đội phấn đấu trọn đời cho lý tưởng của Đảng, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Tướng Đồng Sĩ Nguyên nói về Tướng Nguyễn Chí Thanh
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Ảnh: Minh Thăng

Một vị tướng tài, thao lược của quân đội nhân dân Việt Nam, một cán bộ lãnh đạo gương mẫu, giàu nghị lực và bản lĩnh; một tấm gương sáng ngời của người cộng sản.

Trân trọng giới thiệu tham luận của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh:

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một danh tướng tài ba, một nhà lãnh đạo lớn về chính trị, quân sự, kinh tế của thời đại Hồ Chí Minh, có công lớn trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đánh Mỹ ở miền Nam.

Thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ông, trên cương vị Bí thư kiêm Chính ủy Phân khu Bình - Trị - Thiên đã lãnh đạo, chỉ huy xuất sắc, kiên cường, dũng cảm, thực hiện cuộc trường kỳ kháng chiến vượt qua gian khổ, khó khăn, ác liệt, làm cho quân Pháp bị thiệt hại nặng.

Thắng lợi của Mặt trận Bình - Trị - Thiên khói lửa không những hạn chế được thương vong trong các cuộc tấn công ào ạt của thực dân Pháp vào địa bàn Thừa Thiên, Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, mà còn góp phần chi viện hiệu quả cho cục diện chiến trường toàn quốc, đặc biệt góp phần không nhỏ trong đại thắng cuối cùng.

Từ thực tiễn chiến trường Bình - Trị - Thiên khói lửa, sống, chiến đấu trong lòng nhân dân, ông đã đúc kết, góp phần xây dựng, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của lý luận chiến tranh nhân dân Việt Nam với ba thứ quân: chủ lực, địa phương, dân quân, du kích; với chủ trương cốt lõi: "Bám dân, bám đất, một tấc không đi, một ly không rời"; "Có dân, có đất là có tất cả". Đây thực sự là những đúc kết về lý luận rất mới, rất sáng tạo trong cuộc chiến tranh nhân dân chống đế quốc Pháp xâm lược, trong đó Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người phát hiện và có những đóng góp rất quan trọng.

Khi về làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, ông đã cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trương về mặt chính trị, đẩy mạnh giương cao hai ngọn cờ: "Con người là nhân tố quyết định" và "Cán bộ là tại chỗ".

Đại tướng ưu tiên nhấn mạnh: Cán bộ là tại chỗ, tức cán bộ phải từ cơ sở, am hiểu thực tế đơn vị, trưởng thành qua chiến đấu, được giáo dục đào tạo bài bản qua trường lớp; vừa có bản lĩnh, kinh nghiệm, phẩm chất đạo đức tốt, vừa có trình độ theo công việc phụ trách; ngắn gọn là cán bộ phải từ chiến sĩ mà lên, từ nhân dân mà ra.

Với quan điểm xuyên suốt đó, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã chỉ đạo xây dựng, triển khai một chương trình đồ sộ nhưng rất cụ thể về công tác chính trị, tư tưởng, công tác cán bộ, xây dựng lực lượng vũ trang, chỉ đạo Tổng cục Chính trị thực thi một cách bài bản, kết hợp cả chiều rộng và chiều sâu, phát triển hàng loạt trường, lớp giáo dục trên lớp kết hợp rèn luyện thử thách qua thực tế, từ đó không ngừng nâng cao trình độ tư tưởng, chính trị, quân sự, chiến thuật, kỹ thuật cho bộ đội các cấp.

Đại tướng có công đóng góp rất lớn giúp Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương củng cố, xây dựng bài bản về chính trị cho lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam, thành đội quân chiến thắng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, vì độc lập tự do, vì hạnh phúc của nhân dân.

Sau hòa bình 1954, miền Bắc được giải phóng và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, miền Bắc bắt đầu xây dựng kinh tế theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với cương vị ủy viên Bộ Chính trị được phân công phụ trách mặt trận nông nghiệp.

Sau mấy tháng đầu lăn lộn với cơ sở, Đại tướng đã trực tiếp chỉ đạo mô hình hợp tác xã nông nghiệp, lấy xã Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình và nhà máy Duyên Hải ở TP Hải Phòng làm thí điểm xây dựng hợp tác xã để đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao.

Đại tướng cũng có cách sáng tạo đặt tên cho phong trào xây dựng kinh tế này với mô hình hợp tác xã, rất ý nghĩa, rất thôi thúc, rất lôi cuốn hấp dẫn nhân dân, đó là: "Gió Đại Phong, sóng Duyên Hải". Phong trào hợp tác xã được phát triển rộng khắp cả miền Bắc sau này, đã củng cố vững chắc hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vững lòng những người lính chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Khi đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào xâm lược miền Nam Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bộ Chính trị cử vào phụ trách Trung ương Cục miền Nam. Ngay từ những ngày tháng đầu, Đại tướng đã đi thực địa chiến trường và sớm đưa ra kết luận, đánh giá rất ngắn gọn, nhưng vô cùng giá trị gửi về Bộ Chính trị: "Đế quốc Mỹ giàu nhưng không mạnh".

