Bài viết


 
  VN
  13      


     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
Lễ hội Tây Thiên năm 2013 tổ chức từ ngày 25-3 đến 28-3 (tức ngày 14-2 đến ngày 17-2 năm Quý Tỵ) tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chiều 8-2 (28 tết) bí thư thành ủy Hà Nội Pham Quang Nghị thăn chợ hoa tết Hà Nôil
Diva mặc chiếc váy lộng lẫy và chinh phục khán giả bằng chất giọng cao, đẹp khi kết hợp cùng dàn nhạc giao hưởng đường phố trong buổi mở màn Luala Concert, chiều 10/11 ở Hà Nội.
Đã  lâu rồi từ ngày cho ra triển lãm ảnh Mẹ Và Quê Hương đến hôm nay mới lại có dip chup về mẹ.
  MVNAH ở Song Phượng, Mẹ Tạ thị Lười,khi hỏi tên mẹ tôi không khỏi ngac nhiên,nhưng đó là tên bố mẹ đặt cho, năm nay mẹ tròn 90 tuổi. Mẹ có một cô con gai duy nhất hy sinh trên trận địa phòng không bảo vệ đập phùng

Đang truy cập: 70
Lượt truy cập: 8163324





                                           

Danh họa Bùi Xuân Phái và những bức ký họa bạn tri kỷ










Những người phụ nữ bí ẩn trong tranh khoả thân Phạm Lực

>>Những người phụ nữ bí ẩn trong tranh khoả thân Phạm Lực










Chủ nhật 01/09/2019 - 11:08

Danh hoạ Bùi Xuân Phái được Google vinh danh nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông

 Đúng 0h ngày 1/9, Google Doodles đã vinh danh danh hoạ Bùi Xuân Phái nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông. Chân dung danh họa cùng tác phẩm về phố cổ Hà Nội đã xuất hiện trang trọng trên trang chủ của công cụ tìm kiếm này.

Đây là lần thứ 2 công cụ tìm kiếm phổ biến nhất thế giới vinh danh một người Việt Nam. Trước đó là cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Theo dữ liệu Google Doodle, họa sĩ Bùi Xuân Phái là một trong những người có công định hình sự phát triển của nghệ thuật Việt Nam hiện đại, trở thành một trong những họa sĩ Đông Nam Á nổi tiếng nhất thế kỷ 20. Những đóng góp của ông cho nền hội họa nước nhà, đặc biệt là thương hiệu "Phố Phái" sẽ còn sống mãi với thời gian.

Danh hoạ Bùi Xuân Phái được Google vinh danh nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Hình ảnh danh hoạ Bùi Xuân Phái được đặt trang trọng trên trang chủ của công cụ tìm kiếm lớn nhất thế giới.

Ngay sau khi Google thay đổi biểu tượng, hoạ sĩ Bùi Thanh Phương - con trai của cố danh hoạ Bùi Xuân Phái đã đại diện phía gia đình gửi lời cảm tạ thông qua trang fanpage chính thức mang tên “Bùi Xuân Phái”.

“Gia đình chúng tôi xin chân thành cảm tạ Google, Tập đoàn công nghệ thông tin đa quốc gia của Hoa Kỳ, đã dành tình cảm, vinh danh Bùi Xuân Phái, cha chúng tôi, nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông (1/9/1920-1/9/2019).

Bùi Xuân Phái là một người yêu quê hương, yêu Hà Nội và là một tên tuổi trong ngành hội họa tại Việt Nam với những tác phẩm đặc trưng góp phần vào sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại.

Sự kiện Google tôn vinh ông với Doodle thiết kế đặc biệt nhân ngày sinh của ông là một hoạt động ý nghĩa không chỉ với gia đình mà còn đối với những người mến mộ ông, những người yêu văn hóa Việt Nam qua hình ảnh con phố cổ”, ông Phương viết.

Danh hoạ Bùi Xuân Phái được Google vinh danh nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Ảnh chân dung Bùi Xuân Phái do John Ramsden - nguyên Tùy viên văn hoá Đại sứ quán Anh quốc tại Hà Nội đầu thập niên 1980 chụp. Ảnh do gia đình cố danh hoạ cung cấp.

Theo hoạ sĩ Bùi Thanh Phương, để chuẩn bị cho việc vinh danh này, đại diện Google đã liên hệ với gia đình ông từ gần một năm trước. Ông đã cung cấp cho Google nhiều tài liệu về cha mình, trong đó có những bức tự họa của Bùi Xuân Phái.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái sinh ngày 1/9/1920 tại làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Tây (nay thuộc thủ đô Hà Nội). Lớn lên trong thời kỳ Pháp thuộc, thay vì theo đuổi nghề y như nguyện vọng của cha, danh họa Bùi Xuân Phái đã sớm nảy nở tình yêu với nghệ thuật, đặc biệt là hội họa.

Theo nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng, danh hoạ Bùi Xuân Phái thuộc thế hệ sau cùng của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông cùng danh hoạ Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng và Nguyễn Tư Nghiêm chủ yếu hoàn thành tốt nghiệp cùng thầy Tô Ngọc Vân trên chiến khu, nơi họ cùng tham gia kháng chiến, rồi sau này trở thành bộ tứ danh họa Việt Nam hiện đại.

Danh hoạ Bùi Xuân Phái được Google vinh danh nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Ảnh chụp Bùi Xuân Phái năm 1952, khi ông là một họa sĩ 32 tuổi, ông đang làm việc tại Studio 87 Thuốc Bắc cùng với lòng đam mê và nhiệt huyết của tuổi trẻ. Ảnh do gia đình cung cấp.

Cuộc đời của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái vất vả hơn cả so với ba người bạn hoạ sĩ học cùng thầy với mình. Để trang trải học phí tại trường École Supérieure des Beaux-Arts de l'Indochine (trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nay là Đại học Mỹ thuật Việt Nam), ông đã miệt mài vẽ minh họa cho các tờ báo Hà Nội. Sau những tháng ngày học tập kiên trì, người họa sĩ tài danh của Việt Nam đã bán bức tranh đầu tiên của mình ở tuổi 20.

Ông có gia đình, đông con, bị thôi việc sớm, phục hồi muộn... chính vì thế mà điều kiện sáng tác của ông thu hẹp trong các bức họa nhỏ, với phương tiện ít ỏi. Ông thậm chí còn phải kiếm tiền vặt bằng công việc phục trang sân khấu và đi làm thợ mộc trong giai đoạn ba cùng.

Đương thời tranh của danh hoạ Bùi Xuân Phái rẻ tiền hơn so với những người bạn và ông cũng biếu tặng rất nhiều. Nhưng cuối cùng thì ông cũng có chỗ đứng trang trọng trong nền mỹ thuật Việt Nam, bởi cả sự nghiệp và tình yêu đối với đất nước, con người, rồi thể hiện được những đối tượng đó, bằng tình cảm tha thiết, bằng sự sáng tạo không mệt mỏi.

Với chất liệu sơn dầu, họa sĩ Bùi Xuân Phái đã thổi hồn vào những bức tranh mang đậm nét cổ kính mà rất hiện thực về Phố cổ thủ đô thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ 20.

Danh hoạ Bùi Xuân Phái được Google vinh danh nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Danh hoạ Bùi Xuân Phái được Google vinh danh nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của ông - 5

Nhấn để phóng to ảnh

Một số tác phẩm vẽ phố phường Hà Nội của danh hoạ Bùi Xuân Phái.

Không chỉ vẽ Hà Nội và dùng chất liệu sơn dầu, họa sĩ Bùi Xuân Phái còn có thể sáng tạo để vẽ các đề tài khác như nông thôn, tĩnh vật, chân dung... trên các chất liệu phong phú là giấy, gỗ, vải...

Những cống hiến của ông trong hội họa nhanh chóng được công chúng quan tâm, yêu mến và ghi nhận. Ông nhận được rất nhiều giải thưởng danh giá cả ở trong nước và quốc tế, trong số đó có Giải thưởng Hồ Chí Minh (năm 1996); Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam 1997; Giải thưởng quốc tế (Leipzig, Đức) về trình bày cuốn sách "Hề chèo" (1982); Giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc (năm 1980); Giải thưởng Mỹ thuật Thủ đô các năm 1969, 1981, 1983, 1984...

Họa sĩ Bùi Xuân Phái mất ngày 24/6/1988 tại Hà Nội. Xưởng vẽ nhỏ của ông hiện trở thành bảo tàng, nơi ghi dấu những tác phẩm của người họa sĩ tài danh, để tôn vinh những di sản của một người hết lòng vì nghệ thuật.


Con trai hoạ sĩ Bùi Xuân Phái khẳng định tranh bán 2 tỷ là giả

 Hoạ sĩ Bùi Thanh Phương - con trai của cố danh hoạ Bùi Xuân Phái khẳng định bức tranh vừa được bán đấu giá với mức 102.000 USD là tranh giả, không phải tranh do cha ông vẽ. Ông cũng sốc và ngạc nhiên khi biết người đưa bức tranh này ra bán đã không nói rõ với mọi người.

Chỉ là một bức tô màu sao chép vụng về?

Ngay sau buổi đấu giá một số tác phẩm nghệ thuật nhằm gây quỹ từ thiện cho trẻ em khiếm khuyết cơ quan sinh dục tại TP. HCM tổ chức hôm 22/10, nhiều ý kiến đã lên tiếng chứng minh bức tranh được giới thiệu là “Phố cổ Hà Nội” của cố danh hoạ Bùi Xuân Phái được bán với giá 102.000 USD (gần 2,3 tỉ đồng) là tranh giả.

Được biết, bức “Phố cổ Hà Nội” trong cuộc bán đấu giá được giới thiệu là bức tranh có khổ to nhất mà danh hoạ Bùi Xuân Phái từng vẽ, với kích thước 55 cm x 72 cm, chất liệu sơn dầu trên bố, nằm trong bộ sưu tập của nhà sưu tập Đức Minh (tên thật Bùi Đình Thản). Nhà sưu tập Đức Minh vốn chơi rất thân với họa sĩ Bùi Xuân Phái.

Theo một số nhà phân tích, tranh của danh hoạ Bùi Xuân Phái trên thị trường đang nằm ở ngưỡng trung bình là 200.000 USD/bức. Vì vậy, giá 102.000 USD được bán ra là sự đầu tư “hời” với người mua khi đạt được hai mục đích, tiền để chữa bệnh cho 1000 trẻ em khuyết tật bộ phận sinh dục và hoàn toàn có thể là “vốn” tốt cho việc đưa bức tranh khổ lớn hiếm hoi của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái ra thị trường tranh trong nước và quốc tế.

Bức tranh vừa đem ra đấu giá tại TP.HCM và bán được với giá 102.000 USD bị cho là giả. Ảnh: TB.

Nhấn để phóng to ảnh

Bức tranh vừa đem ra đấu giá tại TP.HCM và bán được với giá 102.000 USD bị cho là giả. Ảnh: TB.

Tuy nhiên, hoạ sĩ Nguyễn Thanh Bình chia sẻ rằng, những người đem bức tranh này đi đấu giá và người mua nó đã bị “hố”.

Anh phân tích: “Bức tranh này không cần anh Bùi Thanh Phương (con trai danh hoạ Bùi Xuân Phái) lên tiếng, những ai trong nghề lâu năm đều thấy nó là giả. Dễ thấy nhất là các nét "contour" của bác Phái không bao giờ "đều đặn”, “thẳng thớm" như thế. Người nhái bức tranh này hoàn toàn không hiểu tình cảm và bút pháp của bác Phái khi vẽ những mái nhà "xiêu vẹo"... Cái xiêu vẹo, lô xô của bác Phái là ngẫu hứng có chủ ý bằng tay nghề điêu luyện, đường "contour" (đường viền quanh hình) của bác dày dặn và tình cảm. Làm thế nào để nhận ra một nét vẽ tình cảm?

Nét vẽ tình cảm không "tô", không "kẻ" nó "đi" một cách tự nhiên, "luyến láy" tự nhiên nhưng có chủ đích. "Mái ngói thâm nâu..." của phố cổ Hà Nội in sâu trong tâm hồn người Hà Nội, nó là màu thời gian đi theo người nghệ sĩ, vì vậy nó không phải là màu nâu đỏ.

Con trai hoạ sĩ Bùi Xuân Phái khẳng định tranh bán 2 tỷ là giả - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Hai bức tranh vẽ phố của danh hoạ Bùi Xuân Phái. Ảnh: BTP.

Nhấn để phóng to ảnh

Hai bức tranh vẽ phố của danh hoạ Bùi Xuân Phái. Ảnh: BTP.

Người nhái bức tranh này chẳng những không có tình cảm gì với Hà Nội mà còn không hiểu gì về bút pháp của nghệ sĩ.

Bác Phái thường vẽ tranh nhỏ (thậm chí rất nhỏ) một phần vì điều kiện vật chất, một phần vì tái hiện cảm xúc trên diện tích nhỏ nhanh hơn, dễ hơn và một điều hiển nhiên bác "vẽ" chứ không "tô màu". Việc phủ màu lên, chạy theo cảm xúc nên thường diễn ra nhanh, lấy màu từ pallette nhanh, do đó màu trên từng nhát cọ chẳng những không giống nhau mà còn "chồng lấn" lên nhau một cách tự nhiên, tạo ra một hòa sắc rất tình cảm.

Rõ ràng, bức được mang ra đấu giá chỉ là một bức tô màu sao chép vụng về. Người mang nó ra đã thiếu hiểu biết, người mua nó về cũng thiếu hiểu biết...”.

“Đó không phải là tranh của cha tôi”

Họa sĩ Bùi Thanh Phương - con trai của cố danh hoạ Bùi Xuân Phái cũng chắc nịch rằng, đó không phải là tranh do cha ông là hoạ sĩ Bùi Xuân Phái vẽ dù bên góc phải bức tranh có chữ ký “Phái”.

“Nếu nhìn vào bức tranh để mà diễn giải bằng ngôn ngữ cho người khác hiểu rằng đó không phải là tranh cha tôi vẽ quả là rất khó. Tôi lại không phải là nhà Lý luận - phê bình mỹ thuật nên càng khó. Nhưng nếu là người trong nghề, rồi lại là con trai ruột nữa... thì nét vẽ của cha tôi cũng như là nét chữ. Chẳng hạn như con trai nhận được một bức thư của cha nhưng phong bì rách nát thì chỉ cần cầm bức thư lên nhìn nét chữ là nhận ra ngay đó là thư cha mình.

Tranh của cha tôi cũng thế, chẳng cần phải đưa đi giám định hoặc dùng các biện pháp phân tích gì cả, nhìn tranh cha tôi là tôi nhận ra ngay. Còn chữ ký ở tranh chẳng nói lên được điều gì cả mà phải nhìn toàn bộ bức tranh… Sinh thời, cha tôi hay nói câu “Vẽ cho hả” và vẽ như tâm sự nỗi niềm riêng tư của ông nhưng ông đầy trách nhiệm khi ký tên vào bức tranh khi nó đã hoàn thành”, hoạ sĩ Bùi Thanh Phương nói.

Hoạ sĩ Bùi Thanh Phương (đeo kính) con trai của danh hoạ Bùi Xuân Phái khẳng định bức trang vừa bán được trong phiên đấu giá với số tiền 2 tỷ là giả. Ảnh: BTP.

Nhấn để phóng to ảnh

Hoạ sĩ Bùi Thanh Phương (đeo kính) con trai của danh hoạ Bùi Xuân Phái khẳng định bức trang vừa bán được trong phiên đấu giá với số tiền 2 tỷ là giả. Ảnh: BTP.

Theo con trai của cố danh hoạ Bùi Xuân Phái, với những người có chuyên môn chỉ cần nhìn vào bức tranh là nhận ra được ngay tranh thật - tranh giả. Vì mỗi bức tranh đều chứa đựng phong cách, tâm hồn của người vẽ chứ không đơn giản chỉ là những nét vẽ.

“Bức tranh chứa đựng tâm hồn của tác giả mà mình yêu mến thì chỉ cần nhìn cái là nó sẽ ùa vào tâm hồn mình, còn không phải của tác giả thật thì sẽ bật ra ngay, không tiếp nhận được. Tương tự như tranh của danh hoạ Van Gogh ấy, nó gờn gợn và đầy chất lửa. Tranh của ông được chép lại hoặc vẽ giả hàng ngày trên khắp thế giới. Mỗi ngày có đến hàng trăm bức tranh được vẽ và được ký tên là Van Gogh nhưng không ai tranh cãi chuyện đấy vì người ta thừa biết đó là tranh chép lại của những người yêu mến ông.

Mấy hôm nay tôi cứ nghĩ, hay nhiều người đang chuyển mình đến giai đoạn người ta chép lại tranh của những danh hoạ bậc thầy như: Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Trần Văn Cẩn...”, ông Phương chia sẻ.

Hoạ sĩ Bùi Xuân Phương cho biết thêm, ông cảm thấy hơi bị sốc và ngạc nhiên khi người đem tranh đi đấu giá và người mua đều thiếu hiểu biết. “Tôi cho đó là một sự liều lĩnh vì thách thức dư luận như thế là rất nguy hiểm. Tôi biết người gửi bức tranh đó là bạn mình. Tôi rất sốc về điều này. Nhưng tôi không thể tha thứ được, người ta hỏi thì tôi phải nói chứ không thể vì chỗ quen biết mà im lặng được”, hoạ sĩ Phương bộc bạch.

Mái ngói thâm nâu trong trang phố Phái. Ảnh: BTP.

Nhấn để phóng to ảnh

"Mái ngói thâm nâu" trong trang phố Phái. Ảnh: BTP.

Ông không muốn thưa kiện gì về chuyện này vì mức độ nghiêm trọng chưa đến mức “thưa - gửi”. Tuy nhiên, ông cho rằng, nếu những người đem bức tranh này ra đấu giá có tình yêu với tranh Bùi Xuân Phái thì đáng ra họ nên nói rõ để những người có mặt trong sự kiện hôm đó hiểu đúng về nghệ thuật đích thực.

Thực tế, khi tìm kiếm dữ liệu về tranh của danh hoạ Bùi Xuân Phái vẽ về phố cổ Hà Nội trên mạng internet, nhiều người phát hiện thấy một bức tranh gần giống như bức tranh vừa đem ra đấu giá. Bức tranh đó được đặt tên là tác phẩm “Phố Hàng Bạc”. Bức này được vẽ vào năm 1968, khổ 47cm x 57cm, sơn dầu trên vải và đã lên sàn “Phiên đấu giá mùa Thu” của Larasati (Singapore) thuộc Những nhà đấu giá liên hiệp châu Á tại Trung tâm Triển lãm Hong Kong năm 2010. Tại phiên đấu giá, bức này đã được bán với mức là 19.900 USD, cùng một vài bức về Hàng Bạc khác. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc này.

Hà Tùng Long

Danh họa Bùi Xuân Phái và những bức ký họa bạn tri kỷ

Bùi Xuân Phái và Nguyễn Bá Đạm lúc sinh thời - Ảnh: Tư liệu
Ông Tira Vanictheeranont đã sưu tập được một số ký họa của Bùi Xuân Phái. Bộ sưu tập này không chỉ có những bức họa Bùi Xuân Phái vẽ ông Đạm, mà còn một số vẽ chân dung bè bạn khác, tranh minh họa báo chí. Những nét vẽ của Bùi Xuân Phái có lẽ không bao giờ cũ vẫn hiển hiện sinh động về cuộc sống và con người dù phần lớn trong đó đã qua đời, những ai còn lại thì ta không biết họ đang ở đâu...

Nhân kỷ niệm 99 năm ngày sinh của danh họa Bùi Xuân Phái, nhà sưu tập người Thái Lan Tira Vanichtheeranont sẽ trưng bày phần lớn bộ ký họa Ông Phái vẽ ông Đạm tại Nhà Đấu giá Nghệ thuật Chọn, 63 Hàm Long, Hà Nội. Lễ khai mạc diễn ra vào lúc 18 giờ 1.9.2019.

Danh họa Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của trường Mỹ thuật Đông Dương, cùng thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên - những tên tuổi ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông đã được quần chúng mến mộ gọi dòng tranh này là Phố Phái.

Ngoài phố cổ, ông còn vẽ các mảng đề tài khác, như: chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật... rất thành công. Nhiều tranh của Bùi Xuân Phái đã được trao tặng giải thưởng trong các cuộc triển lãm toàn quốc và thủ đô. Ông vẽ trên vải, giấy, bảng gỗ, thậm chí cả trên giấy báo khi không có đủ nguyên liệu. Ông dùng nhiều phương tiện hội họa khác nhau như sơn dầu, màu nước, phấn màu, chì than, bút chì... Các tác phẩm của ông biểu hiện sâu xa linh hồn người Việt, tính cách nhân bản và lòng yêu chuộng tự do, óc hài hước, đậm nét bi ai và khốn khổ. Ông đã góp phần rất lớn vào lĩnh vực minh họa báo chí và trình bày bìa sách, được trao tặng giải thưởng quốc tế (Leipzig) về trình bày cuốn sách "Hề chèo" (1982).

Danh họa Bùi Xuân Phái

Nguyễn Bá Đạm sinh năm 1922 ở làng Mọc, Giáp Nhất (Hà Nội), nguyên là giáo viên dạy Sử Trường Phan Đình Phùng. Ông Nguyễn Bá Đạm là bạn tri kỷ của họa sĩ Bùi Xuân Phái, là bạn tâm giao của ba danh họa khác trong bộ tứ huyền thoại: Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng. Ông cũng chính là “người mẫu” của danh họa Bùi Xuân Phái trong 242 ký họa chân dung.

Năm nay đã 97 tuổi nhưng ông Nguyễn Bá Đạm vẫn minh mẫn. Với những người chơi đồ cổ ở Hà Nội, ông Đạm được biết đến là "kỳ nhân tiền cổ", bởi ông là người sưu tầm tiền cổ có tiếng xuất thân từ làng Mọc (nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội). Ở tuổi 96, ông Đạm vừa vinh dự được Báo Thể thao Văn hóa và Quỹ Bùi Xuân Phái trao Giải thưởng Lớn Vì tình yêu Hà Nội - trong hệ thống Giải thưởng Bùi Xuân Phái.

Ngẫm lại quãng đời đã qua, ông Đạm bảo rằng một trong những may mắn nhất là ông có cơ hội kết bạn và trở thành thân thiết với rất nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng, đó là các họa sĩ Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm, nhà văn Nguyễn Tuân, nhà sưu tập Đức Minh...


Nhà sưu tập người Thái Lan Tira Vanichtheeranont và tranh Bùi Xuân Phái

“Có thể công chúng chưa biết nhiều về Nguyễn Bá Đạm với những công việc thầm lặng đó, nhưng ai biết ông đều rất ấn tượng về một “tâm hồn Hà Nội” thâm trầm, sâu sắc, với lối sống giản dị, nề nếp, lại không kém phần tao nhã, thanh lịch trong thú đam mê sưu tầm đồ cổ và giao du đầy trọng thị với các danh sĩ Hà Nội. Tâm hồn Hà Nội ấy luôn trân trọng tới từng nét văn hóa của Thủ đô, lặng thầm viết ra những cuốn sách không to lớn, đồ sộ, nhưng sử dụng rất nhiều ký ức, trải nghiệm của bản thân, để rồi với thời gian, sẽ thành ký ức của cả cộng đồng...”, nhà thơ Bằng Việt chia sẻ.

Những khuôn mặt người

Bùi Xuân Phái sinh năm 1920, năm nay kỷ niệm 99 năm (dương lịch) ngày sinh của ông, 100 năm theo tuổi ta (âm lịch). Người đương thời của Phái là ông Nguyễn Bá Đạm, năm nay 96 tuổi, sinh năm 1922, vẫn sống ở Hà Nội và là người được họa sĩ vẽ nhiều chân dung nhất, tới 242 ký họa.

Ông Đạm không nằm trong bộ tứ thân thiết của Bùi Xuân Phái, gồm họa sĩ, nhà nhiếp ảnh Trần Văn Lưu, nhà thơ Vũ Đình Liên và ông Lê Chính. Tuy nhiên ông Đạm là một trí thức, nhà giáo xưa, được Bùi Xuân Phái quý trọng, người có khuôn mặt cá tính, như một khắc họa sân khấu và có lẽ rất hợp với sự tìm tòi nội tâm nào đó về một con người Hà Nội, mà cố danh họa đi tìm.

Không chỉ thân thiết với Bùi Xuân Phái, ông Đạm còn quen biết nhiều họa sĩ và được họ vẽ chân dung, như Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng. Mỗi người nhìn ông Đạm theo cách của mình, xây dựng nhân vật này vượt ra khỏi người mẫu, trở thành nhân vật xã hội trong hội họa. Đó là người đàn ông nghiêm trang, mà hơi hài ước, mũi gồ khoằm, mặt vuông vức, thẳng thắn, đôi khi khắc nghiệt, nhưng cẩn trọng với bè bạn. Cuộc đời dài đi cùng các danh họa, khiến ông trở thành nhà sưu tập tương đối phong phú về các họa sĩ, ông cũng là người chơi tiền cổ, được mệnh danh là Hà Nội kỳ nhân cổ tiền.

Thuộc thế hệ sau cùng của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng và Nguyễn Tư Nghiêm, chủ yếu hoàn thành tốt nghiệp cùng thầy Tô Ngọc Vân trên chiến khu, nơi họ cùng tham gia kháng chiến, rồi sau này trở thành bộ tứ danh họa Việt Nam Hiện đại, kết thúc vẻ vang tiếng tăm của trường họa trên. Trừ Nguyễn Tư Nghiêm còn sống đến năm 2016, ba danh họa trên đều mất cùng năm 1988, nhưng họ cũng đã hoàn thành sự nghiệp của mình ngay từ những năm 1980. Nghĩa là từ 1954-1980 là giai đoạn họ sáng tác nhiều nhất, liên tục nhất, cũng như vấp váp xã hội liên tục nhất.

Cuộc đời của Bùi Xuân Phái vất vả hơn cả so với ba người bạn trên, ông có gia đình, đông con, bị thôi việc sớm, phục hồi muộn, chính vì thế mà điều kiện sáng tác của ông thu hẹp trong các bức họa nhỏ, với phương tiện ít ỏi, cùng như kiếm tiền vặt bằng vẽ minh họa báo chí, phục trang sân khấu, thậm chí đi làm thợ mộc trong giai đoạn ba cùng.

Đương thời tranh của Bùi Xuân Phái rẻ tiền hơn so với những người bạn, và ông cũng cho nhiều, như ông vẽ rất nhiều, thay vì xây dựng tác phẩm ra tấm ra món, như ba họa sĩ trên. Nhưng cuối cùng, thì ông cũng có chỗ đứng trang trọng trong nền mỹ thuật Việt Nam, bởi cả sự nghiệp và tình yêu đối với đất nước, con người, rồi thể hiện được những đối tượng đó, bằng tình cảm tha thiết, bằng sự sáng tạo không mệt mỏi.

Ông Tira Vanictheeranont sưu tập được một số ký họa Bùi Xuân Phái, cho in tập sách này và sẽ giới thiệu những tác phẩm của Phái thông qua phòng triển lãm của Nhà Đấu giá Nghệ thuật Chọn.

Trong phần sưu tập nhỏ này, không chỉ có những bức họa vẽ ông Đạm, mà còn một số vẽ chân dung bè bạn khác của Phái và minh họa báo chí. Những nét vẽ của Bùi Xuân Phái có lẽ không bao giờ cũ cả, chúng vẫn hiển hiện sinh động về cuộc sống và con người dù phần lớn trong đó đã qua đời, những ai còn lại thì ta không biết họ đang ở đâu. Họ thuộc về thời chiến tranh và Bao cấp nhọc nhằn, với những khuôn mặt khắc khổ, chịu đựng và giữ sự tự trọng riêng.

Phan Cẩm Thượng

Tiểu Vũ

Vướng lùm xùm, tranh Bùi Xuân Phái vẫn đấu giá được 12.500 USD

Bức tranh "Phố cũ" dù gặp nghi vấn tranh giả nhưng vẫn đấu được mức giá cao nhất từ trước đến nay.

Tối 30/7, trong phiên đấu giá tại Hà Nội, bức tranh “Phố cũ” được cho là của Bùi Xuân Phái đã thuộc về một nhà sưu tập trẻ với giá 12.000 USD.

Tuy nhiên, ông Trần Quốc Hùng, đại diện Nhà đấu giá nghệ thuật Chọn (Đơn vị tổ chức buổi đấu giá) vẫn chưa thực sự hài lòng về mức giá này. Nếu ở nước ngoài, giá của bức tranh “Phố cũ” sẽ còn cao hơn nhiều.

Bức tranh Phố cũ.

Nhấn để phóng to ảnh

Bức tranh "Phố cũ".

“Ở Việt Nam, chúng ta vẫn chưa coi trọng giá trị của một bức tranh nghệ thuật thực sự. Bức “Phố cũ” từng được đấu giá trước đây và chỉ dừng lại ở các mức giá là khoảng 9000 USD và 11000 USD. Lần này, chúng tôi đạt được tới mức giá là 12.500 USD, cao hơn những lần trước. Nhưng thực sự chúng tôi vẫn chưa bằng lòng với con số này”, ông Hùng nói.

Liên quan đến những ý kiến cho rằng bức “Phố cũ” được mang ra đấu giá là tranh giả, ông Trần Quốc Hùng chia sẻ: “Nhà đấu giá nghệ thuật Chọn tự tin khẳng định đây là tranh thật. Chúng tôi tin tưởng vào chuyên gia thẩm định của bên mình”.

Hình ảnh tại buổi đấu giá.

Nhấn để phóng to ảnh

Hình ảnh tại buổi đấu giá.

“Tuy nhiên, chúng tôi buộc phải giấu tên chuyên gia vì tôn trọng quan điểm không muốn xuất lộ của họ. Ở Việt Nam, các chuyên gia thẩm định tranh phải chịu một áp lực rất lớn. Trong khi họ không đáng phải như vậy. Ở nước ngoài, việc các chuyên gia thẩm định tranh công khai là chuyện bình thường và họ cũng không chịu một áp lực nào từ phía dư luận. Việc thẩm định một bức tranh nghệ thuật thật hay giả là trách nhiệm từ nhiều người, nhiều đơn vị liên quan chứ không thể “đổ” hết lên cho một người”.

Bức Tình yêu đầu tiên của họa sĩ Trần Văn Cẩn.

Nhấn để phóng to ảnh

Bức "Tình yêu đầu tiên" của họa sĩ Trần Văn Cẩn.

Ngoài bức tranh “Phố cũ”, tác phẩm được trả giá cao nhất là “Tình yêu đầu tiên”, chất liệu bột màu của danh hoạ Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1973 thuộc về một nhà sưu tập trẻ Hà Huy Thanh với giá 41.000 USD. Trong đó ký hoạ “Chân dung” của Bùi Xuân Phái với mức giá khởi điểm là 250 USD, giá cuối 400 USD./.

Theo Đào Bích

VOV.VN


Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông

 Art in the forest - Summer 2019 mang tới hơi thở mới ấn tượng trong sáng tạo nghệ thuật.


Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Triển lãm “Art In The Forest – Summer 2019″ (AIF Summer 2019) vừa khai mạc tại Đại Lải, Vĩnh Phúc. Triển lãm được mở cửa đến 15/10/2019. Đây là sự kiện khởi đầu cho chuỗi hoạt động kỷ niệm chặng đường 5 năm của Art in the Forest (AIF).
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Triển lãm có sự góp mặt của 8 nghệ sĩ thế hệ 7x như họa sĩ Lê Quý Tông, họa sĩ Đoàn Xuân Tặng, họa sĩ Tạ Đình Khiêm, nghệ sĩ Nguyễn Thúy Hằng… và nghệ sĩ mời danh dự thuộc thế hệ 6x Đỗ Minh Tâm – cái tên quen thuộc với trường phái nghệ thuật trừu tượng Việt Nam.
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Vẫn là mối quan tâm chủ yếu về thiên nhiên, con người ở nông thôn và thành thị trong nhiều trạng thái và không gian sống khác nhau, hoạ sĩ Đỗ Minh Tâm muốn nói đến một cuộc sống đa dạng, luôn biến đổi và phát triển ở những thành phố lớn cùng nhiều mâu thuẫn, bức bối do con người tạo ra. 
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Với sự góp mặt của 9 nghệ sĩ 6X, 7X đầy sự trải nghiệm trong đời sống thường nhật cũng như đời sống nghệ thuật, AIF Summer 2019 chứng kiến sự thăng hoa của các tác phẩm nghệ thuật hội hoạ và sắp đặt – những tác phẩm mang hơi thở đương đại, lấy cảm hứng từ những điều đơn giản, bình dị hay phức tạp trong thế giới xung quanh.
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Nguyễn Thuý Hằng dẫn Những chiến binh vào rừng để cảm nhận rõ hơn về sự tha hương, mất mát và cuộc viễn chinh như mong muốn khởi đầu khi cô hình thành loạt tác phẩm này.
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
 Vũ Kim Thư mang đến Thế giới nhỏ trong rừng với màu trời – màu mới trên loại giấy washi trong những tác phẩm thường thấy của cô. Nghệ sĩ Vũ Kim Thư chia sẻ: “Tôi đã vô cùng có cảm hứng với những phòng gallery được tạo ra từ những chiếc container. Đối với tôi, nó như những chiếc hộp xinh xắn nấp trong rừng mà không gian trong mỗi chiếc hộp ấy là cả một thế giới riêng mỗi nghệ sĩ tạo ra cho nó. Những hình điêu khắc giấy bồi này chứa đựng các hình vẽ mực nho loằng ngoằng mang đến hình ảnh một thế giới tưởng tượng, phong cảnh, nước cũng như giấc mơ trong trạng thái trừu tượng. Tôi muốn người xem có thể tận hưởng thế giới mơ mộng này.
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
 La Như Lân khiến người xem phải mở những ngăn kéo ký ức của "Ngày hôm qua" bên cạnh sự hy vọng về "Ngày mai tươi sáng".
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
 Lấy ngôn ngữ hội hoạ để thể hiện khoảnh khắc về thế giới xung quanh, trong tâm trí Tạ Đình Khiêm là xô nghiêng cảm xúc của Núi lạnh, là chông chênh ngang dọc của Mặt nước.
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Vàng dòng, chương III – “Endgame” của Lê Quý Tông đưa tới những mảnh ghép lộn xộn, cần người xem hoàn thành nốt phần còn lại trong sự hình dung và tưởng tượng của chính họ. 
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Ngắm Phố qua mùa để có thể chạm tới miền ký ức cũ trong những chuyển động rung nhoè của Phạm Hoàng Minh. 
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Hay chuyển điểm nhìn sang những đám Mây của Đoàn Xuân Tặng tượng trưng cho chính sự vận động, biến chuyển tất yếu mối quan hệ vốn không thể tách rời giữa thiên nhiên và con người vùng núi phía Bắc. 
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Rộn ràng với những ngây ngô, trong sáng của Lưu Vũ Long, các đối tượng trong tác phẩm của anh đến từ những thứ xung quanh, trong tâm trí và sự tưởng tượng. Đông đúc, chật chội, sặc sỡ, chúng nói lên quan đểm cá nhân về sự phồn thực, may mắn và hạnh phúc của tác giả.
Triển lãm nghệ thuật ấn tượng trong container giữa rừng thông
Trong nắng rừng lá kim mùa 2019, những tác phẩm này sẽ nói lên câu chuyện và cảm xúc của chính nó dưới con mắt của khán giả yêu nghệ thuật.


Tình Lê


Thời bao cấp yêu thương và xúc động qua triển lãm 'Ký ức Hà Nội'

 Hình ảnh đường phố, hàng xén thời bao cấp phác họa vừa quen vừa lạ trong 250 bức ký họa và cuốn sách “Tập thể Hà Nội - Ký họa & hồi ức" sẽ có mặt trong triển lãm “Ký ức Hà Nội”.


Thời bao cấp yêu thương và xúc động qua triển lãm 'Ký ức Hà Nội'
Cuộc sống thay đổi và phát triển đôi khi cuốn phăng đi nhiều thứ nhưng chắc chắn những giá trị văn hoá cốt lõi làm nên bản sắc riêng của người Việt Nam trường tồn mãi mãi. Những ký ức về một thời Hà Nội xưa cũ cũng chính là những điều làm nên khí chất của người Hà Nội ngày hôm nay.
Thời bao cấp yêu thương và xúc động qua triển lãm 'Ký ức Hà Nội'
Và “Ký ức Hà Nội” sẽ là một cuộc triển lãm nhiều cảm xúc dành cho những ai từng sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Tràng An dấu yêu này. Cuộc triển lãm này nhằm giới thiệu cuốn sách “Tập thể Hà Nội - Ký họa & hồi ức” và những bức tranh vẽ về một Hà Nội xưa cũ.
Thời bao cấp yêu thương và xúc động qua triển lãm 'Ký ức Hà Nội'
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ cuốn sách “Tập thể Hà Nội - Ký họa & hồi ức” là một ý tưởng độc đáo biến những không gian xưa, thời gian xưa trở lại sống động và ám ảnh lạ thường. "Khi sống trong những chung cư ở Hà Nội ngày trước chúng ta phải đương đầu với bao khó khăn bởi điều kiện sinh hoạt. Những căn hộ chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu nước, thiếu điện, thiếu không gian cho những đứa trẻ. Và tưởng rằng những chung cư xưa sẽ được chôn vùi vào quá khứ. Nhưng đến một ngày, trong những trang viết và những bức tranh, tất cả những chung cư thuở ấy lại mọc lên trong một tinh thần khác và một ánh sáng khác...''.
Thời bao cấp yêu thương và xúc động qua triển lãm 'Ký ức Hà Nội'
Đến với triển lãm, công chúng sẽ được gặp lại những hình ảnh gợi nhớ một thời Hà Nội bình yên, nghèo nhưng rất đẹp. Đó có thể là những khu nhà tập thể hình tổ ong, là quán phở phố cổ người mua phải xếp hàng, là cửa hàng mậu dịch, là bàn thờ Tết với bánh pháo, hộp mứt, gói thuốc lá, chai rượu chanh,…
Thời bao cấp yêu thương và xúc động qua triển lãm 'Ký ức Hà Nội'
Bên cạnh đó, khán giả có thể trực tiếp cảm nhận như ấm trà vối nóng kèm kẹo lạc, những món ăn chơi như kẹo rồi, mứt me, mứt bí, mứt gừng,… thậm chí là món cơm độn sắn, món lòng xào dưa chua,… những thứ rất quen thuộc với Hà Nội thời bao cấp.
Thời bao cấp yêu thương và xúc động qua triển lãm 'Ký ức Hà Nội'
Với chủ đề xuyên suốt là “Ký ức Hà Nội”, BTC mang đến sự tươi mới bằng cách kết hợp cả ngôn ngữ hội họa và văn hóa ẩm thực. Chuỗi hoạt động triển lãm, trải nghiệm ẩm thực Hà Nội thời bao cấp kéo dài từ 30/12/2018 đến 31/1/2019 tại số 70 Nguyễn Du, Hà Nội.


Anh Phương

Tác phẩm của họa sĩ Lê Thị Lựu lần đầu triển lãm trong nước

 Sáng 23/11, buổi khai mạc triển lãm "Lê Thị Lựu - Ấn tượng hoàng hôn" diễn ra tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM. Sau 30 năm kể từ ngày nữ họa sĩ đầu tiên của Việt Nam qua đời, đây là lần đầu tiên các tác phẩm của bà mới được triển lãm rộng rãi trong nước.

Sau nhiều năm cất công sưu tầm và gìn giữ, đầu năm 2018, vợ chồng cháu trai của cố họa sĩ - ông Lê Tất Luyện và bà Thụy Khuê quyết định đưa các tác phẩm của bà về Việt Nam. Theo chia sẻ từ đại diện Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, có tổng cộng 29 tác phẩm được trưng bày trong triển lãm lần này. Trong đó có 26 bức tranh với chất liệu lụa, sơn dầu, phần còn lại là những tư liệu về cuộc đời bà Lê Thị Lựu. Tất cả bộ sưu tập đều được sáng tác trong khoảng giai đoạn từ 1940 đến năm 1988. Đây là giai đoạn họa sĩ sống và làm việc ở Pháp đến cuối đời.
Tác phẩm của họa sĩ Lê Thị Lựu lần đầu triển lãm trong nước
Ông Trịnh Xuân Yên - Phó giám đốc phụ trách Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM tiếp nhận tác phẩm từ bà Thụy Khuê.

Có mặt tại buổi triển lãm và phát biểu khai mạc, bà Thụy Khê - cháu dâu cố họa sĩ nghẹn ngào bày tỏ bà đã chờ đợi suốt 30 năm để được từ Pháp trở về trao tặng vật giá trị cho quê hương. Thụy Khuê nói mình và chồng đã theo đuổi công tác sưu tầm tranh ảnh suốt 40 năm qua nên vì thế khi trao tặng cho Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, bà mong mỏi lãnh đạo Bảo tàng hãy gìn giữ lâu hơn nữa để thế hệ con cháu sau này có thể được biết đến.

Tác phẩm của họa sĩ Lê Thị Lựu lần đầu triển lãm trong nước
Hình ảnh bà Lê Thị Lựu thời trẻ.

Bên cạnh việc trao tặng, bà Thụy Khuê cũng bày tỏ trăn trở rằng tại sao bảo tàng ở Việt Nam lại thiếu vắng nhiều tác phẩm nghệ thuật của các danh họa trong nước.

“Nơi đầu tiên một khách du lịch đến khi ghé thăm một đất nước không phải là các cao ốc chọc trời hay trung tâm thương mại, mà chính là bảo tàng. Chỉ có bảo tàng là nơi lưu giữ những giá trị còn sót lại của dân tộc. Tôi hy vọng đây là bước khởi đầu. Tôi nghĩ rằng các tác phẩm của các danh họa Việt Nam phải về với chính nguồn cội của nó”, bà phát biểu.

Trước buổi triển lãm, Hội đồng Khoa học mở rộng Bảo tàng Mỹ thuật cũng đã có những công tác đánh giá và cho rằng bộ sưu tập có ý nghĩa lớn về văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, đồng thời có giá trị kinh tế lớn trên thị trường tranh.

Tác phẩm của họa sĩ Lê Thị Lựu lần đầu triển lãm trong nước
“Mẹ địu con” - Một trong số những tác phẩm tiêu biểu của bà Lê Thị Lựu đươc trưng bày tại triển lãm.

Bà Lê Thị Lựu sinh ngày 19/1/1911. Không chỉ là một nữ họa sĩ Đông Dương đầu tiên của người Việt Nam, bà còn được ghi nhận có nhiều đóng góp cho việc giảng dạy hội họa cho các thế hê sau, đồng thời góp vào di sản mỹ thuật Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị.

Về phong cách vẽ, Lê Thị Lựu được giới chuyên môn nhìn nhận là họa sĩ hiếm hoi lột tả được hai sắc thái đối lập trong tranh, vừa có sự nhẹ nhàng, mềm mại, lại vừa dữ dội, bạo liệt. Điểm đặc sắc trong tranh Lê Thị Lựu là sự giao thoa giữa kỹ thuật vẽ tranh lụa và tranh màu nước. Nữ họa sĩ hay tập trung vẽ người. Các nhân vật của bà chủ yếu là phụ nữ với những chuẩn mực cổ điển: Mặt trái xoan, cân đối, hài hòa.

Ngoài việc trưng bày bộ sưu tập, nhân dịp này Bảo tàng Mỹ thuật còn xuất bản cuốn "Lê Thị Lựu - Ấn tượng hoàng hôn" của tác giả Thụy Khuê. Sách cung cấp thêm cho độc giả hiểu rõ về cuộc đời, sự nghiệp của họa sĩ Lê Thị Lựu và cả một số họa sĩ cùng thời với bà sinh sống và sáng tác tại Pháp.

Tuấn Chiêu


Khẩu súng lấy đi sinh mạng danh họa Vincent Van Gogh có giá hơn 4 tỷ đồng

 Khẩu súng han gỉ từng lấy đi sinh mạng của vị danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh (1853-1890) đã vừa được bán đấu giá tại Paris (Pháp) và đạt mức giá tương đương 4,2 tỷ đồng.

Khẩu súng lấy đi sinh mạng danh họa Vincent Van Gogh có giá hơn 4 tỷ đồng

Dù còn nhiều giả thuyết xung quanh cái chết của vị danh họa, nhưng cho tới nay, giới nghiên cứu vẫn nghiêng về khả năng rằng Van Gogh đã tự sát bằng một khẩu súng. Mức giá được trả cho khẩu súng ấy tại buổi đấu giá vừa diễn ra trong tuần này đã lên tới 162.500 euro (tương đương hơn 4,2 tỷ đồng), gấp ba lần mức giá ước tính ban đầu.

Cho tới nay, giới nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh luận về những gì đã thực sự xảy ra trong những ngày cuối đời của vị danh họa huyền thoại, nhưng đa số tin rằng chính Van Gogh, một con người khốn khổ vì bị những chứng bệnh tâm thần hành hạ trong gần suốt cuộc đời, đã quyết định tự sát bằng một phát súng bắn vào bụng hồi năm 1890, kết thúc một cuộc đời đau khổ.

