Bài viết










 
Album ảnhLiên hoan ảnh nghệ thuật khu vực ĐBSCL lần thứ 28 năm 2013
  VN
  13      


     "Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội lần thứ 3 năm 2013"
     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
 
Cuộc Thi ảnh nghệ thuật Việt Nam-Vẻ Đẹp Bất Tận

Đang truy cập: 25
Lượt truy cập: 7278155





                                           

Nhà phê bình điện ảnh Lê Hồng Lâm: 'Có một thế hệ điện ảnh mới đang dần dần hình thành…'

Thứ Tư, 26/09/2018 09:00 GMT+7
 Cuốn sách nghiên cứu - phê bình 101 bộ phim Việt Nam hay nhất của nhà phê bình điện ảnh Lê Hồng Lâm sắp phát hành là một cuộc soi rọi lại những bộ phim tạo được dấu ấn trong lịch sử phim Việt.

Chú thích ảnh
Thúy An trong “Cánh đồng hoang” - theo Lê Hồng Lâm - thuộc top 10 phim Việt hay nhất


Lê Hồng Lâm (sinh 1977, tốt nghiệp khoa Báo chí, ĐH KHXH&NV Hà Nội) hiện là cây bút phê bình phim tự do. Về điện ảnh, anh là tác giả của 5 cuốn sách: Xem chữ, đọc hình (2005), Chơi cùng cấu trúc (2009), Cánh chim trong gió (2016), Sự lưỡng nan của tình thế làm người (2018), 101 bộ phim Việt Nam hay nhất (2018). Lê Hồng Lâm trò chuyện cùng báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN) nhân cuốn sách quan trọng sắp phát hành.

101 vẻ đẹp tâm hồn người Việt

* Với khoảng 30 năm mê phim Việt, bộ phim Việt “cổ xưa” nhất và “cập nhật” nhất mà anh đưa vào sách này là các phim nào? Tại sao thế?

- Bộ phim cũ nhất trong danh sách phim này là Kiếp hoa, do Hãng phim Kim Chung (vốn là một đoàn cải lương nổi tiếng của Hà Nội) sản xuất năm 1953 và bộ phim cập nhật nhất (tính đến tháng 8/2018) là Song lang của đạo diễn Leon Lê. Và giữa hai bộ phim này là 99 bộ phim khác, trải dài từ những năm 1950 cho đến thời điểm hiện tại.

Chú thích ảnh
Nhà phê bình điện ảnh Lê Hồng Lâm. Ảnh: Đông Trần

Lý do đơn giản: Chúng là những bộ phim hay theo tiêu chí mà cuốn sách đặt ra. Đó là những tác phẩm đề cao giá trị văn hóa và con người Việt Nam ở các thời kỳ khác nhau, tất nhiên, chúng phải đáp ứng được những tiêu chí của một bộ phim điện ảnh hoàn chỉnh.

Ví dụ như Kiếp hoa chẳng hạn. Trong thời điểm điện ảnh còn sơ khai, phim này dài tới 106 phút, thậm chí còn dài hơn nhiều bộ phim điện ảnh Việt Nam chiếu rạp bây giờ (thường giới hạn trên dưới 90 phút để dễ bán vé). Dù còn nhiều hơi hướng của lối diễn xuất ước lệ sân khấu, nhưng lại có bố cục, cấu tứ của một bộ phim truyện chặt chẽ; kịch bản có nhiều thắt mở nút, tạo cao trào, kịch tính; mở và kết bộ phim theo một vòng tròn khép kín.

Sau 55 năm kể từ khi bộ phim ra đời, xem lại Kiếp hoa tôi vẫn khá ngạc nhiên vì cách dàn dựng chuyên nghiệp và đặc biệt là không khí thanh lịch, trang nhã của người Hà Nội thời ấy. Có thể nói Kiếp hoa xứng đáng được xem là bộ phim đầu tiên trong 101 bộ phim hay của điện ảnh Việt Nam.

Chú thích ảnh
Thúy An trong “Cánh đồng hoang” - theo Lê Hồng Lâm - thuộc top 10 phim Việt hay nhất

* Điều khó nhất của sách này là lượt bỏ bớt để còn lại 101 phim, hay phải cố “gạn đục khơi trong” để có cho đủ 101 phim?