Khai thác điểm yếu cơ bản của địch, đồng chí đã chỉ thị cho quân dân miền Nam rằng: "Hãy nắm thắt lưng địch mà đánh để giành thắng lợi". Một khẩu hiệu chiến lược và rất chiến thuật mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau này nhiều lần tâm đắc nhắc lại: "Chính nhờ khẩu hiệu đó, mà quân dân miền Nam chiến đấu đến giành thắng lợi cuối cùng".

H.Nhì(ghi)


Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên qua lời kể của nguyên Bộ trưởng Phạm Văn Trà

Nguyên Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Phạm Văn Trà chia sẻ, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên là người cương quyết, kiên định, dám chịu trách nhiệm.

Đại tướng Phạm Văn Trà buồn bã cho biết, hơn 1 tiếng trước khi Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng từ trần, ông đã vào viện thăm người anh của mình.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên qua lời kể của nguyên Bộ trưởng Phạm Văn Trà
Đại tướng Phạm Văn Trà - nguyên Bộ trưởng Quốc phòng. Ảnh: Hương Quỳnh

Ông kể, ông Đồng Sỹ Nguyên là một trong những người có đóng góp lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và trong chiến tranh biên giới.

Không có nhiều dịp gặp gỡ, song Đại tướng Phạm Văn Trà vẫn nhớ những ngày chiến tranh chống Mỹ, trong suốt quá trình hình thành và phát triển tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã trực tiếp chỉ huy hoàn thành tuyến đường vận chuyển quân lương, vũ khí, khí tài chiến tranh để chi viện cho chiến trường lớn miền Nam.

“Anh Đồng Sỹ Nguyên là người có tâm huyết. Công lớn của anh là chỉ huy, chỉ đạo và lãnh đạo giải quyết tuyến đường 559 để tiếp tế lương thực, thực phẩm và nhân lực vào chiến trường miền Nam”, Đại tướng Phạm Văn Trà nói.

Theo nguyên Bộ trưởng Quốc phòng, ông Đồng Sỹ Nguyên là một vị tướng tài, cái hay của ông là làm gì thì rất cương quyết, kiên định, dám chịu trách nhiệm. Điều đó đã thể hiện bản lĩnh của người chỉ huy.

Chính vì vậy, mặc dù đường Trường Sơn diễn biến ác liệt nhưng ông vẫn kiên quyết thực hiện thật tốt những đường dây, giữ được liên lạc tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam.

Lời nhắc giá trị

Ông Phạm Văn Trà chia sẻ, ở con người Tướng Đồng Sỹ Nguyên có một điểm là hơi nóng tính. Ví dụ như khi cấp dưới làm không được, không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ “vất vả” với ông.

“Anh ấy sẽ nói thẳng, nói thật. Có thể khiển trách, cách chức, vì ở đó là chiến trường, nếu không làm thế thì không được. Khi thấy ai không làm được thì anh kiên quyết chuyển tới vị trí khác ngay”, ông Trà kể.

Dù đã nghỉ hưu nhưng khi thấy những điều người dân đang bức xúc, Trung tướng có những góp ý tâm huyết với Bộ Chính trị.

Ông Đồng Sỹ Nguyên luôn tâm niệm và cũng nhắc nhở cấp dưới là phải giữ vững truyền thống của người lính, không được làm gì sai trái.

“Anh vẫn nói, trong chiến tranh, quân đội làm được nhiều việc chính là nhờ nhân dân, quân đội hoàn thành nhiệm vụ cũng do được sự giúp đỡ của nhân dân, nên không được kiêu căng.

Công lao chính là dân, nhân dân là trên hết. Phải luôn tôn trọng nhân dân, không được làm sai”, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng nhắc lại lời dặn của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên.

Hương Quỳnh



Tướng Đồng Sỹ Nguyên - vị tướng gắn với đường Trường Sơn huyền thoại

Cuộc tiến công thần tốc của quân đội ta sau này được giải mã gắn liền với tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, và Trung tướng, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên.

“Cá nhân tôi không đủ tư cách để nhận xét về Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, nhưng những tư liệu chúng tôi có về Trung tướng, rõ ràng vai trò của ông trong chiến dịch Hồ Chí Minh rất quan trọng”- Đại tá, Tiến sĩ Vũ Tang Bồng, nguyên cán bộ Viện Khoa học Lịch sử quân sự Việt Nam khẳng định.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên - vị tướng gắn với đường Trường Sơn huyền thoại
Trung tướng-nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên

“Thời đó ông là Tư lệnh 559 (Bộ Tư lệnh Trường Sơn), Bộ Tư lệnh có nhiệm vụ đảm bảo cơ động việc chuyển quân, vũ khí, đạn dược, khí tài, vật chất kỹ thuật áp sát các mục tiêu lớn”.

Đồng Sỹ Nguyên - Vị tướng tài ba

Trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh nổ ra, người Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa đều nhận định quân đội miền Bắc muốn áp sát Sài Gòn cần ít nhất 2 tháng.