Sự việc xảy ra ở gần một nhà trọ nằm ở xã Auvers-sur-Oise, Pháp. Những cuộc chiến với chứng trầm cảm và sự rối loạn tâm thần là điều đã diễn ra thường trực trong cuộc đời Van Gogh. 75 năm sau ngày vị danh họa qua đời, người ta đã tìm thấy một khẩu súng ngắn han gỉ trên cánh đồng nơi Van Gogh thường hay ra đó ngồi vẽ trong những ngày tháng cuối đời.

Khẩu súng có nhiều sự trùng khớp về thời điểm sản xuất, về kích cỡ nòng súng, về địa điểm được tìm thấy, về khoảng thời gian khẩu súng bị vứt lại ngoài cánh đồng... khiến người ta tin rằng đó chính là khẩu súng đã gây nên cái kết đau đớn, bi kịch cho Van Gogh.

Một nhà sưu tầm tư nhân ẩn danh đã mua khẩu súng được gắn cho cái tên “khẩu súng khét tiếng nhất trong lịch sử hội họa”. Người mua thành công khẩu súng trả giá qua điện thoại khi phiên đấu giá diễn ra vào thứ 4 tuần này.

Khẩu súng lấy đi sinh mạng danh họa Vincent Van Gogh có giá hơn 4 tỷ đồng - 1

Loạt tranh về hoa hướng dương là một điểm nhấn trong sự nghiệp hội họa của Van Gogh

Hồi năm 1965, một người nông dân khi đi làm đồng ở xã Auvers-sur-Oise, đã tìm thấy khẩu súng này và liền trao lại cho người chủ nhà trọ nơi Van Gogh từng thuê trọ. Gia đình chủ nhà trọ giờ đây quyết định đem bán khẩu súng. Khẩu súng đã thuộc về gia đình họ kể từ khi được tìm thấy. Khẩu súng này đã từng được đem triển lãm tại Bảo tàng Van Gogh nằm ở thành phố Amsterdam, Hà Lan.

Danh họa Van Gogh bị một vết thương ở vùng bụng, gây ra bởi một phát súng vào ngày 27/7/1890. Ông ra đi hai ngày sau đó. Thực tế, viên đạn đã không gây ra một vết thương chí tử, vị danh họa 37 tuổi vẫn còn có thể tự trở về nhà trọ Auberge Ravoux, ngồi hút tẩu và trò chuyện với người em trai Theo Van Gogh.

Những bác sĩ địa phương lần lượt lui tới nhưng đều không thể làm gì, bởi năng lực của họ có hạn, họ không thể giúp đưa viên đạn ra khỏi bụng Van Gogh. Cuối cùng ông chết vì vết thương nhiễm trùng. Câu nói cuối cùng của Van Gogh trước khi qua đời là: “Nỗi buồn sẽ còn lại mãi mãi”.

Van Gogh qua đời ở tuổi 37, kết thúc một cuộc đời ngắn ngủi nhiều khổ đau, bất hạnh và để lại một gia tài hội họa mà về sau hậu thế mới công nhận những giá trị của nó.

Khẩu súng lấy đi sinh mạng danh họa Vincent Van Gogh có giá hơn 4 tỷ đồng - 2

Khẩu súng đã được đem ra đấu giá tại Paris vào ngày thứ 4 tuần này và đạt mức giá gấp ba lần mức giá dự đoán ban đầu.

Khẩu súng lấy đi sinh mạng danh họa Vincent Van Gogh có giá hơn 4 tỷ đồng - 3

Vị danh họa bị một phát súng bắn vào vùng bụng. Sự việc xảy ra ở xã Auvers-sur-Oise, miền bắc nước Pháp vào ngày 27/7/1890, hai ngày sau, vị danh họa qua đời vì vết thương không được điều trị đúng cách.

Trong những lá thư đầy mâu thuẫn được Van Gogh viết ngay trước khi qua đời, ông tâm sự: “Tôi rất khỏe, tôi làm việc rất chăm chỉ”, nhưng rồi chính ông lại viết: “Tôi cảm thấy mình đã thất bại. Tương lai ngày càng trở nên u ám hơn, tôi không thấy một tương lai tươi sáng nào hết”.

Trong cuộc đời mình, Van Gogh từng tự cắt tai hồi năm 1888. Sau khi ông qua đời, em trai ông đã chôn cất ông ở xã Auvers-sur-Oise. Sau này, người em trai gắn bó tận tụy của ông - Theo Van Gogh - cũng được chôn cất ở đây, bên cạnh anh trai.

Khẩu súng lấy đi sinh mạng danh họa Vincent Van Gogh có giá hơn 4 tỷ đồng - 4

Bức tranh khắc họa phòng ngủ của Van Gogh ở thành phố Arles (Pháp) hồi năm 1889

Khẩu súng lấy đi sinh mạng danh họa Vincent Van Gogh có giá hơn 4 tỷ đồng - 5

Khẩu súng được tìm thấy bởi một người nông dân ở xã Auvers-sur-Oise, Pháp.

Bích Ngọc

Theo USA Today/Art News

Sự thật về cái chết bi thảm của Van Gogh

Sau khi trúng đạn, Van Gogh lê lết gần 2km để về nhà. Các bác sĩ được mời tới chữa trị đều không đủ trình độ xử lý. Họ bỏ ông ngồi lại một mình... Người ta vẫn bảo, Van Gogh tự sát, nhưng đó có phải sự thật?

Câu chuyện “chính thống” về cái chết của Van Gogh

Từ trước tới nay, người ta vẫn tin rằng danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh đã chết vì tự sát. Những nghiên cứu về cuộc đời ông thường khẳng định rằng trong những ngày tháng cuối đời, Van Gogh đã phải chịu đựng một cuộc khủng hoảng tâm thần mà tự danh họa gọi là “thời điểm bắt đầu của một trang buồn nhất trong cuộc đời vốn đã trĩu nặng ưu phiền”.

Bức tự họa năm 1886
Bức tự họa năm 1886

Thời điểm mà Van Gogh viết ra những dòng này là ngày 22/2/1890. Khoảng thời gian khủng hoảng tâm thần kéo dài tới tận cuối tháng 4. Trong suốt giai đoạn này, Van Gogh thậm chí còn không thể viết lách nổi bất cứ điều gì dù viết thư, viết nhật ký… vốn là một thói quen ưa thích của ông. Tuy vậy, ông vẫn tiếp tục vẽ.

Nhà phê bình nghệ thuật người Úc Robert Hughes cho biết trong giai đoạn từ tháng 5/1889 đến tháng 5/1890, Van Gogh tiếp tục “bị những cú trời giáng của sự tuyệt vọng và bệnh ảo giác hành hạ, khiến ông không thể làm việc, tuy vậy, giữa những cú trời giáng do căn bệnh tâm thần gây ra, Van Gogh vẫn có những khoảng thời gian làm việc miệt mài trong trạng thái xuất thần, hưng phấn cực độ”.

Ngày 27/7/1890, ở tuổi 37, người ta tin rằng Van Gogh đã tự tử bằng súng, một phát súng vào ngực, tuy vậy, người ta chẳng bao giờ tìm thấy khẩu súng nào được cho là đã gây ra cái chết của ông. Không có ai chứng kiến sự việc và địa điểm nơi ông tự sát thực tế cũng không rõ ràng.

Nhiều người tin rằng Van Gogh đã tự sát trên cánh đồng lúa mì - nơi vốn đã thu hút sự chú ý của ông trong những ngày tháng cuối đời, có người lại cho rằng ông đã tự sát ở một kho thóc nằm gần ngôi nhà nơi ông ở trọ…

Bức tự họa năm 1887
Bức tự họa năm 1887

Viên đạn bắn vào ngực Van Gogh đã đi chệch hướng do trúng một chiếc xương sườn, nó đã xuyên qua ngực ông nhưng không gây ra một tổn hại đáng kể nào đối với nội tạng.

Thậm chí Van Gogh còn có thể tự đi về căn nhà trọ và được hai bác sĩ tới thăm khám, nhưng cả hai người này đều không đủ trình độ để có thể gắp viên đạn ra khỏi cơ thể ông. Vậy là các vị bác sĩ để Van Gogh ngồi lại một mình trong phòng và hút thuốc để giảm đau.

Sáng hôm sau, em trai Theo của ông liền đáp tàu để tới với anh trai sau khi nhận được tin dữ. Khi đến nơi, Theo thấy anh trai trông vẫn rất ổn dù đang phải chịu đựng một vết thương ghê ghớm. Tuy vậy, chỉ vài tiếng sau, Van Gogh bắt đầu quỵ dần vì vết thương bị nhiễm trùng mà không được chữa trị.

Bức tự họa năm 1888
Bức tự họa năm 1888

Van Gogh qua đời vào buổi tối, 29 tiếng sau khi trúng đạn. Em trai ông - Theo Van Gogh - về sau cho biết câu nói cuối cùng của Vincent Van Gogh là “Nỗi buồn sẽ còn lại mãi mãi”. Thiên tài hội họa, người đã sáng tạo ra loạt tranh huyền thoại về hoa hướng dương, đã qua đời năm 1890 ở tuổi 37.

Lịch sử lật lại

Nhiều học giả nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp Van Gogh vốn luôn tỏ ra nghi ngờ về kết luận Van Gogh đã tự sát bằng súng.

Trong cuốn “Van Gogh: The Life” (Cuộc đời Van Gogh) của hai tác giả người Mỹ Steven Naifeh và Gregory White Smith, họ đã đưa ra một giả thuyết táo bạo rằng Van Gogh đã chết vì bị một cậu thiếu niên bắn.

Bức tự họa năm 1889
Bức tự họa năm 1889

Giả thuyết này mâu thuẫn với câu chuyện vốn đã được giới mỹ thuật chấp nhận từ lâu, rằng Van Gogh đã tự bắn mình trên một cánh đồng lúa mì, sau đó cố lê lết gần 2km để trở về phòng trọ nơi ông ở. Trước khi qua đời, người ta đã hỏi Van Gogh rằng có phải ông đã tự tử không, ông nói: “Vâng, tôi tin là vậy” - một câu trả lời đầy ẩn ý, rất mơ hồ, khó hiểu.

Tuy vậy, còn một chi tiết ít người biết đó là những giá, cọ, màu vẽ mà Van Gogh mang ra cánh đồng ngày hôm đó là để làm gì? Tại sao khẩu súng không được tìm thấy dù người ta đã lùng sục khắp cánh đồng?

Tại sao vốn là người ưa viết lách, thư từ nhưng trước quyết định khủng khiếp này, Van Gogh không hề đả động tới, dù chỉ là ám chỉ hay ẩn ức trong bất cứ một lá thư hay một trang nhật ký nào?

Bức tự họa năm 1889
Bức “Họa sĩ trên đường tới nơi vẽ” (1888) khắc họa chính Van Gogh trên đường tới tu viện Montmajour ở thành phố Arles, Pháp.

Cuốn sách “Van Gogh: The Life” đặt ra nhiều câu hỏi không có lời giải đáp, trong đó có việc Van Gogh - một người đàn ông từng sống trong trại tâm thần - làm thế nào mà được quyền mua súng? Đó là một khả năng rất khó xảy ra.

Trong khi hai tác giả Neifeh và Smith cùng đồng ý rằng “không ai biết thực sự điều gì đã xảy ra với Van Gogh” nhưng họ cũng muốn đưa ra thêm một giả thuyết về sự ra đi của thiên tài hội họa, một giả thuyết khác với những gì mà người ta vốn tin tưởng.

Theo đó, hai tác giả cho rằng phát súng gây chết người này do một cậu thiếu niên 16 tuổi có tên Rene Secretan gây ra. Cậu thiếu niên này khi đó đang nghỉ hè ở một biệt thự gần ngôi nhà trọ của Vincent Van Gogh. Secretan và Van Gogh có mối quan hệ kỳ lạ, cậu bé thường mua rượu cho Van Gogh nhưng cũng thường trêu trọc, quấy phá Van Gogh.

Bức “Hoàng hôn ở

Montmajour” (1888).
Bức “Hoàng hôn ở Montmajour” (1888).

Hai tác giả cho rằng Van Gogh không lên tiếng buộc tội cậu bé đã bắn mình bởi ông vốn luôn chào đón cái chết như một sự giải thoát của linh hồn, đồng thời, ông cũng không muốn vì mình mà một cậu bé còn đang ở tuổi thiếu niên phải bị trừng phạt trước pháp luật. Việc sát hại Van Gogh theo hai tác giả có thể là chủ ý của cậu thiếu niên nhưng cũng có thể do vô tình.

Hai tác giả Steven Naifeh và Gregory White Smith không phải là những tác giả vô danh, khéo tưởng tượng để rồi tung ra cuốn sách gây sốc, họ đã từng giành được giải Pulitzer năm 1991 với cuốn tiểu sử viết về cuộc đời họa sĩ người Mỹ Jackson Pollock. Pulitzer cũng là một giải thưởng uy tín của Mỹ được trao thường niên cho các tác phẩm xuất sắc ở nhiều lĩnh vực.

Bích Ngọc
Tổng hợp


Những thiên tài hội họa sống trong điên loạn

Lịch sử hội họa đã chứng minh, có một mối liên hệ kỳ lạ giữa thiên tài và sự điên loạn.

Những danh họa nổi tiếng nhất lại thường mắc phải những chứng bệnh tâm thần, khiến cuộc đời họ trở thành một chuỗi những hành hạ kéo dài dai dẳng…

Michelangelo

Là một trong những thiên tài vĩ đại nhất của lịch sử hội họa thế giới, danh họa người Ý Michelangelo (1475-1564) sinh thời không để người khác nhận ra những bất ổn trong tâm lý của mình. Tuy vậy, nhiều học giả nghiên cứu về cuộc đời và thành tựu của Michelangelo đều khẳng định rằng ông có những dấu hiệu của bệnh tâm thần.

Bức “Lời phán xét cuối cùng” (1534-1541)
Bức “Lời phán xét cuối cùng” (1534-1541)

Dựa trên các tác phẩm ông sáng tạo ra cùng những ghi chú trong các bản vẽ phác họa mà Michelangelo để lại, người ta nhận thấy trong đó ẩn chứa nhiều nỗi u sầu, những triệu chứng của bệnh trầm cảm hoặc rối loạn tâm lý lưỡng cực.

Fransisco Goya

Danh họa người Tây Ban Nha Francisco Goya (1746-1828) là niềm tự hào của hội họa nước nhà. Những tác phẩm của ông sau này đã gây ảnh hưởng đối với những danh họa nổi tiếng khác như Bacon, Picasso hay Manet…

Bức “Khoảnh sân của những người điên” (1794)
Bức “Khoảnh sân của những người điên” (1794)

Trong các tác phẩm của Goya, người ta tìm thấy sự cô đơn, nỗi sợ hãi. Sinh thời, Goya có một thể chất và tinh thần yếu đuối, ông dễ đau ốm và cũng dễ suy sụp. Goya thường nghe thấy những giọng nói vang lên từ trong không trung, thường bị mất thăng bằng, đôi khi bị mất thính giác… Người ta cho rằng có thể Goya đã mắc bệnh hoang tưởng, tâm thần phân liệt.

Richard Dadd

Là một trong những minh chứng dữ dội nhất trong số những thiên tài điên loạn. Những triệu chứng tâm thần đầu tiên ở Richard Dadd (1817-1886) xuất hiện khi ông đang bơi thuyền trên sông Nile (Ai Cập) thì bỗng trở nên hoảng hốt vì cho rằng một vị thần Ai Cập đang cố gắng chiếm giữ linh hồn mình.

Sau đó, khi trở về Anh, Dadd bắt đầu cho rằng cha mình là quỷ dữ, thường xuyên cãi vã với cha và cuối cùng đã giết chết cha. Sau khi tỉnh cơn mê, Dadd chạy trốn sang Pháp và suýt nữa lại giết hại một người khách du lịch.

Bức “Nhát rìu của người đốn cây” (1855-1864)
Bức “Nhát rìu của người đốn cây” (1855-1864)

Sau đó, tự Dadd đã tìm tới bệnh viện tâm thần để được điều trị. Tại đây, ông đã vừa chữa bệnh, vừa sáng tạo nhiều tác phẩm hội họa nổi tiếng. Dadd được chẩn đoán bị bệnh hoang tưởng, tâm thần phân liệt.

Paul Gauguin

Một bức tự họa của Paul Gauguin
Một bức tự họa của Paul Gauguin

Là một trong những người bạn được nhắc tới nhiều nhất trong cuộc đời Vincent van Gogh, danh họa người Pháp Paul Gauguin (1848-1903) cũng có những dấu hiệu của bệnh tâm thần. Gauguin trong cuộc đời đã từng có lúc tự tử bất thành, từng chịu đựng những cơn trầm cảm nặng nề.

Vincent Van Gogh

Trong giới hội họa, nếu muốn tìm một họa sĩ có cuộc đời luôn vật vã trong những cơn bất ổn tâm lý nhưng những thành tựu mà họa sĩ đó đạt được mang tầm vóc thế giới, đó chỉ có thể là Vincent van Gogh (1853-1890).

Danh họa người Hà Lan là cha đẻ của những tác phẩm hội họa sống động, tinh tế, ngập tràn cảm xúc, có ảnh hưởng tới nhiều thế hệ họa sĩ sau này, ông là một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất mọi thời đại.

Suốt cả cuộc đời, Van Gogh là một con người khốn khổ, luôn chìm sâu trong những bất ổn tâm lý. Ông phải chịu đựng trạng thái suy sụp, trầm cảm nặng nề, đôi khi cả những cơn động kinh. 

Bức tự họa của Van Gogh sau khi cắt tai
Bức tự họa của Van Gogh sau khi cắt tai

Một trong những sự việc điên rồ nhất cuộc đời Van Gogh chính là khi ông tự cắt tai mình. Thiên tài hội họa này đã qua đời năm 37 tuổi, tự tử bằng súng. Người ta cho rằng chứng rối loạn tâm lý lưỡng cực chính là nguyên nhân dẫn tới việc ông thường xuyên bị suy sụp tâm lý.

Louis Wain

Bức tự họa của Van Gogh sau khi cắt tai

Họa sĩ người Anh nổi tiếng với những bức tranh khắc họa loài mèo - Louis Wain (1860-1939), khi về già, đã phải chịu đựng căn bệnh tâm thần phân liệt. Sự hoang tưởng khiến Louis Wain mất niềm tin và chuyển sang căm ghét những người thân yêu nhất.

Edvard Munch

Bức tự họa của Van Gogh sau khi cắt tai

Nổi tiếng với loạt tranh kinh điển “Tiếng thét”, danh họa người Na Uy Edvard Munch (1863-1944) cũng bị căn bệnh thần kinh hành hạ.

Ông luôn bị ám ảnh rằng thần chết đang gõ cửa nhà mình, giấc ngủ của ông thường bị gián đoạn bởi những cơn ác mộng kinh hoàng, ông cũng thường nhìn thấy những hình ảnh ma quỷ rùng rợn… Chính những điều này đã gây ảnh hưởng đối với phong cách sáng tạo của Munch.

Khi sự lo lắng và chứng ảo giác của ông ngày càng trở nên trầm trọng, Munch bị suy sụp nặng nề. Tuy vậy, may mắn là các liệu pháp chữa trị tâm lý đã phát huy tác dụng đối với ông. 

Georgia O’Keefe

Bức tự họa của Van Gogh sau khi cắt tai

Là một trong những nữ họa sĩ đi tiên phong trong sáng tạo nghệ thuật, Georgia O’Keeffe (1887-1986) là nữ nghệ sĩ nổi tiếng hàng đầu nước Mỹ. Ở chặng giữa cuộc đời, O’Keeffe đã phải chịu đựng một cơn suy sụp thần kinh nặng nề, đến mức phải nhập viện điều trị và không thể vẽ nổi một bức tranh nào trong vòng 2 năm.

Nicolas de Staël

Bức tự họa của Van Gogh sau khi cắt tai

Họa sĩ người Pháp gốc Nga Nicolas de Staël (1914-1955) là một trong những tên tuổi gây ảnh hưởng nhất trong giới hội họa thập niên 1950. Nicolas de Staël cũng bị trầm cảm nặng. Ở tuổi 41, sau khi gặp gỡ một nhà phê bình mỹ thuật và xảy ra những tranh cãi, bất đồng, Nicolas de Staël đã bị kích động mạnh và nhảy lầu tự tử.

Bích Ngọc
Theo Brainz


Triển lãm tranh về phụ nữ Việt xưa và nay

Tranh của họa sĩ Thanh Lê, Quỳnh Paris... tạo sự đối lập giữa nét đẹp cổ điển và hiện đại của phái nữ.

Triển lãm tranh về phụ nữ Việt xưa và nay" id="vne_slide_image_0">

Triển lãm tranh "Springtime" (Xuân thì) khai mạc tối 15/6 tại Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM. Sự kiện trưng bày các tác phẩm của ba cây cọ: Thanh Lê, Quỳnh Paris, Diệu Hà về đề tài phái nữ Việt và thiên nhiên, hoa cỏ. Trong ảnh: bức "Bông huệ Tây" của họa sĩ Thanh Lê. Anh thường lấy cảm hứng từ phụ nữ Sài Gòn, miền Tây những năm đầu của thế kỷ 20. 


Bức "Huệ vàng, huệ đỏ". Thanh Lê thường vẽ tranh theo cách "mượn hoa tả người", lấy hoa làm nền cho chủ thể. Anh theo đuổi trường phái cổ điển với chất liệu chủ yếu là màu nước vẽ trên giấy.

Triển lãm tranh về phụ nữ Việt xưa và nay" id="vne_slide_image_2">

Bức "Lá trường sinh". Thanh Lê chia sẻ anh tham khảo nhiều nguồn tài liệu khi vẽ bộ tranh thiếu nữ với lối mặc, bới tóc, đeo phục sức của các người bà, người mẹ ngày trước. "Tôi mong muốn gìn giữ những nét đẹp truyền thống qua hình ảnh phụ nữ Việt", họa sĩ chia sẻ.

Triển lãm tranh về phụ nữ Việt xưa và nay" id="vne_slide_image_3">

Một số tranh được anh lấy cảm hứng từ các tứ thơ trong ca dao, dân ca như "Non xanh nước biếc" (ảnh), "Lý bông sen"...

Triển lãm tranh về phụ nữ Việt xưa và nayQuỳnh Paris. Chị tôn vinh vẻ đẹp khỏe khoắn của phụ nữ hiện đại khi khoác những bộ đầm dạ hội.

" id="vne_slide_image_4">

Loạt tranh "Hướng về tương lai" là tác phẩm đầu tay trong lĩnh vực hội họa của nhà thiết kế thời trang Quỳnh Paris. Chị tôn vinh vẻ đẹp khỏe khoắn của phụ nữ hiện đại khi khoác những bộ đầm dạ hội.

Triển lãm tranh về phụ nữ Việt xưa và nay

Tác giả sử dụng đa chất liệu như sơn dầu, màu nước... khi vẽ trên giấy. Chị kết hợp vải metallic (vải ánh kim) để tạo hiệu ứng nổi khối 3D trên tranh.

Triển lãm tranh về phụ nữ Việt xưa và nay" id="vne_slide_image_6">

Đôi lúc, tác giả còn sử dụng chất liệu xơ dừa - lấy cảm hứng từ các làng chài. "Tôi muốn đưa thông điệp về những vật liệu thô sơ nhưng đã nuôi sống con người trong thời hiện đại", chị kể.

Triển lãm tranh về phụ nữ Việt xưa và nay

Người mẫu trong tranh đa phần là bạn bè của tác giả như nghệ sĩ piano, doanh nhân... 

Triển lãm cũng trưng bày bộ sưu tập hoa mang tên "Fairytale garden" (Vườn cổ tích) của họa sĩ Diệu Hà. Chị chuyên vẽ hoa mẫu đơn, từng giới thiệu các tác phẩm tại Bỉ, Thuỵ Sĩ, Mỹ... 

"Khi vẽ một bông hoa, ta cũng sẽ hoá thành cây cỏ. Trong cuộc sống này, điều đó chỉ là ảo tưởng, còn trong tranh, chúng ta có thể vẽ lại những giấc mơ", họa sĩ chia sẻ.

Mai Nhật

Thứ sáu, 11/7/2014, 17:45 (GMT+7)

Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya

Các cô gái trong tranh nữ họa sĩ người Nga Anna Razumovskaya có vẻ đẹp cơ thể mềm mại, quyến rũ.

Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya

Phái đẹp là đề tài thường thấy trong tranh của nghệ sĩ Anna Razumovskaya.

Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya

Các cô gái thường được khắc họa với dáng vóc mảnh mai, yêu kiều.

Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya

Anna Razumovskaya thường làm nổi bật hình thể quyến rũ của phái nữ.

Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya
Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya" id="vne_slide_image_4">

Những cô gái với thân hình "đồng hồ cát".

Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya
Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya
Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya
Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya
Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya
Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya
Đường cong phái đẹp trong tranh Anna Razumovskaya

Vẻ kiêu sa, lộng lẫy của các cô gái trong tranh Anna Razumovskaya.

Hải Lan
Ảnh: Progressiveart

Chủ nhật, 2/2/2014, 05:00 (GMT+7)

Đam mê cháy bỏng trong tranh Leonid Afremov

Tình yêu, niềm say mê cuộc sống thể hiện sinh động qua mỗi điệu nhảy, từng nụ hôn... trong tranh họa sĩ Leonid Afremov.

Leonid Afremov sinh năm 1955 ở Vitebsk, Belarus, là họa sĩ phái Ấn tượng nổi tiếng đương đại. Ông vẽ nhiều tác phẩm với nhiều chủ đề, từ trẻ thơ, gia đình tới âm nhạc, khiêu vũ, thiên nhiên& Tranh của Afremov gây ấn tượng mạnh bởi cách phối màu sắc cùng sự sống động. Đây là bức

Leonid Afremov sinh năm 1955 ở Vitebsk, Belarus, là họa sĩ nổi tiếng đương đại. Ông vẽ nhiều tác phẩm với nhiều chủ đề, từ trẻ thơ, gia đình tới âm nhạc, khiêu vũ, thiên nhiên… Tranh của Afremov gây ấn tượng mạnh bởi cách phối màu sắc cùng sự sống động. Đây là bức "Mê say".

Qua tranh Afremov, người xem cảm nhận được tình yêu mãnh liệt của ông với cuộc đời. Thể hiện qua niềm đam mê khi nhảy múa, sự khát khao qua những nụ hôn cháy bỏng… Trong ảnh là bức "The sky dance".

h-jpeg-2133-1390372283.jpg

"Điệu nhảy đẹp".

"Ballet".

h3-jpeg-7878-1390376876.jpg

"Ballet".

"Bravo".

h8-jpeg-9555-1390376877.jpg

"Bi ca mùa thu".

"Đôi lứa".

"Khiêu vũ dưới cơn mưa".

h13-jpeg-6363-1390376877.jpg

"Nụ hôn sau cơn mưa".

a1-6015-1390376877.jpg

"Điệu Tango của đam mê".

"Đêm đam mê".

l1_1390374053.jpg

"Đám cưới dưới mưa".

"Dance Violin".

"Romeo và Juliet".

"Hẹn hò dưới mưa".

"Thiên thần tình yêu".

Điệu Tango đẹp.

"Điệu Tango đẹp".

"Tango cổ điển".

i7-jpeg.jpg

"Sau cơn mưa".

i8_1390375273.jpg

"Hôm nay".

i9-jpeg.jpg

"Sương thu".

o3-jpeg.jpg

"Tan học".

i10_1390375440.jpg

"Hai chị em".

Hải Lan
Ảnh: Afremov


Thứ hai, 2/9/2013, 06:00 (GMT+7)

Nét gợi cảm phụ nữ trong tranh Pino Daeni

Phụ nữ trong tranh Pino Daeni đẹp quyến rũ với vòng một căng đầy, làn da trắng mịn màng hay đường cong tuyệt mỹ...

p10-1377853082.jpg
Pino Daeni (1939-2010), tên khai sinh Giuseppe Dangelico, là họa sĩ nổi tiếng người Italy.
p4-1377853082.jpg
Phụ nữ là đề tài thường gặp trong tranh của họa sĩ.
[Caption]
Các cô gái trong tranh ông lúc quyến rũ vai trần, eo thon...
p6-1377853083.jpg
... Lúc gợi cảm buông hờ hững dây áo...
p8-1377853083.jpg
p13-1377853083.jpg
p19-1377853083.jpg
p18-1377853083.jpg
p20-1377853084.jpg
p27-1377853084.jpg
[Caption]
p26-1377853084.jpg
Vẻ đẹp phụ nữ trong tranh họa sĩ Italy.


Tranh nude tôn vinh cơ thể phụ nữ

Triển lãm "Phượng" diễn ra từ ngày 12 đến 18/7 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội mang đến góc nhìn đa diện về phái đẹp.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu

Triển lãm gồm 37 tác phẩm tranh và tượng nude của 14 nghệ sĩ Hải Phòng sống và làm việc tại Hà Nội. Các họa sĩ sử dụng nhiều chất liệu khác nhau như sơn mài, sơn dầu… để bày tỏ tình yêu, sự trân trọng với nét đẹp của phụ nữ.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-1

Tranh sơn mài nude của Bùi Trọng Dư. Theo anh, họa sĩ phải cố gắng rất nhiều để khi đứng trước một bức tranh nude, người xem có thể cảm nhận được cái đẹp chứ không thấy sự dung tục.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-2

Tranh nude của Nguyễn Đình Hợp - họa sĩ từng có tranh sơn mài trưng bày tại Sydney và London.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-3

Tranh nude của Nguyễn Thị Thủy - họa sĩ nữ duy nhất tham gia triển lãm.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-4

Tranh của Nguyễn Quốc Thắng.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-5

Nét đẹp ẩn hiện của phái đẹp trong tranh Nguyễn Quốc Thắng.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-6

Tranh nude của Nguyễn Ngọc Dân.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-7

Đình Quân sử dụng gam đỏ trong các bức tượng nude.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-8

Hà Thu




Xem những tranh, ký họa tuyệt đẹp về nhà thờ Bùi Chu

12/05/2019 22:18
Tranh nhà thờ Bùi Chu của họa sĩ Phan Thanh Sơn

Các bức ký họa tuyệt đẹp về nhà thờ Bùi Chu được trưng bày ngay trên sân nhà thờ chính tòa Bùi Chu Nam Định từ 11.5 - 26.5.2019

Với tình yêu kiến trúc cổ và vẻ đẹp của nhà thờ Bùi Chu, các họa sĩ thuộc nhóm Urban Sketcher Hanoi - Ký họa đô thị Hà Nội đã sáng tác 30 bức ký họa tuyệt đẹp về nhà thờ này. Triển lãm được trưng bày ngay trong khuôn viên nhà thờ từ 11 đến ngày 26.5.

Tranh ký họa trưng bày ngay trên sân nhà thờ Bùi Chu

Được biết, những bức ký họa về ngôi nhà thờ này được nhóm họa sĩ gồm nhiều thành phần lứa tuổi, vẽ từ một năm về trước. Trong thời gian dư luận cả nước bàng hoàng trước thông nhà thờ Bùi Chu có 134 năm tuổi bị “hạ giải”, nhóm họa sĩ yêu kiến trúc cổ cũng đã tốc hành đến Nam Định để vẽ lại nhiều các góc cạnh của ngôi nhà thờ tuyệt đẹp này.

Hình ảnh những bức ký họa sau đó được các họa sĩ đưa lên FB của nhóm và thông báo triển lãm tại sân nhà thờ chính tòa Bùi Chu, Nam Định.

Chùm ký họa của các họa sĩ thuộc nhóm Urban Sketcher Hanoi - Ký họa đô thị Hà Nội

Tranh ký họa trưng bày ngay trên sân nhà thờ Bùi Chu

Ký họa của họa sĩ Hoàng Long

Tranh của họa sĩ Chu Quốc Bình

Tranh của họa sĩ Nguyễn Linh

Tranh của họa sĩ Trần Kim Oanh

Tranh của họa sĩ Nguyễn Trung Dũng

Ký họa của KTS Nguyễn Hoàng Lâm

Tranh của KTS Trần Thị Thanh Thủy

Ký họa của họa sĩ Nguyễn Trung Dũng

Ký họa của KTS Nguyễn Hoàng Lâm

Tranh của họa sĩ Phạm Anh Quân

Tranh của KTS Trần Thị Thanh Thủy

Tranh của họa sĩ Nguyễn Linh

Tranh của KTS Nguyễn Hoàng Lâm

Tranh của họa sĩ Phạm Tú

Tranh của họa sĩ nhí 8 tuổi Đặng Ngọc Minh Châu

Tranh của họa sĩ nhỏ tuổi Nguyễn Duy An

Tranh của bé Nguyễn Tân

Tranh của họa sĩ nhỏ tuổi Lê Trọng Nghĩa

Tranh của họa sĩ nhí Lê Tất Khánh

Tiểu Vũ

2 bức tranh khỏa thân của danh họa Lê Phổ được bán với giá hơn 44 tỉ

Bức tranh ‘Khỏa thân’ (sơn dầu, 90,5cm x 180,5cm, 1931) của danh họa Lê Phổ - Ảnh: Christie’s
Hai bức tranh “Khỏa thân” và “Tắm biển” của danh họa Lê Phổ vừa được bán ra với giá hơn 44 tỉ đồng tại Hồng Kông.

Sau phiên đấu giá tối ngày 25, sáng 26.5 nhà Christie’s tiếp tục mở phiên đấu giá Thế kỷ 20 và nghệ thuật đương đại với 138/232 lô hàng tác phẩm mỹ thuật của các họa sĩ Việt Nam.

Kết quả, bức tranh sơn dầu Khỏa thân của danh họa Lê Phổ được bán với giá 1,4 triệu USD (khoảnh hơn 32,2 tỉ đồng Việt Nam).Cũng trong phiên đấu giá này, bức tranh thứ hai của Lê Phổ là Tắm biển (Le Bain de Mer) được một nhà sưu tập mua với giá hơn 3,9 triệu đô la Hồng Kông (khoảng hơn 11,7 tỉ đồng Việt Nam). Bức Múa cổ của Nguyễn Tư Nghiêm bán gần 630 triệu đồng. Bức Vịnh Hạ Long của Phạm Văn Đôn bán hơn 592 triệu đồng. Bức Mẹ và con của Nguyễn Trung bán hơn 592 triệu đồng.

Tác phẩm Tắm biển (Le Bain de Mer) của danh họa Lê Phổ (lụa bồi giấy, 88cm x 56,5cm, khoảng 1938)

Ngoài ra, tại phiên đấu giá sáng 26.5, tác phẩm Vỡ mộng (Les Désabusées) của danh họa Tô Ngọc Vân được bán với giá 27 tỉ đồng (hơn 1,1 triệu USD). Bức Gia đình ngư dân (Le Pécheur et Sa Famille) của họa sĩ Lương Xuân Nghị được bán với giá 13,8 tỉ đồng. Bức Say ngủ (Le Sommeil) của họa sĩ Mai Trung Thứ được bán với giá 7,4 tỉ đồng. Bức Vị quan (Le Mandarin) của danh họa Vũ Cao Đàm được bán với gia 5,5 tỉ đồng. Bức Mẫu tử (Mère et Enfant) của nữ danh họa Lê Thị Lựu bán hơn 4,8 tỉ đồng. Bức Quý cô (Femmes) của danh họa Nguyễn Gia Trí bán hơn 2,7 tỉ đồng.

Bức Les Désabusées (Vỡ mộng) lụa, 92,5cm x 57cm, 1932) của Tô Ngọc Vân đã bán hơn 1,1 triệu USD (hơn 27 tỉ đồng), tăng gần 400% so với mức sàn

Bức Le Pécheur et Sa Famille (Gia đình ngư dân) lụa, 67cm x 110cm, 1940) của Lương Xuân Nhị

Bức Mère et Enfant (Mẫu tử, lụa, 63cm x 49cm, 1960) của nữ danh họa Lê Thị Lựu

Bức Le Mandarin (Vị quan, lụa, 145,5cm x 71cm, 1942) của Vũ Cao Đàm

Bức Le Sommeil (Say ngủ, lụa, 65cm x 54,5cm, 1938) của Mai Trung Thứ

Bức Femmes (Quý cô, sơn mài, 80cm x 60cm, 1968) của Nguyễn Gia Trí

Bức Múa cổ (sơn mài, 80cm x 95cm, 1974) của Nguyễn Tư Nghiêm

Bức Mẹ và con (sơn dầu trên toan, 149cm x 149cm, 1999) của Nguyễn Trung

Bức Vịnh Hạ Long (sơn mài, 40,5cm x 60cm) của Phạm Văn Đôn

Trước đó, trong phiên đấu giá tối 25.5, bức tranh Thiếu nữ và con vẹt của danh họa Nguyễn Phan Chánh được bán với giá 10,3 tỉ đồng và bức Mục đồng Bắc kỳ của danh họa Phạm Hậu được bán với giá 11 tỉ đồng.

Tiểu Vũ


Tranh cô gái khỏa thân của Lê Phổ lập kỷ lục bán 32,5 tỷ đồng

Bức “Nue” của họa sĩ Lê Phổ vừa được giao dịch với giá 10,925 triệu HKD, lập kỷ lục tranh Việt đắt giá nhất.

Kỷ lục trên được xác tập tại phiên đấu giá “Thế kỷ 20 và Nghệ thuật đương đại” của nhà Christie’s Hong Kong sáng 26/5. Tại buổi đấu giá, bức tranh của họa sĩ Lê Phổ có tên Nue (Khỏa thân) được bán với giá 10,925 triệu HKD (1,391 triệu USD, khoảng 32,5 tỷ đồng). Đây là tác phẩm thuộc hàng đắt giá của Việt Nam. Năm 2017, một tác phẩm của Lê Phổ có tên Family Life (Đời sống gia đình) lập kỷ lục tranh Việt đấu giá, với mức 1,172 triệu USD.

Tranh co gai khoa than cua Le Pho lap ky luc ban 32,5 ty dong hinh anh 1
Tranh Nue của Lê Phổ.

Tác phẩm Nue có kích thước 90,5 x 180,5 cm, được vẽ vào năm 1931. Tranh khắc họa vẻ đẹp cô gái khỏa thân với mỹ cảm phương Tây. Tác phẩm được hoàn thành năm 1931, góc dưới bên phải tranh có ghi chữ “LE PHO. HÀ NỘI.1931”, góc trái tranh là triện son của họa sĩ. Trước khi mang ra đấu giá, tranh thuộc sưu tập của ông Tuấn H Phạm (Mỹ).

Bức Tắm biển của Lê Phổ

Bức "Tắm biển" của Lê Phổ.

Bức Khỏa thân có chất liệu sơn dầu, kích thước 90,5 cm x 180,5 cm, được sáng tác năm 1931. Bức Tắm biển có chất liệu lụa bồi giấy, kích thước 88 cm x 56,5 cm, được sáng tác khoảng năm 1938, lấy cảm hứng từ chuyện công chúa Tiên Dung vượt qua ràng buộc lễ giáo để đến với tình yêu. 


Tại phiên đấu giá, một tác phẩm khác của Lê Phổ có tên Le Bain de Mer (Tắm biển) được giao dịch với giá 3,965 triệu HKD (khoảng 505.000 USD).

Tại phiên đấu giá này, một bức tranh của Tô Ngọc Vân đạt trên triệu USD, là bức Vỡ mộng. Bức tranh lụa ban đầu được ước tính có giá trong khoảng 3 triệu HKD, nhưng cuối cùng đã bán với giá 9,125 triệu HKD (1,162 triệu USD), tăng 400% so với mức giá sàn.
Tranh co gai khoa than cua Le Pho lap ky luc ban 32,5 ty dong hinh anh 2
Bức Vỡ mộng của Tô Ngọc Vân đạt mốc trên 1 triệu USD

Buổi đấu giá có rất nhiều tác phẩm của những họa sĩ danh tiếng Việt Nam. Ngoài các tác phẩm của Lê Phổ lâu nay vẫn thuộc top tranh giá cao của hội họa Việt, còn có tác phẩm của các danh họa khác như: Gia đình ngư dân của Lương Xuân Nhị (bán với giá 596 nghìn USD), Ông quan của Vũ Cao Đàm (giá 238,8 nghìn USD), Giấc ngủ của Mai Trung Thứ (giá 318,5 nghìn USD), Thiếu nữ Việt Nam của Trần Văn Cẩn (giá 143,3 nghìn USD)…

Theo Zing.vn


‘Đống rơm’ của danh họa Monet được bán với giá kỷ lục 110,7 triệu USD

Bức họa 'Đống rơm' của Claude Monet được bán với giá kỷ lục 110,7 triệu USD - Ảnh: AP
Một trong những bức tranh “Đống rơm” của Claude Monet, họa sĩ Pháp thuộc trào lưu ấn tượng đã được bán với giá kỷ lục 110,7 triệu USD.

Trong cuộc đấu giá ngày 14.5 (theo giờ địa phương) tại thành phố New York (Mỹ) của nhà Sotheby's, bức vẽ Đống rơm (Meules) - một tác phẩm nổi bật trong bộ tranh Meules của danh họa người Pháp Claude Monet đã được bán với giá 110,7 triệu USD. Đây là mức giá kỷ lục cho một tác phẩm của danh họa Claude Monet từ trước đến nay.

Bức tranh Đống rơm vừa được bán đấu giá được thấy lần sau cùng tại một cuộc đấu giá năm 1986, khi đó tranh được bán với giá 2,53 triệu USD. Trước đó, vào thập niên 1890, vợ chồng nhà sưu tập Potter Palmer ở Chicago đã mua tác phẩm này trực tiếp từ ông Paul Durand-Ruel, nhà buôn tranh của Monet và lưu giữ trong bộ sưu tập tác phẩm hội họa ấn tượng của gia đình Palmer trong nhiều thập niên.

Bức tranh "Đống rơm" của danh họa Claude Monet được bán với giá kỷ lục 110,7 triệu USD

Vào năm 2017, một bức vẽ đống rơm khác của Monet của nhà sưu tập Palmer đã được bán với giá 81,4 triệu USD tại nhà Christie’s ở New York.

Một kỷ lục khác về giá tranh của Monet cũng được ghi cho bức Hồ hoa súng (vẽ khoảng năm 1914-1917), nguyên nằm trong bộ sưu tập của vợ chồng tỉ phú Peggy và David Rockefeller, đã được nhà Christie’s ở New York bán với giá gần 85 triệu USD vào tháng 5.2018.

Danh họa Claude Monet (1840-1926) được xem là họa sĩ bậc thầy - nhà khai sáng của trường phái hội họa ấn tượng. Tranh của Monet thường vẽ về phong cảnh thiên nhiên và tập trung vào một chủ đề nhất định nào đó.

Chùm tranh đống rơm của Claude Monet được vẽ vào cuối mùa hè năm 1890 đến mùa xuân năm 1891, tất cả đều được ông vẽ ở một cánh đồng lúa mì thuộc trang trại của một họa sĩ đồng nghiệp ở Giverny thuộc vùng Normandy ở Pháp.

Dù vẽ đến 25 bức tranh cùng chủ đề đống rơm, nhưng tranh của danh họa Monet không hề bị lặp lại, mỗi bức tranh đều có sự khác nhau bởi ánh sáng, thời tiết, sự tác động của bầu không khí lên chủ thể “đống rơm” trong từng thời điểm khác nhau trong ngày.

Đống rơm ở Giverny thuộc bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Boston (Mỹ)

Điều đặc biệt là hầu hết các bức tranh Monet vẽ từ năm 1883 cho đến ngày ông qua đời 40 năm sau đó đều là cảnh sắc ở một khu vực chỉ cách nhà ông chừng 3km, điều đó cho thấy với một tác giả lớn thì chẳng cần phải tìm kiếm đề tài xa lạ, cảnh vật thiên nhiên xung quanh cũng đủ để Claude Monet tạo nên kiệt tác.

Tiểu Vũ


Tác phẩm nổi tiếng vẫn không là “Bảo vật quốc gia”?

Tại sao “Thiếu nữ bên hoa huệ” của Tô Ngọc Vân hay các tác phẩm về phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái… không có tên trong danh sách “Bảo vật quốc gia” là thắc mắc của nhiều người yêu mến hội họa Việt thời gian qua.