- Dựa theo những tiêu chí và thang điểm cá nhân (từ 6,5 điểm đến 8,5/10 điểm), việc lựa chọn danh sách 101 bộ phim này không đến mức khó khăn. Khái niệm “hay nhất” ở đây là trong phạm vi điện ảnh Việt Nam và có ý nghĩa tương đối, mang tính chủ quan của người tuyển chọn.

Tuy nhiên, trong 7 thập niên với hơn 1.000 bộ phim (tạm tính) mà điện ảnh Việt Nam đã sản xuất, con số 101 phim theo tôi là vừa phải, không đến mức phải “lược bớt”, nhưng cũng không phải “gạn đục khơi trong”.

Có nhiều phim đã từng được đánh giá tốt và có nhiều thành tựu trước đây, nhưng bây giờ không còn thấy hay nữa vì tính tuyên truyền quá lộ liễu, dòng phim đó tôi gọi là phim của một thời, nhưng nó vẫn có giá trị nhất định về mặt lịch sử. Có nhiều phim hay và bây giờ xem lại vẫn rất hay, có thể nói là “hoàn chỉnh” về mặt ngôn ngữ điện ảnh và nghệ thuật kể chuyện, cũng như tính tư tưởng, số đó gọi là kinh điển, tôi nghĩ nó sẽ còn tồn tại, đáng được ghi nhớ trong nhiều năm nữa.

Một số phim khác gần đây chủ yếu là dòng phim giải trí được thực hiện chỉn chu và mang một vài thông điệp tích cực nào đó về cuộc sống và con người đương đại Việt Nam.

Chú thích ảnh
Bìa sách “101 bộ phim Việt Nam hay nhất”

Đang có một thế hệ điện ảnh mới

* Nếu phải chọn 5 phim, hoặc 10 phim Việt theo anh là hay nhất, anh sẽ chọn những phim nào?

- Nếu phải chọn 10 bộ phim điện ảnh Việt Nam hay nhất, có thể xem như một tuyển chọn tinh hoa để giới thiệu với thế giới, theo tôi, đó là: Bao giờ cho đến tháng Mười, Cánh đồng hoang, Mùi đu đủ xanh, Xích lô, Thương nhớ đồng quê, Mùa len trâu, Mùa ổi, Ba mùa, Đời cát, Bi, đừng sợ!.

Chú thích ảnh
“Mùi đu đủ xanh” - theo Lê Hồng Lâm - thuộc top 10 phim Việt hay nhất

* Trong đây có những phim Việt nào tiệm cận được trình độ kỹ thuật hoặc thẩm mỹ của phim hay quốc tế chưa? Cho xin một phân tích ngắn vì sao?

- 10 bộ phim tôi kể tên ở trên là những phim đoạt các giải thưởng điện ảnh quan trọng tại một số LHP quốc tế hay các cuộc bình chọn uy tín của thế giới nên tôi nghĩ chúng đã tiệm cận với trình độ kỹ thuật hoặc thẩm mỹ của điện ảnh thế giới.

Nhưng quan trọng hơn, xem những bộ phim này, ta thấy chân dung của con người và văn hóa Việt Nam hiện lên rõ nét và không trộn lẫn với bất cứ một nền văn hóa nào khác. Những giá trị cốt lõi của tinh thần Việt Nam mà các bộ phim này chạm được, tôi nghĩ còn quan trọng hơn kỹ thuật, bởi kỹ thuật chỉ là một phương tiện biểu đạt cho điều cốt lõi này mà thôi.

Chú thích ảnh
“Bao giờ cho đến tháng Mười” - theo Lê Hồng Lâm - thuộc top 10 phim Việt hay nhất

* Từ cái nhìn vừa bao quát vừa cụ thể như vậy, theo anh thì những đặc trưng chung về ngôn ngữ, tư duy hoặc tư tưởng của phim Việt là gì?

- Thật khó để đánh giá những đặc trưng chung về ngôn ngữ, tư duy hoặc tư tưởng của phim Việt trong một câu trả lời, theo tôi đây là đề tài cho cả một tác phẩm phân tích, khảo cứu có tính chuyên môn sâu.