Tuy nhiên, thực tế các cánh quân từ miền Bắc chỉ cần chưa đầy 20 ngày để làm điều đó. Cuộc tiến công thần tốc, vũ bão của quân đội ta sau này được giải mã gắn liền với tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, và Trung tướng, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên.

Trong cuốn hồi ký “Đồng Sỹ Nguyên - Trọn một con đường”, lịch sử hình thành con đường huyền thoại được lý giải cặn kẽ. Bắt nguồn từ yêu cầu thực tế chiến trường, những năm 1964-1965 ô tô vận tải trên Trường Sơn đã có nhưng chưa thành tuyến, chỉ vận chuyển nhỏ lẻ từng cung đường, chặng đường theo từng tốp, từng đơn vị nhỏ.

Việc tổ chức vận tải trên địa bàn Trường Sơn núi cao, vực sâu…, địch đánh phá ngăn chặn quyết liệt, bộ đội phải trần mình ra giành giật từng cung đường, từng chuyến hàng. Trải qua nhiều trận chiến, đúc rút kinh nghiệm và chuẩn bị hàng chục năm, tuyến đường đã hình thành trên chiều dài hàng ngàn km để đến trận chiến cuối cùng-chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, từng đoàn quân rầm rập tiến vào Sài Gòn qua tuyến đường Đông Trường Sơn - Tây Trường Sơn và dọc duyên hải miền Trung, làm nên thắng lợi vẻ vang của cả dân tộc.

Đóng góp quyết định cho thành công của cuộc tiến quân thần tốc trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 là hai sư đoàn ô tô vận tải 571 và 471 thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn.

Cũng theo Đại tá Vũ Tang Bồng, những công trình nghiên cứu của ông về sư đoàn ô tô vận tải 571 và nhiều công trình khác đã cho ông nhìn nhận rõ hơn về vai trò đặc biệt quan trọng của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, vị Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn suốt từ 1/1/1967 đến khi kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển tuyến đường huyền thoại, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên trực tiếp gắn bó, chỉ huy, không chỉ hoàn thành tuyến đường vận chuyển quân lương, vũ khí, khí tài chiến tranh mà còn hoàn thiện đường ống dẫn xăng, dầu từ Bãi Cháy (Quảng Ninh) vào tận Nam Bộ chi viện cho chiến trường lớn Miền Nam.

Đến năm 1974, Bộ Tư lệnh Trường Sơn có hai sư đoàn và trung đoàn ô tô cơ động vận tải, biên chế trên 8.000 xe, đủ sức chở cả quân đoàn có trang bị vũ khí, khí tài hạng nặng. Từ Đường 9 vào Nam Tây Nguyên đi mất 5 ngày. Xe tăng và pháo tầm xa 130 ly đều cơ động được trên hai trục đông - tây Trường Sơn, có thể cơ động cả tên lửa.

Trực tiếp “nếm mật, nằm gai” ngoài trận tuyến, có mặt trong khói đạn, trên những cung đường sạt lún vì mưa rừng Trường Sơn, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên khi thì hội ý Bộ Tư lệnh đưa ra những chỉ lệnh, giải pháp cấp bách đáp ứng thực tiễn chiến trường, những chỉ lệnh kịp thời khắc phục sự cố hỏng đường, hỏng xe, khi khác lại có mặt trong những cánh rừng động viên bộ đội.   

Lật sang trang Việt Nam phát triển

Bên con phố nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, dưới tán xà cừ cổ thụ là căn nhà của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên. Khuôn viên nhỏ nhưng thoáng đãng, hàng ngày là nơi để ông tập khí công, tìm sự thanh tịnh bên khóm huệ tây, hồng bạch thi nhau bung những chùm hoa trắng muốt. Ở khoảnh sân đầy nắng, ông đặt một bộ bàn đá giản dị, là nơi tiếp khách và đọc báo mỗi ngày.

Ở sát cái tuổi “bách niên”, năm tháng đã lấy đi sự hoạt bát nơi vị tướng Tư lệnh Trường Sơn năm nào. Đôi chân từng đạp lên từng con dốc, nhấn bùn lầy, bom đạn; đôi chân từng vượt bao chuông, bao suối, chịu ngàn vạn muỗi, vắt Trường Sơn tưởng đã “mình đồng da sắt”, giờ không chống lại được với thời gian. Ở tuổi 96, đôi chân đã mỏi, nhưng tướng Đồng Sỹ Nguyên vẫn giữ được tinh thần minh mẫn.

Bên chiếc bàn đá, thỉnh thoảng ông lại nhớ về một thời hào hùng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và mừng vui chứng kiến sự đổi thay, chuyển mình của thời đại.

Đất nước hết khói bom đã gần nửa thế kỷ, điều ông nặng lòng nhất vẫn là những vết thương chiến tranh chưa thật sự lành. Đâu đó vẫn còn những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, chủ quyền biên giới, nhân quyền gây chia rẽ, khiến việc hòa giải, hòa hợp dân tộc khó khăn hơn.