Tác phẩm “Nhớ một chiều Tây Bắc” Ảnh: Nguồn Internet
Tác phẩm “Nhớ một chiều Tây Bắc” Ảnh: Nguồn Internet

Ơ lĩnh vực mỹ thuật, bảo vật quốc gia bao gồm hai mảng: Tranh và tượng. Những tác phẩm hội họa được công nhận “Bảo vật quốc gia” bao gồm: Tranh sơn mài “Vườn xuân Trung Nam Bắc” của Nguyễn Gia Trí; Tranh sơn mài “Thiếu nữ trong vườn” của Nguyễn Gia Trí; Tranh sơn mài “Dọc mùng” của Nguyễn Gia Trí (“Thiếu nữ trong vườn” và “Dọc mùng” vẽ trên hai mặt của bức “Bình phong”); Tranh sơn dầu “Hai thiếu nữ và em bé” của Tô Ngọc Vân; Tranh sơn dầu “Em Thúy” của Trần Văn Cẩn; Tranh sơn mài “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” của Nguyễn Sáng; Tranh sơn mài “Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc” của Dương Bích Liên; Tranh sơn mài “Gióng” của Nguyễn Tư Nghiêm; Tranh sơn mài “Thành đồng Tổ quốc” của Nguyễn Sáng.

Ông Vi Kiến Thành, Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm chỉ ra điểm riêng  của “Bảo vật quốc gia” ở mảng hội họa: “Bảo vật quốc gia ở lĩnh vực khác, kể cả tượng, trong lĩnh vực mỹ thuật, đều không có tên tác giả. Còn 9 bức tranh được công nhận “Bảo vật quốc gia” đều có tên tác giả kèm theo”. Và rắc rối cũng nảy sinh từ đây.

Phải là bản gốc, độc bản

Ngay cả người trong giới hội họa cũng chỉ hiểu: Bảo vật quốc gia là những hiện vật có giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử, được Nhà nước Việt Nam bảo vệ và bảo quản. Nhưng tiêu chí nào để công nhận một tác phẩm là “Bảo vật quốc gia” thì họ cũng lơ mơ. Ông Vi Kiến Thành cung cấp: “Theo khoản 1, Điều 1, Luật Di sản Văn hóa, sửa đổi năm 2009 thì “Bảo vật quốc gia” có những tiêu chí sau: Hiện vật gốc, độc bản; Hiện vật có hình thức độc đáo; Là tác phẩm nổi tiếng về giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách thời đại…” (Ở đây ông Vi Kiến Thành chỉ nhấn mạnh một số tiêu chí liên quan đến lĩnh vực mỹ thuật- PV).

Thời gian qua, một bộ phận dư luận đặt câu hỏi: Vì sao tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ” của Tô Ngọc Vân không được công nhận “Bảo vật quốc gia”? Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm bổ sung danh sách những tác phẩm nổi tiếng chưa được công nhận là “Bảo vật quốc gia”: “Ngoài “Thiếu nữ bên hoa huệ” của Tô Ngọc Vân, còn có một số tác phẩm khác rất quen thuộc, rất nổi tiếng như “Nhớ một chiều Tây Bắc”, sơn màu của Phan Kế An. Hay Bùi Xuân Phái hiện nay cũng chưa có bức nào được công nhận”.

Nguyên nhân được ông Vi Kiến Thành giải thích tường tận như sau: “Về bức “Thiếu nữ bên hoa huệ”, hiện nay không ai công khai mình đang là chủ sở hữu cả. Trong giới sưu tầm buôn bán tranh, người này mách người kia giữ”. Con trai danh họa Tô Ngọc Vân, họa sỹ Tô Ngọc Thành từng tiết lộ với báo chí, bức “Thiếu nữ bên hoa huệ” đã được bán cho nhà sưu tập đồ cổ Hà Thúc Cần với giá 15.000 đô. Song kiệt tác cũng đã bị trao đi đổi lại đến mức không ai biết đích xác hiện nay ai là chủ sở hữu thật sự của “Thiếu nữ bên hoa huệ”. Năm 2017, có thông tin, “Thiếu nữ bên hoa huệ” bản gốc thuộc quyền sở hữu của nhà sưu tập Bùi Quốc Trí, con trai nhà sưu tập Đức Minh… Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Triển lãm và Nhiếp ảnh khẳng định: “Đó chỉ là những thông tin trôi nổi. Hiện nay chủ sở hữu của “Thiếu nữ bên hoa huệ” chưa xác định rõ ràng. Thêm nữa, bức này xác định độc bản là rất khó, bởi chủ sở hữu còn không xác định được chính thức, công khai thì nó có độc bản hay không, cũng là câu hỏi đặt ra. Thực tế, trong đời sống có rất nhiều nghi ngờ bản này hay bản kia là bản gốc, cho nên hiện nay Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam không treo tranh đó. “Thiếu nữ bên hoa huệ” không thuộc tài sản của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Về nguyên tắc bảo tàng phải xác định được đó là tranh gốc và chủ sở hữu phải rõ ràng, họ mới có thể trưng bày. Đây là cái mắc của “Thiếu nữ bên hoa huệ”. 

Còn về “Phố Phái” ông Vi Kiến Thành cho biết: “Chiểu theo tiêu chí khác thì tác phẩm của Bùi Xuân Phái không bị mắc nhưng lại có tình trạng tranh bản gốc hay không phải bản gốc rất phức tạp. Người nào muốn xây dựng hồ sơ, đề nghị tác phẩm của ông Phái là “Bảo vật quốc gia” thì họ phải có hồ sơ rất đầy đủ chứng minh tác phẩm là bản gốc. Rất khó”.  Tác phẩm “Nhớ một chiều Tây Bắc” của Phan Kế An cũng rơi vào rắc rối: “Bảo tàng Mỹ thuật dự kiến làm hồ sơ để công nhận “Nhớ một chiều Tây Bắc” là “bảo vật quốc gia” rồi nhưng có nhược điểm là tác phẩm này, trong lúc Phan Kế An còn đang sáng tác, thì chính ông đã làm thêm 1,2 bản nữa. Nên chiểu theo tiêu chí độc bản là không đáp ứng được. Bất kể bức tranh nào bị mất tiêu chí gốc và độc bản thì không được công nhận”. Ông Vi Kiến Thành nói thêm: “Có không ít trường hợp tác giả chép lại tranh mình.  Đó là thói quen không hay của giới họa sỹ Việt Nam. Rất nhiều bản do chính tác giả chép, chưa nói đến nạn chép tranh do người này, người kia gây ra”.

Theo quan sát của Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, “Bảo vật quốc gia” ở mảng hội họa không bỏ sót tác phẩm nào đáng tiếc, trừ những tác phẩm đã nói ở trên. Ông Vi Kiến Thành băn khoăn nhất với tranh Bùi Xuân Phái: “Ông ấy xứng đáng được công nhận ít nhất 1,2 cái. Vấn đề là ai xây dựng hồ sơ, ai thuyết trình hồ sơ, ai có đầy đủ dữ liệu để chứng minh nó là bản gốc, độc bản”.

Thời gian đã kiểm định giá trị

Những tác phẩm được công nhận “Bảo vật quốc gia” đều của những danh họa nổi tiếng đã khuất. Vì sao? Theo họa sỹ Lương Xuân Đoàn: “Hiện nay chủ yếu “Bảo vật quốc gia” tính thế hệ các họa sỹ thế hệ vàng Đông Dương. Yếu tố thời gian khẳng định giá trị tác phẩm của họ. Bản thân người nghệ sỹ khi sáng tạo cũng không bao giờ nhăm nhăm tác phẩm của mình trở thành “Bảo vật quốc gia”. Đó là cả sự  cống hiến của các danh họa. Đặc biệt là cống hiến cho sự phát triển của nền mỹ thuật Việt Nam. Mỹ thuật thế hệ vàng Đông Dương đặt viên gạch đầu tiền cho nền mỹ thuật quốc gia. Họ là những họa sỹ tên tuổi ai cũng phải thừa nhận, với thời gian càng khẳng định điều đó”.

Vì sao các họa sỹ Việt Nam đương đại chưa có tác phẩm được công nhận “Bảo vật quốc gia”, họa sỹ Lương Xuân Đoàn cung cấp một cách nhìn: “Vì chưa đến tầm, ngay mỹ thuật thời đổi mới có thể gọi tên được họa sỹ nhưng tác phẩm mang tính để đời, thể hiện một dấu ấn, một cống hiến của một khuynh hướng sáng tác, sáng tạo nghệ thuật hay cả tầm ảnh hưởng của tác giả ấy trong nền mỹ thuật, không phải dễ tìm”.

Chưa thu hút sự quan tâm của người trong giới?

Họa sỹ Kim Thái, điêu khắc gia Tạ Quang Bạo đều nghe loáng thoáng về “Bảo vật quốc gia” song một tác phẩm được công nhận “Bảo vật quốc gia” trong lĩnh vực hội họa, điêu khắc cần thỏa mãn những tiêu chí gì thì các nghệ sỹ chưa để tâm, cũng chưa nghe ai phổ biến. Riêng họa sỹ Đoàn Văn Nguyên rất tích cực theo dõi thông tin xung quanh “Bảo vật quốc gia” ở mảng hội họa. Con trai của cố thi sĩ Đoàn Văn Cừ thấy vẫn còn một vài tác phẩm khác của các danh họa, hoàn toàn xứng đáng là “Bảo vật quốc gia”: “Tranh “Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc” của Dương Bích Liên xứng đáng rồi. Nhưng theo tôi, thầy Liên còn một kiệt tác nữa phải được công nhận là “Chiều vàng”. Hay Nguyễn Tư Nghiêm còn “ Điệu múa cổ”, Nguyễn Sáng còn “Vũ trụ”, đẹp lắm. Cái đó là đỉnh cao của ông ấy”.


Bức tranh khắc họa đống rơm tăng giá 45 lần lên… 2.500 tỷ đồng

 Bức tranh khắc họa đống rơm tăng giá 45 lần lên… 2.500 tỷ đồng sau ba thập kỷ.
Bức tranh khắc họa đống rơm tăng giá 45 lần lên… 2.500 tỷ đồng - 1

Bức “Meules”

Bức tranh nằm trong bộ tranh “Haystacks” (Những đống rơm) của danh họa người Pháp Claude Monet (1840 - 1926). Tác phẩm vừa được bán ra với giá 110,7 triệu USD (tương đương 2.574 tỷ đồng) tại New York (Mỹ). Mức giá này xác lập một kỷ lục mới về giá trả cho một tác phẩm hội họa của họa sĩ người Pháp theo trường phái Ấn tượng.

Bức tranh sơn dầu của Claude Monet có tên gọi “Meules” được vị danh họa thực hiện vào năm 1890. Đây là tác phẩm hội họa đầu tiên theo trường phái Ấn tượng đạt mức giá hơn 100 triệu USD tại một cuộc đấu giá, cũng là mức giá cao nhất từng được trả tại cuộc đấu giá cho một tác phẩm của Monet, người sáng lập ra trường phái Ấn tượng trong hội họa Pháp.

Bức “Meules” là một trong 25 bức họa nằm trong loạt tranh “Haystacks” của Claude Monet khắc họa những đống rơm trên cánh đồng sau mùa thu hoạch ở xã Giverny, Pháp.

Bức tranh khắc họa đống rơm tăng giá 45 lần lên… 2.500 tỷ đồng - 2

Bức “Meules” của danh họa Claude Monet vừa được bán ra với giá 110,7 triệu USD tại một cuộc đấu giá.

Những tác phẩm của Monet vốn nổi tiếng trong lịch sử hội họa bởi khả năng khắc họa ánh sáng. Các tác phẩm của ông có tầm ảnh hưởng lớn đối với những biến chuyển của trường phái Ấn tượng.

Các tác phẩm trong sê-ri tranh “Haystacks” hiện đang được trưng bày tại các viện bảo tàng nổi tiếng trên thế giới, như bảo tàng Getty Center ở Los Angeles (Mỹ), bảo tàng Musee D’Orsay ở Paris (Pháp) hay bảo tàng mỹ thuật Metropolitan ở New York (Mỹ).

Nhà đấu giá Sotheby cho hay rằng tác phẩm đã từng được một nhân vật giàu có ở Chicago (Mỹ) mua thẳng từ người đại diện của danh họa Monet sau khi ông hoàn thành xong tác phẩm.

Kể từ ấy, bức họa vẫn nằm trong sự trưng bày và bảo quản của gia đình cho tới khi họ đem rao bán đấu giá hồi năm 1986. Khi ấy, người chủ hiện tại của tác phẩm mua tranh với giá 2,53 triệu USD. Giờ đây, sau hơn ba thập kỷ, bức tranh đã tăng giá gần 45 lần.

Bích Ngọc
Theo Daily Mail


Chủ nhật, 5/5/2019, 08:38 (GMT+7)

Bảy bức tranh là 'Bảo vật quốc gia'

"Vườn xuân Trung Nam Bắc' của Nguyễn Gia Trí, "Em Thúy" của Trần Văn Cẩn, "Thanh niên thành đồng" của Nguyễn Sáng... mang giá trị văn hóa, lịch sử.

Bảy bức tranh là 'Bảo vật quốc gia'Vườn xuân Trung Nam Bắc" của danh họa Nguyễn Gia Trí. Tác phẩm ra đời trong giai đoạn đất nước còn chiến tranh, khởi đầu từ năm 1969 và hoàn thành năm 1989. Họa phẩm mô tả không khí ngày xuân và hình ảnh các thiếu nữ ba miền Trung, Nam, Bắc trong trang phục truyền thống, trảy hội xuân với khung cảnh chùa chiền, cây cối. Tác phẩm là sự tổng hợp mọi thành tựu trong nửa thế kỷ tìm tòi sáng tạo về nghệ thuật sơn mài. Đây là bức tranh có thời gian tâm huyết lâu nhất, ứng dụng nhiều đúc kết trong nghệ thuật, có kích thước lớn nhất và là một trong những sáng tác cuối cùng của họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Năm 1990, tác phẩm được Ủy ban Nhân dân TP HCM mua để trao tặng cho Bảo tàng Mỹ Thuật TP HCM. Tranh được trưng bày và lưu giữ tại đây từ đó đến nay. Năm 2013, Chính phủ công nhận tác phẩm là "Bảo vật quốc gia". Gần đây, tranh bị phát hiện hỏng hơn 30% sau quá trình tu sửa. Vì không hiểu biết về nghệ thuật hội họa sơn mài, thợ sửa đã dùng nước rửa chén, bột chu, giấy nhám can thiệp quá mức bề mặt tranh.

" id="vne_slide_image_0">

Bảo vật quốc gia là những hiện vật có giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử, được Nhà nước Việt Nam bảo vệ và bảo quản. Việc công nhận danh hiệu Bảo vật quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quyết định sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia. Đến nay, Việt Nam có bảy bức tranh được nhân danh hiệu này. 

Một trong số các "Bảo vật quốc gia" tiêu biểu là tranh "Vườn xuân Trung Nam Bắc" của danh họa Nguyễn Gia Trí. Tác phẩm ra đời trong giai đoạn đất nước còn chiến tranh, khởi đầu từ năm 1969 và hoàn thành năm 1989. Họa phẩm mô tả không khí ngày xuân và hình ảnh các thiếu nữ ba miền Trung, Nam, Bắc trong trang phục truyền thống, trảy hội xuân với khung cảnh chùa chiền, cây cối. Tác phẩm là sự tổng hợp mọi thành tựu trong nửa thế kỷ tìm tòi sáng tạo về nghệ thuật sơn mài. Đây là bức tranh có thời gian tâm huyết lâu nhất, ứng dụng nhiều đúc kết trong nghệ thuật, có kích thước lớn nhất và là một trong những sáng tác cuối cùng của họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Năm 1990, tác phẩm được Ủy ban Nhân dân TP HCM mua để trao tặng cho Bảo tàng Mỹ Thuật TP HCM. Tranh được trưng bày và lưu giữ tại đây từ đó đến nay. Năm 2013, Chính phủ công nhận tác phẩm là "Bảo vật quốc gia". Gần đây, tranh bị phát hiện hỏng hơn 30% sau quá trình tu sửa. Vì không hiểu biết về nghệ thuật hội họa sơn mài, thợ sửa đã dùng nước rửa chén, bột chu, giấy nhám can thiệp quá mức bề mặt tranh.

Bức "Bình phong" của danh họa Nguyễn Gia Trí, có kích thước 128 x 37 x 44 cm, được ghép lại từ tám tấm ván. Mặt trước là tranh "Thiếu nữ trong vườn", khắc họa vẻ đẹp đằm thắm của các cô gái đang độ xuân thì trong tà áo dài. PGS.TS Bùi Thị Thanh Mai nhận xét tác phẩm toát lên vẻ "cao sang và trang nhã", thể hiện khả năng dùng sơn mài và các nguyên liệu như vỏ trứng, bạc, vàng... của danh họa. 

Mặt còn lại bức "Bình phong" là tranh "Dọc mùng". Trái với nét mềm mại của "Thiếu nữ trong vườn", "Dọc mùng" toát lên vẻ khỏe khoắn, mạnh mẽ. "Bình phong" ra đời năm 1944, hiện được trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. 

Bảy bức tranh là 'Bảo vật quốc gia' Cục Di sản Văn hóa nhận xét bức tranh là tác phẩm tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20, mang phong cách riêng biệt của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Tác phẩm kế thừa phong cách tạo hình phương Tây nhưng mang tinh thần phương Đông qua những hình ảnh giản dị như tà áo dài, chõng tre, cây vông... "Hai thiếu nữ và em bé" sử dụng chất liệu sơn dầu, hiện trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. 

" id="vne_slide_image_3">

"Hai thiếu nữ và em bé" của danh họa Tô Ngọc Vân ra đời năm 1944. Tranh tái hiện không gian yên bình với hai cô gái ngồi tâm sự ngoài hiên, bên cạnh là chú bé đang chơi đùa. Ba nhân vật được đặt trong bố cục tam giác, ở một khung hình dọc. 
Cục Di sản Văn hóa nhận xét bức tranh là tác phẩm tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20, mang phong cách riêng biệt của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Tác phẩm kế thừa phong cách tạo hình phương Tây nhưng mang tinh thần phương Đông qua những hình ảnh giản dị như tà áo dài, chõng tre, cây vông... "Hai thiếu nữ và em bé" sử dụng chất liệu sơn dầu, hiện trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. 

Bảy bức tranh là 'Bảo vật quốc gia'" id="vne_slide_image_4">

Tranh "Em Thúy" của họa sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1943 bằng chất liệu sơn dầu, kích thước 60 x 45 cm. Họa sĩ vẽ chân dung cô bé gần nhà. Trong tranh, Thúy ngồi trên ghế mây, trước tấm rèm hoa, hơi nghiêng người, tay nắm lại. Gương mặt sáng, bầu bĩnh làm nổi bật đôi mắt đen láy. "Em Thúy" là tác phẩm chân dung tiêu biểu của nền mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20. Năm 2003, tranh từng bị xuống cấp, sau đó được chuyên gia Australia - Caroline Fry - phục chế tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Tác phẩm được công nhận là "Bảo vật quốc gia" năm 2013. 

Bức "Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ" được Nguyễn Sáng sáng tác năm 1963, bằng chất liệu sơn mài. Ngoài giá trị văn hóa, thẩm mỹ, tác phẩm được đánh giá cao nhờ giá trị lịch sử. "Tranh ghi lại chân thực hình ảnh cuộc kết nạp đảng ở Điện Biên Phủ, phản ánh tinh thần hào hùng, quyết liệt của cuộc chiến lịch sử của dân tộc - kháng chiến chống Pháp. Bức tranh góp một phần quan trọng vào việc nghiên cứu các giá trị lịch sử căn bản để dẫn đến thắng lợi lừng lẫy của chiến dịch Điện Biên Phủ", Cục Di sản Văn hóa nhận xét.
Tác phẩm được công nhận là "Bảo vật quốc gia" năm 2013, hiện trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. 

Tranh "Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc" được Dương Bích Liên sáng tác năm 1980, lấy cảm hứng từ những ngày gần gũi Chủ tịch năm 1952. Tác phẩm khắc họa cảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và con ngựa chuẩn bị băng qua dòng suối chảy cuồn cuộn với dáng vẻ ung dung. Bức vẽ cũng gợi không gian núi rừng với màu xanh bạt ngàn. 
"Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc" được vẽ bằng sơn mài, kích thước 99,8 x 180 cm, được công nhận là "Bảo vật quốc gia" năm 2017, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. 


"Gióng" của Nguyễn Tư Nghiêm sáng tác bằng sơn mài năm 1990, kích thước 90 x 120,3 cm. Tác phẩm tạo hình anh hùng Gióng trong truyền thuyết bằng ngôn ngữ lập thể ảnh hưởng phương Tây, bao gồm nhiều nét kỷ hà (những hình đơn giản như vuông, tam giác, tròn, kim cương, hình thang, bán nguyệt… hay các khối trụ, cầu). Ngoài ra, họa sĩ đan xen nhiều họa tiết, hoa văn vận dụng từ nghệ thuật Đông Sơn trên trang phục của Gióng và vũ khí rìu đồng, lá chắn ngực...

Tranh sơn mài "Gióng" từng giành giải nhất trong triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1990. Cùng năm, Bảo tàng Mỹ thuật mua lại bức tranh này, hiện nay còn giữ được giấy thông báo mua tác phẩm gửi họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm có lưu bút và chữ ký đồng ý bán tranh của ông. Bức tranh được giới nghệ sĩ đánh giá có giá trị nghệ thuật đặc sắc, đề cao truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tác phẩm được công nhận là “Bảo vật quốc gia” năm 2017, trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. 

Bức "Thanh niên thành đồng" là tác phẩm thứ hai của Nguyễn Sáng được công nhận là "Bảo vật quốc gia". Theo tài liệu của Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, "Thanh niên thành đồng" sử dụng chất liệu sơn mài, hoàn thành năm 1978. Bức tranh độc bản mô tả cảnh học sinh, sinh viên Sài Gòn biểu tình chống chiến tranh trong những năm 1960, phản đối sự có mặt của lính Mỹ tại Việt Nam. Bìa trái là hai lính Mỹ tay lăm lăm súng chĩa về phía đám đông. Để nhấn mạnh tinh thần bất khuất của thanh niên, trên mép tranh Nguyễn Sáng còn đề thêm hai từ tiếng Anh "Go home" và một từ tiếng Việt "Cút". Tác phẩm được tác giả chuyển nhượng cho Bảo tàng TP HCM năm 1980 và sau này chuyển giao qua Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM theo quyết định của Sở Văn hóa - Thông tin thành phố.

Hà Thu




Vụ scandal nhục nhã chấn động đằng sau một trong những bức họa gợi cảm nhất thế giới

“Madame X” - một đề cử kinh điển của nền mỹ thuật đương đại, cũng là tác phẩm ấn tượng thực hiện bởi họa sĩ người Mỹ John Singer Sargent. Tuy nhiên ít ai biết, chân dung mỹ nhân quyến rũ trong bộ đầm bó eo duyên dáng - nhân vật chính không được đề tên, từng ẩn chứa một bí mật đầy tủi nhục.

Nếu có dịp nhìn ngắm “Madame X” (hiện trưng bày ở bảo tàng nghệ thuật Metropolitan, New York, Mỹ), hẳn bạn sẽ khó lòng hình dung vì sao bức họa nổi tiếng này một thời chịu chỉ trích nặng nề khi ra mắt tại Paris năm 1884.

“Madame X” và Sargent bên trong xưởng vẽ của ông tại Paris. Năm 1883. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Giữa khung tranh bằng vàng lộng lẫy hiện hữu một phụ nữ tuyệt sắc với nước da trắng ngần. Đứng tựa vào chiếc bàn tròn, người đẹp dễ dàng cuốn hút mọi đôi mắt thưởng ngoạn. Dáng vóc nàng gợi cảm với thiết kế đầm dạ hội màu đen, dây vai đính đá quý. Khuôn mặt thanh tú khẽ nghiêng sang bên, giúp tôn thêm nét nụt nà của cánh mũi và chiếc cằm nhỏ xinh.

Ngày nay, “Madame X” đơn thuần trông như một bức vẽ chân dung tao nhã. Chủ thể tác phẩm là một phụ nữ đẹp diện trang phục đắt đỏ thuộc tầng lớp quý tộc.

Sự thật về ‘quý bà không tên’ trên tấm tranh - Virginie Amélie Avegno Gautreau, thế nhưng, lại là câu chuyện nhiễu nhương, đi kèm đầy rẫy chi tiết bê bối tình ái, vốn từng khiến chính người trong cuộc đau khổ cùng cực. Sinh thời, bản thân Sargent cũng bị hủy hoại danh tiếng đến mức phải rời nước Pháp, dưới đả kích lớn từ dư luận đương thời xoay quanh nguồn gốc bức họa.

Vì sao xã hội Paris đồng loạt lên án bức chân dung ngay khi nó được giới thiệu? Phải chăng yếu tố ‘lả lơi’ - gợi cảm nơi bức vẽ khiến nó bị bài trừ? Hay còn ẩn khuất nào phức tạp hơn?

“Madame X”

Sargent sinh tại Ý năm 1856, cha là một bác sĩ người Mỹ. Cha mẹ ông, sống lưu đày xa khỏi quê hương Hoa Kỳ, thường xuyên di chuyển khắp châu Âu. Mặc dù được liệt vào tầng lớp quý tộc, gia cảnh vị họa sĩ, trên thực tế, luôn ‘nằm’ ngoài rìa định nghĩa sung túc.

Phải chật vật gìn giữ hình tượng giàu sang, nhưng mẹ Sargent vẫn cố gắng để con trai được theo học nghề tại một xưởng vẽ uy tín hàng đầu Paris. Năm 1877, lần đầu tiên Sargent may mắn có tranh được chọn trưng bày tại The Salon (sự kiện triển lãm danh giá bậc nhất châu Âu thời bấy giờ, tổ chức bởi Học viện Mỹ thuật Pháp). Thành công sau triển lãm nhanh chóng giúp danh họa tìm thấy nhiều hợp đồng vẽ mới, phần lớn là những dự án họa chân dung cho phụ nữ quý tộc.

Dẫu nhận về hàng loạt yêu cầu vẽ tranh, Sargent có tham vọng nghệ thuật của riêng ông. Ông gặp ‘quý bà’ Gautreau, một phu nhân xinh đẹp thuộc tầng lớp thượng lưu Paris, lần đầu vào khoảng năm 1880. Lập tức bị ‘hút hồn’ trước vẻ kiều diễm ở Gautreau, Sargent quyết tâm họa hình bà - duy lần này không vì một cam kết nào khác ngoài đam mê cá nhân

Tồn tại một số nghi vấn cho rằng Gatreau quen biết Sargent thông qua một nhân tình, người bà từng lén lút qua lại sau lưng chồng. Tuy nhiên, trong cuốn tiểu sử nổi tiếng ‘Strapless’ viết về cuộc đời Gautreau, nữ văn sĩ và tác gia kỳ cựu Deborah Davis khẳng định, vị họa sĩ khi này đã dùng “đủ cách thuyết phục” người đẹp làm mẫu cho ông, sử dụng tất cả mối quan hệ xã hội có thể để kết thân cùng bà.

Cuối cùng đã đồng ý hợp tác, Gautreau, xinh đẹp hơn người, tuy nhiên lại là ‘nàng thơ’ đặc biệt khó nắm bắt. Bà không muốn được họa chân dung tại Paris. Thay vào đó, Gatreau đề nghị Sargent tháp tùng bà và chồng đến dinh thự mùa hè ở bán đảo Brittany (miền bắc nước Pháp). Mặt khác, suốt quá trình ngồi trước giá vẽ, Gautreau thường xuyên bồn chồn và mệt mỏi. Một bức vẽ nháp chân dung bà của Sargent cho thấy hình ảnh người phụ nữ nằm uể oải trên ghế dài, với ánh nhìn thờ ơ.

Một số bản vẽ mẫu Sargent thực hiện về phu nhân Gautreau, năm 1883-1884.

Nữ tác gia Davis mô tả trong ‘Strapless’: “Phu nhân Gautreau tỏ ra thiếu kiên nhẫn do chu trình vẽ chân dung thường kéo dài đằng đẳng. Khi làm mẫu, bà bị buộc đứng hay ngồi một tư thế hàng giờ. Giữa lúc ấy, căn dinh thự luôn ồn ào, hỗn độn vì những buổi dạ tiệc, gặp gỡ, vui chơi diễn ra không ngưng nghỉ”.

Sargent phải liên tục đi và về Paris vì dự án chân dung Gatreau, đến mức ông bắt đầu thấy chán chường. Trong thư gửi người bạn thân, nhà văn Vernon Lee, ông viết: “Thư anh vừa đến tay tôi, trong lúc tôi vẫn ‘mắc kẹt’ nơi căn biệt thự đồng quê này, với một dáng vóc đẹp nhưng thật khó họa hình, cùng sự mệt mỏi đến vô vọng của quý phu nhân Gautreau”.

Qua vô số bản vẽ nháp, vài tấm tranh mẫu bị loại đi, Sargent sau cùng đã hoàn thành bức chân dung ông khao khát từ lâu, kịp lúc để ra mắt tại sự kiện The Salon năm 1884. Ông đề tựa tác phẩm: “Portrait of Mme***”. Hầu hết kinh đô Paris đều ‘quay lưng’ với tác phẩm.

Tương tự bức vẽ chân dung, quý bà Gautreau ngoài đời thực bị lăng nhục, nhạo báng tại gần như mọi phòng tranh quanh Paris. Giới thượng lưu đương thời ngay lập tức liên hệ hình ảnh bộ váy bó eo có dây vai mỏng manh, chi tiết áo xẻ sâu tôn bầu ngực, đến những lời đồn thổi trước đó về phong thái gợi cảm vốn có ở Gautreau và ‘bộ sưu tập’ tình nhân vô thừa nhận của bà.

John Singer Sargent. “Madame Gautreau Drinking a Toast”. Năm 1882-83. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Người chồng hợp pháp của Amélie Avegno Gautreau, theo cách nhà viết tiểu sử Miranda Seymour đề cập trong một bài bình trên tờ New York Times, là “một người đàn ông thấp bé, xấu trai và gấp đôi tuổi Amélie”. Có thể đoán người phụ nữ quý tộc không tận hưởng đời sống hôn nhân hạnh phúc, nhưng điều đó không ngăn được vô số chỉ trích nặng nề từ công chúng Paris, cho rằng Gautreau đáng nhận điều tiếng như một cô vợ lẳng lơ.

Bên cạnh đó, cánh phê bình mỹ thuật ‘nặng lời’ không kém khi nhận xét bức vẽ gây tranh cãi của Sargent ngay thời điểm nó xuất hiện: “Tác phẩm mới nhất từ Sargent trông không khác một tranh biếm họa”.

Gia đình phu nhân Gautreau, nhất là mẹ bà, tức giận đến nỗi công khai than thở trên tờ báo Tribune lúc bấy giờ, “cả Paris đang cười nhạo con gái tôi… cuộc đời con bé đã bị hủy hoại hoàn toàn”. Tấn bi kịch từ bức tranh, quả thật, buộc Gautreau rút lui hẳn khỏi xã hội thượng lưu Paris. Không lâu sau khi những cáo buộc ‘vụng trộm’, bà biến mất, sống kín tiếng suốt phần đời còn lại.

Trong khi ấy, Sargent phải lo lắng cho danh dự và sự nghiệp của ông. Làn sóng phê bình dồn dập, nặng nề ‘đánh’ vào tác phẩm buộc vị họa sĩ phải vẽ lại chi tiết dây vai để chiếc váy trông đứng đắn hơn. Năm 1886, mong muốn thoát khỏi sự tủi nhục do bức tranh gây nên, Sargent âm thầm rời Pháp đến London định cư. Ông không bao giờ cân nhắc việc vẽ ‘theo đam mê’ nữa.

Tuy nhiên, để bồi hoàn phần nào danh dự cho phu nhân Gautreau, Sargent cuối cùng đã làm một nghĩa cử quan trọng: trước khi gửi bức chân dung đến bảo tàng Metropolitan năm 1916, ông cương quyết yêu cầu nơi này giữ kín danh tiếng người phụ nữ trong tranh. Cái tên “Madame X” ra đời vì thế.

Bức tranh, có lẽ, nổi tiếng toàn cầu do những ồn ào xung quanh nó, hơn cả bởi giá trị nghệ thuật nó chứa đựng.

Đến nay, chuẩn mực về sự gợi cảm cùng tư tưởng tự do tính dục ở người phụ nữ đang có những đổi thay đáng kể, so với thời điểm “Madame X” được giới thiệu lần đầu tại Pháp.

Một quý bà duyên dáng với bộ váy đen quyến rũ, tuy nhiên, đã trở nên ‘bất tử’ trong khung tranh của Sargent.

Như Ý (theo Artsy)

'Bảo vật quốc gia' Việt Nam hỏng hơn 30% do vệ sinh bằng nước rửa chén

Thợ sửa đã không hiểu về sơn mài nên can thiệp quá mức vào bức họa "Vườn xuân Trung Nam Bắc".

Ông Vi Kiến Thành - Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm - vừa báo cáo Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch về việc kiểm tra bảo quản tranh Vườn xuân Trung Nam Bắc của cố danh họa Nguyễn Gia Trí. Năm 2018, Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM giao việc vệ sinh tranh cho ông Lưu Minh Phụng, thợ sửa sơn mài ở TP HCM. Vì không hiểu biết về nghệ thuật hội họa sơn mài, ông Phụng dùng nước rửa chén, bột chu, giấy nhám can thiệp quá mức bề mặt tranh.

Tranh Vườn xuân Trung Nam Bắc sau khi được vệ sinh, trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM chiều 23/4. Ảnh: Mai Nhật.

Tranh "Vườn xuân Trung Nam Bắc" sau khi được vệ sinh, trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM chiều 23/4. Ảnh: Mai Nhật.

Đại diện Cục đánh giá tinh thần, không gian của tác phẩm đã bị tổn hại khoảng 30%. "Do bị tác động vào bề mặt, tác phẩm mất đi lớp sơn bề mặt nên sự uyển chuyển, tinh tế liên kết giữa các mảng son, mảng vỏ trứng, mảng dát vàng trong tranh Nguyễn Gia Trí đã không còn giữ được", ông Vi Kiến Thành nhận xét. Về góc độ vật chất, tác phẩm hư hại khoảng 15%, do các mảng vỏ trứng trơ ra, các mảng dát vàng bị mài mòn, mảng hình tiếp giáp nhau bị lộ, mất đi sự uyển chuyển giữa mảng và nét.

Tác phẩm Vườn xuân Trung Nam Bắc trước khi làm vệ sinh.

Tác phẩm "Vườn xuân Trung Nam Bắc" trước khi làm vệ sinh.

Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm kiến nghị tác phẩm là "bảo vật quốc gia", cần được lưu giữ, bảo quản ở chế độ đặc biệt. Cục đề xuất Sở Văn hóa - Thể thao TP HCM chỉ đạo Bảo tàng Mỹ thuật lập dự án tu sửa tác phẩm thận trọng, khoa học, khắc phục hư hại một cách tốt nhất. Bảo tàng cần làm thử nghiệm trước một số vị trí trên tranh, giao việc tu sửa tác phẩm cho họa sĩ Nguyễn Xuân Việt - học trò cố danh họa Nguyễn Gia Trí, một trong những người phát hiện tình trạng hư hại của bức tranh - hoặc họa sĩ khác có chuyên môn, uy tín trong nghề.

Hình ảnh các thiếu nữ trên mặt tranh. Theo nhiều ý kiến nhận xét sau khi được tu sửa, tranh bóng loáng như được phủ sơn chứ không phải là kỹ thuật sơn mài. Ảnh: Mai Nhật.

Hình ảnh các thiếu nữ trên mặt tranh. Nhiều ý kiến nhận xét sau khi được tu sửa, tranh bóng loáng như được phủ sơn chứ không phải là kỹ thuật sơn mài. Ảnh: Mai Nhật.

Cục cho rằng lãnh đạo và cán bộ Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM cần rút kinh nghiệm sâu sắc, vì đã tùy tiện trong công tác bảo quản - ứng xử với hiện vật, đặc biệt là bảo vật quốc gia. Cục Di sản Văn hóa cũng cần sớm tham mưu cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để ban hành văn bản hướng dẫn, bảo quản các bảo vật quốc gia.

Trước đó, giới hội họa xôn xao về việc bức sơn mài Vườn xuân Trung Nam Bắc (khổ 200x540 cm) bị hư hỏng sau tu sửa. Tác phẩm được danh họa Nguyễn Gia Trí sáng tác khởi đầu từ năm 1969 (giai đoạn đất nước còn chiến tranh) và hoàn thành năm 1989. Họa phẩm mô tả không khí ngày xuân thanh bình với hình ảnh các thiếu nữ ba miền Trung, Nam, Bắc mặc trang phục truyền thống, trảy hội xuân trong khung cảnh chùa chiền, cây cối.

Cố họa sĩ Nguyễn Gia Trí. Ảnh chụp lại từ tư liệu.

Cố họa sĩ Nguyễn Gia Trí. 

Bức tranh là tâm huyết, ứng dụng nhiều đúc kết trong nghệ thuật sơn mài, có kích thước lớn nhất và là một trong những sáng tác cuối cùng của họa sĩ Nguyễn Gia Trí. Năm 1991, tác phẩm được Ủy ban Nhân dân TP HCM mua với giá 100.000 USD và trao tặng cho Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Tranh được trưng bày và lưu giữ tại đây từ đó đến nay. Năm 2013, Chính phủ công nhận tác phẩm là "Bảo vật quốc gia".

Danh họa Nguyễn Gia Trí sinh năm 1908 tại Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1936. Ông tổ chức những triển lãm đầu tiên năm 1939 - 1940. Năm 1954, ông chuyển vào Sài Gòn sinh sống và làm việc. 

Nguyễn Gia Trí được xem là một trong những họa sĩ đi đầu trong việc tạo dựng khuynh hướng mới của nghệ thuật sơn mài. Ông góp phần đưa sơn mài Việt Nam lên đỉnh cao với sự kết hợp giữa yếu tố văn hóa truyền thống Á Đông của người Việt Nam trên chất liệu sơn ta và phương pháp hội họa hàn lâm phương Tây. Năm 1989, họa sĩ Nguyễn Gia Trí được Bộ Văn hóa công nhận là một trong những họa sĩ đương đại có công trong việc xây dựng nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại. Ông mất tại TP HCM năm 1993. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2012.

Mai Nhật




Bức sơn dầu tiền tỷ của Nam Sơn xứng đáng là kiệt tác của thế giới

Bức sơn dầu tiền tỷ của Nam Sơn xứng đáng là kiệt tác của thế giới

Thứ Năm, 04/04/2019 10:00 GMT+7
Ngày 12/4/2019 tại Pháp, nhà đấu giá Aguttes sẽ đưa lên sàn đấu danh tiếng Drouot tại Paris (sảnh 9, lúc 14h30) bức tranh sơn dầu có tên Portrait d'un vieux paysan de Kim Liên (Ông già Kim Liên) của họa sĩ Nam Sơn, với giá dự kiến từ 100.000 đến 150.000 EUR.Đây là lần đầu tiên một bức sơn dầu của họa sĩ đồng sáng lập Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương lên sàn đấu giá.
Báo Thể thao và Văn hóa trân trọng giới thiệu bài phân tích của nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi về tác phẩm đặc sắc này. Để xem xét trên quan điểm kỹ thuật cũng như phương diện lịch sử hội họa Việt Nam vì saoÔng già KimLiên xứng đáng được hiện diện trong những bộ sưu tập lớn nhất trên thế giới.
Những tranh sơn dầu đầu tiên của Việt Nam
Ra đời đã gần 100 năm, bức tranh sơn dầu có tên Ông già KimLiên là một trong những tác phẩm danh tiếng của Nguyễn Nam Sơn, đã được nhắc đến trong rất nhiều những biên khảo, sách vở cũng như luận án liên quan đến nền mỹ thuật Việt Nam thời kỳ Đông Dương.
Chú thích ảnh
Bức "Portrait d'un vieux paysan de Kim Liên" (Ông già Kim Liên) được nhà đấu giá Aguttes chọn làm bìa 4 vựng tập
Với kích thước 40,2cm x 52,3cm, sáng tác vào năm 1926, điều đặc biệt cần nhấn mạnh là tác phẩm này được thể hiện bằng chất liệu sơn dầu, một kỹ thuật hoàn toàn xa lạ và mới mẻ đối với người An Nam vào thời đó.
Nam Sơn tự học sơn dầu rất sớm. Tại HàNội vào đầu thế kỷ 20, những cuộc đấu xảo (hội chợ) được tổ chức, là những sự kiện làm nổi bật đời sống văn hóa và nghệ thuật. Vào năm 1923, một cuộc đấu xảo do Hội Khai trí tiến đức tổ chức, đã kêu gọi và quy tụ nhiều tài năng mới.
Chú thích ảnh
Nam Sơn là đồng sáng lập Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương
Lần đầu tiên trong cuộc đời nghệ sĩ, Nam Sơn tham gia triển lãm, những tấm tranh sơn dầu Nhà nho xứ Bắc, Tĩnh vật của Nam Sơn đã làm ông trở thành một trong những người vẽ tranh sơn dầu đầu tiên của nước Việt Nam.
Chính vì nhận thấy kỹ thuật vẽ sơn dầu tuy tự học nhưng có rất nhiều triển vọng này, trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với Nam Sơn, Victor Tardieu đã quyết định chấp nhận hướng dẫn chàng trai trẻ đầy đam mê ấy vào con đường nghệ thuật.
Cuộc hạnh ngộ bất ngờ và kỳ diệu đó đã đưa hội họa Việt Nam, vốn dĩ có nhiều ảnh hưởng Trung Hoa, vào một bước ngoặc lịch sử, và lập ra một nền móng nghệ thuật Việt Nam hoàn toàn mới lạ mà sau này tiếng tăm đã lừng lẫy khắp hoàn cầu: Sự thành lập Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1924.
Chú thích ảnh
Chữ ký trên tranh, chụp chi tiết
Năm 1926, Nam Sơn tiếp tục nhuần nhuyễn với kỹ thuật sơn dầu, theo xu hướng ngày càng thiên về một nghệ thuật dung hòa giữa phong cách cổ xưa và tân thời, kết hợp tính hiện đại Tây phương vào các ước lệ truyền thống Á Đông. Ông già Kim Liên được ra đời với tinh thần ấy.
Một số nhà nghiên cứu cũng như trong vài tài liệu đã nhầm lẫn khi ghi rằng Ông già Kim Liên được vẽ năm 1923, và đã triển lãm tại Hội Khai trí tiến đức cùng với Nhà nho xứ BắcTĩnh vật đã nói ở trên.
Người sở hữu bức tranh đã tìm đến gặp bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm, con gái thứ ba của họa sĩ Nam Sơn, hiện nay 87 tuổi, để nghe bà kể chuyện về tác phẩm danh tiếng của đấng sinh thành. Trước tranh, bà Ngọc Trâm bồi hồi nhớ lại dĩ vãng thời thơ ấu cách đây gần 80 năm. Thuở còn tấm bé bà đã từng có dịp ngắm nhìn gương mặt gầy gò của người đàn ông trong tranh, với trí óc con trẻ, lòng ngây thơ tự hỏi tại sao bao nhiêu trai thanh gái lịch, ông già nông dân này có điểm gì đặt biệt để cha của mình thể hiện lên tranh?
Một phong thái mới
Quả nhiên, chân dung Ông già KimLiên có một phong thái mới. Tổng thể, bức tranh diễn tả chân dung một người đàn ông, dáng ngồi nghiêng, ánh mắt nhìn về xa xa... Gương mặt ông trầm tư, có vẻ khắc khổ với đôi chân mày nhíu lại, ngực để trần lộ ra nét gầy gò rạm nắng. Đầu ông vấn chiếc khăn cũ kỹ, màu sắc đã phai mờ theo thời gian.
Chú thích ảnh
Phải chăng vì vẻ đặc thù này mà bức tranh được chú ý và trở thành tiêu điểm?
Cơ thể học thể hiện rõ ràng ông là một người Á Đông, có dáng dấp đặc biệt của người nông thôn miền kinh Bắc đất Việt. Miệng ông hô (vẩu) một cách đặc trưng, tạo nên phong thái riêng biệt, với cái nhìn của người ngoại quốc ông có nét duyên dáng nổi bật khó quên. Phải chăng chính vì vẻ đặc thù này mà ông được Nam Sơn chọn đưa lên tranh?
Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm kể rằng, với cái nhìn sắc bén và nhy cảm, Nam Sơn thường chọn những người mẫu tình cờ bên đường, từ lão nông dân, ông bán lạc rang, người làm thuê, đến anh gánh hàng rong hoặc ngay cả người hành khất… Bà đã từng chứng kiến cha của mình vừa miệt mài vẽ dưới bóng râm bên đường, hoặc ven đình chùa miền quê…, vừa trò chuyện giải khuây người mẫu ngẫu nhiên, và cuối cùng là phần thưởng hậu hĩ dành riêng cho họ.
Ads by AdAsia
Chú thích ảnh
Thủ bút trên mặt sau bức tranh của ông Nguyễn Văn Lâm
Phong thái Tây phương để lại nhiều dấu vết trên hậu cảnh bức tranh. Những tán cây được hình dung bằng những mảng màu lớn, như một bức thảm hoa lá dệt thêu, được diễn tả theo lối nhìn Âu châu. Thấp thoáng màu vàng đất đậm nhạt, nhưng màu xanh lá cây chiếm ưu thế với nhiều sắc độ khác nhau.
Victor Tardieu đã từng tuyên bố với sinh viên rằng đất nước Đông Dương được thiên nhiên ưu đãi một màu xanh huyền diệu, với muôn nghìn sắc độ, phải biết tận dụng món quà quý báu này, làm ngà ngọc mà đưa lên tranh…
Chú thích ảnh
Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm (trái) bồi hồi ngắm lại bức tranh xưa của đấng sinh thành
Hãy xem lời phê bình Ông già KimLiêncủa nhà nghiên cứu và sử gia mỹ thuật Nadine André-Pallois trong luận án Đông Dương: Nơi chốn trao đổi văn hóa? (trang 225): Họa sĩ đã kết hợp việc sử dụng cọ và dao, kỹ thuật này được mượn từ trường phái ấn tượng, kết quả những ngày tháng ông học tại Paris, có nghĩa là diễn đạt biến tấu màu sắc thoáng qua của thiên nhiên bằng cách sử dụng khéo léo ánh sáng và bóng tối.
Kỹ thuật này gợi nhớ phương pháp của Cézanne, vượt trên tính cách của phong trào ấn tượng, ông vẫn giữ ý niệm về hình thể, nhưng làm đổi mới phong cách của mình bằng màu sắc, đôi khi được đánh dấu bằng các đường viền phức tạp và khúc khuỷu (phương pháp xử lý không gian kiểu mới xuất hiện khoảng năm 1880)”.