Tuy nhiên, sau ba năm ngồi xem lại những bộ phim Việt Nam tiêu biểu trong suốt hơn 7 thập niên, tôi như được nhìn thấy một “biên niên sử” của Việt Nam bằng điện ảnh, mà ở đó, ta thấy được những biến động và bình lặng, những chia cắt và hòa hợp, vết thương và hàn gắn, khổ đau và hạnh phúc, tan vỡ và hồi sinh, nước mắt và nụ cười, ra đi và trở về... của người Việt Nam trong gần một thế kỷ qua và những năm gần đây. Ở đó, ta thấy được chân dung của những người phụ nữ, những người đàn ông, những đứa trẻ Việt Nam với ánh mắt sầu muộn và xa xăm, nhưng vẫn ánh lên niềm hy vọng. Giống như triết lý của đạo diễn Tony Bùi trong phim Ba mùa: “Mùa hy vọng phải chăng mới thực sự là mùa chính ở Việt Nam?”.

* Từ đặc trưng vừa nêu, triển vọng cất cánh và bay xa của phim Việt có không?

- Theo dõi điện ảnh Việt Nam trong một thời gian dài, tôi nhận thấy một điều là điện ảnh Việt Nam gần như không có giai đoạn nào thực sự “cất cánh và bay cao” cả. Nhưng thời nào cũng vậy, giữa hàng loạt những bộ phim tầm thường, vẫn có những bộ phim khiến ta lay động và có niềm tin rằng, những tài năng của điện ảnh Việt Nam dù ít, nhưng luôn luôn hiện hữu. Vì vậy, tôi hiếm khi thấy bi quan về điện ảnh Việt.

Tôi không hy vọng một cuộc “cánh cánh và bay cao”, nhưng tôi đang cảm nhận có một thế hệ điện ảnh mới đang dần dần hình thành và vươn ra thế giới. Tất nhiên, sức ảnh hưởng của họ đến đâu thì phải chờ thời gian trả lời.

Tiêu chí để chọn phim hay cho sách

Tiêu chí ngắn gọn nhất của tôi khi lựa chọn 101 bộ phim cho cuốn sách 101 bộ phim Việt Nam hay nhất là những bộ phim nói về vẻ đẹp tâm hồn của người Việt Nam, vẻ đẹp của văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam bằng điện ảnh và phải do nghệ sĩ Việt Nam (hoặc gốc Việt) sáng tạo.

Văn Bảy (thực hiện)



Bần thần với 'Song lang'

Thứ Ba, 21/08/2018 06:59 GMT+7
Với những gì đã thể hiện Song lang sẽ là một tác phẩm điện ảnh mà sau khi rời rạp, người xem vẫn còn bần thần, ám ảnh mãi với những gì đã xem trong hơn 100 phút.

Chọn đề tài về cải lương, chọn một ca sĩ chuyên nhạc trẻ để hát cải lương, chọn một gương mặt tay ngang mới toanh vào một trong hai vai nam chính… là những chọn lựa khó tin của bộ đôi nhà sản xuất Ngô Thanh Vân và đạo diễn Leon Quang Lê. Nhưng rốt cuộc sự mạo hiểm của họ đã mang lại thành công

Chuyến du hành về quá khứ

Nếu những ai từng tiếc nuối với những thước phim về Sài Gòn xưa xuất hiện hết sức chớp nhoáng trong Cô Ba Sài Gòn thì Song lang (khởi chiếu toàn quốc từ 17/8) sẽ cho người xem được “tắm” mình trong bầu không khí đô thị TP.HCM thời thập niên 1980, suốt cả phim.

Với sự chăm chút, tỉ mỉ, tinh tế trong từng khung hình, bối cảnh, đạo cụ cho đến cách tạo hình nhân vật, những thước phim mang dấu ấn thời gian khiến những ai đã đi qua thời thập niên ấy không khỏi bần thần. Những khung hình trên phim, nếu cắt ra, nói không ngoa, đều là những bức ảnh nghệ thuật đẹp đẽ.

Chú thích ảnh
Liên Bỉnh Phát (trái) và Isaac (phải) trong “Song lang”

Xem phim ta rưng rưng trước hình ảnh một con hẻm nhỏ leo lắt ánh đèn vàng, góc cầu thang chung cư cũ kỹ, tấm bảng hiệu đoàn cải lương, xe hủ tiếu mì có tấm tranh kiếng vẽ điển tích xưa cũ, chiếc tivi to bè, chữ Sinco to đùng nằm cheo leo trên sân thượng…

Không chỉ thị giác, mà thính giác cũng căng đầy những thanh âm quen thuộc của một thời: tiếng loa phường phát những bài ca về Hà Nội ra rả suốt ngày, tiếng radio rè rè giọng ca cải lương, những câu nhạc bolero sầu não của người bán vé số mù trên đường, thỉnh thoảng vang lên đâu đó giọng lồng tiếng phim bộ Hong Kong (Trung Quốc).