Dẫn lại câu nói của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Đại hội 8 của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; làm sao để Mặt trận các cấp thực sự là trung tâm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng xã hội, là nơi mọi người có thể nói lên tiếng nói, nguyện vọng của mình, đóng góp trí tuệ, công sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, tướng Đồng Sỹ Nguyên cho rằng tất cả chuyện cũ hãy cho nó qua đi, lật qua một trang mới - trang sử Việt Nam phát triển, đi lên từ sự hòa giải, hòa hợp.


Ba dấu ấn tướng Đồng Sỹ Nguyên ở Trường Sơn

10 năm làm Tư lệnh Trường Sơn, tướng Đồng Sỹ Nguyên đã tạo nên mạng lưới đường chằng chịt khiến Mỹ không thể chặn chi viện từ Bắc vào Nam.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên từ trần ngày 4/4/2019 ở tuổi 96. Tham gia cách mạng khi 16 tuổi, cả cuộc đời ông kinh qua nhiều vị trí, nhưng dấu ấn đậm nét nhất là 10 năm làm Tư lệnh Binh đoàn 559 Trường Sơn.

Lúc sinh thời, nhận xét về Đồng Sỹ Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói "đồng chí đã có công lao lớn trong cuộc tổng khởi nghĩa 1945, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, đồng chí có công lớn đối với con đường chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh".

Đề xuất ý tưởng về tuyến đường chi viện là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp là kiến trúc sư, chỉ huy việc thực thi. Hội nghị Trung ương lần thứ 15 năm 1959 đã đề ra nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới: "Con đường phát triển của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân". Vì vậy, việc nhanh chóng mở đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến trường trở thành nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên đến thăm bộ đội Trường Sơn. Ảnh tư liệu

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên đến thăm bộ đội Trường Sơn. Ảnh tư liệu

Đầu tháng 5/1959, những cán bộ đầu tiên được Bộ Quốc phòng điều về Hà Nội chuẩn bị hành quân mở đường Trường Sơn. "Đoàn công tác quân sự đặc biệt" này do Thượng tá Võ Bẩm làm đoàn trưởng, Trung tá Nguyễn Thạnh là Chính ủy. Ngày 19/5/1959, đoàn được giao nhiệm vụ mở đường Trường Sơn, tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam, thiết lập tuyến hành lang, nối thông liên lạc, vận chuyển gấp một số hàng quân sự thiết yếu theo yêu cầu của chiến trường.

Lúc đầu Đoàn chỉ có Ban chỉ huy đoàn, Đoàn vận tải bộ 301 và các bộ phận xây dựng kho, bao gói, sửa chữa vũ khí, trang bị... Cả đơn vị và cơ quan gồm 500 cán bộ, chiến sĩ. Tháng 6/1959, bộ đội Trường Sơn bắt đầu vượt sông Bến Hải và phân bố các đơn vị vào các binh trạm. Cuối năm 1959, tuyến hành lang giao liên vận tải quân sự Trường Sơn đã được thiết lập và trở thành cầu nối giữa căn cứ miền Bắc với chiến trường miền Nam.

Thiếu tướng Võ Sở, nguyên Chính ủy Binh đoàn 12, Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam đánh giá, trong số các Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn thì tướng Đồng Sỹ Nguyên là người để lại dấu ấn đậm nét nhất khi lập nên kỳ tích tổ chức thế trận giao thông liên hoàn. Ông cũng là người "giăng lưới lửa trên đỉnh Trường Sơn", "kiến trúc sư hệ thống đường hầm màu lam".

"Ông Nguyên là người đề xuất xây dựng binh chủng hợp thành ở Trường Sơn và cùng hàng trăm nghìn chiến sĩ Trường Sơn tạo trận đồ bát quái, cơ động, thần tốc đưa các quân đoàn chủ lực từ Bắc vào giải phóng miền Nam", tướng Sở nói.

Khi tiếp nhận vị trí Tư lệnh Trường Sơn ngày 1/1/1967, Đồng Sỹ Nguyên có 5 tiểu đoàn xe với 750 xe chia thành 4 binh trạm, việc chi viện vào chiến trường miền Nam còn rất khó khăn vì những trận bom rải thảm của địch và khí hậu khắc nghiệt của Trường Sơn. Mỗi năm, Trường Sơn chỉ có vài tháng khô, các đơn vị vận tải có thể di chuyển, còn lại là mùa mưa với những trận mưa tầm tã làm đường sụt lở, lầy lội trầm trọng. Công binh, thanh niên xung phong phải trần mình suốt ngày đêm khắc phục hậu quả của mưa lũ. 