Tác phẩm Ông già KimLiênđược căng lên trên khung nguyên thủy. Phía dưới, góc trái, chúng ta đọc được Kim Liên, Nam Sơn, 1926, có nghĩa là tranh của họa sĩ Nam Sơn, được vẽ tại Kim Liên, một ngôi làng xinh xắn nằm ven Hà Nội, hoàn thành năm 1926.
Bức này từng thuộc bộ sưu tập Nguyễn Văn Lâm. Phía sau lưng, ông Lâm còn ghi lại dòng chữ viết tay tranh của cụ Nam Sơn tặng tôi, dưới là chữ ký và địa chỉ.
Tuy là đồng sáng lập Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhưng tác phẩm của Nam Sơn rất hiếm hoi, thuộc về các sáng tác được truy tìm gay gắt trong giới thưởng ngoạn cũng như các nhà sưu tập. Họ đều bảo nhau, để được một bộ sưu tập tranh Đông Dương hoàn hảo, bắt buộc phải có ít nhất một bức tranh của Nam Sơn!
Paris, ngày 30/3/2019
Ngô KimKhôi


Sau 4 thế kỷ các chuyên gia mới giải mã được bí ẩn trong bức tranh này

Cẩm Mai |

Sau 4 thế kỷ các chuyên gia mới giải mã được bí ẩn trong bức tranh này

Nhóm chuyên gia nghệ thuật ở Italia vừa giải được câu đố nghệ thuật ẩn trong bức tranh từ thế kỷ 17.

Các chuyên gia của Phòng trưng bày Uffizi ở Florence (Italia) đã xem xét bức tranh của nữ họa sĩ Artemisia Gentileschi vẽ vào năm 1619. Cụ thể là bức tranh Thánh Catherine ở Alexandria tương đồng đáng kinh ngạc với bức chân dung được vẽ trước đó. Nhưng đến nay, người ta vẫn chưa tìm ra mối liên quan giữa 2 bức tranh.

Sau 4 thế kỷ các chuyên gia mới giải mã được bí ẩn trong bức tranh này - Ảnh 1.

Bức tranh Thánh Catherine ở Alexandria.

Cả hai bức tranh đều vẽ giới vương giả. Cụ thể là hình người phụ nữ tóc đen mặc áo đỏ, tay bám vào bánh xe tra tấn của thánh. Tay kia cầm cây cọ gí sát vào ngực.

Sau 4 thế kỷ các chuyên gia mới giải mã được bí ẩn trong bức tranh này - Ảnh 2.

Hai bức tranh có vẻ tương đồng.

Nhóm nghiên cứu từ xưởng đá quý Opificio Delle Pietre Dure phát hiện ra bức tranh được vẽ từ năm 1619.

Một bánh xe tra tấn hiện diện trong tranh vì truyền thuyết về Thánh Catherine. Bà trở thành người theo đạo tại Alexandria, gây phẫn nộ vào khoảng năm 300 và bị tra tấn bằng bánh xe gẫy vỡ, rồi được thiên thần cứu giúp. Sau đó, bà Catherine bị chặt đầu.

Sau 4 thế kỷ các chuyên gia mới giải mã được bí ẩn trong bức tranh này - Ảnh 3.

Chân dung tự họa họa sĩ Artemisia Gentileschi.

Cái tên "Catherine bánh xe" xuất phát từ câu chuyện đó. Trong thời gian thử thách, Catherine ngước nhìn lên Thiên đường, được miêu tả chi tiết trong tranh.

Sau 4 thế kỷ các chuyên gia mới giải mã được bí ẩn trong bức tranh này - Ảnh 4.

Nghệ sĩ chơi đàn tuýt.

Tuy nhiên, bức tranh chân dung năm 1615-1617, được lưu giữ tại Phòng trưng bày Quốc gia London (Anh), cho thấy hình người nghệ sĩ chơi đàn tuýt đang nhìn khán giả. Đầu đội vương miện thừa kế thay cho khăn xếp. Có những đặc điểm cho thấy bức tranh đang vẽ dang dở.

Tại sao lại đội vương miện thay cho khăn xếp?

Có ý kiến cho rằng nó có thể là một sự tôn vinh nghệ sĩ Grand Dukes ở Tuscany. Sau đó, bà Gentileschi chuyển bức tranh thành vẽ con gái mình. Nếu dúng vậy thì bức tranh của bà Gentileschi đã chuyển hóa không ngừng.

Là một nữ họa sĩ vẽ những phụ nữ mạnh mẽ, bà ấy rất khác thường so với phụ nữ thời đó, dù thân thể ốm yếu. Con gái của bà Gentileschi là thế hệ chịu ảnh hưởng của họa sĩ Caravaggio. Cô đã bị họa sĩ Agostino Tassi - người quen và cộng tác viên của cha cô, cưỡng hiếp. Mặc dù bị đưa ra tòa, nhưng Tassi vẫn thoát hình phạt.

Bà Gentileschi tiếp tục gặt hái thành công, trở thành người phụ nữ đầu tiên là thành viên của Học viện Hội họa vào năm 1616. Người ta nghĩ rằng bà ấy vẽ chân dung chính mình.

Sau 4 thế kỷ các chuyên gia mới giải mã được bí ẩn trong bức tranh này - Ảnh 5.

Bà Gentileschi vẽ chân dung chính mình.

Câu đố nghệ thuật ẩn trong tranh của bà được giải mã vào dịp 8/3 càng thêm phần ý nghĩa. Người giả mã bí ẩn trong tranh đã viết rằng:

"Vào Ngày Phụ nữ 8/3, bà Artemisia Gentileschi là nữ họa sĩ nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật, trở thành biểu tượng cuộc chiến chống lại bạo lực với phụ nữ, kiên định lập trường chính trị và xã hội. Những khám phá thú vị có thể ẩn đâu đấy, không thể nhìn ngay thấy bằng mắt".

Nguồn bài và ảnh: The Vintage News

theo Helino


Bức “Tiếng thét” hóa ra không khắc họa người đang... thét

Trước nay, nhiều người tưởng rằng tác phẩm hội họa nổi tiếng - bức “Tiếng thét” - khắc họa một người đang thét gào, nhưng hóa ra hoàn toàn không phải vậy.
725px-Edvard_Munch,_1893,_The_Scream,_oil,_tempera_and_pastel_on_cardboard,_91_x_73_cm,_National_Gallery_of_Norway.jpg

Bức “Tiếng thét” (1893)

Tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của danh họa người Na Uy - Edvard Munch (1863-1944) - chính là loạt tranh “Tiếng thét”. Trước nay, nhiều người vẫn tưởng rằng bức tranh khắc họa một người đang thét gào nhưng không phải, đây là điều vừa được Bảo tàng Anh (London, Anh) khẳng định.

Thực tế, tác phẩm nổi tiếng này khắc họa một người đang nghe thấy một tiếng thét rùng rợn. Sắp tới đây, Bảo tàng Anh sẽ trưng bày một bức in thạch bản đen trắng do Edvard Munch thực hiện. Đây được xem là bức họa làm rõ thêm nội dung của loạt tranh “Tiếng thét”.

Sắp tới đây, Bảo tàng Anh sẽ trưng bày nhiều tác phẩm của Munch, nhân dịp này, bảo tàng muốn làm rõ thêm ý nghĩa về tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông: “Bức tranh đen trắng này là một phiên bản hiếm của loạt tranh ‘Tiếng thét’, nó cho thấy rõ rằng Munch khắc họa một người đang nghe thấy ‘tiếng thét’, chứ không hề tạo ra ‘tiếng thét’ như vẫn tưởng”.

Mặc dù vậy, việc “tiếng thét” là thật hay ảo, là bên trong nội tâm nhân vật vọng ra hay từ ngoại cảnh vọng vào là điều không thể khẳng định. Bức họa đen trắng thực hiện bằng phương pháp in thạch bản có một dòng chữ đề bên dưới tranh rằng: “Tôi cảm thấy tiếng thét lớn xuyên suốt tự nhiên”.

25.jpg

Bức họa đen trắng thực hiện bằng phương pháp in thạch bản của Munch

Những câu chữ này dành để nói về khoảnh khắc Munch có cảm hứng để thực hiện bức tranh, đó là một ngày khi ông đang dạo bộ ở Oslo (Na Uy) hồi năm 1892, Munch chứng kiến bầu trời bỗng chuyển sang màu đỏ rực.

Trong cuộc đời mình, Munch đã thực hiện nhiều phiên bản “Tiếng thét”, trong đó, với bức in thạch bản đen trắng này, ông thực hiện thêm dòng tựa để khẳng định về nguồn cảm hứng đến với mình - một nỗi hoang mang bất chợt mà ông cảm nhận thấy.

Ngoài ra, loạt tranh “Tiếng thét” còn có những điều bí mật ít biết:

Phần đầu của nhân vật trong “Tiếng thét” trông giống... bóng đèn

675px-Skrik_1893.jpg

Một phiên bản được Munch thực hiện trong cùng năm 1893

Bức tranh khắc họa một hình người như thể đang hú hét, trước nay, đây vẫn luôn là một nguyên mẫu biểu tượng khắc họa cho nỗi hoảng hốt trước sự tồn tại, luôn khiến các nhà phân tích hội họa mải mê bình luận. Gương mặt của hình người ấy trông giống như một… bóng đèn đang cháy sáng.

Munch là một người rất quan tâm hứng thú tới những phát minh khoa học của thời đại bấy giờ, đó là những phát minh, cải tiến công nghệ giúp đưa điện vào trong cuộc sống. Khi ấy, hình ảnh chiếc bóng đèn cháy sáng là một biểu tượng. Munch từng chia sẻ trong cuốn nhật ký của mình rằng ông bị ám ảnh bởi những phát minh công nghệ của thời đại mình đang sống.

Hình ảnh những chiếc bóng đèn cháy sáng xuất hiện ngày càng nhiều ở Châu Âu thời bấy giờ hẳn đã in sâu vào tâm trí của Munch và giúp ông tạo nên siêu phẩm “Tiếng thét”.

Cuộc đời khốn khổ của Edvard Munch

26.jpg

Danh họa Edvard Munch

Nổi tiếng với loạt tranh kinh điển “Tiếng thét”, danh họa người Na Uy Edvard Munch (1863-1944) cũng bị căn bệnh thần kinh hành hạ.

Ông luôn bị ám ảnh rằng thần chết đang gõ cửa nhà mình, giấc ngủ của ông thường bị gián đoạn bởi những cơn ác mộng kinh hoàng, ông cũng thường nhìn thấy những hình ảnh ma quỷ rùng rợn… Chính những điều này đã gây ảnh hưởng đối với phong cách sáng tạo của Munch.

Khi sự lo lắng và chứng ảo giác của ông ngày càng trở nên trầm trọng, Munch bị suy sụp nặng nề. Tuy vậy, may mắn là các liệu pháp chữa trị tâm lý đã phát huy tác dụng đối với ông.

Munch từng viết gì trong nhật ký về bức “Tiếng thét”?

725px-The_Scream_by_Edvard_Munch,_1893_-_Nasjonalgalleriet.png

Một phiên bản khác được Munch thực hiện trong cùng năm 1893

Bức “Tiếng thét” là một trong những họa phẩm có sức sống lâu bền và được nhớ đến nhiều nhất trong lịch sử hội họa hiện đại, đó là một hình người “xương xẩu”, méo mó, miệng há, gương mặt biểu lộ nỗi kinh hoàng đứng trước một hậu cảnh là bầu trời đỏ rực đầy đe dọa.

Danh họa Edvard Munch đã được truyền cảm hứng thực hiện bức tranh này khi một lần trong người đang không khỏe, ông đi ngang qua một cây cầu bắc qua vịnh hẹp, đúng lúc mặt trời lặn, Munch cảm thấy như thể có một tiếng thét câm lặng đang lan đi trong không gian.

Munch viết trong nhật ký của mình: “Ta nghe thấy tiếng thét và vẽ bức tranh này, vẽ những đám mây như thể mang màu máu. Màu sắc làm nên tiếng thét inh tai”. Thường người xem chỉ tập trung vào hình người biểu lộ nỗi kinh hoàng nằm ở tiền cảnh, sau nữa là dòng nước gần như đen kịt và bầu trời đỏ rực như sắp tận thế.

Ít người để ý tới hai bóng đen ở phía hậu cảnh, hai cái bóng xuất hiện cũng đầy vẻ đe dọa. Thực tế, đây là hình ảnh gợi nhắc tới hai người bạn đã đi cùng với Munch trên cây cầu “định mệnh” giúp ông sáng tác nên siêu phẩm.

Munch từng viết lên khung của một trong 4 phiên bản của bức “Tiếng thét” rằng: “Tôi đi trên cầu cùng hai người bạn. Mặt trời lặn. Trời bỗng đỏ rực. Tôi dừng lại, kiệt sức, dựa vào thành cầu. Các bạn tôi bước tiếp. Tôi đứng đó run lên lo sợ. Tôi cảm thấy tiếng thét vô tận lan đi trong không gian”.

Bích Ngọc
Theo Daily Telegraph


Huế tiếp nhận nhiều tác phẩm mỹ thuật có giá trị

Tại buổi lễ, Bảo tàng Mỹ thuật Huế đã tiếp nhận hơn 40 tác phẩm mỹ thuật từ Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng các tổ chức, cá nhân tại Huế và trong nước; nâng tổng số tác phẩm được sưu tập về cho Bảo tàng này gần 90 tác phẩm chỉ sau vài tháng thành lập.

Ông Phan Tiến Dũng (giữa), Giám dốc Sở VH-TT tỉnh TT-Huế, tiếp nhận tác phẩm mỹ thuật có giá trị từ Hội Mỹ thuật Việt Nam
Ông Phan Tiến Dũng (giữa), Giám dốc Sở VH-TT tỉnh TT-Huế, tiếp nhận tác phẩm mỹ thuật có giá trị từ Hội Mỹ thuật Việt Nam

Sáng 22/2, tại Văn phòng UBND tỉnh TT-Huế diễn ra lễ tiếp nhận các tác phẩm mỹ thuật do Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng các tổ chức, cá nhân trong cả nước trao tặng Bảo tàng Mỹ thuật Huế.

Trước đó, vào ngày 12/11/2018, UBND tỉnh TT-Huế có Quyết định số 2658/QĐ-UBND thành lập Bảo tàng Mỹ thuật Huế, trên cơ sở sắp xếp, kiện toàn Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng và Điềm Phùng Thị trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao. Để làm phong phú số lượng tác phẩm mỹ thuật có giá trị trưng bày cho bảo tàng này, ngành Văn hóa TT-Huế đã có nhiều nỗ lực vận động sưu tập, tiếp nhận thời gian qua. Đặc biệt, ngay từ trước khi Bảo tàng Mỹ thuật Huế ra đời, nhiều tổ chức, cá nhân đã có hảo ý muốn hiến tặng các tác phẩm mỹ thuật để Huế thành lập một bảo tàng xứng tầm với vùng đất có bề dày về mỹ thuật văn hóa.

Còn theo ông Phan Tiến Dũng, Giám đốc Sở VH-TT tỉnh TT-Huế, trong nhiều năm qua, cơ quan này đã sưu tập và lưu giữ 12 tác phẩm mỹ thuật có giá trị của các tác giả đạt giải cao tại nhiều cuộc triển lãm quốc tế, khu vực như Trương Bé, Đỗ Kỳ Hoàng, Lê Quý Long, Nguyễn Duy Linh, Đặng Mậu Tựu, Ngô Tâm, Nguyễn Thiện Đức, Lê Văn Nhường… Riêng trong năm 2018, Sở VH-TT TT-Huế đã hoàn thành kế hoạch sưu tập 3 tác phẩm có giá trị, gồm: “Thiếu nữ bên hoa” (Tôn Thất Đào), “Đô thị hóa thân” (Vĩnh Phối), “Treo trên thời gian” (Bửu Chỉ). Ngoài ra, Sở VH-TT tỉnh TT-Huế cũng tiếp nhận 3 tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Đại Giang, 1 tác phẩm của họa sĩ Dương Đình Sang, 1 tác phẩm của họa sĩ Lâm Triết. Bên cạnh đó, thông qua triển lãm Hội ngộ (2017), Sở VH-TT TT-Huế còn vận động tiếp nhận 7 tác phẩm hiến tặng cho Huế... Đây là những cơ sở để đặt nền móng hình thành Bảo tàng Mỹ thuật Huế vào cuối năm 2018 như đã nêu.

Riêng tại buổi tiếp nhận tác phẩm mỹ thuật diễn ra sáng 22/2, Bảo tàng Mỹ thuật Huế đã được hiến tặng hơn 40 tác phẩm mỹ thuật từ Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng các tổ chức, cá nhân tại Huế và trong nước; nâng tổng số tác phẩm được sưu tập về cho Bảo tàng Mỹ thuật Huế gần 90 tác phẩm.

Dưới đây là những hình ảnh về hoạt động hiến tặng, tiếp nhận các tác phẩm mỹ thuật có giá trị từ Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng các tổ chức, cá nhân tại Huế và trong nước:

Huế tiếp nhận nhiều tác phẩm mỹ thuật có giá trị - ảnh 1
Huế tiếp nhận nhiều tác phẩm mỹ thuật có giá trị - ảnh 2
Huế tiếp nhận nhiều tác phẩm mỹ thuật có giá trị - ảnh 3
Huế tiếp nhận nhiều tác phẩm mỹ thuật có giá trị - ảnh 4
Huế tiếp nhận nhiều tác phẩm mỹ thuật có giá trị - ảnh 5Tiếp nhận các tác phẩm mỹ thuật từ Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng các tổ chức, cá nhân tại Huế và trong nước trao tặng cho Bảo tàng Mỹ thuật Huế
Huế tiếp nhận nhiều tác phẩm mỹ thuật có giá trị - ảnh 6Tặng hoa tri ân những tổ chức, cá nhân hiến tặng tác phẩm mỹ thuật có giá trị cho Huế


Nét phóng khoáng trong tranh nude của danh họa Lưu Công Nhân

Khán giả ở Hà Nội lần đầu thưởng thức các bức vẽ nude do cố họa sĩ thực hiện với bút pháp tả chân, giàu cảm xúc.

Triển lãm Nét của Lưu Công Nhân diễn ra từ ngày 25/8 đến ngày 24/9 nhân dịp tưởng niệm 10 năm ngày mất của danh họa. Triển lãm trưng bày 50 tác phẩm nổi tiếng của ông, trong đó có 10 bức tranh nude - mảng tranh hiếm người biết đến của ông. Các bức vẽ rải rác từ năm 1954 đến 2006.

Họa sĩ Lê Thiết Cương - giám tuyển triển lãm - cho biết tranh khỏa thân là mảng đề tài lớn trong sáng tác của Lưu Công Nhân. Ban đầu, anh dự định làm triển lãm riêng cho các tác phẩm này, tuy nhiên do gặp vấn đề về giấy phép, ý tưởng không thành.

le-thiet-cuong-tranh-anh-nude-la-de-tai-binh-thuong-2

Tranh nude của Lưu Công Nhân.

Trên thực tế, nhiều họa sĩ trước Đổi mới (năm 1986) cũng vẽ nude nhưng không dám thừa nhận chuyện thuê mẫu sáng tác vì quan niệm đây là đề tài cấm kỵ. Không ít người trong giới kể họa sĩ Bùi Xuân Phái sáng tác nhiều tranh khỏa thân nhưng chỉ chú thích là lấy cảm hứng từ thơ Hồ Xuân Hương. Ông cũng không dám treo tranh mà chỉ để tác phẩm vào một chiếc cặp, ai hỏi thì lấy ra.

Lê Thiết Cương lý giải: "Lưu Công Nhân không gặp rào cản về tâm lý khi vẽ nude. Ông không có nhu cầu bán tranh do gia đình khá dư dả về kinh tế. Vì vậy, họa sĩ thoải mái chọn đề tài. Ông cũng đầu tư chi phí thuê mẫu để vẽ. Ngoài ra, ông ít giao du nên không ngại những lời đàm tiếu".

le-thiet-cuong-tranh-anh-nude-la-de-tai-binh-thuong-3

Lưu Công Nhân từng lấy nguyên mẫu nhiều người thân trong gia đình để sáng tác.

Lưu Công Nhân đặc biệt thích người mẫu hơi béo. Người mẫu trong tranh ông có thể là cô công nhân, chị nông dân hay những người thân trong gia đình. Lê Thiết Cương từng có dịp gặp một số người mẫu của cố họa sĩ ở Đà Lạt. Theo giám tuyển, vẻ đẹp đầy đặn của họ được thể hiện trọn vẹn trong tranh của Lưu Công Nhân.

Họa sĩ Bùi Trọng Dư - người từng vẽ nhiều tranh nude sơn mài - đánh giá tranh của Lưu Công Nhân không toát lên vẻ đẹp "khuôn vàng thước ngọc", cơ thể người phụ nữ trong một số bức hơi béo, không thon gọn nhưng lại khiến người xem rung động. "Tôi được xem tranh khỏa thân của họa sĩ Lưu Công Nhân từ nhiều năm trước. Các bức tranh nude của cố họa sĩ rất kiệm lời, cô đọng về hình, mảng, nét. Nhân vật nữ trong tranh mang vẻ đẹp mộc mạc, dung dị, gần gũi", họa sĩ nói.

Theo Lê Thiết Cương, điểm mạnh của Lưu Công Nhân là tạo hình. Để vẽ mực tàu trên giấy dó, ông phải ký họa nhanh, không tẩy xóa. Vì thế, đường nét trong tranh ông "ngẫu hứng, tung tẩy, phóng khoáng".

Giới chuyên môn nhận xét nét vẽ của cố danh họa Lưu Công Nhân lúc khoan lúc nhặt, lúc đậm khi nhạt, lúc khô lúc nhòe ướt, tạo ra tổng thể hài hòa. Các tác phẩm của ông là nguồn cảm hứng cho các họa sĩ đương đại theo đuổi đề tài tranh khỏa thân như: Đỗ Sơn, Hoàng Phượng Vỹ, Trịnh Tú, Doãn Hoàng Lâm...

Lưu Công Nhân sinh năm 1930, mất năm 2007. Ông tốt nghiệp trường Mỹ thuật kháng chiến khóa 1950 -1953 do họa sĩ Tô Ngọc Vân và các họa sĩ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương dìu dắt. Ông chịu ảnh hưởng từ họa sĩ người Pháp Auguste Renoir (1841 – 1919). Ông đề cao nét tự nhiên, đặc biệt là vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ.

Ông từng có tranh tham dự triển lãm quốc tế tại Vienne (1959), Prague (1960), Berlin (1964), Bucharest (1968, 1960), Paris (1980)...

Những tác phẩm của danh họa được nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân đánh giá là "tiếp nối cái trữ tình của hội họa Đông Dương bằng nét hiện thực lạc quan của kháng chiến".

Một số tranh khỏa thân của họa sĩ Lưu Công Nhân

mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-1
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-2
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-3
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-4
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-5
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-6
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-7
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-8
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-9


Hà Thu

Thứ hai, 21/8/2017, 18:26 (GMT+7)

Triển lãm 50 tác phẩm của danh họa Lưu Công Nhân

Những bức tranh nổi tiếng lựa chọn từ hơn 400 tác phẩm của 'bậc thầy màu nước' sẽ được triển lãm tại trung tâm VCCA, Hà Nội.

Tưởng niệm 10 năm ngày mất của danh họa Lưu Công Nhân, nghệ sĩ Lê Thiết Cương đã trao đổi với nhà sưu tập Nguyễn Phúc Hưởng, người sở hữu hơn 400 tranh của cố họa sĩ, mở triển lãm "Nét", gồm 50 bức nổi tiếng nhất.

Đây là triển lãm cá nhân chính thức đầu tiên tại Hà Nội sau năm 1975 của học trò Tô Ngọc Vân.

polyad

Ảnh chân dung họa sĩ Lưu Công Nhân. Nguồn: Tư liệu của G39 và nhà sưu tập.

Theo đó, sự kiện gồm rất nhiều tác phẩm đặc biệt của "bậc thầy màu nước" như bình dân học vụ (tranh sơn dầu khổ 160 x 130cm, vẽ năm 1955); chân dung thiếu nữ, khỏa thân (nude) trên các chất liệu đa dạng như sơn dầu, giấy dó, bột màu, phấn sáp, màu nước, ký họa than chì...

polyad

Đi cấy (1960) - Sơn dầu trên toan, 81x100cm. Nguồn: Tư liệu của G39 và nhà sưu tập.

Bên cạnh bộ sưu tập của Nguyễn Phúc Hưởng, đây cũng là cơ hội hiếm để công chúng chiêm ngưỡng "Những cô gái công trường" của Lưu Công Nhân hiện thuộc bộ sưu tập của Apricot.

Trong khuôn khổ của triển lãm, họa sĩ Lê Thiết Cương cũng sẽ có buổi chia sẻ về phong cách nghệ thuật của cố họa sĩ tài ba, những ảnh hưởng của ông tới mỹ thuật Việt...

Triển lãm mở cửa từ ngày 25/8 đến ngày 24/9 tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA), B1-R3 Vincom Royal City, Nguyễn Trãi, Hà Nội.

Tốt nghiệp trường Mỹ thuật khóa kháng chiến tại Việt Bắc (1950 - 1953), Lưu Công Nhân (1931 - 2007) là một trong những học trò xuất sắc của danh họa Tô Ngọc Vân. Ông chịu ảnh hưởng từ họa sĩ người Pháp - Auguste Renoir (1841 – 1919) với quan niệm về phong cách biểu hiện, luôn đề cao nét tự nhiên, đặc biệt là vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ.

Vẻ đẹp trong tranh Lưu Công Nhân luôn tổ hợp yếu tố duyên dáng quê mùa, bình dị mộc mạc với hào hoa, sang trọng, hiện đại dù là vẽ sơn dầu trên vải hay màu nước trên giấy.

polyad

Tĩnh vật hoa (1993) - Bột mầu trên giấy, 41x52cm. Nguồn: Tư liệu của G39 và nhà sưu tập.

Ông đã góp phần định hình nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam trên bản đồ thế giới với các tác phẩm tham dự triển lãm quốc tế tại Vienne Biennal V (1959), Prague (1960), Berlin (1964), Bucarest (1968, 1960), Paris (1980)...

Những tác phẩm của danh họa này được nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân đánh giá là "tiếp nối cái trữ tình của hội họa Đông Dương bằng nét hiện thực lạc quan của kháng chiến".


Thu Ngân


Tranh nude tôn vinh cơ thể phụ nữ

Triển lãm "Phượng" diễn ra từ ngày 12 đến 18/7 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội mang đến góc nhìn đa diện về phái đẹp.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu

Triển lãm gồm 37 tác phẩm tranh và tượng nude của 14 nghệ sĩ Hải Phòng sống và làm việc tại Hà Nội. Các họa sĩ sử dụng nhiều chất liệu khác nhau như sơn mài, sơn dầu… để bày tỏ tình yêu, sự trân trọng với nét đẹp của phụ nữ.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-1

Tranh sơn mài nude của Bùi Trọng Dư. Theo anh, họa sĩ phải cố gắng rất nhiều để khi đứng trước một bức tranh nude, người xem có thể cảm nhận được cái đẹp chứ không thấy sự dung tục.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-2

Tranh nude của Nguyễn Đình Hợp - họa sĩ từng có tranh sơn mài trưng bày tại Sydney và London.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-3

Tranh nude của Nguyễn Thị Thủy - họa sĩ nữ duy nhất tham gia triển lãm.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-4

Tranh của Nguyễn Quốc Thắng.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-5

Nét đẹp ẩn hiện của phái đẹp trong tranh Nguyễn Quốc Thắng.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-6

Tranh nude của Nguyễn Ngọc Dân.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-7

Đình Quân sử dụng gam đỏ trong các bức tượng nude.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-8

Hà Thu


Nguyễn Tư Nghiêm - danh họa mê đắm văn hóa mỹ thuật dân gian

Danh họa người Nghệ An trở thành bậc thầy khi đào sâu mỹ thuật truyền thống kết hợp với tinh túy hội họa phương Tây, góp phần định hình mỹ thuật hiện đại Việt Nam.

Nguyễn Tư Nghiêm - nhân vật cuối cùng của bộ tứ họa sĩ huyền thoại Việt Nam "Phái - Sáng - Liên - Nghiêm" (Bùi Xuân Phái - Nguyễn Sáng - Dương Bích Liên - Nguyễn Tư Nghiêm) - qua đời ngày 15/6.

Trong những ngày này, Bảo tàng quốc gia Singapore đang trưng bày một triển lãm mỹ thuật quy mô lớn mang tên Reframing Modernism - painting from Southeast Asia, Europe and Beyond (Tạm dịch: Tái định dạng chủ nghĩa hiện đại: họa phẩm từĐông Nam Á, châu Âu và xa hơn). Danh họa Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tư Nghiêm là các tên tuổi được tôn vinh ở sự kiện. Tác phẩm của các ông được đặt trang trọng bên họa phẩm của những bậc thầy hội họa Âu, Mỹ.

Sự kiện này là một trong những minh chứng cho thấy ngay cả khi Nguyễn Tư Nghiêm đã về cõi vĩnh hằng, ông và một số ít danh họa Việt Nam đã mang một tầm vóc, tên tuổi vượt ra khỏi biên giới mỹ thuật quốc gia, trở thành niềm tự hào lớn của mỹ thuật Việt Nam.

Họa phẩm

Họa phẩm "Điệu múa cổ" của Nguyễn Tư Nghiêm đang được trưng bày tại triển lãm mỹ thuật quy mô lớn ở Bảo tàng quốc gia Singapore. Ảnh: Vũ Văn Việt.

Nguyễn Tư Nghiêm trước hết là con người của một thế hệ. Lao động sáng tạo, tài năng của bản thân ông được định hình qua một giai đoạn văn hóa, lịch sử đặc biệt của đất nước, đưa ông trở thành một trong các tên tuổi đại diện cho thế hệ vàng trong mỹ thuật Việt Nam đương đại.

Nguyễn Tư Nghiêm sinh năm 1922, là con của cụ phó bảng Nguyễn Tư Tái. Xuất thân từ gia đình khoa bảng, tôn trọng lối học cổ, giữ gìn văn hóa, lề thói của dân tộc, trong số bảy anh chị em, Nguyễn Tư Nghiêm là người duy nhất đi theo nghiệp hội họa. Từ tấm bé, ông đã say mê nặn hình các con giống, hình người từ đất sét. Khoảng sáu, bảy tuổi, cậu bé được theo học vẽ từ một ông giáo làng và bắt đầu tập tành họa lại các nhân vật truyện Kiều từ một tập sách nhỏ mà thầy giáo tặng. Theo thời gian, đôi tay, óc quan sát và cảm thức về hình khối, cấu trúc sự vật của ông dần hình thành, trở nên điêu luyện.

Khi học xong bậc tiểu học ở Vinh, ông theo anh trai ra Hà Nội tìm đến họa sĩ Lê Phổ để học vẽ. Năm 19 tuổi, Nguyễn Tư Nghiêm thi đỗ vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 15 (1941 - 1946), học cùng họa sĩ Bùi Xuân Phái, Huỳnh Văn Gấm, Tạ Thúc Bình…

Ông tham gia cách mạng từ năm 1945. Chính trong những năm kháng chiến gian khổ của dân tộc, được sống trong không khí của một thời đại sục sôi những chuyến biển về chính trị - xã hội, Nguyễn Tư Nghiêm và các họa sĩ cùng thời đã gạn lọc ra được những giá trị văn hóa tinh túy của Việt Nam. Các họa phẩm giai đoạn thập niên 40, 50 và đầu 60 của ông là một trong những "trang sử" bằng hình vẽ giúp thế hệ sau hiểu thêm về một giai đoạn của đất nước. Có thể kể đến các tuyệt tác sơn mài như: Ngày Hai tháng Chín, Con nghé quả thực, Nông dân đấu tranh chống thuế...

Họa sĩ suốt đời đắm đuối truyền thống văn hóa dân gian

Nguyễn Tư Nghiêm tìm đến văn hóa mỹ thuật dân gian như cội nguồn và niềm cảm hứng bất tận cho tác phẩm của ông. Ông kế thừa người đi trước, mạch nguồn văn hóa dân tộc nhưng không bị trói buộc trong một khuôn khổ nào ngoài sáng tạo của bản thân. Ví dụ, người xem có thể thấy trong các bức Điệu múa cổ nổi tiếng của ông dáng dấp hình ảnh các thị nữ múa hát trong cung đình qua tượng gỗ cung đình xưa, đồng thời lại nhận ra được nét rất riêng của ông qua hình khối nhân vật đã được chuyển hóa tinh tế, đặt trong một bố cục chặt chẽ nhưng phóng khoáng cùng màu sắc trong trẻo, tươi mới, hiện đại.

Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm để lại ảnh hưởng sâu sắc với thế hệ họa sĩ trẻ Việt Nam.

Cố danh họa Nguyễn Tư Nghiêm để lại ảnh hưởng sâu sắc với thế hệ họa sĩ trẻ Việt Nam.

Nghệ sĩ thị giác, giám tuyển Nguyễn Như Huy rất tâm đắc thế giới hội họa của Nguyễn Tư Nghiêm. Theo anh Như Huy, một trong những đặc trưng lớn nhất thể hiện chất truyền thống đậm đặc ở danh họa này là việc ông chọn hai chất liệu sơn mài và bột màu để vẽ dù ông từng thành công với cả sơn dầu, chì than.

Với rất nhiều họa sĩ, sơn dầu là phương tiện biểu đạt đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về thể hiện ý tưởng lên tranh một cách chính xác, bền bỉ theo thời gian. Nhưng sơn dầu lại thiếu tính mơ hồ, khó giúp họa sĩ tuôn trào hết cảm tính và xúc cảm. Ngược lại, bột màu và sơn mài là hai chất liệu khá khó nắm bắt.

Sơn mài lại đòi hỏi người sáng tạo phải biết cách để cảm xúc hòa quyện với chất liệu trong quá trình tương tác với nhiệt độ, độ ẩm. Màu sắc của sơn mài phải xuyên qua nhau chứ không thể nhòa vào nhau. Bột màu là thứ cần họa sĩ phải vẽ nhanh. Họ không pha màu mà giữ những màu nguyên khiến người sáng tác phải có đủ độ tinh tế, nhạy cảm làm chủ được chất liệu.

"Nguyễn Tư Nghiêm đã dứt khoát tìm đến một hệ sinh thái khác, không phải để chống lại quan niệm phương Tây mà để làm giàu thêm sáng tạo của bản thân và văn hóa dân tộc. Trong tác phẩm của ông vẫn ứng dụng các yếu tố tạo hình phương Tây một cách độc đáo như trừu tượng hình học (geometric abstract) hay chủ nghĩa vị lai (futurism). Tuy nhiên, tất cả đều hòa quyện trong hệ sinh thái Á Đông và duy tình, duy cảm mang tên Nguyễn Tư Nghiêm", nghệ sĩ thị giác Như Huy chia sẻ.

“Ở Việt Nam, toàn bộ lịch sử mỹ thuật - hội họa có ba đỉnh là văn hóa Đông Sơn, gốm hoa nâu đời Trần và điêu khắc đình làng các thế kỷ 16, 17, 18. Bậc thầy Nguyễn Tư Nghiêm đã 'phiên dịch' lại toàn bộ cái tinh túy, đẹp, hay và riêng biệt nhất của điêu khắc đình làng để biến thành ngôn ngữ hội họa, với ba mảng đề tài lớn là múa cổ, 12 con giáp và Kiều - Kim Trọng”, Lê Thiết Cương - người có nhiều bài viết về Nguyễn Tư Nghiêm - phân tích.

NGUYỄN TƯ NGHIÊM - Năm Quý Mùi 2003. Bột màu trên giấy (Sưu tập Thu Giang)

Bức vẽ năm Quý Mùi 2003. Bột màu trên giấy (sưu tập Thu Giang).

Một bậc thầy giản dị, miệt mài lao động đến cuối đời

Cách đây hai năm, họa sĩ Lê Thiết Cương được một tờ báo đặt bài phỏng vấn ông về tranh con Dê cho số báo Tết. Khi Lê Thiết Cương thắc mắc lý do Nguyễn Tư Nghiêm coi trọng con Dê, thậm chí từng đưa bức vẽ Dê ra làm trang bìa cuốn sách họa về 12 con giáp, họa sĩ nói: “Cuối cùng là tranh có đẹp hay không thôi”. Câu nói khiến Lê Thiết Cương nhớ mãi và hiểu rằng đề tài vốn chỉ là cái cớ chứ không phải là điều quan trọng nhất để người họa sĩ đắm mình trong thế giới sáng tạo riêng.

Về con người của Nguyễn Tư Nghiêm, họa sĩ Lê Thiết Cương cho rằng ông là một người mộc mạc, giản dị, sống khép kín, lặng lẽ. Ông hiếm khi xuất hiện ở các buổi khai mạc triển lãm, diễn thuyết, hội nghị, hội thảo về mỹ thuật Việt Nam… “Ông muốn dành toàn bộ năng lượng, cõi lòng tập trung vào hội họa”, Lê Thiết Cương nói.

Càng say mê vẻ đẹp của văn hóa mỹ thuật dân gian, Nguyễn Tư Nghiêm càng thấy mình chỉ là người học trò, vẫn chưa vận dụng được hết những bản sắc hồn hậu, tươi đẹp của dân gian vào sáng tác. Vẽ luôn là hành trình, là cuộc chơi đầy thích thú cho đến khi ông mắt mờ, tay run, đầu tóc bạc phơ vẫn ngày đêm bận bịu với những phác thảo. Nhiều người thân của ông cho biết, đến tháng 5/2016, ông vẫn còn vẽ.

Chính vì thế, không chỉ có họa phẩm của Nguyễn Tư Nghiêm mà toàn bộ cuộc đời sáng tác của ông là tấm gương sáng, để lại ảnh hưởng sâu sắc, lớn rộng đến các họa sĩ thế hệ sau.

Những bức vẽ nổi tiếng của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm

"Điệu múa cổ", "Gióng", "Xuân Hồ Gươm"... là những tác phẩm để đời của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, lấy giá trị văn hóa truyền thống làm gốc.

nhung-buc-ve-noi-tieng-cua-danh-hoa-nguyen-tu-nghiem

Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm qua đời sáng 15/6. Ông được đánh giá là người đem truyền thống dân tộc vào hội họa hiện đại. Bức "Xuân Hồ Gươm" năm 1957 của Nguyễn Tư Nghiêm được nhiều người yêu thích.

nhung-buc-ve-noi-tieng-cua-danh-hoa-nguyen-tu-nghiem-1

Bức tranh sơn mài "Con nghé quả thực" được Nguyễn Tư Nghiêm sáng tác năm 1957.

nhung-buc-ve-noi-tieng-cua-danh-hoa-nguyen-tu-nghiem-2

"Điệu múa cổ" - tranh sơn mài vẽ năm 1970.

nhung-buc-ve-noi-tieng-cua-danh-hoa-nguyen-tu-nghiem-3

Bức "Chân dung" năm 1989.

nhung-buc-ve-noi-tieng-cua-danh-hoa-nguyen-tu-nghiem-4

Bức "Gióng" năm 1990. Tác phẩm được trao giải nhất Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc cùng năm.

Bức

Bức "Rồng" năm 2000.

nhung-buc-ve-noi-tieng-cua-danh-hoa-nguyen-tu-nghiem-6

Bức vẽ 12 con giáp được thực hiện năm Quý Mùi 2003.

nhung-buc-ve-noi-tieng-cua-danh-hoa-nguyen-tu-nghiem-7

Nguyễn Tư Nghiêm đặc biệt thích vẽ các con giáp.

nhung-buc-ve-noi-tieng-cua-danh-hoa-nguyen-tu-nghiem-8
nhung-buc-ve-noi-tieng-cua-danh-hoa-nguyen-tu-nghiem-9

Tranh Thúy Kiều - Kim Trọng của Nguyễn Tư Nghiêm.

Di Ca



Thanh Sang, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu

Triển lãm tranh chân dung các nghệ sĩ sân khấu tài danh diễn ra tại Nhà hát Trần Hữu Trang (quận 1, TP HCM) từ ngày 17 đến 19/12.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu

Bộ tranh do họa sĩ Trương Văn Ý, 83 tuổi, vẽ từ năm 2014 đến nay. Ông nguyên là Giám đốc Trường Quốc gia trang trí mỹ thuật Gia Định, tiền thân của Đại học Mỹ thuật TP HCM, với hơn 60 năm cầm cọ. Triển lãm nằm trong chuỗi sự kiện tôn vinh 100 năm sân khấu cải lương. Các nghệ sĩ trong tranh thuộc đa lĩnh vực, từ soạn giả, nhạc sĩ, đạo diễn đến nghệ sĩ cải lương, diễn viên... Trong ảnh: Cố soạn giả Cao Văn Lầu, tác giả bản "Dạ cổ hoài lang" - được cho là sáng tác vào năm 1918.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 1

Cố NSND Phùng Há, một trong những gương mặt tiêu biểu của cải lương thời hoàng kim. Triển lãm tôn vinh nhiều tên tuổi đã đóng góp cho quá trình hình thành và phát triển của sân khấu cải lương qua các thời kỳ.

Thanh Sang, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - page 2 - 2

Cố NSND Bảy Nam - thân mẫu của NSND Kim Cương.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 2

Cố NSƯT Thanh Sang. Tác giả vẽ chân dung nghệ sĩ bằng sơn dầu trên vải toan, qua tiếp xúc ngoài đời hoặc dựa vào ký ức. Ông trò chuyện thêm với các nghệ sĩ để nắm bắt cảm xúc, tính cách của họ. Với nhiều tên tuổi đã qua đời, ông tìm hiểu trên tư liệu, sách báo...

Thanh Nga - Thanh Sang trong vở "Bên cầu dệt lụa".
Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 3

NSND Bạch Tuyết.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 5

NSND Kim Cương.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 7

Cố NSƯT Út Bạch Lan.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 9

Cố nghệ sĩ hài Văn Chung vừa qua đời hồi đầu năm.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 4

NSƯT Hữu Châu.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 8

NSƯT Vũ Linh.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 11

Nghệ sĩ Ngọc Huyền.

Tranh nghệ sĩ Thoại Mỹ, Thanh Hằng, Kim Tiểu Long

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 10

NSƯT Thanh Nguyệt.

Thanh Sang, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - page 2

NSƯT Thanh Tuấn.

Thanh Tòng, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - 6

NSƯT Kim Tử Long.

Thanh Sang, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - page 2 - 1

Nghệ sĩ Kim Tiểu Long.

Thanh Sang, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - page 2 - 3

NSƯT Ngọc Hương qua đời năm 2017 vì ung thư gan.

Thanh Sang, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - page 2 - 4

Nghệ sĩ Thanh Hằng.

Thanh Sang, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - page 2 - 5

Diễn viên Thiên Kim.

Thanh Sang, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - page 2 - 6

Diễn viên Ánh Hoa.

Thanh Sang, Út Bạch Lan và hơn 100 nghệ sĩ qua tranh sơn dầu - page 2 - 7

NSƯT Thoại Mỹ.

Mai Nhật
Ảnh: Anh Khoa



Hoạ sĩ Xu Man: Con thiêng của rừng

Tôi không còn nhớ tôi quen họa sĩ Xu Man từ hồi nào, nhưng ngay từ buổi đầu gặp gỡ, chúng tôi đã rất thân thiết, cứ như hiểu nhau lâu rồi. Bản tính ông dễ gần, nhưng không phải dễ hiểu.