Đặc biệt đối với thế hệ khán giả 7X, 8X, nhìn thấy những trò chơi nhảy dây, tạt lon, game Contra trên màn ảnh, cả một trời tuổi thơ bỗng xao xuyến ùa về. Hình ảnh và âm thanh ở Song lang đã khiến thế mạnh của bộ môn nghệ thuật thứ bảy được phát huy tối đa khi không chỉ tái hiện mà còn làm cho khán giả có cảm giác như được sống cùng nhân vật, chạm vào họ.

Với một tác phẩm lấy đề tài cải lương như Song lang thì những cảnh quay liên quan đến bộ môn này tất nhiên trở thành tâm điểm chú ý. Phim tái hiện gần như nguyên vở tuồng Trọng Thủy - Mỹ Châu, nhưng cách dàn dựng được xử lý thông minh, dựa trên ý tưởng sân khấu và cuộc đời hòa quyện, khiến những cảnh ca diễn không bị lê thê - điều mà nhiều khán giả trước khi xem phim lo ngại.

Cuộc sống phía sau cánh gà sân khấu cũng được tái hiện sinh động như cảnh nghệ sĩ hóa trang, khấn bàn thờ tổ, ảnh nhắc tuồng hay cảnh “fan cuồng” mang thức ăn tới tận phòng hóa trang tặng nghệ sĩ mà mình hâm mộ.

Chú thích ảnh

Điểm sáng diễn xuất

Điện ảnh Việt thời gian gần đây đã phát hiện ra khá nhiều gương mặt mới tiềm năng, ở vào trường hợp của Song lang, đó là Liên Bỉnh Phát - người vào vai Dũng thiên lôi. Lần đầu đóng phim, Liên Bỉnh Phát đã “một phát ăn ngay” với một vai diễn có số phận, tâm lý phức tạp.

Dũng xuất thân từ gia đình có truyền thống cải lương nhưng cuộc hôn nhân thất bại của cha mẹ đã khiến anh tìm cách chối bỏ nguồn cội, cất giấu luôn ngón đàn cải lương “cha truyền con nối” để gia nhập vào chốn giang hồ, trở thành tên đòi nợ thuê. Chỉ đến khi gặp Linh Phụng (do Isaac thủ vai) - kép chính của đoàn cải lương Thiên Lý - Dũng mới nhận ra đâu mới là con đường đi đúng đắn.

Còn Linh Phụng - một chàng trai tỉnh lẻ vì mê ca mà bỏ gia đình ra đi - từ lúc làm quen với Dũng thiên lôi, trái tim anh mới biết rung lên những cảm xúc mà từ lâu anh không có được để nhập vai trên sân khấu.

Sự mông lung, mơ hồ trong mối quan hệ giữa Dũng và Linh Phụng quả thật khó để thể hiện, “nhẹ” quá thì không chạm tới cảm xúc người xem, còn nếu “làm quá” thành ra tầm thường hóa. Rất may diễn xuất nhẹ nhàng, chừng mực của Liên Bỉnh Phát và Isaac cộng thêm sự tinh tế của đạo diễn Leon Quang Lê đã giúp câu chuyện của Song lang thăng hoa đến mức độ đẹp và thơ.

Nếu như Liên Bỉnh Phát là một phát hiện thú vị, thì Isaac cũng có bước đột phá, lột xác đầy táo bạo khi đập tan những hoài nghi về việc một ca sĩ nhạc thị trường không thể hóa thân thành một nghệ sĩ cải lương. Tất nhiên những cảnh Isaac hát cải lương chưa đạt đến sự mượt mà cần có của một anh kép thực thụ, nhưng không đến nỗi gượng gạo, khó lọt lỗ tai.

Có câu “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”, kết phim dang dở, như hành trình tìm kiếm sự đồng điệu, đồng cảm đầy dở dang của hai con người cô đơn Dũng và Linh Phụng đã khiến Song lang gây ám ảnh, bần thần người xem mãi không thôi. Sẽ có nhiều khán giả không thích cái kết lửng lơ, để mở như Song lang, nhưng đó lại là cái kết hợp lý, đẩy mạnh cảm xúc người xem hơn bao giờ hết.

Dương Ngọc






 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN KHÁC

 


Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.