Thế nhưng chỉ 8 năm sau, đến đầu 1975, ông Nguyên đã nói với Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh là "cần bao nhiêu gạo, đạn, xăng và xe chở quân cũng có đủ". Lúc này, chỉ riêng vận tải cơ giới, Trường Sơn có 2 sư đoàn với hơn 10.000 xe.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên trong chiến dịch đường 9 Nam Lào năm 1971. Ảnh tư liệu

Tướng Đồng Sỹ Nguyên trong chiến dịch đường 9 Nam Lào năm 1971. Ảnh tư liệu

Theo tướng Võ Sở, có kết quả đó vì ngay sau khi nhận nhiệm vụ, ông Nguyên đã cùng các lái xe thực địa từng tuyến đường. Tận mắt quan sát mọi diễn biến "địch đánh, ta sửa ta đi", ông thấy rằng cách này không hiệu quả vì sửa đường mất rất nhiều công sức. Hơn nữa, do chỉ có một con đường mòn nên trong lúc chờ sửa chữa, tất cả xe cộ đều bị đình trệ, có khi cả tháng không chi viện được cho chiến trường. 

Rút kinh nghiệm, ông cho rằng muốn làm tốt nhiệm vụ chi viện thì trước hết Đoàn 559 phải có đủ sức chống lại cuộc chiến tranh ngăn chặn do không quân và bộ binh Mỹ thực hiện. Theo đó, phải hiệp đồng binh chủng, bảo vệ tuyến vận tải cơ giới để vừa chi viện, vừa đẩy lui địch trên chiến trường.

"Từ năm 1967, Đoàn 559 được bố trí trận địa pháo phòng không, tên lửa để đối phó với việc ném bom của địch, tạo thành lưới lửa bảo vệ trên đầu đội hình vận tải, không để lái xe đơn độc trên đường; ở dưới, công binh túc trực bên đường, khi địch đánh thì vào hầm trú ẩn, ngưng đánh ra sửa đường; còn bộ binh liên tục mở các chiến dịch đẩy địch ra xa", nguyên Chính uỷ Binh đoàn Trường Sơn kể.

Từ đây, tuyến đường không chỉ mang ý nghĩa là một "đường dây vận tải chi viện" đơn thuần nữa mà đã chuyển thành một chiến trường đúng nghĩa - chiến trường Trường Sơn đường Hồ Chí Minh. Từ thế phòng ngự bị động, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đã chuyển sang chủ động dùng kế nghi binh, ngụy trang. Mỹ đánh bom trọng điểm, công binh sẽ san lấp chuyển thành hố nghi binh ngụy trang khéo léo, thỉnh thoảng cho xe chạy qua để địch tiếp tục đánh phá. 

Địch thích đánh trọng điểm nào, bộ đội Trường Sơn càng tạo điều kiện, "kêu gọi" địch đánh vào đấy. Trong lúc đó, công binh mở thêm 2 tuyến đường song song bên cạnh để đoàn xe tiếp tục lưu thông. 

Từ một con đường mòn, đường Trường Sơn dưới thời ông Nguyên đã trở thành một tuyến giao thông chiến lược với cả hệ thống như trận đồ bát quái xuyên rừng rậm. Đó là những con đường ngang dọc chằng chịt mà Mỹ không cách nào ngăn chặn được với 5 trục dọc, 21 trục ngang, tổng chiều dài 20.000 km phủ kín dãy Trường Sơn, cả sườn Đông lẫn sườn Tây, xuyên 3 nước Đông Dương.

Trong đó, có hơn 800 km đường kín, 1.500 đường rải đá, 200 km đường nhựa. Ngoài ra còn có 1.500 km đường dẫn xăng dầu, 1.350 km đường dây cáp thông tin, 3.800 km đường giao liên, 500 km đường sông. 

"Mỹ bắn phá đường này thì đội vận tải sẽ đi đường khác, cắt khu vực này đi khu vực khác. Sau chiến dịch đường 9 Nam Lào, Mỹ đã phải khẳng định 'thua Việt Nam rồi' và 'không thể nào chặn được các đoàn xe chi viện từ Bắc vào Nam", ông Sở nói.

Sau chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" 1972, bộ đội Việt Nam đã hoàn toàn làm chủ trên chiến trường Trường Sơn. Tuyến chi viện trở nên thông suốt và cực kỳ hiệu quả. Lúc cao điểm, trên toàn tuyến có tới 9 sư đoàn trong đó 8 sư đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh quân khu Trường Sơn với 12 vạn binh sĩ, trong đó có hơn một vạn là thanh niên xung phong. Đội quân hùng hậu này không chỉ đảm bảo chi viện thông suốt mà còn là lực lượng dự bị chiến lược để tăng cường cho các chiến dịch. 

Sự chuyển mình của Binh đoàn Trường Sơn khiến Mỹ điên cuồng ném bom chặn phá. Chúng đã ném hơn 8 triệu tấn bom trên toàn lãnh thổ Việt Nam nhưng riêng Trường Sơn đã hứng chịu hơn 4 triệu tấn. Thế nhưng, bộ đội Trường Sơn cũng bắn rơi hơn 2.400 máy bay, bằng một nửa số máy bay Mỹ bị Việt Nam bắn rơi. Trường Sơn lúc này không chỉ đơn vị vận tải đơn thuần mà còn là chiến trường đánh địch trên cả 3 nước Đông Dương. 

Đoàn xe vận tải hùng hậu trên đường Trường Sơn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ảnh tư liệu.

Đoàn xe vận tải hùng hậu trên đường Trường Sơn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ảnh tư liệu.