Tác phẩm của họa sĩ Xu Man
Tác phẩm của họa sĩ Xu Man

Giờ đây nhớ lại cuộc đời ông, qua không biết bao đêm anh em tôi ngồi bên ghè rượu cần “trút bầu tâm sự”, ông kể chuyện đời cho tôi nghe, không phải để tôi ghi chép và viết lách. Tôi thực lòng khi ấy chả có ý thức lấy tài liệu để viết mà chủ yếu muốn hiểu biết sâu hơn kỹ hơn về một người đàn ông BahNar từng trải qua bao nhiêu thăng trầm của thời cuộc. Hơn nữa, ông, một họa sĩ lừng danh mà tôi chả thấy khác tí nào với “đồng bào” cả khi ngồi vẽ lẫn khi ngồi chuyện trò. Gần ông, tôi chưa bao giờ thấy ông thanh thản, kể cả lúc dạo chơi. Tuy nhiên, mọi sinh hoạt trong đời sống ông rất giản đơn.

Mới gặp lần đầu, không ai nghĩ ông là họa sĩ. Bởi vì, ngay từ đôi tay vụng về của ông đưa ra bắt, cũng đã toát lên cái vẻ nhọc nhằn của người quen lao động nặng. Cả vóc dáng ông, cái cách đi lại lúc nào cũng như đang chuẩn bị làm gì đó, hơi lom khom, không ra vội vã nhưng lại chăm bẵm một cách đơn độc. Bàn tay ông ráp rúa và chai sạn. Ðôi vai ông hình như có hai khối u. Và nhất là đôi bàn chân to bè, ngay cả những lúc đi chân trần, tôi vẫn có cảm giác ông đang kéo lê một đôi dép to bè, bết đầy đất đỏ. Chỉ có đôi mắt ông là toát lên cái vẻ đặc biệt khiến ta giật mình: một đôi mắt tinh ranh và hóm hỉnh, luôn luôn ánh lên giữa hai gò má nhô cao.

Ông ngồi trước giá vẽ đặt xuống bất cứ chỗ nào, và ngay lập tức, mọi tác động quanh ông hoàn toàn vô nghĩa. Mới đầu người ta phân cho ông một căn phòng nhỏ, ngay cạnh một nhà trẻ. Ông kê chiếc giường một sát tường, khu vực còn lại ngổn ngang tôn, gỗ, khung vải, khay, đĩa và những hộp sơn, những bó bút. Ông đặt giá vẽ trước cửa nhà, lúi húi làm việc. Căn phòng đã chật ấy rất nhanh bị chất đống lên những bức tranh, những phác thảo, những vật liệu mà ông thu lượm được. Rồi người ta lại chuyển những bức tranh mới vẽ của ông vào trong kho. Ðôi lúc gặp ông, vừa ái ngại cho điều kiện làm việc của ông, vừa khó chịu vì cái tính im lặng đến nhẫn nhục ấy, tôi đã nhắc ông nên “đòi” một phòng làm việc to hơn.

Ông cười:

Ðòi làm gì? Ðược phòng to hơn lỡ người ta lại đề bạt lên làm giám đốc thì sao!

Tôi nhớ một buổi sáng sương mù năm 1975, chiếc hon-đa của tôi vừa lên hết dốc thì bị chết máy. Tôi đang loay hoay sửa chợt thấy một chiếc xe bò kềnh càng chở bức tranh lớn. Người cầm càng xe đã có tuổi, nhưng khỏe mạnh, mồ hôi nhễ nhại. Ông ta hất đầu bảo tôi cho hon-đa tránh vào lề đường. Phía sau xe một vài anh em trẻ đẩy. Ði bên cạnh là một ông già để râu dài, có cái dáng của người chỉ huy cuộc hành trình không được vui vẻ ấy. Thoạt đầu tôi không nghĩ người kéo càng xe là Xu Man. Nhưng khi chiếc xe đến sát thì tôi nhận ra ông. Cuộc hành trình của chiếc xe bò ấy hướng lên đoạn dốc thoai thoải không cho phép tôi hỏi han Xu Man điều gì.

Bức tranh lớn được khiêng vào phòng. Họa sĩ Xu Man giới thiệu họa sĩ Huỳnh Văn Thuận với tôi. Rồi mỗi người lại vào với công việc của mình. Tôi thấy họa sĩ Huỳnh Văn Thuận hướng dẫn cho anh em trang trí phòng tranh rất tỉ mỉ. Ông tự tay lồng mẫu khung kính đúng với tiêu chuẩn kỹ thuật. Nhất là cách bày tranh, treo tranh. Hôm ấy họa sĩ Xu Man làm việc có vẻ không vui. Thì ra, theo lời một anh bạn cùng làm với tôi nói là, sáng hôm ấy, ở Ty Văn hóa có một vài người eo xèo gì đó về việc này việc nọ, có liên quan tới công việc của ông, nhất là khi ông yêu cầu các phòng cho người giúp việc, và bị phản ứng, tuy không chính thức, nhưng lại rất khó chịu. Nghe đâu chiều hôm đó về Ty họp, Xu Man đã “nổ” rất dữ. Ông chỉ thẳng vào mặt một anh chàng trưởng phó phòng gì đó chuyên chỉ tay năm ngón, và hay buông những lời mai mỉa về người này người nọ. Ông chúa ghét những kẻ khệnh khạng khoác áo đạo mạo nhưng kỳ thực bên trong dốt nát và ngu đần. Ðó là những thằng lười - có lần ông nói với tôi. Mà đã lười thì không bao giờ thông minh được. Càng không bao giờ thằng lười lại là người lương thiện. Ông rất hay chì chiết những kẻ chây lười.

Ông rất mê phong cách làm việc tỉ mỉ kiên nhẫn của người bạn già Huỳnh Văn Thuận. Hai ông đi với nhau có cái gì đấy cọc cạch dị thường. Một người luôn tất bật, chăm bẵm và sẵn sàng lao vào công việc, đó là Xu Man. Còn người kia lúc nào cũng có vẻ thận trọng chừng mực. Có lần tôi bắt gặp hai ông đang chụm đầu vào nhau lần dở những mớ tài liệu ghi chép của Xu Man bó lộn xộn từ trong một cái gùi cũ kỹ. Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận ngồi chò chõ vuốt lại mép từng tờ ký họa cho phẳng phiu lại, rồi ngắm nghía, rồi đặt riêng từng tờ theo sự sắp xếp của ông. Còn Xu Man thì cầm cái gùi giơ lên giũ giũ. Xu Man có vẻ như đã quên cái gùi ấy từ lâu, giờ đây được bạn nhắc tới, nét mặt ông sáng rỡ và linh động. Ông giải thích cho bạn những chi tiết mà chỉ ông mới hiểu qua mớ tài liệu rối rắm đầy sinh động ấy. Chừng như chính cái việc lục lại tài liệu này đã đánh thức một mảng đời sống động, khiến ông có lúc như đứa trẻ vồ vập, có lúc ngồi bần thần, đầu óc để tận đâu đâu.

Tôi ngồi xuống cạnh hai ông. Không ngờ sự có mặt của tôi lại tạo nên cái không khí vui vẻ khác thường. Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận cảm thấy yên tâm hơn khi có sự chứng giám cuộc lục lọi đống tài liệu của bạn mình. Còn Xu Man hình như có cớ để kể hết kỷ niệm này tới kỷ niệm khác, lấn át cái mặc cảm không cần thiết mà bạn mình đang có. Tình bạn của hai ông được tạo nên ngoài những sự tính toán hơn thiệt mà cái chính là, dường như hai người luôn tìm được ở nhau cái mà mình đang thiếu. Tôi thấy họa sĩ Huỳnh Văn Thuận săm soi mãi những bức ký họa đã ố màu và thậm chí nhàu nát, còn Xu Man thì nhấp nha nhấp nhổm, lúc nói tiếng BahNar với tôi, rồi chợt như nhận ra sự bất nhã của mình, ông lại nói tiếng Kinh, như là để thanh minh với bạn.

Cuộc thỏa thuận liên danh sáng tác giữa hai ông hôm đó ngẫu nhiên tôi là người được chứng kiến. Tôi nghi rằng trong nghệ thuật, cũng có thể có trường hợp hai tâm hồn bù đắp cho nhau, ở những phần khiếm khuyết mà chính từng người không thể tự khắc phục được. Tôi cũng đã nhiều lần tò mò “xem trộm” hai ông làm việc. Những ống màu của Xu Man nặn ra rất nhanh biến mất. Còn họa sĩ Huỳnh Văn Thuận thì ngược lại. Ông pha màu ngay trên đầu từng ống típ được nặn ra một cách tằn tiện. Một người vẽ rất nhanh, còn một người thì nắn nót kỹ lưỡng. Hai người có phong cách làm việc khác nhau ấy, nhưng lại rất “chịu” nhau.

Thế rồi “Hai chị em”, “Hạnh phúc” và “Anh em”. Ba bức sơn khắc được hoàn thành trong một năm. Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận đã “xử lý” mớ tài liệu mà Xu Man thu thập trong nhiều năm bằng chất liệu mà ông tâm đắc nhất. Kết quả của ba bức tranh ấy hai ông chưa thật thỏa mãn. Tuy nhiên đó cũng là một thành công rất đáng trân trọng. Và cái chính là hai ông càng trở nên gắn bó. Suốt mấy năm liền, năm nào người ta cũng thấy họa sĩ Huỳnh Văn Thuận lặn lội vào Tây Nguyên, vừa để sáng tác, vừa để được cùng bạn đàm đạo chuyện đời.

*

Sau mấy năm về hưu, Xu Man lặn lội lên núi đẵn gỗ, tích cóp tiền, làm được căn nhà sàn lợp ngói. Ngày ăn mừng nhà mới theo phong tục là một ngày hội của không chỉ gia đình chủ nhà. Ðó là ngày vui của cả buôn làng. Hôm ấy tôi và nhà dân tộc học trẻ Nguyễn Quang Tuệ cùng họa sĩ Viết Huy “bám càng” book Thuận về làng chúc mừng ông. Lần đầu tiên tôi thấy ông rạng rỡ và hào sảng. Ông linh động bên ghè rượu cần cùng bà con buôn làng hát hò nhảy múa cả đêm. Bên cạnh ông lúc nào cũng có bạn già Huỳnh Văn Thuận.

Từ ông toát ra cái vẻ hồn nhiên chân chất đến trong suốt. Tôi sẽ kể về “cuộc đời lang thang”, theo cách tự gọi của ông sau. Nhưng giờ đây, tôi chợt nhớ nét mặt của ông hôm ấy thật rạng rỡ, chừng như mọi nỗi gian truân của cuộc đời bỗng nhiên tiêu tan. Bà vợ ông gùi một gùi những quả bầu khô đựng nước lên nhà, lặng lẽ lấy ghè rượu từ trong xó tối ra, đặt trước mặt chúng tôi. Vẫn lặng lẽ, bà ngồi bên bếp, thổi lửa. Ông lấy cần rượu cắm vào ghè và vít cần cho chúng tôi.

- Sướng lắm, ông nói về cái sự về hưu của mình. Muốn uống rượu từ giờ đến tối, đến sáng mai, sáng mốt cũng được...

Tôi bắt đầu chất vấn:

- Anh vẫn vẽ đấy à?

- Vẽ chớ. Không vẽ thì chết ngay.

- Thế còn việc ruộng rẫy?

- Cũng phải làm chớ. Không làm thì ăn gì?

Viết Huy tự động đứng lên, cầm mấy tờ chân dung treo trên tường xuống ngắm nghía. Xu Man cười ngượng nghịu:

Mình vẽ một cái chân dung hai tiếng, người ta cho một dạc lúa (khoảng 5kg). Lương của đồng bào cao hung!

Ông lại khôi hài. Tôi biết ông nói thế, tức là ông không có ý định kiếm sống theo cái lối làm ăn đó. Ông quen sống nghèo, đến nỗi, nếu thấy mình sướng hơn người khác một chút, là áy náy, là tự dằn vặt.

- Mình về với bà con thì phải sống chung với bà con...

Ông nói vừa như để thanh minh, vừa như khẳng định sự tồn tại của mình. Và điều ấy khiến chúng tôi cùng rất nhanh hiểu. Ngày ông đi thoát li là một kẻ nô lệ và ngày ông trở về là một cán bộ cách mạng lão thành.

- Ðồng bào còn khổ, nhiều lúc mình mắc cỡ ghê lắm.

Ông luôn quan tâm đến đời sống chung của dân làng. Và đặc biệt là gia đình, vợ con. Mỗi lần có nhuận bút ở đâu đó, ông vội vã đi mua cá khô, mắm khô, mì chính và quần áo cho các con các cháu. Phần còn lại, ông chỉ dùng vào mua màu, bút vẽ và những thứ thuộc về nghề nghiệp. Ông coi đó cũng là những thứ “lương khô”, và có lẽ đó là những món tiêu pha nặng nhất đối với ông.

- Nếu em là lãnh đạo tỉnh, em sẽ xây cho anh một cái nhà thật to, đem toàn bộ tranh của anh về treo, giống như một bảo tàng – tôi nói.

Ông cười ranh mãnh:

E-ứ-cà-bắt-bơm-cán-bộ! Ông nói tiếng Ba Na. (Mày không biết làm cán bộ).

Bà vợ ông đã luộc xong con gà. Ông rộn ràng hẳn lên. Ba anh em ngồi quây quanh ghè rượu, bên cạnh là cái rá đựng con gà luộc bốc khói. Huy lôi từ trong túi ra mấy cái bánh mỳ. Buổi trưa ở làng thật yên tĩnh. Cuộc đời có những lúc thảnh thơi thế này, hỏi còn đòi hỏi gì hơn. Thế nhưng, tôi chợt thấy trong khóe mắt ông có điều gì đấy. Chúng tôi mời bà vợ ông ngồi lại cùng uống rượu, nhưng bà lắc đầu lặng lẽ lui xuống cầu thang. Huy cầm con gà xé đôi, đặt vào một cái đĩa nhôm vừa lấy ra trong một cái gùi, để phần cho gia đình. Ông vít cần rượu cho chúng tôi:

- Con gà đang đẻ, bà ấy giết đãi khách đấy.

Ông nói, không phải chỉ để nói với chúng tôi. Tôi hiểu, ông vừa thay mặt anh em cảm ơn tấm lòng hiếu khách đặc biệt của bà vợ hiền.

Nhưng đó là truyền thống của người BahNar mình. Ông nói thêm.

*

Trong toàn bộ các tác phẩm của mình, ông không vẽ cái gì khác ngoài biểu hiện tình cảm và khát vọng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Hội hè, một trong những nguồn cảm hứng lớn và thường trực trong con người nghệ sĩ. Tranh của ông biểu hiện những nét tươi khỏe trong sáng của người Tây Nguyên. Có thể nói, các “nhân vật chính” trong tranh Xu Man là cả một cộng đồng người. Và đặc biệt, cái cộng đồng người ấy đã quần tụ lại chung quanh một niềm tin, cũng trong sáng, tươi nguyên và chân chất. Không một bức tranh nào của ông không biểu hiện tình cảm của bà con các dân tộc Tây Nguyên đối với cách mạng. Chủ đề ấy hình hành tự nhiên như chính cuộc đời của họa sĩ. Không có cách mạng, không hiểu rồi cuộc đời của họa sĩ Xu Man sẽ ra sao? Và ông khẳng định: Không có cách mạng, Xu Man mãi mãi là thằng Siêu Dơng nô lệ!

Ngày còn ở trong rừng đánh Mỹ, ông đã từng đi gùi hàng dưới đồng bằng, từng vào ấp làm công tác gây dựng cơ sở, làm anh nuôi khi cần thiết. Và đặc biệt làm nương phát rẫy, đi săn bắn cải thiện, vẽ truyền đơn, vẽ tranh cổ động. Ông không thắc mắc, không đòi ưu tiên, mặc dù ông biết, có từng lúc từng nơi, người ta chỉ coi ông là một cán bộ tuyên truyền. Thậm chí, người ta chỉ quan tâm tới ông khi cần trang trí hội trường, hoặc những công việc đại loại như vậy.

Ông không từ chối một công việc nào.

Hoạ sĩ Xu Man: Con thiêng của rừng - ảnh 1Tranh: Nguyễn Văn Hổ
Hoạ sĩ Xu Man: Con thiêng của rừng - ảnh 2Tác phẩm của họa sĩ Xu Man

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực

Cảnh chị chăm em, mẹ địu con... hiện lên qua tác phẩm của nhóm họa sĩ Hiện thực, đang triển lãm tại TP HCM.

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực" id="vne_slide_image_0">

Triển lãm của nhóm họa sĩ trường phái Hiện thực diễn ra tại Bảo tàng Mỹ thuật, TP HCM, từ ngày 15 đến 20/11, với hơn 70 tác phẩm đa chất liệu. Trong đó, một số tác phẩm đề tài dân tộc vùng cao gây chú ý. Bức "Hai chị em" (ảnh) được họa sĩ Nguyễn Đinh Duy Quyền thể hiện bằng nhiều gam màu tươi tắn.

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực

Cũng về đề tài gia đình, họa sĩ Lê Thế Anh chọn các gam màu trầm.

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực" id="vne_slide_image_2">

Bức "Tuổi thơ" của họa sĩ Lê Thế Anh.

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực" id="vne_slide_image_3">

Bức "Hoài niệm" của họa sĩ Nguyễn Lê Tân. Anh thích vẽ người già trong một không gian giàu ưu tư. "Đó cũng là cách tôi thương cảm cho những số phận ngày càng cô đơn trong gia đình, giữa xã hội đương đại", anh chia sẻ.

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực" id="vne_slide_image_4">

Ngoài vùng cao, các họa sĩ cũng chọn các bối cảnh khác. Tranh "Sắc xuân" của Phạm Bình Chương khai thác các góc phố ở Hà Nội. Anh là họa sĩ tiên phong vẽ về phố phường thủ đô với bút pháp tả thực.

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực" id="vne_slide_image_5">

Bức "Lối về" của Phạm Bình Chương. Hà Nội trong nét vẽ của anh là những khoảnh khắc bình dị như vạt nắng sớm, tán bàng xanh non, dáng mẹ hiền bên gánh hàng xén...

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực" id="vne_slide_image_6">

Bức "Ngóng đợi" của họa sĩ Nguyễn Văn Bảy. Anh thường chọn đề tài quen thuộc về làng chài, đồng quê..., thể hiện ở góc trung và cận cảnh.

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực" id="vne_slide_image_7">

Bức "Đêm" của họa sĩ Mai Duy Minh chú trọng về ánh sáng trong tranh. Các góc phố được anh vẽ với cảm giác u hoài, nuối tiếc và cô đơn.

Nét đẹp vùng cao Việt Nam trong tranh sơn dầu tả thực" id="vne_slide_image_8">

Bức "Cô gái với chiếc lông ngỗng" của họa sĩ Vũ Ngọc Vĩnh. Anh thường vẽ tranh gia đình với ngụ ý: nơi ngỡ là gắn bó chặt chẽ nhất thì lại mơ hồ về sự chênh chao, đổ vỡ khó lý giải.

Mai Nhật



Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh

Nhóm họa sĩ vẽ về thắng cảnh, con người Đà Lạt nhân kỷ niệm 125 năm thành phố sương mù thành lập.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh" id="vne_slide_image_0">

Triển lãm mang tên "Sống lại vàng son" (Relive the time), nằm trong chuỗi chương trình nghệ thuật cộng đồng thường niên - "Phố bên đồi", sẽ khai mạc ngày 8/12 tại Đà Lạt. Trong ảnh là bức "Hoa phố", chất liệu sơn mài của họa sĩ Nguyễn Anh Đào.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh" id="vne_slide_image_1">

Bức "Dòng nữ tu Franciscaines", chất liệu sơn dầu, vẽ kiến trúc các tu viện cổ kính tại Đà Lạt của họa sĩ Nguyễn Thuyên. Thông qua triển lãm, các họa sĩ muốn quảng bá vẻ đẹp Đà Lạt và kêu gọi gìn giữ các địa điểm di sản đang bị mai một do đô thị hóa.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh" id="vne_slide_image_2">

Bức "Cao nguyên", chất liệu sơn dầu của Nguyễn Thuyên. Địa điểm tổ chức triển lãm nằm trong một nhà máy trà cổ do người Pháp xây dựng từ những năm 1920 ở trang trại Cầu Đất.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh" id="vne_slide_image_3">

Bức "Ngoại ô", thể loại sơn dầu của Lê Kinh Tài - một họa sĩ sống ở Đà Nẵng.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh" id="vne_slide_image_4">

Bức "Phố sương", chất liệu tổng hợp của Nguyễn Thế Thông.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh" id="vne_slide_image_5">

Bức "Phố hoa", chất liệu sơn dầu của Nguyễn Yến Phi, một nữ thạc sĩ kiến trúc tốt nghiệp cao học thiết kế, đại học Harvard, Mỹ.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh" id="vne_slide_image_6">

Bức "Hoa đào", chất liệu acrylic của Liêu Nguyễn Hướng Dương.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh

Tranh màu nước vẽ con người Đà Lạt của họa sĩ Đặng Phan Lạc Việt.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh" id="vne_slide_image_8">

Bức "Mơn trớn bờ môi" được vẽ bằng màu nước trên giấy dó (giấy được sản xuất từ vỏ cây dó) của họa sĩ Bùi Tiến Tuấn.

Phố núi, đồi thông Đà Lạt trong triển lãm tranh" id="vne_slide_image_9">

Cũng với đề tài phái đẹp, Bùi Tiến Tuấn sử dụng chất liệu lụa trong bức "Ẩn Lan". Ngoài triển lãm tranh, chương trình còn tổ chức các đêm nhạc của Nguyên Lê, Phạm Hải Âu...

Mai Nhật




5 họa sĩ Việt, Pháp mở triển lãm ở TP HCM

40 tác phẩm đa chất liệu được giới thiệu ở triển lãm "Hiện thực và tâm thức".

5 họa sĩ Việt, Pháp mở triển lãm ở TP HCM" id="vne_slide_image_0" style="cursor: url(" https:="" s.vnecdn.net="" vnexpress="" restruct="" j="" v203="" v2="" helper="" slideshow="" css="" images="" icons="" zoom_cursor.png"),="" auto;"="">

Chương trình được tổ chức tại Nhà triển lãm TP HCM (quận 1), từ ngày 10 đến 20/11. 40 bức vẽ (chất liệu lụa, cắt vải, sơn dầu, acrylic, tổng hợp) là các tác phẩm mới nhất của các họa sĩ.

Trong ảnh là bức "Bản Lao Xa ngày mới", chất liệu cắt vải của họa sĩ Trần Thanh Thục (sinh năm 1960, quê Nam Định). Với chị, mỗi bức tranh là một miền ký ức sót lại về những ngày thơ ấu, khát vọng tuổi trẻ. 20 năm trong nghề, chị đi khắp đất nước sưu tầm các mẫu vải, hoa văn làm chất liệu sáng tác.

5 họa sĩ Việt, Pháp mở triển lãm ở TP HCM" id="vne_slide_image_1" style="cursor: url(" https:="" s.vnecdn.net="" vnexpress="" restruct="" j="" v203="" v2="" helper="" slideshow="" css="" images="" icons="" zoom_cursor.png"),="" auto;"="">

Bức "Miền tâm thức", chất liệu acrylic của họa sĩ Trần Thùy Linh. Trong loạt tranh mới, nữ họa sĩ dùng kỹ thuật xử lý bề mặt để tạo những tầng không gian khác nhau cho tác phẩm. Nội dung tranh là mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ, thể hiện thông điệp: "Mọi thứ đều quay về sự khởi nguyên của tạo hóa".

5 họa sĩ Việt, Pháp mở triển lãm ở TP HCM" id="vne_slide_image_2" style="cursor: url(" https:="" s.vnecdn.net="" vnexpress="" restruct="" j="" v203="" v2="" helper="" slideshow="" css="" images="" icons="" zoom_cursor.png"),="" auto;"="">

Bức "Les Triolets by Yvette Horner" của họa sĩ Nguyễn Như Khôi, chất liệu sơn dầu. Âm nhạc là cảm hứng lớn nhất của tác giả khi vẽ tranh. Với anh, mỗi bài nhạc dù thể loại rock, symphony, pop hay jazz đều là bức tranh phản ánh suy tư của người viết nhạc, hòa âm.

5 họa sĩ Việt, Pháp mở triển lãm ở TP HCM" id="vne_slide_image_3" style="cursor: url(" https:="" s.vnecdn.net="" vnexpress="" restruct="" j="" v203="" v2="" helper="" slideshow="" css="" images="" icons="" zoom_cursor.png"),="" auto;"="">

Bức "Muse" (Nàng thơ) của tác giả người Pháp Agnes Meyberger. Bà có phong cách vẽ phóng khoáng, chú trọng vào việc lựa chọn và xử lý chất liệu.

5 họa sĩ Việt, Pháp mở triển lãm ở TP HCM" id="vne_slide_image_4" style="cursor: url(" https:="" s.vnecdn.net="" vnexpress="" restruct="" j="" v203="" v2="" helper="" slideshow="" css="" images="" icons="" zoom_cursor.png"),="" auto;"="">

Tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Thị Tâm, chất liệu lụa. Bà thường vẽ về phong cảnh quê hương, đất nước từ dòng sông đầy tôm cá, đồng ruộng phì nhiêu, lúa ngô nặng hạt đến "rừng vàng biển bạc".

Tam Kỳ






Tranh lụa của cố hoạ sĩ Nam Sơn được bán với giá gần 12 tỷ ở Pháp

Bức tranh “Thiếu nữ cầm quạt” của hoạ sĩ Nam Sơn vừa được bán với mức giá kỷ lục 440.000 Euro (gần 12 tỷ đồng), chưa tính phí gần 30% mà người mua phải chi trả thêm.

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi (cháu ngoại của cố họa sĩ Nam Sơn) cho biết, bức tranh lụa “Thiếu nữ cầm quạt” (tên tiếng Pháp “Tonkinoise à l’éventail”) được vẽ vào khoảng năm 1935 - 1936, có kích thước 43x61,5cm, được bán với giá 440.000 Euro (gần 12 tỷ đồng) trong phiên đấu giá “Họa sĩ Á Châu - Họa sĩ đương đại Trung Quốc - Tranh thế kỷ 19 - Ấn tượng và hiện đại - Nghệ thuật đương đại” của nhà đấu giá Aguttes diễn ra từ lúc 14h30 (giờ Paris), khoảng 19h30 (giờ Việt Nam) ngày 22/10.

Đây được xem là bức tranh của cố họa sĩ Nam Sơn được bán với mức giá cao nhất từ trước tới nay trên thị trường giao dịch công khai.

Cận cảnh bức tranh lụa Thiếu nữ cầm quạt của cố họa sĩ Nam Sơn vừa được bán với giá gần 12 tỷ đồng tại Pháp. Ảnh: Ngô Kim Khôi.
Cận cảnh bức tranh lụa "Thiếu nữ cầm quạt" của cố họa sĩ Nam Sơn vừa được bán với giá gần 12 tỷ đồng tại Pháp. Ảnh: Ngô Kim Khôi.

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi nhận định, đây là mức giá vượt xa mong đợi của những người tham dự buổi đấu giá và cũng là một dấu hiệu đáng mừng. Điều này cho thấy các tác phẩm mỹ thuật Việt Nam đang được đánh giá cao trên thị trường quốc tế.

Theo tài liệu của nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi thì bức tranh “Thiếu nữ cầm quạt” thể hiện chân dung một cô gái mặc áo dài xanh, quần mầu trắng, cổ đeo kiềng đang ngồi trên phản. Tay phải cầm một chiếc quạt bằng giấy mỏng màu trắng, có vẽ cành lan. Chân trái xếp bằng, chân phải co lên. Gương mặt cô dịu dàng, mang vẻ đẹp kín đáo, thanh lịch, tao nhã, phong cách tỏa ra dáng dấp của một cô gái thành thị.

Điều đáng lưu ý là nền tranh vẽ nét vân thủy làm hậu cảnh như một tấm màn gấm, mang lại cho “Thiếu nữ cầm quạt” nét quý phái, xưa cổ. Phong cách vẽ trang trí này đã được nhìn thấy trong một bức tranh lụa khác của Nam Sơn, chứng tỏ khả năng bậc thầy của ông khi dạy môn “trang trí” (art décoratif) tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi tại phòng trưng bày của phiên đấu giá Aguttes. Ảnh: Ngô Kim Khôi.
Nhà nghiên cứu mỹ thuật Ngô Kim Khôi tại phòng trưng bày của phiên đấu giá Aguttes. Ảnh: Ngô Kim Khôi.

Bức tranh được trình bày trong chiếc khung nguyên thủy. Sau tranh là mộc của nhà sản xuất khung: “Tam Thọ Bồi Tranh – Bùi Ngọc Lưu – 58, phố Bắc Ninh (rue Maréchal Pétain), Hà Nội“.

Nhà Tam Thọ nổi tiếng với việc đóng khung tranh và đặc biệt là phương pháp bồi tranh lụa theo kỹ thuật làm hồ dán cổ truyền. Nam Sơn có thói quen đặt khung ở đây và thậm chí còn gửi con gái lớn của mình là Nguyễn Thị Kim Thoa đến học kỹ thuật bồi tranh danh tiếng ấy.

“Thiếu nữ cầm quạt” thuộc bộ sưu tập của Tiểu đoàn trưởng Fernand Mallet, đóng quân tại Hà Nội từ 1936 đến 1938. Bức tranh lụa này được mang về Pháp từ năm 1938 và gia đình lưu giữ cho đến ngày hôm nay.

Trước đó, vào 14h30 ngày 26/3/2018 (giờ Paris), bức tranh lụa “Thôn nữ Bắc kỳ” (mực nho với màu nước trên lụa, 65cm x 52,5cm, 1935) của họa sĩ Nam Sơn cũng đã được Aguttes bán với giá 205.000 euro (hơn 5,7 tỷ đồng). Ở thời điểm đó, đây là bức tranh cao giá nhất của Nam Sơn.

Toàn cảnh phiên đấu giá các tác phẩm hội họa tại Aguttes. Ảnh: Ngô Kim Khôi.
Toàn cảnh phiên đấu giá các tác phẩm hội họa tại Aguttes. Ảnh: Ngô Kim Khôi.

Ngoài tranh của cố họa sĩ Nam Sơn thì bức tranh “Đi chợ về” (kích thước 47,5 x 35,5cm) của cố họa sĩ Trần Văn Cẩn cũng tạo cú sốc lớn khi bán với giá 230.000 euro (gần 6,1 tỉ đồng) tại phiên đấu giá này. Đây là bức tranh có giá bán cao nhất từ trước đến nay của họa sĩ Trần Văn Cẩn.

Hà Tùng Long



Nhiều họa sĩ thế giới vẽ tranh tưởng niệm nhà báo thiệt mạng

Hàng loạt họa sĩ từ khắp nơi trên thế giới đã vẽ những bức tranh tưởng niệm các đồng nghiệp thiệt mạng trong vụ thảm sát hôm 7/1 ở Paris, Pháp.

Tranh của PLANTU: Dành tất cả tấm lòng cho Charlie Hedbo.
Tranh của PLANTU: Dành tất cả tấm lòng cho Charlie Hedbo.

Nhiều họa sĩ thế giới vẽ tranh tưởng niệm nhà báo thiệt mạng - ảnh 1

Tranh của Martin Vidberg:

Ngày hôm nay, tôi là họa sĩ của báo chí. Ngày hôm nay, tôi là nhà báo.

Ngày hôm nay, tôi vẽ cho Charlie Hedbo

Nhiều họa sĩ thế giới vẽ tranh tưởng niệm nhà báo thiệt mạng - ảnh 2

Tranh của Stéphane Blanquet: Nụ cười đã tắt.

Nhiều họa sĩ thế giới vẽ tranh tưởng niệm nhà báo thiệt mạng - ảnh 3

Tranh của Lalo Alcaraz.

Bàn chuyện tranh giả trên tạp chí quốc tế

Tranh giả, tranh nhái gần đây là chủ đề được bàn luận sôi nổi trên nhiều phương tiện truyền thông, tuy nhiên lần đầu tiên một nghiên cứu liên ngành về hiện tượng tranh giả, tranh nhái ở Việt Nam được công bố trên một tạp chí ISI về nghệ thuật.

Bức “Mơ về một ngày mai” giả mạo chữ ký Tô Ngọc Vân thực chất là tranh chép vụng về từ tác phẩm gốc của hoạ sĩ Tây Ban Nha
Bức “Mơ về một ngày mai” giả mạo chữ ký Tô Ngọc Vân thực chất là tranh chép vụng về từ tác phẩm gốc của hoạ sĩ Tây Ban Nha

Lật lại tranh giả
Nghiên cứu Paintings can be forged, but not feeling: Vietnamese art-market, fraud and value (Bức tranh có thể làm giả, nhưng cảm xúc thì không: Nghệ thuật Việt Nam-Thị trường, giả nhái và giá trị) công bố ngày 9/10 trên một tạp chí trong cơ sở dữ liệu ISI Web of Science (ESCI). Nhóm nghiên cứu gồm sáu người trong đó có TS Vương Quân Hoàng, Giám đốc Trung tâm ISR, Đại học Thành Tây - Hà Nội, TS. Trần Kiên, giảng viên trường ĐH Luật Hà Nội, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội.
Nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm ISR, Đại học Thành Tây bỏ ra khoảng 6 tháng thu thập dữ liệu, phân tích về 35 trường hợp tranh giả được chú ý trên truyền thông Việt Nam và ý kiến đánh giá từ chuyên gia. Nhóm nghiên cứu dẫn chứng điều kiện kinh tế tốt lên mở đường cho thị trường tranh Việt Nam. Chỉ trong vòng ba thập kỷ qua, người Việt Nam từ chỗ ăn uống dè sẻn nay có thể tới các tiệm McDonald bất cứ khi nào họ muốn. Việc này cũng tác động đến thu nhập của nghệ sĩ, thúc đẩy người sưu tập, các bảo tàng tham gia vào thị trường mỹ thuật.
Nhóm nghiên cứu đề cập câu chuyện bức Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân để chứng minh cho việc thị trường tranh giả, tranh nhái ở Việt Nam kéo dài từ lâu. Kiệt tác của hoạ sĩ Tô Ngọc Vân là tác phẩm được sao chép khá nhiều. Bức tranh gốc do nhà sưu tập Đức Minh sở hữu, từng cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mượn triển lãm ở nước ngoài. Bảo tàng từng nhờ chép tranh nhưng không đề rõ đó là tác phẩm sao chép, nhưng cũng từ chối chấp nhận số tranh do nhà sưu tập Đức Minh hiến tặng bảo tàng. Sau khi ông Đức Minh qua đời, con trai ông bán bức này với giá 15 nghìn USD, nó bị tuồn ra nước ngoài, sau đó được bán với giá 200 nghìn USD rồi nghe nói quay trở lại Việt Nam khi được mua lại với giá khoảng 400 nghìn USD, tuy nhiên tới nay rất ít người biết rõ về bản gốc kiệt tác vẽ năm 1943 này.
Bàn chuyện tranh giả trên tạp chí quốc tế - ảnh 1Bức “Gia đình” của Lê Phổ bị nghi ngờ giả mạo nhưng vẫn được Sotheby’s đấu giá ngất ngưởng
Dữ liệu và phân tích của nhóm nghiên cứu tập trung vào 35 trường hợp tranh giả được chú ý trên truyền thông những năm gần đây. Trong số này không thể không nhắc tới bức Mơ về một ngày mai được cho là tranh của Tô Ngọc Vân, được nhà Christie’s Hong Kong đấu giá, tuy nhiên sau đó được phát hiện là tranh giả, tác phẩm sao chép ngớ ngẩn từ tác phẩm nổi tiếng của hoạ sĩ Tây Ban Nha thế kỷ 17. Ngoài ra có thể kể đến những vụ tranh giả khác như làm giả bức Thiếu nữ uống trà của Vũ Cao Đàm, Ra chơi của Mai Trung Thứ và đem đấu giá ở Pháp, bức Phố cũ của Bùi Xuân Phái dù trong nước nhận định tranh giả vẫn được đấu giá thành công tại các sàn đấu giá danh tiếng thế giới.
Lí giải tranh giả
Kết quả công bố trên tạp chí ISI này là nghiên cứu hàn lâm đầu tiên về nạn tranh giả, tranh nhái của Việt Nam. Hồ Mạnh Toàn, một thành viên của nhóm nghiên cứu cho rằng nhóm nghiên cứu đi tới ba điều đúc rút chính: Bất chấp tính gây tranh cãi về tranh giả, tranh nhái giá vẫn tăng-chứng tỏ sự tranh cãi này không ảnh hưởng tới giá trị kinh tế của tác phẩm. Chẳng hạn một bức tranh về đề tài gia đình của hoạ sĩ Lê Phổ được đấu giá hơn 535 nghìn USD tại nhà Sotheby’s, nhưng vẫn bị nghi ngờ tranh giả. Các nhà đầu tư, nhà đấu giả nước ngoài đẩy cao giá tranh Việt Nam nhưng chưa có căn cứ chuẩn xác về lịch sử và chất lượng. Trước thực trạng này, hiếm có trường hợp nào cơ quan chức năng Việt Nam can thiệp, xử lý, còn giới hoạ sĩ ngày càng bất lực trước tình trạng hàng giả, hàng nhái.
Chỉ trong ngày đầu công bố, bài nghiên cứu thu hút 1 nghìn lượt xem, 10 ngày sau có gần 5 nghìn lượt xem và hơn 700 lượt tải về. Trong cùng chủ đề số đặc biệt về tội phạm nghệ thuật, một nghiên cứu khác của hai tác giả ở Mỹ, Đức chưa đầy 1 nghìn lượt xem dù công bố từ tháng 6. TS. Trần Kiên, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội đánh giá nhờ tính liên ngành của nghiên cứu, những người thực hiện cố gắng mổ xẻ hiện tượng này dưới nhiều góc độ từ nghệ thuật, kinh tế, pháp luật và tâm lý. Có lẽ vì thế mà tạp chí khá ưu ái cho nhóm nghiên cứu đăng tải bài viết dài tới 33 trang.
Câu chuyện xử lý tranh giả, tranh nhái được đề cập dưới nhiều góc độ. TS. Trần Kiên phân tích thêm, mặc dù chế tài áp dụng cho các trường hợp phát hiện tranh giả, tranh nhái tương đối rõ ràng, tuy nhiên gần như không có trường hợp nào được xử lý rốt ráo dù bắt tận tay day tận trán, tang chứng rõ ràng.
“Khi đặt câu hỏi tại sao tác giả ngại đi kiện, chúng tôi phân tích dưới nhiều lăng kính khác nhau. Ở góc độ luật pháp, đúng là quy trình khởi kiện hơi phức tạp, mất thời gian, đòi hỏi có bằng chứng. Xét về mặt kinh tế, có thể tác giả thấy giá trị bán bức tranh đó quá thấp, hoặc xuất phát từ tâm lí e ngại, công việc bận rộn”, TS. Trần Kiên nói. Ông cho rằng nghiên cứu lần này mang tính nền tảng, tiếp cận vấn đề liên ngành nên sẽ là cơ sở để các nhà nghiên cứu sau đào sâu, giải quyết từng vấn đề về tranh giả, tranh nhái ở Việt Nam.

Bộ VHTTDL mới thành lập Trung tâm giám định và triển lãm tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh, thuộc Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm. Bộ cũng thành lập hội đồng giám định, chia thành ba hội đồng nhỏ: Giám định tác phẩm hội hoạ, điêu khắc và sắp đặt, hội đồng nghệ thuật nhiếp ảnh. Ngoài ra, Cục Mỹ thuật hợp tác với Viện Khoa học hình sự Bộ Công an để nhờ tới máy móc thẩm định trong một số trường hợp chưa chắc chắn như nghi ngờ về chất liệu sơn, toan vẽ và năm tuổi của gỗ.



Bức tranh được bán với giá gốc sau khi phục chế

Vẽ một bức tranh tường, chuyển thành tranh canvas, đấu giá được đống tiền (gần 32 tỷ đồng), cắt tranh ngay trong buổi đấu giá, tạo ra tranh mới (giá không đổi).

Tranh tường “Girl with balloon” được vẽ năm 2002 trên thành cầu Waterloo ở thủ đô London của Anh (ảnh chụp năm 2004). Tranh: Banksy.
Tranh tường “Girl with balloon” được vẽ năm 2002 trên thành cầu Waterloo ở thủ đô London của Anh (ảnh chụp năm 2004). Tranh: Banksy.

Năm 2002, Banksy (nghệ sĩ Anh giấu mặt, không rõ danh tính) vẽ lên thành cầu Waterloo ở trung tâm thủ đô London hình một cô bé đang thả một quả bóng bay đỏ hình trái tim. Gần đó có dòng chữ “THERE IS ALWAYS HOPE” (Luôn luôn có niềm hy vọng). Bức tranh được gọi tên là “Girl with balloon”/“Balloon girl” (Cô bé bóng bay).
Cắt nhỏ “32 tỷ đồng”
Năm 2006, Banksy vẽ lại “Girl with balloon” bằng sơn phun, sơn Acrylic trên vải bố (canvas) với kích thước 101 cm x 78 cm x 18 cm, rồi đưa cho một người bạn. Ông nói mình đã áp dụng cơ chế tự hủy cho bức tranh.
Phiên bản “Girl with balloon” năm 2006 ở LondonMột phiên bản “Girl with balloon” năm 2006 ở London. Đây là phiên bản cuối cùng ở London. Tranh: Banksy.
Năm 2014, Banksy dùng phiên bản tranh tường này trong một chiến dịch ủng hộ người tị nạn Syria.
Năm 2017, Samsung khảo sát và bức “Girl with balloon” (bản gốc) được bình chọn là tác phẩm nghệ thuật được yêu thích nhất ở Anh.

Năm 2018, bức “Girl with balloon” vẽ trên canvas năm 2006 được đem ra đấu giá. Ngày 5/10/2018, nhà đấu giá nghệ thuật Sotheby’s (thành lập ở Anh, trụ sở ở Mỹ) bán bức tranh này với giá 1,042 triệu bảng Anh (gần 32 tỷ đồng).

Giá vừa chốt, bức tranh trượt khỏi khung về phía dưới và một phần bức tranh bị cắt thành các mảnh nhỏ theo chiều dọc (giống như khi vừa cho giấy vào máy hủy tài liệu).

Sotheby’s nói họ không biết trước về cơ chế tự hủy của bức tranh. Nhà đấu giá và người mua thương lượng về vụ đấu giá.

Ngày 11/10/2018, hai bên nhất trị thương vụ vẫn diễn ra với giá gốc và bức tranh được đại diện của Banksy đổi tên thành “Love is in the bin” (Tình yêu trong thùng rác). Sotheby’s tuyên bố đây là “tác phẩm nghệ thuật đầu tiên trong lịch sử được tạo ra trực tiếp trong một phiên đấu giá”.
Bức tranh “Love is in the bin”Hai nhân viên đấu giá nâng bức tranh “Love is in the bin”. Ảnh: Jack Taylor.
Giới quan sát cho rằng, việc tự hủy làm tăng giá trị bức tranh.
Sau phiên đấu giá, nghệ sĩ-thợ rèn Josh Gilbert, cho rằng, thiết bị gắn trong khung tranh dường như là máy hủy tài liệu X-Acto, nhưng vị trí đặt các lưỡi dao (2 bên hông) khó có thể cắt tranh như người tham dự đấu giá nhìn thấy. Ông kết luận, một trò ảo thuật, chứ không phải việc cắt tranh, đã diễn ra. Người ta chuẩn bị trước một bức tranh đã bị cắt rồi khéo léo giấu đi bản gốc, để lộ bản bị cắt.
Bức “Grin Reaper” (Tử thần nham nhở) vẽ trên tườngBức “Grin Reaper” (Tử thần nham nhở) vẽ trên tường. Tranh: Banksy.
Châm biếm xã hội
Dù sự thực có thể nào thì nhiều người cũng rất khâm phục sự sáng tạo, sức sáng tạo nghệ thuật và hoạt động xã hội của Banksy. Nghệ thuật đường phố của ông mang tính châm biếm cao, đề cập nhiều vấn đề chính trị, xã hội.
Bức tranh “Naked man” (Người đàn ông khỏa thân)Bức tranh “Naked man” (Người đàn ông khỏa thân) do Banksy vẽ trên tường của một phòng khám sức khỏe tình dục trên phố Park, thành phố Bristol, Anh. Do nhiều người thích bức tranh, Hội đồng thành phố đã quyết định giữ lại, không xóa bỏ.
Banksy thể hiện các tác phẩm nghệ thuật của mình ở trên những bề mặt lớn nơi công cộng như tường nhà, thành cầu… và trên các đạo cụ do ông tự làm. Banksy không bán bản sao hoặc ảnh chụp các bức vẽ trên đường phố, nhưng nhiều người đấu giá nghệ thuật tìm cách bán các tác phẩm đường phố của ông. Người thắng đấu giá phải tự tìm cách gỡ tác phẩm nghệ thuật ra khỏi các bề mặt.
Banksy còn đạo diễn phim tài liệu. Phim tài liệu “Exit through the gift shop” (Thoát ra thông qua cửa hàng quà tặng” (2010) tham dự Liên hoan phim Sundance 2010. Phim kể câu chuyện về Thierry Guetta - một người Pháp nhập cư ở thành phố Los Angeles (Mỹ) và ám ảnh của ông này với nghệ thuật đường phố.
Tháng 1/2011, “Exit through the gift shop” được đề cử giải Oscar cho phim tài liệu xuất sắc nhất. Năm 2014, tại Lễ trao giải thưởng Webby (dành cho các nhân vật, tác phẩm, website xuất sắc trên Internet), ông được trao giải thưởng Nhân vật của năm.

Đàm Vĩnh Hưng xin lỗi vì ký tên lên tranh quý đấu giá

Trước nhiều chỉ trích, nam ca sĩ giải thích vì không hiểu biết về hội họa nên anh cùng một số nghệ sĩ đã ký tên lên tranh vẽ theo yêu cầu của người mua.

Trên trang cá nhân, Đàm Vĩnh Hưng vừa lên tiếng về việc ký tên lên tranh bán đấu giá. Theo đó, Mr. Đàm xin lỗi tác giả bức tranh nói riêng, cũng như những người chơi tranh nói chung. Anh giải thích việc ký tên lên tranh được thực hiện sau khi đã đấu giá thành công. Chủ nhân bức tranh mong muốn các nghệ sĩ ký lên tranh chứ mọi người không tự ý ký. Nam ca sĩ tự nhận mình là người không am hiểu về hội họa, không biết các nguyên tắc cũng như luật với người chơi tranh nên đã làm phật ý nhiều người.

"Sau khi đấu giá xong, vị Mạnh thường quân (người mua bức tranh) ra phía sau sân khấu xin chụp hình và mong anh chị em ca sĩ ký hết vào để làm kỷ niệm. Chúng tôi cũng khó mà nói lời từ chối được! Và điều đó đã làm không hài lòng một số các hoạ sĩ và những người yêu hội hoạ. Vâng xin mạnh dạn thừa nhận chúng tôi là ca sĩ, không phải là hoạ sĩ hay dân chơi hội hoạ hoặc là những người yêu tranh vẽ chuyên nghiệp nên không hiểu biết nhiều về luật chơi tranh, nên đã vô tư ký để làm vui lòng vị mạnh thường quân kia, nhưng nó lại làm phật ý giới hoạ sĩ. Nếu đó là điều cấm kỵ thì tôi xin đại diện anh chị em gửi lời xin lỗi đến những người biết chơi tranh, đặc biệt là chú hoạ sĩ Hứa Thanh Bình. Rất mong chú bỏ qua cho sự vụng dại này của tụi con. Người ta vẫn hay nói kẻ không biết là kẻ không có tội. Và trong 2 ngày qua chúng tôi cũng nhận ra phần sai đó của mình cũng chỉ vì không biết. Vì chúng tôi cũng nhận ra mình không am hiểu luật về tranh nên cũng cảm thấy thật tiếc cho việc ký tên đó", Đàm Vĩnh Hưng trần tình.

Hình ảnh Đàm Vĩnh Hưng và Lệ Quyên ký lên bức tranh khiến họ hứng chịu chỉ trích từ giới hội họa.

Hình ảnh Đàm Vĩnh Hưng và Lệ Quyên ký lên bức tranh khiến họ hứng chịu chỉ trích từ giới hội họa.

Chia sẻ này của Đàm Vĩnh Hưng nhận nhiều quan tâm của người hâm mộ. NTK Đức Hùng lên tiếng bảo vệ: "Kiến thức rộng lớn như đại dương. Không ai nói chắc sẽ biết hết và hiểu sâu rộng. Với Hưng và Lệ Quyên tôi nghĩ rằng các em là ca sĩ cũng như tôi, không quá am hiểu sâu ở lĩnh vực hội hoạ nên đã ký tên lên tác phẩm của hoạ sĩ, chứ nếu biết tôi tin không xảy ra sự việc gần đây làm ồn ào và để người khác chỉ trích mình như vậy". Ca sĩ Lệ Quyên - người cũng ký lên bức tranh - chia sẻ: "Anh đã thay mặt mọi người nói quá đầy đủ và chính xác. Anh của chúng em". Facebooker Phan Lợi đồng cảm: "Một bức tranh với ý nghĩa từ thiện thì việc ký tên vào đó theo yêu cầu của chủ nhân cũng không có gì quá đáng. Ngược lại nó càng làm bức tranh đặc biệt và giá trị hơn khi có chữ ký của những người nổi tiếng".

Tuy nhiên cũng có những ý kiến không đồng tình. Facebooker Ha Nguyen Do Cuong phản biện: "Anh là một ca sĩ, không phải là một họa sĩ, thì em sẽ lấy ví dụ về ngành của anh. Anh được một nhạc sĩ tặng một bài hát, vậy nếu anh muốn thay đổi những nốt nhạc, giai điệu, lời của bài hát, em không biết là có phải hỏi lại người nhạc sĩ đã sáng tác hay không? Hay bởi vì người ta tặng cho anh, anh có quyền thay đổi theo ý thích? Em không phải là người chơi tranh, tuổi đời em ít hơn anh cũng nhiều, không dám nói hỗn với anh. Nhưng em chỉ thấy rằng một bức tranh dù là được yêu cầu cũng không nên ký trực tiếp vào nó, anh có thể ký trên khung tranh. Anh bảo là do anh không biết. Nhưng em đọc status của anh, đọc comment của anh thì thấy anh đang biện minh cho hành động của mình chứ không phải là thật lòng xin lỗi họa sĩ. Anh đang "trả cheo" lại những ý kiến phản đối, tức giận của người không ủng hộ anh, không bênh vực anh. Thậm chí chính những bức ảnh anh đính kèm cũng nói lên điều đó. Những người tức giận với anh cũng giống như khi một bài hát bị sửa lời, sửa giai điệu một cách vô lý vậy".

Đáp lại Đàm Vĩnh Hưng viết: "Khi mua bài thì các nhạc sĩ vẫn luôn nhắn tin với anh: 'Anh thích sửa gì thì cứ sửa thoải mái nha. Miễn là vừa ý anh nhất vì em tin anh là người biết khán giả muốn gì'. Đó là những lời rất thật mà anh luôn nhận được từ các nhạc sĩ trẻ mà anh làm việc với họ".

Quảng cáo
Các nghệ sĩ bên bức tranh.

Các nghệ sĩ bên bức tranh.

Trước đó, tối 30/8, Đàm Vĩnh Hưng và nhiều nghệ sĩ tên tuổi đã tổ chức chương trình Tình nghệ sĩ để quyên góp giúp đỡ nghệ sĩ Lê Bình và Mai Phương đang mắc bệnh ung thư phổi. Đêm nhạc đã thu về 835 triệu đồng, trong đó bức tranh của họa sĩ Hứa Thanh Bình được mua với giá 200 triệu. Tuy nhiên đến ngày 14/10 nhiều người trong giới hội họa lên tiếng chỉ trích Mr. Đàm vì hành động ký tên lên bức tranh quý. Họ cho rằng việc làm này thiếu tôn trọng tác giả của bức tranh.

Facebooker Siu Quý bức xúc: "Họ đang bán đấu giá bức tranh hay bán đấu giá chữ ký". "Họ đã làm hỏng một tác phẩm nghệ thuật. Về nguyên tắc, một tác phẩm hội hoạ chỉ có một chữ ký, đó là chữ ký của tác giả, xác nhận tác phẩm của mình, ngoài ra không thể có một chữ ký nào khác, dù trước hay sau của bức tranh. Hơn nữa, không thể viết vẽ bừa bãi trên một tác phẩm đã được hoàn thiện, làm như thế là hành động phá hoại tác phẩm. Họa sĩ Hứa Thanh Bình đã bán tác phẩm của mình cho người mua, nhưng không thể không đau đớn và cảm thấy bị xúc phạm khi nhìn thấy tác phẩm của mình bị đối xử như thế này", Facebooker Do Duy Ngoc ý kiến.

Cherry Trần



Tranh của hoạ sĩ Việt Nam lên sàn Nhà đấu giá Aguttes tại Paris

Theo thông tin từ gia đình họa sĩ Nguyễn Nam Sơn, bức tranh lụa Thiếu nữ cầm quạt của cố họa sĩ sẽ lên sàn đấu của Nhà đấu giá Aguttes tại Trung tâm Drouot thủ đô Paris, Pháp vào ngày 22-10 tới đây.

Lụa là một trong những chất liệu ưa thích của Nam Sơn. Ông sáng tác nhiều tác phẩm chất liệu lụa, trong đó có Thiếu nữ cầm quạt (Tonkinoise à l’éventail).

Theo gia đình cố họa sĩ, bức tranh được ông vẽ khoảng năm 1935-1936, có kích thước 43 x 61,5cm, thể hiện chân dung một cô gái đang ngồi trên phản, tay phải cầm một chiếc quạt bằng giấy mỏng màu trắng, trên quạt có vẽ cành lan. Cô gái trẻ chân trái xếp bằng, chân phải co lên, mặc áo dài xanh, quần mầu trắng, cổ đeo kiềng. Gương mặt cô toát lên vẻ đẹp dịu dàng và kín đáo, thanh lịch, tao nhã, phong cách tỏa ra dáng dấp của một cô gái thành thị.

Tranh của hoạ sĩ Việt Nam lên sàn Nhà đấu giá Aguttes tại Paris - ảnh 1Thiếu nữ cầm quạt, vẽ năm 1935-1936 của họa sĩ Nam Sơn

“Thiếu nữ cầm quạt” búi tóc theo kiểu miền Bắc. Để thêm nét quyến rũ và khuôn mặt thanh tao hơn, phụ nữ miền Bắc bấy giờ thường bọc mái tóc dài của họ trong một mảnh vải màu đen hoặc nhung the, sau đó vấn tròn quanh đầu như một vương miện. Đôi khi họ để đuôi tóc vương bên má, được gọi là bỏ đuôi gà. Sau đó có chút thay đổi, họ không dùng vải mà vấn tóc trần như thiếu nữ trong tranh.

Nhìn chung “Thiếu nữ cầm quạt” tạo ấn tượng bởi vẻ đằm thắm, nhẹ nhàng. Cô gái có khóe miệng vừa bí ẩn vừa duyên dáng, cười mà như không cười, và đặc biệt, đôi mắt trong sáng của cô như nói lên được rất nhiều điều… Tranh có màu sắc lạnh, nhưng hài hòa, sang trọng, gợi cho khách thưởng ngoạn những tình cảm nhu mì, nhẹ nhàng. Chiếc áo xanh biếc màu ngọc bích, ánh nắng hắt vào làm vạt trước trở nên mỏng manh và sáng hơn. Dưới đất hờ hững đôi guốc mộc cổ truyền - những hình ảnh đã trở thành dấu ấn thân quen, khó phai mờ trong tâm hồn của bao thế hệ người Việt.

Bức tranh được trình bày trong chiếc khung nguyên thủy, phía sau là mộc của nhà sản xuất khung “Tam Thọ bồi tranh – Bùi Ngọc Lưu – 58, phố Bắc Ninh (rue Maréchal Pétain), Hà Nội”. Nhà Tam Thọ nổi tiếng với việc đóng khung tranh và đặc biệt là phương pháp bồi tranh lụa theo kỹ thuật làm hồ dán cổ truyền, Nam Sơn có thói quen đặt khung ở đây.

Nét bút của Nam Sơn lộ rõ ra trên thần thái xinh đẹp của cô gái. Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm, con gái thứ ba của họa sĩ Nam Sơn, nay đã 87 tuổi, khi nhìn tranh cho biết bà nhận ra người mẫu này, nhưng không nhớ tên. Bà kể, mỗi khi người mẫu đến nhà, các con gái trong gia đình ít được tiếp xúc, chỉ gọi tên người mẫu là “cô mô-đen” và không biết tên thật. Góc trái phía dưới, chữ ký quốc ngữ Nguyễn Nam Sơn. Trên chữ ký là một con dấu tròn cách điệu, trong vòng tròn ghi “Hàn Tùng” (chữ Hán, nghĩa là “Tùng trong giá lạnh”, chỉ đến người quân tử, cũng có thể ngụ ý rằng tranh hoàn tất vào mùa đông). Bên phải, là dòng chữ “Thần Kiếm hồ Nguyễn Nam Sơn“, nghĩa là người ngụ bên hồ Hoàn Kiếm tên là Nguyễn Nam Sơn, dưới là một triện rất đẹp hình chiếc lá, trên lá viết chữ “Kiếm hồ”, là nói đến hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tranh của hoạ sĩ Việt Nam lên sàn Nhà đấu giá Aguttes tại Paris - ảnh 2Họa sĩ Nguyễn Nam Sơn, người đồng sáng lập Trường Mỹ thuật Đông Dương
Theo nhà nghiên cứu Ngô Kim Khôi, đang sống và làm việc tại Pháp- cháu ngoại của cố họa sĩ Nguyễn Nam Sơn- “Thiếu nữ cầm quạt” thuộc bộ sưu tập của Tiểu đoàn trưởng Fernand Mallet (đóng quân tại Hà Nội từ ngày 24-1-1936 đến ngày 28-4-1938)s. Từ năm 1938, bức tranh lụa này được mang về Pháp và được gia đình lưu giữ cho đến ngày hôm nay. Nét kiêu sa của “Thiếu nữ cầm quạt” đã thật sự chinh phục nhà đấu giá Aguttes, trong cuốn vựng tập đã trìu mến đưa cô lên bìa và còn trang trọng dành riêng mười trang để ca ngợi nhan sắc kiều diễm của cô. Bức tranh có giá khởi điểm từ 50.000 đến 80.000 euro.
Tranh của hoạ sĩ Việt Nam lên sàn Nhà đấu giá Aguttes tại Paris - ảnh 3Thôn nữ Bắc kỳ (vẽ năm 1935) của Nam Sơn làm nóng sàn đấu Nhà Aguttes với giá 205.000 euro hồi tháng 3
Nguyễn Nam Sơn, tên thật là Nguyễn Vạn Thọ (1890-1973), quê gốc Vĩnh Yên, sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, là một trong những họa sĩ Việt Nam đầu tiên của nền hội họa đương đại. Ông là người đồng sáng lập trường Mỹ thuật Đông Dương cùng với họa sĩ người Pháp Victor Tardieu và trực tiếp giảng dạy với tư cách giáo sư chuyên ngành. Ông cũng chính là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất được giao quản lý trường với cương vị, trọng trách là một quyền Hiệu trưởng, từ 3-1945 đến cuối năm 1945… Mới đây hồi tháng 3, cũng tại sàn đấu của Nhà Aguttes, bức tranh lụa “Thôn nữ Bắc kỳ” (ảnh, vẽ khoảng năm 1935) của danh họa đã làm “nóng” cả phiên đấu- khi có giá khởi điểm là 35.0000 euro và kết quả đã được chốt ở mức 205.000 euro (gần 6 tỷ đồng).

Theo Sài Gòn giải phóng


Ai mua tranh Việt triệu đô?

Đa phần tranh Việt bán được giá cao tại các phiên đấu giá quốc tế vừa qua là nhờ các nhà sưu tập tranh người Việt muốn sở hữu

Tranh Việt có giá triệu đô là thực tế đã diễn ra trên các sàn đấu giá quốc tế. Mới nhất là phiên đấu giá tranh Modern art evening sale, diễn ra ngày 30-9 tại nhà đấu giá tranh Sotheby’s Hongkong, 5 bức tranh Việt đã được bán tổng cộng gần 2,5 triệu USD càng khẳng định sức hấp dẫn của tranh Việt trên thị trường quốc tế.

Giá hàng chục tỉ đồng

Năm tác phẩm thu về 2,5 triệu USD cho chủ sở hữu của nó là bức "Gia đình" (La Famille) của họa sĩ Lê Phổ; "Chơi ô quan" (Le jeu des cases gagnantes) và "Đan len" (La Lingere) của Nguyễn Phan Chánh; "Dân làng" (Les villageois) của Nguyễn Gia Trí và "Điềm nhiên" (Seated Lady) của Vũ Cao Đàm. Trong đó, bức tranh lụa "Gia đình" của họa sĩ Lê Phổ đã bán được 749.053 USD, lọt vào tốp 10 những bức tranh Việt cao giá nhất trên sàn đấu giá quốc tế công khai.

 

Ai mua tranh Việt triệu đô? - ảnh 1Bức tranh lụa “Gia đình” của họa sĩ Lê Phổ đã bán được giá 749.053 USD. Nguồn ảnh: SOTHEBY’S HONG KONG

Trước đó, bức tranh "Cuộc sống gia đình" (Family life) của danh họa Lê Phổ bán được đến 1,171 triệu USD tại sàn đấu giá Sotheby’s Hồng Kông vào ngày 2-4-2017. Bức tranh "Người Mẹ" (Marternite) của ông cũng bán được giá 657.425 USD vào ngày 31-3 tại Sotheby’s Hồng Kông.

 

Ai mua tranh Việt triệu đô? - ảnh 2Bức tranh “Cuộc sống gia đình” (Family life) của danh họa Lê Phổ có giá bán hơn 1,1 triệu USD. Nguồn ảnh: SOTHEBY’S HONGKONG

Ngày 26-5, phiên đấu giá "Nghệ thuật châu Á thế kỷ XX và đương đại" và phiên đấu giá "Người đương thời: Tiếng nói từ phương Đông và phương Tây" được nhà Christie tổ chức song song. Bức "La Toilette" (Nhà tắm) của danh họa Lê Phổ, một trong hơn 70 tác phẩm được bán, có mức giá giao dịch là 2 triệu HKD (tương đương 5,8 tỉ đồng). Theo Chiristie, tác phẩm này được họa sĩ tặng cho bác sĩ Tinh Doan ở Pháp, sau đó thuộc về một bộ sưu tập cá nhân ở Anh.

Cũng tại phiên đấu giá của Christies Hồng Kông vào tối 26-5, một số tác phẩm của danh họa Việt khác là "La Marchande de Ôc" của Nguyễn Phan Chánh cũng có mức giao dịch rất cao, với 4.660.000 HKD (tương đương 13,5 tỉ đồng). Tác phẩm sơn mài mang tên "Vietnamesse Ladies" của Nguyễn Gia Trí cũng đạt mức giao dịch là 875.000 HKD (khoảng 2,5 tỉ đồng).

Quay lại phiên đấu giá tại Sotheby’s Hồng Kông hôm 30-9, bức tranh lụa "Le jeu des cases gagnantes" của Nguyễn Phan Chánh, dù bị nghi ngờ về độ chân bản như bức "La Famille" của Lê Phổ, nhưng cũng có mức giá giao dịch khá cao với 319.600 USD. Và bức lụa "La Lingère"(Đan len) của Nguyễn Phan Chánh còn có mức giá cao hơn với 444.883 USD. Đây cũng là 1 trong 5 bức tranh cao giá nhất của Nguyễn Phan Chánh trên sàn đấu công khai.

Trong khi đó, bức bình phong sơn mài "Les Villageois" (Dân làng) của Nguyễn Gia Trí đã bán với giá 782.381 USD. Đây cũng là 1 trong 5 bức tranh cao giá nhất của Nguyễn Gia Trí trên sàn đấu công khai. Tuy nhiên, làm nên bất ngờ lớn tại phiên đấu giá này phải kể đến bức lụa của Vũ Cao Đàm "Seated Lady" (Điềm nhiên), với giá giao dịch là 303.620 USD dù mức giá dự đoán chỉ là 63.920 - 89.488 USD. Trước đó, Vũ Cao Đàm từng có bức "Portrait d’une jeune fille" (Chân dung cô gái trẻ), cũng được đấu giá tại Sotheby’s Hồng Kông (vào ngày 4-4-2011) với mức giá gần 62.000 USD.

Người mua đang là nhà sưu tập Việt

Trong câu chuyện về hội họa Việt Nam đương đại, ngoài chuyện của các nghệ sĩ, những tác phẩm tranh Việt cao giá, công chúng còn quan tâm đến việc ai là người đã mua những bức tranh Việt trong các phiên đấu giá tranh công khai trên thị trường tranh quốc tế.

Tại một phiên đấu giá tranh trong nước, bức tranh "Mèo vờn nhau" của danh họa Nguyễn Sáng đã được mua với giá 101.000 USD, là bức tranh đắt nhất được bán đấu giá tại Việt Nam. Sau giá gõ búa, người mua phải cộng thêm 10% giá trị, tức phải trả 111.000 USD để được sở hữu tác phẩm (tương đương 2,463 tỉ đồng). Trước đây, bức tranh "Mèo vờn nhau" thuộc sở hữu của một vị đại sứ tại Việt Nam. Sau đó tác phẩm này được đấu giá tại Hongkong nhân kỷ niệm 30 năm của nhà Christie’s Asian (29-5-2016). Nhà sưu tầm Phạm Văn Thông đã mua bức tranh tại Christie’s Hongkong với giá 41.000 USD. Sau đó, bức tranh được chủ nhân gửi tới đấu giá tại nhà đấu giá Chọn bằng giá mua về. Bức tranh được một nhà sưu tập người Việt mua với giá 101.000 USD, tăng 146%.

Nhà sưu tập Trần Tuấn Linh (Hà Nội) cũng đấu giá thành công bức tranh "Mẹ và con ở trong vườn" của danh họa Lê Phổ tại nhà Sotheby’s Hồng Kông vào ngày 1-10-2017 với mức 35.211 USD. Cũng tại phiên đấu giá này, gần 10 bức tranh Việt khác cũng được bán cho nhà sưu tập người Việt. Ngày 23-10-2017, tại nhà đấu giá Aguttes (Paris - Pháp), một nhà sưu tập ở Hà Nội đã đấu thành công bức tranh "Hai thiếu nữ ngồi thêu" của Vũ Cao Đàm với mức giá 226.950 euro (hơn 6 tỉ đồng), trong khi giá ước định từ 35.000 đến 40.000 euro.

Nói điều đó để thấy rằng việc nhiều nhà sưu tập tranh Việt đấu giá tranh Việt từ các cuộc đấu giá ở nước ngoài ngày càng phổ biến, thậm chí trở thành xu hướng. Như lời của nhà sưu tập nổi tiếng Phạm Việt Phương: "Chơi tranh vừa là thú chơi vừa là cái nghề. Kinh tế ngày càng phát triển, cuộc sống được nâng cao thì nhu cầu chơi văn hóa nghệ thuật cũng phát triển hơn. Bây giờ lực lượng chơi tranh rất đông đảo, tạo nên sân chơi vừa lành mạnh vừa sôi động. Thứ nhất, lan tỏa sức chơi ngày một rộng hơn trong cộng đồng người Việt. Thứ hai, nâng tầm giá trị nghệ thuật của các tác phẩm hội họa và trả nó về đúng vị trí xứng tầm của các tác giả nổi tiếng …".

Đây cũng chính là lý do những nhà sưu tập tranh có tên như Nguyễn Minh, Nguyễn Phan Huy Khôi, Phùng Quang Việt, Kevin Việt, Lê Thái Sơn, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Hoàng Việt, Nguyễn Hải Yến,… không ngại tiền của cất công đến các phiên đấu giá để sở hữu những tác phẩm hội họa đỉnh cao của mỹ thuật Việt Nam.

Giới chuyên môn nhận định các nhà sưu tập Việt hiện nay giống như các nhà sưu tập nước ngoài. Mỗi người sẽ cố gắng sở hữu một tác phẩm đỉnh cao của mỗi tác giả tên tuổi. Trong đó, những bức tranh của các danh họa nổi tiếng như Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, Nguyễn Phan Chánh, Lê Thị Lựu… thường được các nhà sưu tập Việt mua từ các phiên đấu giá nước ngoài.

Thực tế, trong nhiều năm trước đây, phần lớn tranh có giá trị cao của mỹ thuật Việt Nam đã được bán ra nước ngoài vì trong nước chưa có thị trường. Bây giờ nếu muốn sở hữu tranh quý, nhà sưu tập Việt phải ra nước ngoài mua về. Các phiên đấu của 15 nhà đấu giá có tác phẩm mỹ thuật Việt trải rộng khắp 5 châu, nhưng phổ biến nhất vẫn là ở Pháp, Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, Mỹ, Anh…

Các thế hệ sưu tập tại Việt Nam, từ thế hệ đầu như Đức Minh, Nguyễn Xuân Oánh… đều nhiều lần ra nước ngoài để tìm mua. Nhà sưu tập Nguyễn Minh sở hữu hơn 200 bức tranh, trong đó, hơn một nửa do anh đấu giá thành công ở nước ngoài.

Nhà sưu tập Trung Quốc đang nhắm tới

Theo thống kê, thị trường nghệ thuật 2018 có mức tiền giao dịch là 63,7 tỉ USD, tăng 12% tỉ lệ tranh được giao dịch so với năm trước. Trong đó, Trung Quốc thay thế Anh trở thành thị trường giao dịch lớn thứ 2 trên thế giới. Hiện nay, Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất thế giới về việc mua bán tranh. Điều đó khẳng định, tranh đang trở thành tài sản để sinh lợi, tiết kiệm mà nhiều người đang nhắm tới. Thậm chí, thị trường mua bán tranh còn sôi động hơn cả bất động sản. Người trong giới nhận định những năm gần đây, các nhà sưu tập Trung Quốc trở thành "nỗi kinh hoàng" của các phiên đấu quốc tế. Họ là những đại diện điển hình cho chiêu thức "mạnh vì gạo, bạo vì tiền" để mua cho được những bức tranh giá trị nhất đem về nước. Không chỉ tái sử dụng tranh nội địa, các nhà sưu tập Trung Quốc còn nhắm đến tranh Việt vì tranh Việt được định giá là thị trường thứ cấp. Không cần bàn đến khả năng sinh lợi của thị trường tranh đa cấp thì tranh ở thị trường thứ cấp cũng là một trong những món hàng có nhiều khả năng sinh lợi lớn. Chính vì vậy, các nhà sưu tập Việt cũng gặp phải những đối thủ mạnh đến từ Trung Quốc khi mà những người này có rất nhiều tiền.


Theo Nld.com.vn


Ngay trước khi tự sát, Van Gogh đã “suýt” trở thành danh họa

Sinh thời, Van Gogh không được giới hội họa công nhận, ông không bán được tranh và chết trong vô danh, nghèo khó, bi kịch. Nhưng số phận đã từng lóe lên một tia may mắn với ông ngay trước khi “đóng sập”.

Một phát hiện thú vị và đầy ý nghĩa về cuộc đời và sự nghiệp của Van Gogh đã vừa xuất hiện mới đây. Tờ The Telegraph (Anh) cho hay Van Gogh không phải hoàn toàn vô danh lúc sinh thời như người ta vẫn tưởng, thậm chí, danh tiếng có thể sẽ mỉm cười với ông nếu ông không từ bỏ sinh mạng của mình quá sớm ở tuổi 37.

Thực tế, danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh đã bắt đầu nhận được sự chú ý từ một chính khách lớn ở thời điểm đó - ngài Tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot (1837-1894).

Van Gogh trong bức “Tự họa với băng tai” (1889)
Van Gogh trong bức “Tự họa với băng tai” (1889)

Những thông tin này vừa được đưa ra bởi một nhà nghiên cứu hội họa, dựa trên những thư từ để lại của Theo Van Gogh - người em trai, cũng là người bảo trợ tài chính cho Vincent Van Gogh lúc sinh thời.

Theo Van Gogh làm nghề kinh doanh hội họa. Các bức tranh mà người anh trai Vincent thực hiện sẽ được gửi về cho Theo, như một cách cảm ơn sự bảo trợ tài chính. Dù tranh của Van Gogh khi ấy bị xem là không có giá trị, nhưng Theo bằng nhiều cách xoay xở đã cố gắng để đẩy giá trị tranh của anh mình lên.

Trong quá trình nghiên cứu những lá thư mà Theo Van Gogh để lại (hiện đang được lưu trữ tại Bảo tàng Van Gogh, Amsterdam, Hà Lan), nhà nghiên cứu Martin Bailey đã đọc được một lá thư, trong đó ông Theo cho hay 10 bức tranh của Vincent đã được ông đem trưng bày giới thiệu tại triển lãm nghệ thuật “Salon des Indépendants” ở Paris hồi năm 1890.

Tại đây, một buổi xem tranh quy mô nhỏ đã được thực hiện, Tổng thống Pháp Carnot sau khi xem tranh đã chia sẻ rằng ông rất ấn tượng với các tác phẩm của Van Gogh. Bức thư được ông Theo Van Gogh viết cho anh trai vào ngày 19/3/1890, chỉ vài tháng sau, Vincent Van Gogh qua đời vì tự sát.

Bức “Những cây bách”
Bức “Những cây bách”

Các bức tranh được trưng bày triển lãm khi ấy là các tác phẩm với tông màu tươi sáng, khắc họa cảnh vật của vùng Provence (Pháp), với những bức như “Những cây bách” hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan (New York, Mỹ), hay “Cánh đồng lúa mì sau bão” trưng bày tại Bảo tàng nghệ thuật Ny Carlsberg Glyptotek (Copenhagen, Đan Mạch).

Người được giao nhiệm vụ giới thiệu tranh cho ngài Tổng thống tại sự kiện là họa sĩ người Pháp Paul Signac, ông là một người bạn của anh em nhà Van Gogh. Họa sĩ Paul Signac khi ấy là một trong số rất ít những người ngưỡng mộ tranh Van Gogh.

Nhà nghiên cứu hội họa Martin Bailey cho hay: “Các câu chữ mà ông Theo Van Gogh dùng để miêu tả cuộc xem tranh của ngài Carnot được viết ra quá bình dị, đó là lý do tại sao chi tiết này đã bị bỏ qua bởi nhiều nhà nghiên cứu hội họa trong suốt những năm tháng qua”.

Chi tiết này đã được nhà nghiên cứu Bailey đối chiếu lại với một bài báo được đăng trên tờ Le Petit Parisien (Pháp) ngày 21/3/1890 viết về triển lãm nghệ thuật, trong đó có đề cập việc ngài Carnot rất ấn tượng với “cách sử dụng màu sắc gây sửng sốt” của một số tác phẩm. Trong khi đó, cách sử dụng màu sắc chính là điểm khác biệt lớn nhất của tranh Van Gogh.

Ở thời điểm triển lãm diễn ra, Van Gogh đang ở bệnh viện tâm thần Saint-Paul-de-Mausole sau khi ông tự cắt tai mình. Van Gogh sau đó qua đời vào tháng 7/1890 vì tự sát bằng một phát súng bắn thẳng vào ngực.

Nhà nghiên cứu Martin Bailey là một chuyên gia trong lĩnh vực tranh Van Gogh, ông từng viết vài cuốn sách về Van Gogh và là người đồng phụ trách triển lãm tranh Van Gogh sẽ diễn ra tại Anh vào năm tới.

Van Gogh
Van Gogh

Trong cuộc đời của Van Gogh, có rất nhiều câu chuyện bi kịch đã trở thành “huyền thoại” khi người ta nói về vị danh họa này. Chẳng hạn, cả cuộc đời mình, Van Gogh chỉ bán được một bức tranh với giá rẻ bèo.

Trước chi tiết vừa phát hiện ra, nhà nghiên cứu Bailey đánh giá: “Van Gogh có thể không bán được tranh, nhưng tôi tin rằng ông ấy không hoàn toàn vô danh như chúng ta vẫn nhận định trước nay về sự nghiệp lúc sinh thời của ông.

“Trước lúc qua đời, tức là 7 năm sau khi cầm cọ vẽ, Van Gogh bắt đầu nhận được sự chú ý, dù có thể chưa được biết đến rộng rãi, nhưng ít nhất ông đã được giới trí thức cấp tiến ở Paris để ý, mà Paris lại là kinh đô nghệ thuật của thế giới.

“Tôi từ lâu đã luôn nghi ngờ việc Van Gogh hoàn toàn bị ngó lơ lúc sinh thời, và chi tiết lần này đã cho thấy điều tôi nghi ngờ là có cơ sở. Thực tế, Van Gogh đã nhận được sự chú ý khi tranh ông được người ta đem trưng bày và được một chính khách lớn quan tâm”.

Trong cuốn sách mới ra mắt có tên “Starry Night” (Đêm đầy sao - cũng là tên một bức họa nổi tiếng của Van Gogh), tác giả Bailey khẳng định rằng nếu cuộc đời Van Gogh không kết thúc sớm trong bi kịch ở tuổi 37, thì sự nghiệp của ông sẽ còn chứng kiến những bước tiến và người đương thời sẽ công nhận tài năng hội họa của Van Gogh.


Bích Ngọc
Theo Telegraph


Những giả thuyết bí ẩn về cuộc đời danh họa Van Gogh

Cuộc đời danh họa Van Gogh chứa đựng nhiều câu chuyện bí ẩn khiến hậu thế không ngừng đưa ra những giả thuyết mới về ông.

Van Gogh là một trong những danh họa được hậu thế yêu mến nhất, là một cái tên kinh điển của trường phái Hậu Ấn tượng với những bức tranh thể hiện một tâm hồn lúc sầu muộn, ủ ê, khi say mê, cuồng nhiệt. Van Gogh đã vẽ nên những siêu phẩm hội họa bằng chính cuộc đời nhiều bi kịch của mình.

Cuộc đời ông chứa đựng những câu chuyện bí ẩn. Cho đến giờ, hậu thế vẫn không ngừng phát hiện và đưa ra những giả thuyết mới về ông. Van Gogh không chỉ là một thiên tài hội họa, mà còn là một nhân vật truyền cảm hứng…

Hãy cùng nhìn lại những giả thuyết thú vị về Van Gogh mà các nhà nghiên cứu từng đưa ra:

Hoa hướng dương trong tranh Van Gogh bị đột biến gen

Hoa hướng dương trong tranh Van Gogh bị đột biến gen: Tại sao những bông hoa hướng dương trong tranh Van Gogh lại khác với những bông hoa hướng dương thường thấy? Trước đây, người ta vốn cho rằng Van Gogh đã cách điệu những bông hoa, để khiến chúng trở nên khác lạ, hoặc đây có thể là hệ quả của chứng bệnh tâm thần.

Thực tế không phải như vậy, các nhà thực vật học đã khẳng định rằng, những bông hoa trong tranh Van Gogh rất giống với những bông hướng dương bị đột biến gen. Những người trồng hoa có thể đã giữ lại những bông hoa có nét đẹp lạ để đem bán cho họa sĩ. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu vẫn không hiểu đột biến nào có thể khiến một bông hoa hướng dương có nhị xanh như trong tranh Van Gogh.

Van Gogh có thể bị mù màu

Van Gogh có thể bị mù màu: Phải chăng việc Van Gogh thường dùng những màu đậm, chói, gắt là hậu quả của chứng mù màu? Để lý giải cho cách pha trộn màu sắc phi truyền thống của Van Gogh, một chuyên gia thị giác người Nhật đã đặt ra giả thuyết rằng Van Gogh có vấn đề trong việc cảm thụ sắc đỏ, chính vì thế, ông thường dùng những tông màu đậm, gây ấn tượng mạnh với người xem.

Van Gogh không sáng tạo nghệ thuật một cách ngẫu hứng, bột phát

Van Gogh không sáng tạo nghệ thuật một cách ngẫu hứng, bột phát: Người ta luôn hình dung Van Gogh là một thiên tài hội họa sáng tạo nghệ thuật rất ngẫu hứng, ông vẽ như để thỏa mãn một nhu cầu tự nhiên mà không hề có sự tính toán trước.

Thực tế, khi nghiên cứu những tác phẩm của Van Gogh, người ta nhận ra rằng ông rất cẩn thận, luôn tiến hành sáng tạo có phương pháp. Ông hiểu rất rõ đặc tính của nhân vật, sự vật mà mình khắc họa, tạo bố cục một cách cẩn trọng, không hề có sự tình cờ, ngẫu hứng. Van Gogh thực tế đã luôn sáng tạo một cách có chủ đích.

Van Gogh có thể đã không tự cắt tai mình

Van Gogh có thể đã không tự cắt tai mình: Ngày 23/12/1888, Van Gogh trong cơn tức giận đã bị mất kiểm soát, ông chạy bổ về phía họa sĩ Paul Gauguin - người bạn ở chung nhà - với chiếc dao cạo trên tay, nhưng may mắn, Van Gogh đã kịp dừng lại. Hành động bột phát đó khiến Van Gogh thấy ăn năn và đêm hôm đó, ông tự cắt tai mình rồi đi tới một nhà thổ, đưa chiếc tai cho một cô gái bán hoa.

Cô gái này đã gặp cảnh sát trình bày sự việc, cảnh sát đã kịp thời tìm đến nhà Van Gogh để cấp cứu cho ông khỏi chết vì mất máu. Đó là câu chuyện phổ biến nhất về… chiếc tai của Van Gogh.

Nhưng còn một giả thuyết khác rằng Gauguin, vốn là một tay kiếm giỏi, đã cắt tai Van Gogh trong lúc tức giận. Sau khi bình tĩnh lại, hai người thỏa thuận sẽ giữ im lặng: Gauguin muốn tránh bị truy tố, còn Van Gogh muốn níu kéo người bạn mà ông rất quý mến. Tuy vậy, sau khi sự việc êm xuôi, Gauguin liền rời đi, sự trống vắng để lại làm Van Gogh khổ sở và rơi vào tình trạng bất ổn, để rồi phải vào trại tâm thần.

Van Gogh có thể đã bị sát hại

Van Gogh có thể đã bị sát hại: Người ta thường tin rằng Van Gogh đã tự sát bằng một phát súng, nhưng cũng có một giả thuyết nhận được nhiều sự đồng thuận khi cho rằng Van Gogh đã bị sát hại ở tuổi 37.

Việc Van Gogh vốn mắc những chứng bệnh tâm thần đã khiến giả thuyết về một vụ tự sát thắng thế. Nhưng thực tế, trước khi xảy ra vụ việc, Van Gogh không hề có dấu hiệu nào của việc muốn tự sát.

Ngày 27/7/1890, ở tuổi 37, Van Gogh tự bắn một phát súng vào ngực, tuy vậy, người ta chẳng bao giờ tìm thấy khẩu súng, không có ai chứng kiến sự việc và địa điểm tự sát cũng không rõ ràng.

Viên đạn bắn vào ngực Van Gogh đi chệch hướng do trúng một chiếc xương sườn, nó đã xuyên qua ngực ông nhưng chưa đủ để lấy đi mạng sống. Sau đó, Van Gogh tự đi về nhà trọ và được hai bác sĩ tới thăm khám, nhưng họ không thể gắp viên đạn ra khỏi cơ thể ông. Vậy là Van Gogh chết vì vết thương bị nhiễm trùng sau 29 tiếng trúng đạn.

Trước khi qua đời, người ta đã hỏi Van Gogh xem có phải ông đã tự tử không, ông nói: “Vâng, tôi tin là vậy” - một câu trả lời đầy ẩn ý. Ngoài ra, những giá, cọ, màu vẽ mà Van Gogh mang theo khi đi ra cánh đồng hôm xảy ra vụ việc là để làm gì nếu không phải để vẽ?

Sắc đỏ trong tranh Van Gogh dần chuyển sang sắc trắng

Sắc đỏ trong tranh Van Gogh dần chuyển sang sắc trắng: Trong sáng tác, Van Gogh thường sử dụng màu công nghiệp vì tiện lợi và rẻ tiền. Đáng buồn là loại màu này không bền với thời gian, giờ đây, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng không chỉ những màu sáng chói trong tranh Van Gogh đang dần mất đi, mà ngay cả sắc đỏ vốn tưởng rất bền cũng đang dần biến đổi sang màu trắng.

Van Gogh đưa bức “Bữa tối cuối cùng của Chúa” vào tranh

Van Gogh đưa bức “Bữa tối cuối cùng của Chúa” vào tranh: Bức “Hiên quán cà phê về đêm” của Van Gogh khắc họa một nhóm người đang ngồi trong quán cà phê. Số lượng nhân vật, cách sắp đặt vị trí từng nhân vật, cách khắc họa, màu sắc tranh và những dấu thấp tự lẩn khuất trong hậu cảnh khiến nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là một tác phẩm mang nhiều biểu tượng tôn giáo, gợi nhắc tới bức “Bữa tối cuối cùng của Chúa” do danh họa Leonardo Da Vinci thực hiện.

Trước đây, người ta cũng đã nhiều lần bắt gặp những biểu tượng tôn giáo trong tranh Van Gogh, thực tế, ông là một người sùng đạo và từng ước muốn trở thành một mục sư.

Tranh Van Gogh thể hiện những hiểu biết về thiên văn

Tranh Van Gogh thể hiện những hiểu biết về thiên văn: Năm 1889, Van Gogh đã sáng tạo ra một trong những tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới - bức “Đêm đầy sao”. Bức tranh đi vào lịch sử như một trong những tác phẩm mỹ thuật khắc họa bầu trời đêm đẹp nhất.

Người ta cho rằng những vòng xoáy ốc xuất hiện trong tranh đã khắc họa Thiên hà Xoáy ốc ngoài vũ trụ. Có thể bức “Đêm đầy sao” đã lấy cảm hứng từ hình ảnh Thiên hà Xoáy ốc của nhà vũ trụ học người Anh - William Parsons, thực hiện năm 1850. Tuy vậy, nhiều người cũng cho rằng những vòng xoáy ốc này phản ánh tâm trạng mong manh, thất thường của Van Gogh.


Bích Ngọc
Theo Huff Post

Lý giải bí ẩn trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh

í “Đêm đầy sao” là một trong những bức tranh khắc họa bầu trời đêm nổi tiếng nhất trong thế giới hội họa. Xung quanh những vòng xoáy ốc bí ẩn xuất hiện trong tranh, có nhiều bình luận, lý giải khác nhau.

Lý giải bí ẩn trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh

Trong 3 ngày từ 16-18/6/1889, họa sĩ người Hà Lan Vincent van Gogh đã sáng tạo ra một trong những tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới, bức “Đêm đầy sao” khắc họa cảnh vật nhìn từ cửa sổ một phòng bệnh trong bệnh viện tâm thần mà Van Gogh đang nằm điều trị. Bức tranh vĩnh viễn đi vào lịch sử như một trong những tác phẩm mỹ thuật khắc họa bầu trời đêm đẹp nhất.

Những bàn luận trong giới nghiên cứu hội họa về những đường xoáy ốc đặc trưng xuất hiện trong siêu phẩm hội họa này đã luôn đưa lại những cách lý giải khác nhau và vẫn chưa thôi gây “ám ảnh” đối với những người say mê tìm hiểu tranh Van Gogh.

Nhiều người cho rằng những vòng xoáy ốc này phản ánh tâm trạng mong manh, thất thường, thậm chí là vật vã của vị danh họa tại thời điểm đó.

Mới đây, một họa sĩ người Mỹ có tên Michael Benson đã có một cách lý giải mới về những vòng xoáy ốc đặc biệt xuất hiện trong bức “Đêm đầy sao”. Ông Benson cho rằng những vòng xoáy ốc này thực tế khắc họa một dải thiên hà trong vũ trụ và có thể đã được truyền cảm hứng từ những bức tranh xoay quanh chủ đề vũ trụ tại thời điểm đó.

Lý giải bí ẩn trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh
Họa sĩ người Mỹ Michael Benson cho rằng những vòng xoáy trong vũ trụ đã truyền cảm hứng cho những vòng xoáy xuất hiện trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh.

Michael Benson là một họa sĩ kiêm nhiếp ảnh gia, mới đây, ông này đã cho ra mắt cuốn sách mới có tên “Cosmographics” (Hình ảnh vũ trụ). Cuốn sách đã nhắc nhiều tới bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh.

Qua những tìm hiểu của mình, ông Benson cho rằng những nét vẽ trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh khắc họa dựa theo hình ảnh “Thiên hà Xoáy ốc” (Whirlpool Galaxy) của nhà vũ trụ học người Anh - bá tước William Parsons - thực hiện hồi giữa thế kỷ 19.

Để quan sát bầu trời đêm, nhà quý tộc đã cho thực hiện một chiếc kính viễn vọng lớn nhất thời bấy giờ với đường kính thấu kính lên tới 1,8m. Bằng chiếc kính viễn vọng này, bá tước Parsons đã có thể quan sát Thiên hà Xoáy ốc và vẽ lại những quan sát của mình.

Bức “Đêm đầy sao” hiện được treo ở Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York.
Bức “Đêm đầy sao” hiện được treo ở Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York.

Ông Benson cho rằng chính bức vẽ của nhà vũ trụ học Parsons đã đưa tới những nét vẽ xoáy ốc rất đặc biệt trong bức “Đêm đầy sao” - bức tranh nổi tiếng nhất trong giới hội họa khắc họa bầu trời đêm.

Tại thời điểm vẽ bức tranh này, Van Gogh đang ở trong bệnh viện tâm thần của xã Saint-Rémy-de-Provence thuộc miền nam nước Pháp. Bức tranh đã khắc họa lại những quan sát của Van Gogh về đêm từ cửa sổ của một phòng bệnh.