Để giúp các chiến trường miền Nam nhanh chóng xoay chuyển tình thế, ông Nguyên cũng cùng các chiến sĩ của mình sáng tạo nghệ thuật quân sự cơ giới hoá bộ binh, tạo khả năng cơ động cao, sức đột kích mạnh, đè bẹp các cuộc tấn công của Mỹ. 

Từ vận chuyển vật chất phục vụ chiến đấu, lực lượng vận tải Trường Sơn đã tiến lên cơ động các binh đoàn chủ lực, thần tốc vượt hàng nghìn km vào tham gia chiến dịch, đặc biệt là cuộc Tổng tấn công năm 1975. Khi tình huống xuất hiện, bộ đội Trường Sơn cũng trở thành lực lượng cơ động bộ binh chiến đấu tấn công vào sào huyệt kẻ thù.

Vượt qua hơn 733.000 lần máy bay bắn phá với gần 4 triệu tấn bom đạn, trong 16 năm, toàn tuyến đường Trường Sơn đã vận chuyến hơn 1 triệu vật chất, vũ khí vào chiến trường, vận chuyển cơ động 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, 2 triệu lượt người vào chiến trường hoặc từ chiến trường ra Bắc, 90 đơn vị binh chủng kỹ thuật vào chiến trường.

16 năm tuyến đường hoạt động, có 22.000 bộ đội Trường Sơn, thanh niên xung phong đã ngã xuống, trên 30.000 người khác nhiễm chất độc da cam, hàng chục nghìn người khác bị thương. Ước tính, cứ 1.000 tấn hàng đưa vào chiến trường trót lọt qua đường Trường Sơn thì có 57 người bị thương, 21 người hy sinh, 25 xe ôtô và 143 tấn hàng bị phá hủy.

Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên (tên do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt) tên thật là Nguyễn Hữu Vũ sinh ngày 1/3/1923, tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Năm 1939, ông được xét kết nạp Đảng. Năm 1940 ông được cử làm bí thư chi bộ thôn Trung. Ba năm sau, ông bị truy nã phải thoát ly sang Lào, Thái Lan hoạt động. Trở về nước một năm sau đó, ông tham gia chỉ huy kháng chiến ở địa phương, năm 1950 nhận công tác tại cơ quan Tổng cục Chính trị.

Năm 1965, ông được Bộ Chính trị cử vào làm Chính ủy Quân khu 4, sau đó làm Chính ủy Mặt trận Trung - Hạ Lào. Cuối tháng 5/1966, ông nhận quyết định của Bộ Quốc phòng điều vào làm Chính ủy Bộ Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn - Đoàn 559.

Ông là vị tư lệnh của Binh đoàn Trường Sơn trong thời gian lâu nhất (1967-1975) và là một trong hai vị tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam được phong quân hàm vượt cấp từ đại tá lên trung tướng. Sau chiến tranh, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng khác như Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Giao thông Vận tải, Phó thủ tướng...

Tên tuổi của ông luôn đi cùng với những kỳ tích như người tổ chức thế trận giao thông liên hoàn, giăng lưới lửa trên đỉnh Trường Sơn, hệ thống "trận đồ bát quái" ở Trường Sơn... Ông cũng là người đề xuất xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn vào năm 1974, khi chiến tranh còn chưa kết thúc.

Hoàng Thùy


Tướng Đồng Sỹ Nguyên và kế hoạch tiêu diệt “quạ sắt” AC130 trên bầu trời Trường Sơn

Năm 1971 là năm cam go nhất của bộ đội Trường Sơn bởi 2 con “quạ sắt” AC130 của Mỹ ngày đêm quần thảo trên bầu trời, bắn trúng gần như tất cả các đoàn xe vận tải của ta. Lúc này tướng Đồng Sỹ Nguyên cùng bộ đội Trường Sơn vạch kế hoạch giăng lưới lửa phòng không quyết bắt “quạ sắt”.

Những con “quạ sắt” quấy nhiễu bộ đội Trường Sơn

Cảm giác vô cùng đau buồn tiếc thương như vừa mất mát điều gì đó hết sức to lớn trong cuộc đời, Thiếu tướng Hoàng Kiền, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) nói về cảm giác khi hay tin Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên - vị Tư lệnh Trường Sơn anh hùng, người thủ trưởng mà ông luôn kính trọng - vừa qua đời.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên và kế hoạch tiêu diệt “quạ sắt” AC130 trên bầu trời Trường Sơn - 1

Năm 1971, tướng Đồng Sỹ Nguyên tại khu căn cứ chỉ huy Xê Pôn, chiến dịch đường 9 Nam Lào. 

Tuyến đường Trường Sơn là tuyến chi viện chiến lược cho tiền tuyến, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Với nhiều năm là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn, tên tuổi Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên gắn liền với đường Trường Sơn huyền thoại vào những tháng năm chiến tranh ác liệt nhất.