Kỹ thuật vẽ xoáy ốc về sau còn tiếp tục xuất hiện trong những bức tranh khác của Van Gogh. Bức vẽ Thiên hà Xoáy ốc của bá tước Parsons khắc họa một thiên hà ở cách trái đất khoảng 23 triệu năm ánh sáng và có kích thước bằng dải Ngân hà, với đường kính khoảng 60.000 năm ánh sáng.

Bức “Đêm đầy sao” hiện được treo ở Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York.
Năm 1850, lần đầu tiên có một nhà vũ trụ học khắc họa hình dáng một thiên hà xa xôi. Bức vẽ Thiên hà Xoáy ốc của bá tước Parsons (ảnh) có thể đã truyền cảm hứng cho Van Gogh.

Thiên hà Xoáy ốc ở cách chúng ta khoảng 23 triệu năm ánh sáng.
Thiên hà Xoáy ốc ở cách chúng ta khoảng 23 triệu năm ánh sáng.

Cách lý giải của họa sĩ Benson về bức “Đêm đầy sao” thực tế không hoàn toàn mới. Tháng 6/2014, giáo sư Omar Nasim ở trường Đại học Oxford, Khoa Lịch sử, cũng đã đưa ra những quan điểm tương tự về mối liên hệ giữa hình vẽ dải thiên hà của bá tước Parsons và bức tranh của Van Gogh trong cuốn “Observing by Hand”.

Những cách lý giải về các hình xoáy ốc xuất hiện trong tranh Van Gogh sẽ không bao giờ được khẳng định là chính xác hoàn toàn. Nhưng nếu quả thực hình ảnh về Thiên hà Xoáy ốc đã đưa lại ý tưởng cho Van Gogh, thì ông quả đã khắc họa bầu trời đêm như thể một hiện tượng vũ trụ kỳ vĩ có thể chiêm ngưỡng bằng mắt thường.

Bức tranh của Van Gogh đã mở rộng trí tưởng tượng của người xem, đặt ra trước mắt họ sự kỳ diệu của vũ trụ như thể đang được chiêm ngưỡng qua một chiếc kính viễn vọng vô hình.


Bích Ngọc
Theo Daily Mail

Tranh Van Gogh có giá hơn… 1 nghìn tỉ đồng

Một bức tranh tĩnh vật của danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh, được vẽ chỉ vài tuần trước khi ông tự tử, sắp được đem ra bán đấu giá trong mùa thu này và được kỳ vọng sẽ đạt mức giá 30 triệu bảng Anh (hơn 1 nghìn tỉ đồng).

Tranh Van Gogh có giá hơn… 1 nghìn tỉ đồng

Bức “Tĩnh vật, bình hoa cúc và anh túc” được đánh giá là bức tranh nổi tiếng bậc nhất trong dòng tranh tĩnh vật từng được đem ra đấu giá trong vòng hai thập kỷ trở lại đây.

Bức tranh được Van Gogh vẽ vào năm 1890 tại ngôi nhà của người bạn thân thiết - bác sĩ Gachet - ở Auvers-sur-Oise, Paris, Pháp. Thời điểm vẽ bức tranh là một yếu tố đặc biệt làm nên một phần giá trị của tranh. Chỉ vài tuần sau, Van Gogh sẽ tự tử bằng một phát súng lục bắn thẳng vào ngực. Vết thương chí mạng khiến danh họa qua đời ở tuổi 37.

Trong sự nghiệp hội họa của mình, Van Gogh chỉ vẽ vài trăm bức tranh, phần lớn trong số này hiện được trưng bày trong các viện bảo tàng. Sắp tới, bức “Tĩnh vật, bình hoa cúc và anh túc” sẽ được bán đấu giá tại New York, Mỹ.

Theo đánh giá của các chuyên gia trong trường phái hội hóa Ấn tượng, bức tranh là một tác phẩm tuyệt đẹp và sống động, thể hiện những cảm xúc cao độ của Van Gogh ở thời kỳ “điên” nhất của vị danh họa, tức là chỉ vài tuần trước khi ông quyết định tự kết thúc cuộc đời mình.

Tranh Van Gogh có giá hơn… 1 nghìn tỉ đồng

Việc Van Gogh sớm qua đời khiến số lượng tranh của ông lưu hành trên thị trường rất ít. Điều này góp phần đẩy giá cao đối với tất cả những bức họa đóng mác Van Gogh mỗi khi được đem ra đấu giá.

Không giống như những danh họa cùng trường phái như Monet hay Picasso - những danh họa nổi tiếng với số lượng tranh đồ sộ, Van Gogh chỉ thực sự cầm cọ vẽ trong vòng một thập kỷ, từ những năm gần 30 tuổi tới khi qua đời năm 37 tuổi.

Sinh thời, Van Gogh bị chứng rối loạn tâm lý lưỡng cực, vui buồn thất thường, có những lúc, năng lượng và sức sáng tạo trong ông lên tới cao trào, nhưng cũng có khi ông bị trầm cảm nặng và không làm nổi những việc đơn giản nhất thường ngày.

Nhiều nhà phê bình coi bức tranh này là một tác phẩm buồn thảm bởi Van Gogh đã hái những bông hoa xuất hiện trong bức tranh từ cánh đồng mà chỉ vài tuần sau ông sẽ tự tử ở đó.

Van Gogh thường xuyên rơi vào tình trạng “cháy túi” và phải dựa vào em trai để có những nguồn cung cấp tài chính. Bức tranh này có lẽ ban đầu đã thuộc quyền sở hữu của bác sĩ Gachet, Van Gogh đã tặng bức tranh như một lời cảm ơn vì bác sĩ đã tận tình chữa bệnh, chăm sóc cho mình.

Vincent Van Gogh trong một bức chân dung tự họa thực hiện hiện từ năm 1886.
Vincent Van Gogh trong một bức chân dung tự họa thực hiện hiện từ năm 1886.

Bức chân dung khắc họa bác sĩ Gachet hiện đang nắm giữ kỷ lục đấu giá đối với các tranh của Van Gogh. Năm 1990, bức tranh này từng được bán đấu giá tại new York và đạt mức hơn 50 triệu bảng Anh (gần 2 nghìn tỉ đồng).

Nhạc kịch Van Gogh được thực hiện nhân kỷ niệm 125 năm ngày mất của danh họa

Vincent Van Gogh trong một bức chân dung tự họa thực hiện hiện từ năm 1886.

Cuộc đời buồn thảm của danh họa Vincent Van Gogh sẽ được đưa lên sân khấu kịch dưới dạng một vở nhạc kịch để kỷ niệm 125 năm ngày mất của ông (1890-2015) - một trong những vị danh họa vĩ đại nhất thế giới.

Vở nhạc kịch được đặt một cái tên đơn giản “Vincent” và sẽ ra mắt khán giả vào năm 2015. Vở nhạc kịch này hứa hẹn sẽ đưa những tác phẩm của Van Gogh tới với khán giả yêu kịch nghệ theo một cách phi truyền thống. Vở kịch do Quỹ Van Gogh Châu Âu bảo trợ.

Van Gogh là một trong những danh họa có nhiều đột phá mới mẻ nhất nền mỹ thuật thế kỷ 19. Tuy vậy, ông chỉ bán được một bức tranh duy nhất trong suốt cuộc đời ngắn ngủi của mình, một cuộc đời khốn khổ bởi những bất ổn tâm lý, những cơn trầm cảm…

Đối với các tổ chức chuyên quan tâm tới tranh Van Gogh, năm 2015 là dịp kỷ niệm “125 năm truyền cảm hứng”, trong năm này sẽ diễn ra nhiều hoạt động để tưởng nhớ Van Gogh, đặc biệt sẽ có một triển lãm tranh Van Gogh được mở ra tại thành phố Amsterdam, Hà Lan.

Bích Ngọc
Tổng hợp

Van Gogh đã đưa... chiếc tai của mình cho người phụ nữ nào?

Cách đây hơn 130 năm, danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh đã tự cắt tai của chính mình sau một biến cố, sau đó, ông gói chiếc tai lại và đưa cho một người phụ nữ, người ấy là ai?

Đó là Gabrielle Berlatier, con gái của một người nông dân. Câu chuyện đầy trớ trêu và chua xót này đã được nhiều người biết đến trước nay, như thể một bi kịch khác trong cuộc đời của danh họa Van Gogh, khi suốt đời mình, hầu như ông không gắn bó được với một người phụ nữ nào, ngoại trừ một cô gái ông quen trong... “nhà thổ”.

“Chân dung tự họa với băng tai” của Vincent Van Gogh.
“Chân dung tự họa với băng tai” của Vincent Van Gogh.

Cô gái ấy là con gái của một gia đình nông dân. Sau khi Van Gogh cắt tai mình vì tình bạn với họa sĩ Paul Gauguin sụp đổ, Van Gogh đã gói chiếc tai vào một tờ giấy rồi mang tới đưa cô gái. Điều mà nhiều người chưa biết về cô gái này, chính là cái tên của cô - Gabrielle Berlatier.

Những sự việc này xảy ra ở thành phố Arles (Pháp). Cuốn “Van Gogh’s Ear: The True Story” (Cái tai Van Gogh: Câu chuyện thật - 2016) của tác giả Bernadette Murphy đã đề cập tới danh tính người phụ nữ. Tác giả đã từng lần theo những giấy tờ còn lưu lại về Gabrielle Berlatier ở Viện Pasteur (Paris, Pháp).

Hoàn cảnh của Gabrielle khá éo le, biến cố lớn nhất trong đời cô chính là khi cô bị một con chó dại cắn, sau đó, cô đã nhanh chóng được gia đình đưa đi điều trị tại Viện Pasteur (Paris) hồi đầu năm 1888. Gia đình cô vốn chỉ làm nghề nông ở khu vực ngoại thành Arles, họ khá nghèo.

Khi Gabrielle bị chó dại cắn, gia đình đã ngay lập tức tìm mọi cách cứu chữa để cô được sống. Nhưng sau đó, vì vay mượn để có tiền chữa bệnh cho con gái, gia đình Berlatier rơi vào cảnh nợ nần, túng quẫn. Hoàn cảnh đã buộc cô phải vào làm trong một nhà thổ ở Arles sau khi thoát khỏi bàn tay tử thần.

Về phần Van Gogh, sau khi đưa chiếc tai cho cô gái, ông bỏ đi và ngày hôm sau, được tìm thấy trên phố bởi một người cảnh sát, người ta đã đưa ông tới bệnh viện để được chăm sóc chữa lành vết thương rỉ máu. Sau sự việc này, gia đình quyết định đưa Van Gogh vào điều trị trong bệnh viện tâm thần, sau khi ra viện chỉ hai tháng, ông tự sát vào tháng 7/1890.

Bích Ngọc
Theo Guardia



Tranh khỏa thân khắc họa nam giới và nữ giới cần phải cân bằng số lượng?

Trong lịch sử hội họa, phụ nữ được khắc họa khỏa thân nhiều hơn nam giới, vì rất nhiều lý do, trong đó có một lý do thuộc về vẻ đẹp tạo hóa, bởi tạo hóa vốn trao cho người phụ nữ nhiều đường cong gợi cảm và nên thơ.

Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh vừa kỷ niệm 250 năm thành lập và tuyên bố sẽ mở triển lãm tranh về đề tài khỏa thân thời kỳ hội họa Phục hưng trong năm 2019.

Thời kỳ Phục hưng có rất nhiều tác phẩm khắc họa vẻ đẹp cơ thể con người đã trở thành tuyệt phẩm trong lịch sử hội họa, các tác phẩm được thực hiện bởi những bậc thầy như Titian, Raphael, Michelangelo, Leonardo da Vinci, Dürer...

Các tác phẩm này sẽ được Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh đem trưng bày trong thời gian tới nhưng với một định hướng khá đặc biệt, rằng số lượng tranh khỏa thân khắc họa nhân vật nữ sẽ phải cân bằng về số lượng so với tranh khắc họa nhân vật nam.

Bức “Thánh Sebastian” được vẽ bởi họa sĩ Ý Agnolo Bronzino vào năm 1533.
Bức “Thánh Sebastian” được vẽ bởi họa sĩ Ý Agnolo Bronzino vào năm 1533.

Điều này đã được chính Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh tuyên bố với báo chí Anh, nguyên nhân là bởi họ muốn phản ánh đời sống nghệ thuật đương đại giữa bối cảnh bình quyền nam nữ đang trở thành đề tài được quan tâm trong đời sống nghệ thuật.

Giám đốc triển lãm Tim Marlow đã khẳng định về quyết định của Viện và cho hay rằng các chuyên gia đều hứng thú với việc tìm ra được sự cân bằng về mặt số lượng giữa tranh khắc họa nam và nữ khỏa thân.

Kể từ khi kế hoạch triển lãm này được lên ý tưởng từ gần 3 năm trước, đời sống văn hóa nghệ thuật quốc tế đã thay đổi rất nhiều, bao gồm các lĩnh vực như truyền hình, sân khấu, điện ảnh… đều phải có những biến đổi, điều chỉnh trong cách thức hoạt động để đảm bảo về sự bình đẳng nam nữ.

Bức “Adam và Eva” được vẽ bởi họa sĩ Đức Lucas Cranach vào năm 1528.
Bức “Adam và Eva” được vẽ bởi họa sĩ Đức Lucas Cranach vào năm 1528.

Ông Tim Marlow thừa nhận rằng trong lịch sử hội họa, phụ nữ được khắc họa khỏa thân nhiều hơn nam giới, vì rất nhiều lý do, trong đó có một lý do thuộc về vẻ đẹp tạo hóa, bởi tạo hóa vốn trao cho người phụ nữ nhiều đường cong gợi cảm và nên thơ.

Nhưng đồng thời, qua nhiều lần triển lãm tranh khỏa thân ở nhiều quốc gia trên thế giới, các tổ chức bênh vực cho quyền của phụ nữ cũng đã lên tiếng bày tỏ sự không đồng tình khi vẻ đẹp cơ thể của hai giới đều ấn tượng với những sắc thái đa dạng, nhưng dường như phụ nữ lại sở hữu số lượng tranh khỏa thân quá nhiều và cứ bước vào triển lãm tranh khỏa thân thì mặc định đa phần là tranh khắc họa nữ giới.

Điều này đặt trong bối cảnh hiện tại đã không khỏi khiến cho những nhà quản lý triển lãm - bảo tàng phải suy nghĩ. Động thái mà Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh đưa ra được xem là thay đổi đầu tiên chính thức xuất hiện trong giới triển lãm - bảo tàng để hưởng ứng sự bình đẳng nam nữ trong nghệ thuật.

Bức “Venus” được thực hiện vào khoảng năm 1520 bởi danh họa Ý Titian.
Bức “Venus” được thực hiện vào khoảng năm 1520 bởi danh họa Ý Titian.

Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh.
Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh.

Triển lãm tranh khỏa thân thời kỳ Phục hưng do Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh tiến hành dự kiến bắt đầu ra mắt công chúng từ tháng 3/2019 và sẽ bao gồm khoảng 85 tác phẩm được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1400 đến năm 1530, để nhìn lại sự phát triển của “ý tưởng và lý tưởng” xoay quanh vẻ đẹp khỏa thân tuyệt mỹ của con người trong tranh nghệ thuật do các họa sĩ Châu Âu thể hiện. Triển lãm sẽ kéo dài trong khoảng ba tháng.

Bích Ngọc
Theo Telegraph



Vén bí mật giấu kín suốt 120 năm của kiệt tác 'Tiếng thét'

"The Scream" (Tiếng thét) là một trong những siêu phẩm hội họa nổi tiếng của danh họa Edvard Munch. Sau 120 năm, giới khoa học mới tìm ra ý nghĩa và thông điệp của bức họa này.


Vén bí mật giấu kín suốt 120 năm của kiệt tác 'Tiếng thét' - ảnh 1Tác phẩm hội họa danh tiếng "The scream" của danh họa Na Uy Edvard Munch

Được vẽ năm 1893, "The Scream" không chỉ nổi tiếng thế giới bởi màu sắc và tay nghề của danh họa người Na Uy Edvard Munch mà còn thu hút bởi không ai hiểu một cách rõ ràng thông điệp mà nó chuyển tải.

Rất nhiều lời đồn đoán và giải mã được đưa ra trong suốt 120 năm qua nhưng dường như không có giả thuyết nào đủ sức chinh phục công chúng.

Nhiều người, từ dân thường đến nghệ sĩ, đều muốn tìm hiểu cặn kẽ về bầu trời rực rỡ trên đầu của nhân vật trong tranh. Vào năm 2004, giới thiên văn Mỹ nhận định bầu trời trong tác phẩm của Edvard Munch là phản ánh bầu trời bị bụi đỏ nhuốm màu từ trận phun trào của núi lửa Krakatoa năm 1883 (Indonesia).

Mới đây, kết quả nghiên cứu của giới khoa học đến từ các trường đại học Rutgers-New Brunswick, Oxford và Đại học London được công bố trên bản tin của Hiệp hội Khí tượng Hoa Kỳ có vẻ thuyết phục.

Vén bí mật giấu kín suốt 120 năm của kiệt tác 'Tiếng thét' - ảnh 2Nhà nghiên cứu bên tác phẩm

Theo đó, giới khoa học kết luận bầu trời trong bức tranh "Tiếng thét" ánh lên sắc đỏ, vàng là từ những đám mây xà cừ lóng lánh (Nacreous cloud). Mây xà cừ là một dạng mây hiếm, được hình thành ở những khu vực cực kỳ lạnh của tầng bình lưu thấp, ở độ cao 15.000 - 25.000m.

Theo miêu tả, mây xà cừ trông giống như những tấm màng mỏng, cuộn lại rồi bung ra, trải rộng khắp rồi bỗng co lại trên bầu trời nhá nhem sáng tối. Trong điều kiện nhiệt độ xuống cực thấp (-78 độ C), các đám mây nhiều dạng khác nhau được hình thành, phân loại theo trạng thái vật lý và thành phần hóa học. Độ cong của bề mặt Trái đất sẽ giúp các đám mây nhận ánh sáng hắt lên từ chân trời và phản xạ lại mặt đất, tạo nên hiện tượng mây xà cừ. Khó để có thể nhìn thấy mây xà cừ vào ban ngày. Chúng thường dễ quan sát hơn vào lúc hoàng hôn hay bình minh.

Các chuyên gia lý giải rằng khi đám mây xuất hiện vào thế kỷ XIX, chúng đang từ trắng đột ngột chuyển sang ráng đỏ đã khiến tác giả và người có mặt ở đó sợ hãi. Gương mặt thất thần cùng với khẩu hình mô tả người chứng kiến đang thét to vì sợ hãi là những gì được tác giả miêu tả trong bức danh họa.

Vén bí mật giấu kín suốt 120 năm của kiệt tác 'Tiếng thét' - ảnh 3Hiện tượng mây xà cừ

"Những gì mà nhân vật trong bức tranh làm là đặt 2 bàn tay của mình che tai để không nghe thấy tiếng hét của nhiều người khi nhìn thấy hình ảnh kinh hoàng trên bầu trời" - các nhà khoa học lý giải.

Với lý thuyết này, "Tiếng thét" không chỉ là một bức họa mà còn là tài liệu khoa học về hiện tượng đám mây xà cừ hiếm gặp của thiên nhiên.

Theo Nld.com.vn

Lê Công Thành và niềm khao khát sự toàn vẹn

Triển lãm ‘3 . 3 . 3’ của Lê Công Thành đặc biệt không chỉ ở danh tiếng của nhà điêu khắc. Đây là một triển lãm không trưng bày tác phẩm sẵn có từ xưởng nghệ sỹ mà Ban tổ chức đã lựa chọn ba phác thảo từ loạt sáng tác điêu khắc tấm kim loại lát mỏng (kích thước nhỏ) của Lê Công Thành, thể hiện chúng thành chín “thực thể điêu khắc” theo các kích thước trung bình đến lớn, với sự đồng ý của nghệ sỹ và gia đình.

Không gian triển lãm ‘3 . 3 . 3’ của Lê Công Thành.
Không gian triển lãm ‘3 . 3 . 3’ của Lê Công Thành.

Theo Giám tuyển nghệ thuật Nguyễn Anh Tuấn, đây là một “diễn giải điêu khắc từ tinh thần nghệ thuật của Lê Công Thành”. Triển lãm kéo dài từ nay đến 19/8/2018, tại Heritage Space, Dolphin Plaza, số 6 đường Nguyễn Hoàng, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Mỗi phác thảo là một đại diện có tính khái quát về hình tượng điêu khắc mà Lê Công Thành theo đuổi: cơ thể phụ nữ, vật thể tô-tem, cột vô tận, với đầy đủ tinh thần kỳ bí, nhục cảm, khao khát và bề thế trong đặc tính nghệ thuật của ông.

‘3 . 3 . 3’, tên gọi của triển lãm được xuất phát từ con số 9. Số 9 (Chín), đối với Lê Công Thành, là một mệnh đề tuyệt đối của sự tồn tại, một con số biểu đạt sự toàn vẹn cao nhất của các ý niệm tinh thần. Từ ý nghĩa này, chín bức tượng được phóng lớn và biến thiên từ 3 mẫu phác thảo, sắp đặt trong không gian triển lãm theo cung tròn với trung tâm là tác phẩm cao nhất (4.5m), cao độ lần lượt được giảm xuống 3m6, 2m7 và 1m8. Số lượng 9 vật thể điêu khắc trong triển lãm, chính là sự diễn giải về số học (3 lần 3), là một ý đồ được chọn lựa từ đầu. Từ đó, kích thước các chiều của điêu khắc có mặt trong triển lãm này đều nằm trong bội số của 3 và 9. Theo nhà điêu khắc Lê Công Thành, nó biểu đạt sự chưa toàn vẹn, và khao khát sự toàn vẹn nằm trong con người nghệ sỹ.

Lê Công Thành và niềm khao khát sự toàn vẹn - ảnh 1

Là một người sùng bái sự duy mỹ, cảm thức sâu xa với các nhịp điệu tự nhiên và cơ thể phụ nữ, cũng như tôn sùng sự hoàn hảo, cả cuộc đời Lê Công Thành tìm kiếm hình thức và ngôn ngữ thị giác tối ưu cho để biểu hiện cảm quan vật chất và không gian của ông.

Điêu khắc tấm kim loại lát mỏng, được Lê Công Thành phát triển từ những năm cuối của thập niên 1980s, là một bước chuyển lớn trong tư duy và ngôn ngữ tạo hình của nghệ sỹ. Ông liên tục làm việc với phương cách này trong nhiều năm, ở những phác thảo nhỏ và các tượng cỡ vừa, âm thầm thể nghiệm và nung nấu những cơ hội được biểu đạt chúng trong những không gian lớn. Nó là một phần không nhỏ trong sưu tập nghệ thuật đồ sộ của nghệ sỹ hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật, cũng là phần thú vị nhất, đương đại nhất nhưng lại ít được biết đến nhất.

Việc thể hiện tác phẩm ở kích thước lớn được giám sát kỹ thuật chặt chẽ bởi nhà điêu khắc Nguyễn Lập Phương và xưởng cơ khí Việt Hoàng tại Gia Lâm, Hà Nội. Phương án trưng bày tác phẩm và tổ chức không gian được đưa ra bởi nhà truyền thông thị giác Phạm Đam Ca và các trợ lý. Các tư liệu trong triển lãm được thu thập bởi Phạm Út Quyên.

“Khi biết rằng tất cả chỉ là những phác thảo nhỏ và vừa, được sáng tác trong một không gian khiêm tốn và khép kín, người xem sẽ phải ngạc nhiên trước khả năng phóng lớn của các tác phẩm để phù hợp với những hình thái, chức năng đa dạng của các dạng thức không gian kiến trúc đô thị hay môi cảnh tự nhiên. Điều này đòi hỏi ở nghệ sĩ sức sáng tạo, khả năng tưởng tượng, tính toán và kiểm soát phi thường đối với chất liệu, kết cấu tác phẩm và không gian. Từ đó, triển lãm mong muốn tái khẳng định vị trí của Lê Công Thành như một nghệ sĩ đương thời, vẫn đang hít thở bầu không khí điêu khắc thời đại và vẫn đang say mê sáng tạo” - Giám đốc nghệ thuật Heritage Space Nguyễn Anh Tuấn chia sẻ.

Nhà điêu khắc Lê Công Thành năm nay 86 tuổi, nhưng những sáng tạo của ông dường như không có tuổi.


Nhà điêu khắc Lê Công Thành: 'Mơ ước tác phẩm được phóng to, đặt trong không gian rộng lớn'

Thứ Tư, 25/07/2018 09:30 GMT+7
Triển lãm 3 . 3 . 3- phóng to 3 tác phẩm của nhà điêu khắc Lê Công Thành thành 9 “thực thể” khác nhau đang được trưng bày tại Heritage Space (tầng 1 Dolphin Plaza, số 6 - Nguyễn Hoàng, Hà Nội, mở cửa đến 19/8) . Triển lãm “đánh dấu” là triển lãm điêu khắc “cá nhân đầu tiên” của ông trong suốt sự nghiệp sáng tác dài hơn nửa thế kỷ…

1. Theo nhà tổ chức, “mỗi phác thảo là một đại diện có tính khái quát về hình tượng điêu khắc mà Lê Công Thành theo đuổi: cơ thể phụ nữ, vật thể tô-tem, cột vô tận, với đầy đủ tinh thần kỳ bí, khao khát và bề thế trong đặc tính nghệ thuật của ông”.

Tuy nhiên, vì lý do sức khỏe, nhà điêu khắc Lê Công Thành đã không có mặt tại lễ khai mạc triển lãm cá nhân “đầu tiên” của mình.

Chú thích ảnh
Nhà điêu khắc Lê Công Thành

Đến thăm ông tại tư gia -tại khu tập thể Vĩnh Hồ, Hà Nội - chúng tôi được lão nghệ sĩ 88 tuổi tiết lộ: “Cả đời tôi luôn mơ ước tác phẩm được phóng to, đặt trong không gian rộng lớn. Dù không đến được triển lãm của mình, nhưng tôi rất vui vì tác phẩm của mình được các bạn trẻ yêu nghệ thuật biết đến và phóng to thể hiện đúng như mong muốn của tôi”.

Nhà điêu khắc Lê Công Thành bộc bạch, điêu khắc kim loại tấm mỏng là một bước chuyển lớn trong tư duy và ngôn ngữ tạo hình của ông giai đoạn gần đây. Ông âm thầm thể nghiệm và nung nấu những cơ hội được biểu đạt chúng trong những không gian lớn. Số tác phẩm này có đến cả 100 tác phẩm, ông rất muốn được mang ra triển lãm hết, bởi nó là phần thú vị nhất, đương thời nhất của người nghệ sĩ đang say mê sáng tạo nhưng ít được biết đến nhất gần đây.

“Tất cả chỉ là những phác thảo nhỏ và vừa được sáng tác trong một không gian khiêm tốn. Nhưng người xem sẽ phải ngạc nhiên khi các tác phẩm này được phóng lớn và đặt trong những không gian kiến trúc phù hợp”- họa sĩ Kim Thái, vợ Lê Công Thành chia sẻ thêm về sáng tác của chồng.

Quang cảnh triển lãm 3 . 3 . 3

2. Giám tuyển Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc nghệ thuật của Heritage Space nhận định, việc phóng to các tác phẩm với kích thước lớn được trưng bày trong triển lãm lần này được giám sát kỹ thuật chặt chẽ bởi nhà điêu khắc Nguyễn Lập Phương tại xưởng cơ khí ở Gia Lâm, Hà Nội.

9 tác được biến thiên từ 3 mẫu phác thảo, sắp đặt trong không gian triển lãm theo cung tròn với trung tâm là tác phẩm cao nhất (4,5m), cao độ lần lượt được giảm xuống 3,6m, 2,7m và 1,8m, nhằm biểu đạt khao khát sự toàn vẹn của người nghệ sĩ cả đời tôn sùng tìm kiếm…sự hoàn hảo.

3. Lê Công Thành (sinh năm 1931 tại Hải Châu, Đà Nẵng) nhưng trải qua phần lớn tuổi thơ tại nhà ngoại ở Quảng Ngãi và thường hay lui tới Bảo tàng Điêu khắc Chăm. Sau này, điêu khắc Chăm đã có ảnh hưởng sâu sắc tới sáng tác của Lê Công Thành như chính ông thừa nhận: “Tôi trở thành một nhà điêu khắc tất cả vì được bao quanh bởi điêu khắc Chăm”.

Chú thích ảnh
Một góc phòng trưng bày tác phẩm của Lê Công Thành tại tư gia

Lê Công Thành từng được cử đi học mỹ thuật cùng khóa với Tô Ngọc Vân (1955-1957) và trở thành sinh viên duy nhất trong lớp Điêu khắc Khóa I- Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (1957-1962). Sau đó, ông có hơn 10 năm giảng dạy tại trường Mỹ thuật Công nghiệp rồi nghỉ hưu chuyển về sáng tác tự do trong căn nhà nhỏ của ở khu tập thể Vĩnh Hồ, Hà Nội.

Tại đây, Lê Công Thành tập trung chủ yếu vào mô tả vẻ đẹp phồn thực của người phụ nữ và cho ra đời hàng ngàn tác phẩm có kích thước nhỏ và vừa với ngôn ngữ sáng tác khái quát triệt để và có tính ước lệ cao. Điển hình là phác thảo tượng Mẹ Âu Cơ (hay Người đàn bà và bọc trứng) được phóng lớn dựng tại Công viên biển Đông (đường Phạm Văn Đồng, Đà Nẵng).

Lê Công Thành cũng đầu thử nghiệm với điêu khắc tấm mỏng và cho ra hàng trăm phác thảo sử dụng kim loại nhẹ, bìa carton và dây căng, sau này ông sử dụng thêm một số lá kim loại mỏng có thể cắt tay như đồng, nhôm như đã nói ở trên.

Là nghệ sĩ luôn nắm giữ một tinh thần nghệ thuật có tính cộng đồng, sáng tác của Lê Công Thành đều có khả năng thu nhỏ hay phóng lớn để tạo ra một ngôn ngữ sáng tác vô cùng độc đáo, vừa có tính cá thể, lại vừa mang tính quốc tế cao.

Hoài Thương

Triển lãm 'Tranh giấy Lê Công Thành'

Thứ Sáu, 03/11/2017 10:15 GMT+7
Triển lãm Tranh giấy Lê Công Thành khai mạc sáng qua (2/11) tại Nhà triển lãm Mỹ thuật (29 Hàng Bài, Hà Nội).

Triển lãm giới thiệu 39 tác phẩm tranh giấy của họa sĩ, nhà điêu khắc Lê Công Thành (sinh năm 1923 tại Đà Nẵng), ông tốt nghiệp khóa mỹ thuật kháng chiến (1955-1957) và điêu khắc khóa 1 - ĐH Mỹ thuật VN, nguyên giảng viên khoa Điêu khắc ĐH Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội.

Chú thích ảnh
Một tác phẩm của Lê Công Thành tại triển lãm

Các tác phẩm trong triển lãm được họa sĩ Bằng Lâm lựa chọn từ trên 300 bức tranh giấy sáng tác trong khoảng 30 năm của lão họa sĩ. Những bức tranh ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ với nét vẽ phóng khoáng, bay bổng, mạnh mẽ thể hiện hình ảnh những người phụ nữ đầy sức sống, bản năng và khao khát tự do.

Chú thích ảnh
Cảnh khai mạc triển lãm “Tranh giấy Lê Công Thành”

“Tranh giấy nghệ thuật của Lê Công Thành khúc chiết, không ồn ào, màu sắc đơn giản, dứt khoát, giản lược đến tột cùng. Đó là cảm xúc mang những rung động sâu thẳm trong con tim của những người khao khát đổi mới, khao khát sáng tạo. Nhưng hơn tất cả, là tình yêu say đắm người đàn bà đến mức nồng nàn để vươn tới cái đẹp, mang tính nhân văn sâu sắc, giải phóng phụ nữ” - họa sĩ Bằng Lâm, giám tuyển triển lãm chia sẻ.


Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng

Những bức tranh đã từng bị những kẻ trộm đóng giả làm người mua đánh cắp mang đi trong lúc đánh lạc hướng chủ nhân.


Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng - ảnh 1Hai bức tranh quý vừa được tìm thấy.

Cảnh sát Ý đã vừa tìm thấy lại tranh bị đánh cắp của danh họa người Pháp Pierre-Auguste Renoir (1841-1919) và danh họa Peter Paul Rubens (1577-1640). Đó đều được coi là những siêu phẩm hội họa, đã từng bị những kẻ trộm đánh cắp đem đi hồi năm 2017. Tổng giá trị tranh bị đánh cắp lên tới tương đương 776 tỷ đồng.

Những kẻ trộm này đã bị cảnh sát Ý lần ra và bắt giữ mới đây, sau chiến dịch điều tra kéo dài 17 tháng. Hai bức tranh quý đã vừa được nhà chức trách trưng bày trước báo chí vào ngày thứ 6 vừa qua tại thành phố Monza (Ý).

Hai bức tranh từng bị đánh cắp khỏi hai thương gia chuyên rao bán các tác phẩm hội họa. Những nhân vật bị tình nghi đã đóng giả làm những người mua tiềm năng đến xem tranh.

Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng - ảnh 2Những kẻ trộm thông qua điện thoại đã gọi cho thương gia bán tranh bảo rằng họ sẵn sàng trả 26 triệu euro cho các bức tranh và muốn tới xem tranh trực tiếp.
Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng - ảnh 3Lợi dụng lúc đánh lạc hướng hai thương gia, nhóm 5 kẻ trộm tranh đã đánh cắp những bức tranh và bỏ trốn.
Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng - ảnh 4Cuối tuần này, hai bức tranh quý được thực hiện bởi Renoir và Rubens đã được tìm thấy lại và trưng bày trước báo chí Ý.

Cảnh sát cho hay họ đã tìm thấy những bức tranh này nằm trong một nhà kho ở thành phố Turin (Ý). Có tổng cộng 8 nghi phạm liên quan trong vụ này, 5 người đã bị bắt giữ hồi tháng trước.

 

Theo Dân trí






Hai kiệt tác 'triệu đô' của Nguyễn Phan Chánh sẽ hồi cố hương

Thứ Hai, 28/05/2018 07:25 GMT+7
Như Thể thao và Văn hóa (TTXVN) đã đề cập, ngày 25 và tối 26/5/2018 tại Hong Kong (Trung Quốc), là một dấu mốc đáng nhớ của danh họa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984), khi nhiều tranh của ông xuất hiện tại đây, trong đó có hai kiệt tác.

Kết quả kiệt tác Người bán ốc bán gần 600.000 USD và Em bé cho chim ăn bán hơn 853.000 USD - cao giá nhất và nhì của Nguyễn Phan Chánh trên thị trường quốc tế.
Tin vui là các nhà sưu tập Việt Nam đã đấu giá thành công hai bức này, chúng sẽ được hồi hương sau thời gian dài chu du trên thế giới. Giá hai bức này giờ được xếp vào Top 5 các bức tranh cao giá nhất của Việt Nam trên sàn quốc tế, sau các bức của Lê Phổ, Joseph Inguimberty...
Chú thích ảnh
Tự họa của Nguyễn Phan Chánh năm 1962 (ảnh chụp lại từ sách Nguyễn Phan Chánh của nhà sưu tập Trần Hậu Tuấn)
Từ hành trình của ốc
Bức La Marchande de Ôc (Người bán ốc, mực và bột màu trên lụa bồi giấy, 88cm x 65,5cm, 1929) xuất hiện tại phiên đấu kép Nghệ thuật Á châu thế kỷ 20 và đương đại và Người đương thời: Tiếng nói từ Đông và Tây của Christie’s Hong Kong tối 26/5/2018. Phiên này giới thiệu 77 lô hàng, đại diện từ Việt Nam có 5 lô.
Bức này từng xuất hiện tại Triển lãm quốc tế Paris - Bois de Vincennes, Pháp, kéo dài từ ngày 6/5 đến 15/11/1931, nơi Nguyễn Phan Chánh tham gia 6 tác phẩm. Có lẽ việc Nguyễn Phan Chánh được xuất hiện tại triển lãm danh giá này là nhờ năm 1929, khi còn học ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông đã giành giải Nhất cuộc thi vẽ mẫu tem Bưu chính Đông Dương.
Năm 1931, Nguyễn Phan Chánh còn vẽ hai bức lụa mà sau này thành kiệt tác, đó là Chơi ô ăn quan Em bé cho chim ăn. Đây cũng là những năm đầu tiên Nguyễn Phan Chánh thử sức với lụa, theo sự khích lệ của thầy hiệu trưởng Victor Tardieu (1870-1937).
Chú thích ảnh
Với hơn 853.000 USD, một nhà sưu tập Việt Nam đã quyết tâm hồi hướng “Em bé cho chim ăn”
Kiệt tác Người bán ốc được sưu tập từ năm 1931, thỉnh thoảng mới xuất hiện chỗ này chỗ kia. Gần nhất là tại Bảo tàng Hoàng gia Mariemont, Bỉ, trong triển lãm Hoa đào và chim xanh: Nghệ thuật và văn minh của Việt Nam, kéo dài từ ngày 20/4 đến 18/8/2002. Bức này gần như chưa xuất hiện tại Việt Nam, nên rất may, không có tranh chép và tranh giả.
Suốt đời Nguyễn Phan Chánh vẽ chừng 150, hoặc 160, hoặc 170 bức tranh - tùy số liệu và cách tính. Bức Người bán ốc có kích thước đặc biệt nhất, là 88cm x 65,5cm, trong khi kích thước phổ biến của Nguyễn Phan Chánh là 65cm x 50cm.
Rất hy vọng chủ nhân mới của bức này sẽ hào phóng và dũng cảm cho Người bán ốc được xuất hiện tại vài triển lãm/trưng bày tại Việt Nam. Điều này không chỉ “giải cơn khát” xem tranh thật của Nguyễn Phan Chánh, mà còn là dịp để người hâm mộ đến gần hơn một kiệt tác đã rời xa quê hương gần 90 năm.
Chú thích ảnh
Với gần 600.000 USD, nhiều ý kiến cho rằng “Người bán ốc” đang quá rẻ
Đến lối về của chim
Christie’s Hong Kong ngày 27/5 có hai phiên đấu liên quan đến tranh Việt, trong đó phiên Nghệ thuật Á châu thế kỷ 20 giới thiệu 227 lô hàng, tranh Việt có 21 lô. Tại đây xuất hiện những tên tuổi quen thuộc như Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lương Xuân Nhị, Hoàng Tích Chù, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Trung… Phần lớn đã bán vượt giá dự kiến, một tín hiệu đáng mừng.
Bức Enfant à l'oiseau (Em bé cho chim ăn, mực và bột màu trên lụa, 65cm x 50cm, 1931 - với khung gốc của Gadin) xuất hiện tại phiên này, có giá dự kiến từ 127.983 đến 204.774 USD. Kết quả bán 6.700.000 HKD, tương đương 853.921 USD, tăng giá hơn 600%.
Thật khó để biết hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam có bao nhiêu bức Em bé cho chim ăn, vì Nguyễn Phan Chánh và các “môn đệ” như Ngô Minh Cầu, Mai Long… từng nhiều lần chép lại bức này theo yêu cầu từ bảo tàng và ngoại giao, chưa nói các nơi làm tranh giả khác.
Nếu gốc tích mà Christie’s đưa ra là khả tín, thì bức tại phiên đấu này có khả năng là bản gốc, hoặc gần với bản gốc nhất. Khái niệm “gần với bản gốc” là để chỉ một tác phẩm mà do chính họa sĩ chép lại, hoặc giám sát việc chép lại, rồi tự mình tỉa tót, ký tên, đóng dấu... Do hoàn cảnh lịch sử, sinh thời Nguyễn Phan Chánh nhiều lần làm chuyện này.
Gốc tích mà Christie’s đưa ra là tạp chí L'Illustration (số 4683, phát hành năm 1932), và triển lãm của Trường Mỹ thuật Hà Nội và Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Agindo (Paris, Pháp, năm 1932).
Khác với sự lặng lẽ và “lành lặn” về câu chuyện của Người bán ốc, chắc chắn việc hồi hương của Em bé cho chim ăn sẽ còn những thị phi, vì tại Việt Nam có ít nhất 2 bức. Một bức thuộc sở hữu của bảo tàng, một bức thuộc sở hữu của tư nhân. Giá một ngày nào đó, cả ba bức này (và các bức Em bé cho chim ăn khác, nếu có được) cùng xuất hiện tại một triển lãm, thì rất tuyệt, vì lúc ấy giới chuyên môn và người hâm mộ sẽ có cơ hội so sánh. Những triển lãm dạng đối chứng này trên thế giới cũng thường tổ chức.
Những bức tranh nổi tiếng của Nguyễn Phan Chánh
Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh nổi tiếng với những tác phẩm như Chơi ô ăn quan, Vo gạo, Xem bói, Lên đồng, Em bé cho chim ăn, Người bán gạo, Rửa rau cầu ao, Cô gái róc mía, Người đàn bà hái rau muống, Đi cày, Người bán ốc, Hạnh phúc, Cô hàng xén, Người hát rong, Đám rước… Nguyễn Phan Chánh vẽ nhiều chủ đề, to tát cũng có, nhưng ông đặc biệt thành công khi diễn đạt những con người bình dị, những hình ảnh thân thuộc của Bắc bộ.


Có thể nói ba phiên đấu xa xỉ cuối tháng 5/2018 của nhà đấu giá Christie's tại Hong Kong lại chứng kiến sự lên ngôi của tranh Việt, với các bức tranh tiền tỷ.
Văn Bảy

Đấu giá Christie’s HongKong: 'Người bán ốc' của Nguyễn Phan Chánh lập kỷ lục?


Đấu giá Christie’s HongKong: 'Người bán ốc' của Nguyễn Phan Chánh lập kỷ lục?

Thứ Bảy, 26/05/2018 14:57 GMT+7
Có thể nói ba phiên đấu xa xỉ cuối tháng 5/2018 của nhà đấu giá Christie's tại Hong Kong lại chứng kiến sự lên ngôi của tranh Việt, với các bức tranh tiền tỷ.