Thiếu tướng Hoàng Kiền kể, năm 1971 là những tháng ngày cam go nhất đối với các đơn vị vận tải, các binh trạm trên tuyến đường Trường Sơn. Bởi lúc này Mỹ dùng máy bay AC130 (mệnh danh “con quạ sắt”) được trang bị thiết bị hồng ngoại, có thể phát hiện tia lửa điện của động cơ xe và nhiệt do động cơ xe toả ra, có thiết bị khuyếch đại ánh sáng mờ để nhận rõ mục tiêu trong đêm tối.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên và kế hoạch tiêu diệt “quạ sắt” AC130 trên bầu trời Trường Sơn - 2

Những đoàn xe vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam đi trên con đường Hồ Chí Minh huyền thoại.

Sau khi phát hiện các đoàn xe của ta, chúng dùng các loại súng 40 ly, 20 ly 4 nòng bắn liên thanh, tên lửa tầm ngắn có khả năng bắn phá sát thương trên diện rộng, thời gian dài.

Kết hợp với mạng lưới trinh sát điện tử ở mặt đất (cây nhiệt đới), loại máy bay này nhanh chóng phát hiện mục tiêu cho dù mục tiêu đó di động trong đêm tối trong rừng cây rậm rạp, xe chạy bằng đèn rùa chúng vẫn phát hiện ra. Đêm đêm chúng sử dụng AC130 "túc trực" trên không từ đầu tuyến đến cuối tuyến, đặc biệt là khu vực Nam – Bắc đường 9.

Mỗi đêm 2 chiếc AC130 thay thay nhau quần thảo trong một khu vực, mỗi chiếc có thể bay liên tục 5-6 giờ. Lúc đầu chúng bay muộn về sớm. Cứ khoảng 5 giờ chiều một chiếc AC130 quần thảo trên bầu trời, nửa đêm chúng đổi ca cho đến sáng mới về.

Không một đoàn xe nào của ta không bị chúng phát hiện và tấn công. Các đơn vị xe đều bị tổn thất, mỗi binh trạm có đêm cháy tới hơn chục xe. Số xe bị bắn cháy tăng vọt, số lái xe bị thương ngày càng nhiều.

Nhiều phương án đối phó với những “con quạ sắt” AC130 lúc này của ta được đề ra nhưng chúng làm chủ bầu trời mà ta không thể làm gì.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên và kế hoạch tiêu diệt “quạ sắt” AC130 trên bầu trời Trường Sơn - 3

Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên thăm và động viên các chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn vận tải 101 trong chiến dịch mùa khô 1970-1971.

Bộ Tư lệnh khu vực 472 đã chỉ đạo cho lực lượng công binh các binh trạm dùng thùng phuy rải dọc đường 9 cho củi vào đốt lửa để nhử máy bay địch, nhưng cũng chỉ được ngày đầu, sau địch phát hiện ra và không bắn vào đó nữa.

Lực lượng công binh làm các đường tránh gọi là "đường mang cá", khi có báo động AC130 là lái xe cho xe lao vào mang cá để tránh nhưng vẫn bị “quạ sắt” săn được và bắn trúng. Chúng ta tăng cường dùng cành cây nguỵ trang xe cũng vẫn bị bắn cháy.

“Quạ sắt” bị nướng bởi lưới lửa phòng không

Thực tế trên tuyến chiến trường đường Trường Sơn lúc đó khiến ta gặp rất nhiều bất lợi. Đây là một trong những tháng ngày lao đao, gian khổ nhất của Bộ đội Trường Sơn.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên và kế hoạch tiêu diệt “quạ sắt” AC130 trên bầu trời Trường Sơn - 4

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe báo cáo từ tướng Đồng Sỹ Nguyên trong chiến dịch đường 9 Nam Lào, năm 1970.

Các đơn vị đã ra sức động viên bộ đội nâng cao ý chí chiến đấu, đánh địch mà đi, đồng thời áp dụng các biện pháp tăng cường che chắn bảo vệ cho xe và lái xe như: các xe ô tô đều làm dàn mướp che ca bin, lái xe đội mũ sắt, mặc áo giáp chống đạn, tổ chức đội hình vừa và nhỏ, theo dõi quy luật hoạt động của AC130 để tổ chức chạy tránh thời gian cao điểm hoạt động của địch… Nhưng tất cả các biện pháp trên vẫn nằm trong thế bị động, chỉ có tác dụng hạn chế một phần rất nhỏ, chưa phải là biện pháp đối phó có hiệu quả.

Trước sự tổn thất nặng nề do máy bay AC130 gây ra, khi đó ở các cấp chỉ huy có sự nhìn nhận đánh giá khác nhau về địch và ta. Một số cho rằng máy bay AC130 nhìn được ban đêm nên đánh rất trúng mục tiêu, một số lại cho rằng AC130 chỉ đánh mò, do lái xe sợ đạn 40 ly bỏ xe chạy nên mới bị bắn cháy.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên và kế hoạch tiêu diệt “quạ sắt” AC130 trên bầu trời Trường Sơn - 5

"Quạ sắt" C130 bị bắn hạ.

Để có kết luận chính xác, đối phó với máy bay AC130, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đã cùng các cán bộ Bộ Tư lệnh bám theo các chuyến xe vận tải để nghiên cứu địch.

Từ ý kiến thực tế, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định điều tên lửa vào áp sát đường 9 để tiêu diệt AC130. Đồng thời mở đường kín chạy ngày để tránh AC130 bắn xe.

Để tiêu diệt AC130, hai trung đoàn tên lửa đã cơ động vào phục kích ở phía Bắc đường 9.

Các kế hoạch dùng lưới lửa phòng không để vây “những con quạ sắt” được bộ đội ta vạch ra. Trung đoàn cao xạ 591 đón máy bay địch từ cánh phải. Ba tiểu đoàn cao xạ của Binh trạm 32 đón máy bay địch ở cánh bên trái. Trung đoàn tên lửa 275 sẵn sàng bắt mục tiêu, phóng tên lửa.

Mọi kế hoạch hợp đồng tác chiến dụ “quạ sắt” AC130 vào lưới lửa phòng không rồi tiêu diệt được bộ đội ta lên nòng và sẵn sàng chiến đấu.

“Hôm ấy cuối tháng 11/ 1971, trời quang mây tạnh, như thường lệ “quạ sắt” AC130 cứ lừng lững bay ra như thách thức những người lính Trường Sơn. Bất ngờ, hai cánh cao xạ tập trung hoả lực tạo thành lưới lửa dồn ép con "quạ sắt" đi vào một hướng gần như cố định. Khi nó đang loay hoay tránh lưới lửa cao xạ thì bất ngờ tên lửa của ta phóng lên trúng thẳng mục tiêu. Có lẽ bị dính tên lửa quá bất ngờ nên khi “quạ sắt” bốc cháy rơi xuống mà 9 tên giặc lái Mỹ không kịp bật dù thoát ra ngoài”, Tướng Hoàn Kiền nhớ lại cảm giác khi lần đầu tiên những người lính Trường Sơn bắn rụng “quạ sắt”.

Chiến thắng hạ “quạ sắt” của bộ đội Trường Sơn nhanh chóng bay xa, theo lệnh của trên, Binh trạm 32 điều 6 xe ô tô chở xác AC130 ra Hà Nội để nghiên cứu.

Sau lần hạ “quạ sắt” này, phía Mỹ đã không điều những con “quạ sắt” tiếp theo ra nữa mà phải lui vào hoạt động ở phía Nam đường 9. Mười ngày liền trên tuyến đường 9, Sê Băng Hiên vắng tiếng máy bay.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên và kế hoạch tiêu diệt “quạ sắt” AC130 trên bầu trời Trường Sơn - 6

Thiếu tướng Hoàng Kiền, Anh hùng LLVTND, Phó Chủ tịch Hội Trường Sơn Việt Nam.

Binh trạm trưởng BT32 Bùi Thế Tâm dẫn đầu đoàn xe 200 chiếc xe vận tải trên tuyến đường hở chạy vào giao hàng cho binh trạm 33, đoàn xe 200 chiếc trả hàng an toàn quay về căn cứ, thực hiện một chuyến trên cung, hai đêm/chuyến. Tận dụng thời cơ này, các Binh trạm tập trung xe chạy ngày đêm để chi viện cho tiền tuyến đến ngày thắng lợi thống nhất đất nước.

Thiếu tướng Hoàng Kiền, Anh hùng LLVTND - Phó Chủ tịch Hội Trường Sơn Việt Nam - kể, cuối tháng 5/1966, Đại tá Đồng Sỹ Nguyên nhận quyết định của Bộ Quốc phòng điều vào làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh 559, đến tháng 7/1973 chuyển thành Tư lệnh - Bộ tư lệnh Trường Sơn. Trong 10 năm công tác trên chiến trường này, tài thao lược và nhân cách sáng ngời của ông đã toả sáng để cùng với cán bộ, chiến sĩ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao phó.

Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là mạng lưới giao thông quân sự chiến lược chạy qua lãnh thổ 11 tỉnh của Việt Nam từ Nghệ An đến Bình Phước, 7 tỉnh của Nam Lào và 4 tỉnh Đông Bắc Campuchia, với 5 trục dọc, 21 trục ngang tổng chiều dài hơn 17 nghìn ki lô mét.

Trên những chặng đường đó, đường 20 Quyết Thắng là một trục ngang dài trên 120 cây số, từ Đông Trường Sơn vượt biên giới Việt - Lào sang Tây Trường Sơn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trên tuyến đường này, lực lượng giao thông Trung ương, địa phương, công binh, bộ binh, thanh niên xung phong… ngày đêm trần mình ra đào đất, đục xuyên núi đá, nhanh chóng đưa toàn tuyến vào sử dụng.

Nhận thấy tuyến đường huyết mạch chi viện cho tiền tuyến có ý nghĩa vô cùng quan trọng, Mỹ đã tập trung sức mạnh của không quân đánh phá xuống tuyến đường Trường Sơn vô cùng ác liệt. Vì thế nơi đây đã diễn ra cuộc chiến ngăn chặn của không quân Mỹ với mức độ ác liệt nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại.

Tuấn Hợp




 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN KHÁC

 


Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.