Tại đây không chỉ có tác phẩm có giá dự kiến cao nhất của danh họa Nguyễn Phan Chánh, mà tranh Việt còn giới thiệu được nhiều tên tuổi quan trọng khác.
1. Tại phiên đấu đôi tối nay (26/5) có tên Nghệ thuật Á châu thế kỷ 20 và đương đại; và Người đương thời: Tiếng nói từ Đông và Tây giới thiệu 77 lô hàng, đại diện từ Việt Nam có 5 lô hàng thuộc loại xa xỉ.
Chú thích ảnh
Bức tranh lụa dự kiến đắt giá nhất của Nguyễn Phan Chánh: "Người bán ốc"
Tiêu điểm nhất là bức La Marchande de Ôc (Người bán ốc, mực và bột màu trên lụa bồi giấy, 88cm x 65,5cm, 1929) của Nguyễn Phan Chánh, giá dự kiến từ 358.561 đến 486.618 USD.
Xét toàn phiên, mức dự kiến này của Nguyễn Phan Chánh đang ưu trội hơn các danh họa trong khu vực Đông Nam Á như José Joya, Vicente Silva Manansala, Fernando Cueto Amorsolo, Hendra Gunawan, Affandi, Georgette Chen, Cheong Soo Pieng, Chen Wen Hsi… Thậm chí không còn khoảng cách với Hàn Quốc, nhưng còn cách khá xa Trung Quốc, Nhật Bản.
Nếu bán thành công với giá trên 400.000 USD, đây sẽ là bức tranh lụa cao giá nhất của Nguyễn Phan Chánh trên thị trường công khai. Theo dự đoán, bức này có thể bán hơn 600.000 USD, vì độ hoàn chỉnh và ý nghĩa lịch sử của nó.
Năm 2013, cũng tại Christie’s Hong Kong, bức lụa La Marchand de Riz(Người bán gạo, năm 1932) của Nguyễn Phan Chánh đã được bán với giá tương đương 390.000 USD, trong khi mức khởi điểm chỉ là 75 USD.
Chú thích ảnh
"Một tách trà" của Lê Phổ dự kiến từ 192.086 đến 320.143 USD
Phiên này Lê Phổ có bức Une tasse de thé (Một tách trà, mực và bột màu trên lụa bồi giấy, 36cm x 29 cm, khoảng 1938-1940) với giá dự kiến từ 192.086 đến 320.143 USD. Và bức La Toilette (Nhà tắm, mực và bột màu trên lụa bồi giấy, 31cm x 23cm, 1942) có giá dự kiến từ 153.669 đến 281.726 USD. Cả hai bức này đều được dự đoán sẽ bán trên mức trần dự kiến.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Nhà tắm" của Lê Phổ, giá dự kiến từ 153.669 đến 281.726 USD
Nhưng đặc biệt nhất của phiên này là sự xuất hiện của Danh Võ (sinh 1975), một nghệ sĩ sinh ra tại Bà Rịa, lớn lên tại Đan Mạch. Tác phẩm 165° W (165 độ Tây, vàng lá trên thùng giấy, 91 x 173 cm, 2011) có giá dự kiến gây choáng váng: từ 153.532 đến 204.709 USD.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "165° W" của Danh Võ, nhìn có vẻ đơn giản nhưng rất đắt đỏ
Thật khó để hình dung vì sao tác phẩm này có giá khủng như vậy? Theo Christie's: Vật liệu tác phẩm có xuất xứ là một vỏ thùng giấy cũ của nhà sản xuất đồ uống chai nhựa của Thái Lan. Ở phía góc dưới bên trái, có lời bài hát của David Bowie: “Time he flexes like a whore” (Thời giờ của hắn ta uốn éo như một con điếm), được Danh Võ viết theo lối gothic. Đây cũng là một kiểu chữ mà cha của Danh Võ - nhà thư pháp Phùng Võ - ưu chuộng.
Tác phẩm này được dự đoán sẽ bán trên 300.000 USD. Nếu bán thành công, sẽ trở thành nghệ sĩ đương đại Việt và gốc Việt có giá cao nhất trên sàn đấu giá công khai.
2. Hai phiên ngày mai (27/5), một phiên có tên Nghệ thuật Á châu thế kỷ 20, với 227 lô hàng, tranh Việt có 21 lô. Tại đây xuất hiện những tên tuổi quen thuộc như Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lương Xuân Nhị, Hoàng Tích Chù, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Trung…
Chú thích ảnh
Bức "Em bé cho chim ăn" giá dự kiến từ 127.983 đến 204.774 USD
Tại phiên này có bức Enfant à l'oiseau (Em bé cho chim ăn, mực và bột màu trên lụa, 65cm x 50cm, 1931 - với khung gốc của Gadin), giá dự kiến từ 127.983 đến 204.774 USD.
Thật khó để biết hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam có bao nhiêu bức Em bé cho chim ăn, vì Nguyễn Phan Chánh và các “môn đệ” như Ngô Minh Cầu từng nhiều lần chép lại bức này, chưa nói các nơi làm tranh giả.
Nếu gốc tích mà Christie’s đưa ra là khả tín, thì bức tại phiên đấu này có khả năng là bản gốc hoặc gần với bản gốc nhất. Khái niệm gần với bản gốc là để chỉ một tác phẩm mà do chính họa sĩ chép, hoặc giám sát việc chép, rồi tự mình tỉa tót, ký tên. Do hoàn cảnh lịch sử, sinh thời Nguyễn Phan Chánh thường làm chuyện này.
Gốc tích mà Christie’s đưa ra là tạp chí L'Illustration (số 4683, phát hành năm 1932), và triển lãm của Trường Mỹ thuật Hà Nội và Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại AGINDO (Paris, Pháp, năm 1932).
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Vấn khăn trùm đầu" của Tôn Thất Đào
Các yếu tố lạ có Tôn Thất Đào (1910 - 1979), bức La Coiffure (Vấn khăn trùm đầu, mực và bột màu trên lụa, 49,5cm x 66,5cm) với giá dự kiến từ 23.037 đến 31.995 USD. Tôn Thất Đào là danh sư tại Huế, tác phẩm từng xuất hiện trong các triển lãm chung tại Hà Nội năm 1939, Nhật Bản năm 1940, Sài Gòn năm 1945, Vatican (Ý) năm 1950... Nếu gặp những người mua có thông tin về họa sĩ, bứa này có thể được đấu hơn 100.000 USD.
Chú thích ảnh
Bức "Thuyền câu đậu bến" (sơn mài, 75cm x 127,5cm) của Trần Văn Hà (sinh 1911), với giá dự kiến từ 10.238 đến 12.798 USD
Một phiên cùng ngày có tên Nghệ thuật đương đại Á châu, giới thiệu 133 lô hàng, tranh Việt có Trương Tân (sinh 1963), Dinh Q. Lê (sinh 1968), Hồng Việt Dũng (sinh 1962)… Các tác phẩm có giá dự kiến từ 7.679 đến 19.197 USD.
Văn Bảy


Đấu giá bức tranh lụa đáng sưu tập 'Thôn nữ Bắc kỳ' của họa sĩ Nam Sơn

Thứ Hai, 19/03/2018 07:26 GMT+7
Từ lúc 14h30 ngày 26/3 (giờ Paris), bức tranh lụa Thôn nữ Bắc kỳ của Nguyễn Nam Sơn sẽ được nhà đấu giá Aguttes đưa lên sàn đấu tại trung tâm đấu giá danh tiếng Drouot (Pháp). Trong 73 lô hàng, đại diện của Việt Nam có đến 19 lô, một tỷ lệ khá lớn, chứng tỏ một phần sức hút của tranh Việt.

Cùng với Victor Tardieu (1870- 1937), Nguyễn Nam Sơn (Nguyễn Văn Thọ 15/2/1890 - 26/1/1973) là đồng sáng lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội. Với khoảng 60 năm gắn bó với nghề, ông để lại khoảng 400 tác phẩm trên nhiều chất liệu, trong đó lụa có hơn 20 bức.
Tác phẩm đến từ Hà Nội
Theo thông tin từ nhà đấu giá Aguttes, Thôn nữ Bắc kỳ có hơn nửa thế kỷ “ngủ yên” trong một bộ sưu tập tư nhân tại Hà Nội, vốn là của thừa kế từ trước năm 1960. Tác phẩm có thể vẽ năm 1935, từng xuất hiện tại hội chợ có tên là Salon de la Sadeai ở Hà Nội năm 1936. Tại hội chợ này, Nam Sơn còn tham gia 3 bức tranh lụa khác.
Trong các tài liệu lưu trữ của gia đình Nam Sơn cũng có đề cập đến tác phẩm này. Ngoài chữ ký và triện, dòng lạc khoản chữ Hán bên góc trái tác phẩm viết: “Thần Kiếm hồ Nguyễn Nam Sơn bút ý”, tạm dịch: “Bức họa này do kẻ hèn ngụ bên hồ Hoàn Kiếm là Nguyễn Nam Sơn vẽ”.
Chú thích ảnh
Nguyễn Nam Sơn thời trẻ, hình chụp năm 1919
Về vẻ đẹp của tác phẩm, nhà nghiên cứu Ngô Kim Khôi mô tả: “Toàn thể bức tranh chủ yếu là sắc màu xanh lá cây chuyển sang lam ngọc, mềm mại, đa dạng và trong trẻo, vẽ ba thôn nữ miền Kinh Bắc. Người đứng trước là nhân vật chính, nhỏ tuổi nhất, vai gánh buồng chuối được diễn tả một cách tinh tế. Gương mặt xinh xắn, tóc vấn như một chiếc vương miện cài trên đầu. Cô mặc chiếc áo cộc trắng, cổ áo để lộ ra mảnh yếm đào. Một chiếc quần dài màu đen được cột bằng dải lụa xanh. Một dây bùa trừ tà đeo ở cổ, như một điểm trang. Đằng sau là hai phụ nữ lớn tuổi hơn. Đó là mùa Đông, trời lạnh nên họ mặc áo tơi, buộc khăn mỏ quạ, tông xanh nhấn mạnh thêm vẻ lạnh giá của không gian. Cả ba đều có dáng vấp truyền thống tượng trưng và quen thuộc của người nông thôn miền Bắc Việt Nam”.
Dù không chuyên về tranh lụa, nhưng qua Thôn nữ Bắc kỳ, người xem có thể thấy kỹ thuật lụa của Nam Sơn rất tinh tế. Đặc biệt ở cách thể hiện màu sắc, nhìn như xuyên suốt qua thớ lụa. Kỹ thuật này cũng được nhìn thấy qua bức lụa Về chợ mà ông vẽ năm 1927 - nghĩa là trước đó gần 10 năm - từng triển lãm tại Paris. Và Về chợ có lẽ cũng là bức tranh lụa đầu tiên của mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Bởi một trong những sơ tổ tranh lụa hiện đại là Nguyễn Phan Chánh thì phải đến năm 1928 mới chuyển sang học kỹ thuật vẽ lụa Vân Nam và bắt đầu thành công.
Chú thích ảnh
Tranh lụa “Thôn nữ Bắc kỳ” của Nguyễn Nam Sơn
Xứng đáng trưng bày ở bảo tàng
Nhìn chất lượng tác phẩm và vị thế của Nam Sơn trong lịch sử mỹ thuật hiện đại, Thôn nữ Bắc kỳ xứng đáng được treo ở các bảo tàng mỹ thuật công lập tại Việt Nam. Hơn nữa, với giá bán ước đoán từ 35.000 đến 50.000 euro, tác phẩm cũng không quá đắt giá để sưu tập.
Thế nhưng, khả năng để các bảo tàng mỹ thuật công lập tại Việt Nam chiến thắng ở các phiên đấu giá như thế này thì gần như không có. Do cơ chế tài chính, nếu có sẵn tiền thì cũng không kịp mua, vì duyệt chi rất mất thời gian, phải họp tới họp lui nhiều lần. Kế đến, các tổ chức như bảo tàng công lập thì thường phải kết toán chi tiêu từng năm, nên không thể có tiền dự trữ cho những việc đột xuất như đấu giá. Cho nên nhiều người còn chỉ biết trông chờ vào các bảo tàng tư nhân, các nhà sưu tập độc lập.
Lê Phổ - “á quân” về giá bán ước đoán
Phiên đấu còn nhiều tác phẩm của bộ tứ quen thuộc tại Pháp là Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, Mai Trung Thứ. Đáng chú ý nhất có lẽ là tác phẩm Jeune Fille Songeuse (Thiếu nữ mơ mòng, sơn mài, 60cm x 91cm, 1936) của Lê Phổ, dù giá bán ước đoán chỉ từ 25.000 đến 30.000 euro.
Nếu tác phẩm có giá ước đoán cao nhất phiên thuộc về Pierre Bonnard (1867-1947), từ 500.000 đến 600.000 euro, thì “á quân” về giá thuộc về Lê Phổ, với hai tác phẩm Maternité (Mẫu tử, mực nho và màu nước trên lụa, 59,5cm x 48cm) và Jeune fille à la rose (Thiếu nữ bên hoa hồng, mực Nho và màu trên lụa, 41cm x 32,2cm) cùng ước đoán từ 150.000 đến 200.000 euro.




Tranh của Vũ Cao Đàm đạt mức giá hàng chục tỷ khi đấu giá ở Pháp


Tranh của Vũ Cao Đàm đạt mức giá hàng chục tỷ khi đấu giá ở Pháp

Thứ Ba, 24/10/2017 20:00 GMT+7
Chiều 23/10, giờ Paris, tranh Việt lại “làm mưa làm gió” tại nhà đấu giá Aguttes, Pháp. Phiên đấu có tên Họa sĩ Á châu tranh ấn tượng thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, giới thiệu 48 lô hàng, tranh Việt có đến 12 lô.

Cụ thể, 12 lô này gồm có 7 bức của Vũ Cao Đàm (1908 - 2000) và 6 bức của Lê Phổ (1907-2001) - hai tên tuổi quen thuộc tại thị trường mỹ thuật Pháp.
Chú thích ảnh
Bức "Hai thiếu nữ ngồi thêu" của Vũ Cao Đàm bán 226.950 € (hơn 6 tỷ đồng)
Nhìn ở khía cạnh đấu giá, sức thanh khoản của mỹ thuật Việt vẫn rất khả quan, có đến 8/12 lô được bán. Trong khi đó, nhìn tổng phiên thì có đến 22/48 đã không đấu giá thành công.
Ngay lô đầu tiên, tác phẩm Hai thiếu nữ (mực và màu trên lụa, 47 cm x 58,5 cm, 1939) của Vũ Cao Đàm có giá ước định từ 25.000 đến 30.000 €, kết quả bán 99.450 € (hơn 2,6 tỷ đồng).
Chú thích ảnh
Bức "Thiếu nữ" của Vũ Cao Đàm bán 127.500 €
Tiêu điểm của Vũ Cao Đàm tại phiên này là bức Hai thiếu nữ ngồi thêu (mực và màu trên lụa, 79 cm x 59 cm), có giá ước định từ 35.000 đến 40.000 €, kết quả bán 226.950 € (hơn 6 tỷ đồng). Đây cũng là một trong những bức cao giá nhất của Vũ Cao Đàm trên thị trường đấu giá quốc tế.
Chú thích ảnh
Bức "Hoa quân tử lan" của Lê Phổ bán 112.200 €
Các tranh còn lại của Vũ Cao Đàm đều tăng giá và bán được. Bức Hoa lay-ơn bán 63.750 €, bức Thiếu nữ bán 127.500 €, bức Chân dung thiếu nữ với màn che mặt bán 16.575 €, bức Chân dung người bạn họa sĩ bán 14.025 €, bức Bạch mã bán 44.625 €.
Một tác phẩm giản dị có tên Hoa quân tử lan (45 cm x 57 cm) của Lê Phổ đã bán đến 112.200 €, trong khi giá ước định từ 30.000 đến 40.000 €, cũng là một bất ngờ.
Theo tin mà chúng tôi có được, đã có nhiều người Trung Quốc và Việt Nam tham gia đấu tranh Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, cuối cùng bức bán 226.950 € đã thuộc về một nhà sưu tập sống tại phố Bà Triệu (Hà Nội).
Văn Bảy



Triển lãm thạch bản Vũ Cao Đàm: Nỗi buồn của một danh họa

Thứ Bảy, 23/06/2012 08:12 GMT+7
Hôm nay (23/6), triển lãm Bộ sưu tập tranh thạch bản của Vũ Cao Đàm - họa sĩ bậc thầy của thế kỷ 20 tại tòa nhà Metropolitan (235 Đồng Khởi, TP.HCM) sẽ kết thúc. Đây là lần đầu tiên giới thưởng lãm nghệ thuật trong nước được chiêm ngưỡng lại một số phiên bản tác phẩm của một danh họa Việt Nam thời kỳ đầu. Thế nhưng, đằng sau hào quang ấy là một nỗi buồn “không của riêng ai”.

Sống ở Pháp, sáng tác kết hợp tư tưởng Đông - Tây với chủ đề Việt Nam, tác phẩm của Vũ Cao Đàm từ sớm đã tìm được chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Ví dụ, từ những năm 1940, Chính phủ Pháp đã mua 3 tác phẩm của Vũ Cao Đàm, đó là hai tranh lụa Chân dung người Hà Nội (1939), Đàn bà An Nam (1939) và tượng đồng Người Đông Dương, tượng này đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật André Diligent de Roubaix.


Tác phẩm Chuyện trò với giai nhân trong vườn, mực và gouache trên lụa, 85,5 x 115,5 cm, 1939.
Chưa tiêu biểu
Vũ Cao Đàm (1908-2000) có cuộc đời hoạt động nghệ thuật khá ổn định, kéo dài trong hơn 60 năm, kể từ đầu thập niên 1930. Trải qua nhiều chất liệu (điêu khắc, lụa, sơn dầu, nặn tượng, phù điêu, thạch bản, tranh giấy, sơn mài…), với hàng ngàn tác phẩm và bản in, thế mà trong triển lãm hồi cố lần đầu tiên tại quê nhà, chỉ có 15 tranh in từ thạch bản, thuộc sưu tập của một cá nhân. Thể loại thạch bản vốn dành cho những ai yêu mến họa sĩ mà không đủ tiền mua tranh thật; giá trị lớn nhất là tính lưu niệm và chữ ký của tác giả.
Đành rằng, có còn hơn không, nhưng điều này cũng làm lộ ra lỗ hổng và thiếu sót trong công việc sưu tập của các bảo tàng lớn. Đáng lẽ, với danh họa này, triển lãm hồi cố lần đầu tiên nên được tổ chức trang trọng và chuyên nghiệp hơn, thiếu tác phẩm thì phải đi mượn (điều bình thường trên thế giới), để làm sao phác họa được diện mạo và tôn vinh một tài năng đã có nhiều đóng góp cho lịch sử hội họa Việt Nam. Muốn làm được điều này, tất nhiên cần sự tham dự của định chế văn hóa và bảo tàng, với các sách lược bài bản, không thể chỉ trông chờ một vài cá nhân như nhà sưu tập Lan Hương lần này.
Tòa nhà Metropolitan chắc chắn có nhiều khán phòng sang trọng, tương xứng với tên tuổi và tài năng của Vũ Cao Đàm. Thế nhưng, việc tổ chức ngay sảnh ra vào, nơi có hàng ngàn người vì công việc khác phải đi qua đây, lại là một hình ảnh không được đẹp; đó là chưa nói nếu đúng ngày mưa, tuy không bị ướt, nhưng thấy quá buồn. Tôi ngồi cà phê kế bên quan sát gần như cả ngày 17/6 - một ngày mưa, khách của Metropolitan vào ra rất nhiều, số người quan tâm tới những bức tranh kế bên lối đi của họ thì khá ít. Điều này còn làm phân tâm những người thực sự muốn thưởng lãm hoặc đến mua tranh.
Điều làm cho Vũ Cao Đàm trở nên đặc sắc trong thị trường quốc tế (nếu có) là ở tranh lụa giai đoạn 1930-1952 và tượng bán thân, triển lãm này chưa thể hiện được điều đó. Mà có muốn làm bài bản hơn thì cũng rất khó, vì ở Việt Nam tác phẩm của Vũ Cao Đàm khá khan hiếm, chẳng biết mượn ở đâu để trưng bày.
Bị hoài nghi?
Một tác phẩm của Vũ Cao Đàm là Chuyện trò với giai nhân trong vườn (1939) từng được bán với giá 230.477 USD tại Sotheby’s ở Hong Kong hồi tháng 4/2008. Với giá bán này, có thể nói một số tác phẩm đẹp và hiếm của Vũ Cao Đàm đã thuộc diện cao giá nhất Việt Nam, có thể xếp cùng Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh… Nhưng cần lưu ý rằng, số tác phẩm như vậy ở mỗi họa sĩ thường không nhiều, vì số nhiều vẫn là tác phẩm “lót đường”, nghĩa là nó được vẽ cùng thời với tác phẩm đỉnh cao, nên na ná về chủ đề và phong cách. Đó là chưa nói, khi bước qua thời kỳ đỉnh cao và chất liệu tiêu biểu (mà Vũ Cao Đàm là lụa, tượng bán thân), các tác phẩm khác khó mà đạt giá cao như vậy.
Có một nỗi buồn nữa, đó là 2-3 năm gần đây, tác phẩm của Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Vũ Cao Đàm đã qua “cơn sốt” tại một số nhà đấu giá ở Hong Kong, Singapore… Có mấy lý do, đầu tiên, tác phẩm “hot” nhất của họ là tranh lụa (giai đoạn đầu), vốn khan hiếm, gần đây giá lên cao, nên ít có người mua và bán. Thứ hai, với tranh sơn dầu, thì chủ đề và cách vẽ thường lặp lại, sau 10 năm lên sàn đấu giá, người mua đã bớt hào hứng. Thứ ba, dù sống tại Pháp, với đạo đức bản thân và những ràng buộc của thị trường, mấy ông đã thoát được cám dỗ làm giả, thế nhưng gần đây đã xuất hiện tranh giả (do các nhà buôn làm), khiến người mua khá e dè. Trong 3-4 phiên đấu gần đây ở khu vực, tranh của mấy ông xuất hiện khá khiêm nhường, với giá khởi điểm không còn cao như 5-10 năm trước.
Chính vì những lý do như vậy, vượt qua những khiếm khuyết vốn có, triển lãm phiên bản in lần này trở thành cái cớ để chúng ta tưởng tượng về diện mạo một thời của danh họa Vũ Cao Đàm.
Văn Bảy

Nhà sưu tập 8X bỏ cả tỷ đồng mua tranh Việt


Nhà sưu tập 8X bỏ cả tỷ đồng mua tranh Việt

Thứ Ba, 01/08/2017 07:38 GMT+7
Tối 30/7, phiên đấu giá số 5 tại Nhà đấu giá Chọn đã diễn ra thành công ngoài mong đợi. Ở đó, bức Tình yêu đầu tiên (chất liệu bột màu, kích thước 45x50cm) sáng tác năm 1973 của danh họa Trần Văn Cẩn có giá khởi điểm 6.000 USD đã được trả giá cao kỷ lục: 41.000 USD (gần 1 tỷ đồng).

1.Đây là mức giá cao nhất từ trước đến nay tại Nhà đấu giá Chọn. Tác phẩm có giá cao thứ hai là Con giáp (bột màu, 29x33cm) của Nguyễn Tư Nghiêm với giá 16.000 USD. Tác phẩm có giá cao thứ 3 chính là bức Phố cũ (sơn dầu, kích thước 50x40cm) - từng bị nghi là tranh giả - được gõ búa với giá 12.500 USD.
Tổng giá trị giao dịch toàn phiên là 83.400 USD. Tuy nhiên, trong 12 mục đấu, có 4 hạng mục không có người trả giá, 2 hạng mục chỉ được trả giá khởi điểm…
Điều đặc biệt có thể nhận thấy ở phiên đấu giá thứ 5 của Chọn là tình yêu với hội họa Việt từ các nhà sưu tập trẻ. Người thắng đấu giá bức tranh Tình yêu đầu tiên là Hà Huy Thanh (sinh năm 1982). Người thắng đấu bức Con giáp là Lê Đình Chiến. Và người thắng đấu giá bức tranh Phố cũ là Phùng Quang Việt (sinh năm 1987).
Nhà sưu tập trẻ Phùng Quang Việt bên bức
Nhà sưu tập trẻ Phùng Quang Việt bên bức "Phố cũ".
Khi Thể thao & Văn hóa (TTXVN) đặt câu hỏi “Vì sao anh lại mua bức tranh Phố cũ vốn đang có nghi vấn là tranh giả?”, nhà sưu tập trẻ Phùng Quang Việt trả lời luôn: “Vì tôi thích. Chỉ vậy thôi!”, đồng thời xin lỗi vì từ chối chia sẻ thêm.
Cần nhắc lại, trước phiên đấu giá này, ngày 22/10/2006, nhà đấu giá Sotheby’s (Singapore) từng bán đấu giá một bức Phố cũ tương tự của Bùi Xuân Phái với giá 11.443 USD. Nhà đấu giá Christie’s (Hong Kong) sau đó cũng bán một bức tranh Phố cũ vào ngày 25/5/2014 với giá 12.804 USD.
Do vậy, họa sĩ Bùi Thanh Phương, con trai danh họa Bùi Xuân Phái cũng từng cho rằng bức tranh này chỉ là tranh chép. Tuy nhiên, đại diện Nhà đấu giá Chọn khẳng định: “Chúng tôi tin tưởng vào đội ngũ chuyên gia thẩm định của mình”.
Sau đó, giới chuyên môn cũng lên tiếng cho rằng, khó có thể biết được ở trên thế giới còn có “bao nhiêu” bức tranh mang tên Phố cũ của danh họa Bùi Xuân Phái và tranh cãi về mặt cảm quan cũ - mới, về chất sơn, chất toan, đinh cũ... thì cãi nhau là vô chừng... không hồi kết! Cách tốt hơn cả là nhờ khoa học kỹ thuật, làm phân tích Cacbon để xác định tuổi của bức tranh, nhưng cách này trên thế giới người ta làm chuẩn chứ Việt Nam thì…cũng chưa chắc!
Do vậy, trước khi người mua quyết định đặt cọc, trả giá… phải tỉnh táo và sáng suốt.

2. "Giá bức tranh tuỳ thuộc năng lực nhà sưu tầm”, nhà sưu tập Hà Huy Thanh, người bỏ 41.000 USD mua bức Tình yêu đầu tiên của danh họa Trần Văn Cẩn, nhận xét.
“Nền nghệ thuật Việt Nam có một giá trị tiềm tàng rất lớn, giá trị sử dụng rất cao nhưng giá trị trao đổi rất thấp” – anh nói thêm. Như những gì vừa diễn ra, anh Thanh đã sẵn sàng bỏ ra cả tỷ đồng để có được một bức tranh của danh họa vì thấy được tiềm năng cao trong lĩnh vực này.
Chú thích ảnh
Nhà sưu tập trẻ Hà Huy Thanh
Hiện nay, khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực (từ ngày 1/7/2017), các phiên đấu giá tác phẩm nghệ thuật đang là một xu hướng kinh doanh mới tại Việt Nam với 3 đơn vị: Chọn, Lạc Việt và Lythi.
Tuy nhiên, theo nhận định của giới chuyên môn, các nhà đấu giá chỉ là cầu nối trung gian giữa người mua và người bán, còn việc thẩm định, đánh giá tác phẩm đỏi hỏi phải là người có chuyên môn cao và trung thực.
Bởi, Luật Đấu giá tài sản cũng chưa quy nhiều trách nhiệm cho các đơn vị đấu giá, khi không buộc họ chịu trách nhiệm về giá trị và chất lượng của tài sản đấu giá. Chính vì vậy, tranh giả hay thật hoàn toàn phụ thuộc vào người bán và khả năng thẩm định của người mua.
ức
Bức "Tình yêu đầu tiên" của Trần Văn Cẩn được mua với giá gần 1 tỷ
Trên lý thuyết, rủi ro mua phải tranh giả, tranh chưa rõ nguồn gốc vẫn có thể xảy ra, dù cho người mua được trực tiếp xem tác phẩm hay có quyền yêu cầu nhà đấu giá cho xem các giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và các tài liệu liên quan đối với tác phẩm nghệ thuật mà họ định mua. Bởi, những giấy tờ đó hoàn toàn cũng có thể bị làm giả ngoài ý muốn của những người trong cuộc.
Dù vậy, vẫn có thể khẳng định rằng những phiên đấu giá các tác phẩm nghệ thuật đã góp phần mở ra kênh mua, bán tác phẩm nghệ thuật một cách công khai, và thúc đẩy hoạt động sáng tác nghệ thuật.
Nói như nhà phê bình mỹ thuật Phạm Trung, có được "người mua" Việt Nam với những giá như tại phiên đấu giá vừa diễn ra là vô cùng đáng quý. Bởi, điều này sẽ góp phần đẩy giá tranh Việt Nam lên dần, cả trong và ngoài nước.
Ngọc Tường
Thể thao &Văn hóa


Sotheby’s Hong Kong trưa 3/4: Tranh Việt 'làm mưa làm gió', giành giá 'khủng'


Sotheby’s Hong Kong trưa 3/4: Tranh Việt 'làm mưa làm gió', giành giá 'khủng'

Thứ Hai, 03/04/2017 18:21 GMT+7
Phiên đấu Modern and Contemporary Southeast Asian Art của nhà Sotheby’s Hong Kong khai mạc từ lúc 10h ngày 3/4, nhiều người vui vì đa số tranh Việt tăng giá tích cực.

Phiên đấu giới thiệu trong 172 lot (lô), trong đó có gần 40 lô của Việt Nam, hoặc liên quan trực tiếp đến Việt Nam, gần 30/40 lô bán được giá cao hơn dự kiến. Đây là một tín hiệu rất tích cực, vì lâu nay nhà đấu giá này cũng hơi kiêng dè các tác phẩm của Việt Nam, vì nạn giả và nhái hoành hành.

Tác phẩm "Hoa tươi" của Lê Phổ bán được bán 148.120 USD
Tiêu điểm của phiên đấu này đương nhiên thuộc về Lê Phổ, không chỉ vì ông có nhiều tác phẩm, giá dự kiến cao, mà còn ở khả năng tạo sự bất ngờ lớn. Tất cả những tác phẩm được bán của ông đều cao hơn mức dự kiến tối thiểu, vài bức vượt dự kiến tối đa đến nhiều lần.
Các tác phẩm thu hút của Lê Phổ gồm: Composition De Fleurs (Hoa tươi), dự kiến từ 103.040 đến 193.200 USD, kết quả bán 148.120 USD - cao hơn mức dự kiến tối thiểu; Jeunes Filles Au Bouquet De Tulipes (Thiếu nữ bên hoa tu-líp) dự kiến 33.488 đến 48.944 USD, bán 88.550 USD; La Cueillette (Hái quả) dự kiến 36.064 đến 48.944 USD, bán 67.620 USD.

Tác phẩm "Vọng phu biển" của Nguyễn Trung
Bất ngờ của phiên này còn có thể kể đến tác phẩm Maternity And The Sea (Vọng phu biển) của Nguyễn Trung, với dự kiến từ 15.456 đến 23.184 USD, kết quả gõ búa 35.420 USD. Bất ngờ vì Nguyễn Trung sinh năm 1940 tại Sóc Trăng, hiện sống ở TP.HCM, dòng tranh này được ông vẽ thường xuyên, số lượng lớn, nhiều người vẫn nghĩ giá phải thấp hơn 15.000 USD.

Tác phẩm "Lướt thuyền trên Thác Bờ sông Đà" của Nguyễn Văn Tỵ
Một bất ngờ nữa là tác phẩm Rapid Of Cho Bo On The Black River (có lẽ tiếng Anh viết nhầm chữ Cho Bo, nên tạm dịch: Lướt thuyền trên Thác Bờ sông Đà) của Nguyễn Văn Tỵ (1917 - 1992) có giá dự kiến từ 45.080 đến 57.960 USD, gõ búa bán đến 112.700 USD.
Nhìn ở khía cạnh lịch sử chất liệu, tác phẩm sơn mài trên vóc này (gồm 8 tấm, với tổng kích thước 95,5 cm x 250 cm, sáng tác năm 1943) có sự hoàn chỉnh đáng ngưỡng mộ.
Văn Bảy


10 bức họa nổi tiếng về phụ nữ

‘Mona Lisa’, ‘Người đàn bà xa lạ’ hay ‘Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai’ là những tác phẩm tôn vinh vẻ đẹp người phụ nữ - niềm cảm hứng bất tận và là một đề tài muôn thuở của hội họa.

1. The Birth of Venus (Sự ra đời của thần Vệ Nữ)

Tác giả: Sandro Botticelli (Italy)
Năm hoàn thành: 1486

1-The-Birth-of-Venus-jpg-1362389426_500x

Sandro Botticelli là một họa sĩ thiên tài người Italy vào thời kỳ tiền Phục Hưng. The Birth of Venus là tác phẩm vĩ đại nhất của ông và được coi như là một biểu tượng của “Chân - Thiện - Mỹ”. Trong thần thoại Hy Lạp, thần Vệ Nữ được sinh ra từ bọt biển, là con của Chúa tể bầu trời - thần Uranus. Sự ra đời của thần Vệ Nữ trở thành một đề tài lớn trong hội họa, trong đó có những bức tranh rất nổi tiếng của Cabanel, Bouguereau hay Amaury Duval.

Tuy vậy, bức tranh của Botticelli vẫn được công nhận rộng rãi là tác phẩm hoàn hảo và kinh điển nhất. Trong tranh, thần Vệ Nữ được miêu tả có mái tóc mây vàng rực rỡ, làn da trắng muốt, gương mặt thánh thiện và làn môi mọng. Vệ Nữ có cơ thể tròn trịa, đầy đặn, tràn đầy sức sống, tượng trưng cho sự sinh sôi, tình yêu, hoan lạc và sắc đẹp.

2. Mona Lisa (Nàng Mona Lisa)

Tác giả: Leonardo da Vinci (Italy)
Năm hoàn thành: khoảng 1503 – 1506

2-Mona-Lisa-Leonardo-da-Vinci-jpg-136238

Leonardo da Vinci là một thiên tài toàn năng người Italy: một họa sĩ, kiến trúc sư kiệt xuất, một nhạc sĩ, một kỹ sư siêu việt, một nhà khoa học đi trước thời đại… Mona Lisa, không nghi ngờ gì, là tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới, được coi như chuẩn mực của cái đẹp.

Bức họa thể hiện một người đàn bà đầy đặn, trông có vẻ phúc hậu đang đan tay vào nhau, khóe miệng khẽ giãn ra một nụ cười hư ảo. Hậu thế đã cố gắng phân tích bí ẩn trong nụ cười của nàng Mona Lisa: nàng đang cười hay không cười, nụ cười đó có ý nghĩa gì, làm sao da Vinci có thể tạo nên một nụ cười như vậy… nhưng chưa bao giờ đưa ra được câu trả lời thỏa mãn. Đã có hàng loạt giả thuyết, huyền thoại xung quanh nguyên mẫu của bức tranh.

Người ta tranh cãi nguyên mẫu của bức tranh là mẹ của họa sĩ, một gái điếm, vợ của một thương gia giàu có, người tình đồng giới của ông hoặc là chính Leonardo da Vinci. Đáp lại sự tò mò của hậu thế, Mona Lisa vẫn mãi mãi mỉm cười bí ẩn, như thể luôn muốn nói một điều gì mà chẳng bao giờ nói.

3. Sleeping Venus (Vệ Nữ say ngủ)

Tác giả: Giorgione (Italy)
Năm hoàn thành: 1510

3-Sleeping-venus-jpg-1362389427_500x0.jp

Giorgione là một bậc thầy hội họa của phong trào Phục Hưng. Cuộc đời của ông ngắn ngủi, để lại không nhiều tác phẩm và trong số đó, Sleeping Venus là bức tranh nổi tiếng nhất. Khi Giorgione mất, bức Sleeping Venus vẫn còn dang dở và Titian, một danh họa vĩ đại khác, cũng là bạn của ông đã hoàn thành bức tranh bằng cách vẽ thêm phong cảnh và bầu trời.

Sleeping Venus vẽ một phụ nữ nằm nghiêng, mắt nhắm nghiền như đang ngủ, mặt khẽ quay về hướng người xem, tay phải làm gối, tay trái đặt hờ lên cơ thể, chân trái duỗi đặt trên chân phải hơi co lại – một kiểu bố cục kinh điển mà rất nhiều tác phẩm hội họa về sau đã học theo. Thiên nhiên đằng sau nàng cũng có những đường cong tinh tế như họa lại cơ thể của người đàn bà, tôn vinh sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Việc vẽ một người phụ nữ khỏa thân đánh dấu một cuộc cách mạng trong nghệ thuật và được coi là một trong những điểm khởi đầu của mỹ thuật hiện đại.

4. Girl with a Pearl Earring (Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai)

Tác giả: Johannes Vermeer (Hà Lan)
Năm hoàn thành: khoảng năm 1665

4-Girl-with-a-Pearl-Earring-jpg-13623894

Johannes Vermeer là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất của Thời đại Hoàng kim Hà Lan. Sinh thời, ông vẽ rất chậm và để lại rất ít tranh, phần lớn tranh của ông lấy đề tài những người phụ nữ của tầng lớp bình dân. Girl with a Pearl Earring là một trong những kiệt tác để đời của ông, được mệnh danh là “Mona Lisa Hà Lan” hoặc “Mona Lisa phương Bắc”.

Bức tranh mô tả một thiếu nữ nhìn nghiêng, khăn đội đầu che hết mái tóc, đồ trang sức duy nhất là một bên hoa tai bằng ngọc trai. Thiếu nữ trong tranh có đôi mắt tròn to, lộ vẻ rụt rè, sợ hãi nhưng làn môi mọng lại hé mở, khơi gợi ham muốn. Bức tranh vừa thể hiện sự ngây thơ mong manh, vừa phảng phất một sự cám dỗ gọi mời. Ánh sáng phản chiếu trên hoa tai ngọc trai là một điểm nhấn hoàn hảo của tác phẩm. Năm 1999, Tracy Chevalier đã viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng cùng tên với cảm hứng dựa trên bức tranh này.

5. Whistler’s Mother (Mẹ của Whistler)

Tác giả: James McNeil Whistler (Mỹ)
Năm hoàn thành: 1871

5-Whistler-s-mother-jpg-1362389427_500x0

Whistler là một họa sĩ nổi tiếng gốc Mỹ, một trong những chủ soái của phong trào “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Whistler’s Mother là bức tranh nổi tiếng nhất của ông, được coi là biểu tượng Mỹ và “Mona Lisa của thời Victoria”.

Tương truyền, Whistler đã định vẽ một người khác nhưng bất thành và ông liền thay thế người mẫu bằng chính mẹ ông, bà Anna Whistler. Cũng có tin đồn, đầu tiên bà Whistler được vẽ đứng nhưng sau đó vì quá mỏi chân, bà phải ngồi trên ghế.

Trong tranh, bà mặc một bộ váy màu đen giản dị, ngồi gọn gàng, tay đặt trên váy, chân đặt trên chiếc ghế để chân, nhìn chăm chú về phía trước. Nét mặt nghiêm trang và tông màu đen xám của bức tranh gợi một cảm giác ngột ngạt và tang tóc như thể một điều gì đó rất nghiêm trọng đang xảy ra. Tuy nhiên, ngày nay bức tranh được rộng rãi công nhận như là một biểu tượng mẫu mực của tình mẹ.

6. Portrait of an Unknown Woman (Người đàn bà xa lạ)

Tác giả: Ivan Nikolaevich Kramskoi (Nga)
Năm hoàn thành: 1883

6-Portrait-of-an-unknown-woman-jpg-13623

Kramskoi là một họa sĩ và nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng, chủ soái của phong trào nghệ thuật dân chủ Nga. Portrait of an Unknown Woman được coi là một kiệt tác của nền hội họa Nga và từ lâu đã rất quen thuộc với công chúng Việt Nam với tên gọi Người đàn bà xa lạ.

Bức tranh vẽ một người phụ nữ ngồi trên xe ngựa mui trần vào buổi sáng mùa đông ảm đạm, tuyết phủ trắng xóa mái nhà. Người phụ nữ trong tranh quý phái và kiêu hãnh với đầu ngẩng cao, môi mím chặt nghiêm nghị, ánh mắt nhìn xuống uể oải.

Cho đến nay, nguyên mẫu của bức họa vẫn là một điều bí ẩn với rất nhiều phỏng đoán chưa được chứng minh. Bức tranh thường được ví với Anna Karenina trong kiệt tác cùng tên của đại văn hào Leo Tolstoy và đã nhiều lần được dùng để minh họa cho trang bìa của cuốn sách. Bức tranh được đánh giá là thể hiện tính cách Nga rõ rệt và là một biểu tượng của sự đài các, thượng lưu.

7. Madame X (Quý bà X)

Tác giả: John Singer Sargent (Mỹ)
Năm hoàn thành: 1884

7-Madame-X-jpeg-1362389427_500x0.jpg

John Singer Sargent là một họa sĩ vẽ tranh chân dung hàng đầu thế kỷ 19. Madame X là bức tranh nổi tiếng và có lẽ là tai tiếng nhất của ông.

Người phụ nữ trong tranh là Virginie Gautreau, vợ của một ông chủ nhà băng giàu có người Pháp. Sinh thời, bà rất nổi tiếng trong giới thượng lưu Paris vì sắc đẹp ưu việt của mình. Bức chân dung vẽ bà trong bộ váy màu đen cúp ngực, tay phải làm trụ khẽ đỡ lấy cơ thể, tay khác bấu hờ vạt váy và gương mặt quay đi hướng khác. Màu đen bóng của bộ váy cùng tông màu nâu của hậu cảnh như tương phản và càng làm nổi bật thêm làn da trắng nhức.

Cơ thể người mẫu như hướng về phía người họa sĩ nhưng đầu lại quay sang một bên, vẻ lảng tránh, tạo cảm giác xung đột, vừa muốn tiến đến vừa muốn cưỡng lại. Bức tranh bị coi là khêu gợi, không đứng đắn và trở thành một "quả bom" scandal thời bấy giờ. Bà Gautreau từ đó không xuất hiện trước công chúng nữa còn họa sĩ Sargent thì nhanh chóng rời khỏi Pháp, định cư lâu dài ở London.

8. Flaming June (Tháng Sáu bỏng cháy)

Tác giả: Nam tước Frederic Leighton (Anh)
Năm hoàn thành: 1895

8-Flaming-June-jpg-1362389428_500x0.jpg

Nam tước Frederic Leighton là một họa sĩ kiêm nhà điêu khắc nổi tiếng người Anh. Flaming June là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông và được coi là một kiệt tác của hội họa thế giới.

Nguyên mẫu trong tranh là nữ diễn viên Dorothy Dene, người được đánh giá là có gương mặt và hình thể giống với hình mẫu lý tưởng của Leighton nhất. Dorothy Dene vào những năm 1890 cũng được mệnh danh là người đẹp nhất nước Anh. Bức tranh khắc họa cô đang nằm ngủ trong một tư thế thiếu tự nhiên tựa như đó chỉ là một giấc ngủ ngắn mệt nhọc.

Tác phẩm đẫm chìm trong màu hổ phách hoàn hảo và cảnh dòng sông ở hậu cảnh gần như sáng trắng dưới ánh nắng mặt trời tháng sáu. Bộ váy mỏng manh trong suốt thể hiện những đường cong tinh tế của người phụ nữ. Cây trúc đào bên góc phải tượng trưng cho sự mong manh giữa giấc ngủ và cái chết. Thiếu nữ trong tranh với vẻ đẹp vừa nhục dục vừa trong sáng khiến người xem nhớ đến những tiên nữ nanh-phơ trong thần thoại Hy Lạp ngày xưa.

9. Portrait of Adele Bloch-Bauer I (Chân dung nàng Adele Bloch-Bauer I)

Tác giả: Gustav Klimt (Áo)
Năm hoàn thành: 1907

9-Portrait-of-Adele-Bloch-Bauer-I-jpg-13

Gustav Klimt là một họa sĩ thiên tài người Áo, nổi tiếng với những đề tài về phụ nữ và tình yêu. Cho tới nay, Portrait of Adele Bloch-Bauer I là một trong 5 bức tranh được trả giá cao nhất trong lịch sử. Năm 2006, bức tranh được bán với giá kỷ lục 135 triệu USD, trở thành bức tranh đắt giá nhất lúc bấy giờ.

Adele Bloch-Bauer là vợ của một nhà tư bản kếch xù, người thường mạnh dạn ủng hộ và giúp đỡ tiền bạc cho Gustav Klimt. Bà là tình nhân bí mật của Klimt và cũng là người phụ nữ duy nhất được họa sĩ hai lần vẽ chân dung. Bức chân dung thứ hai của bà, Portrait of Adele Bloch-Bauer II, từng được trả giá 88 triệu USD, cũng là một trong những bức tranh đắt giá nhất thế giới.

Portrait of Adele Bloch-Bauer I tràn ngập một màu vàng vương giả, người phụ nữ trong tranh trông thoải mái và đường bệ như một nữ hoàng. Bức tranh còn được mệnh danh là “Mona Lisa của nước Áo” hoặc “Phu nhân vàng”.

10. Dora Maar with Cat (Dora Maar với Mèo)

Tác giả: Pablo Picasso (Tây Ban Nha)
Năm hoàn thành: 1941

10-Dora-Maar-with-cat-jpg-1362389428_500

Picasso là họa sĩ thiên tài người Tây Ban Nha, một trong những cái tên sáng chói nhất trong giới hội họa thế kỷ 20. Dora Maar with Cat được giới phê bình cùng công chúng đánh giá cao và là một trong những bức tranh đắt nhất thế giới với giá hơn 95 triệu USD.

Dora Maar là người tình lâu năm của họa sĩ và cũng là một nhiếp ảnh, họa sĩ có tiếng. Trong tranh, bà ngồi trên một cái ghế trông như ngai vàng với một cái mũ trông như vương miện trên đầu. Một con mèo nhỏ xuất hiện bên vai phải, trông vừa có sự hăm dọa, vừa có vẻ hài hước. Những móng tay của Dora Maar cũng được vẽ rất dài và sắc nhọn, hàm ý cô cũng là một con mèo nhỏ ranh mãnh. Bức tranh cũng rất nổi tiếng về sự lựa chọn màu sắc, phối màu phức tạp.

Thăm dò
Bạn thích bức họa nào nhất về phụ nữ?

Anh Trâm

Những bức tranh đắt giá nhất hành tinh

Gia đình Hoàng gia Qatar chi hơn 250 triệu USD để sở hữu bức "The Card Players", mang đến kỷ lục mới về những tác phẩm hội họa cao giá nhất.

1. The Card Players (Những người chơi bài) - Paul Cezanne

So-1-Nhung-nguoi-danh-bai-jpg-1353973481


Cha đẻ của nghệ thuật hiện đại - Paul Cezanne vẽ bức The Card Players vào khoảng năm 1893. Nó thuộc series 5 bức tranh mô tả những người nông dân ngồi chơi bài. Series tranh này được coi là những họa phẩm quan trọng nhất thuộc trường phái hậu ấn tượng.

Được sáng tác vào những năm cuối đời của danh họa, The Card Players tái hiện cảnh những nông dân ngồi chơi một ván bài. Năm 2012, hoàng gia Qatar đã chi 254 triệu USD để sở hữu báu vật này, đưa Những người chơi bài trở thành bức họa đắt giá nhất thế giới tính đến nay.

2. Number 5 - Jackson Pollock

so-jpg-1353973481_500x0.jpg


Jackson Pollock (1912-1956) là người có đóng góp to lớn trong lĩnh vực tranh trừu tượng của Mỹ. Number 5 được họa sĩ nổi tiếng vẽ vào năm 1948, trên một tấm vải khổ lớn bằng cách nhỏ từng giọt sơn xuống. Đây được gọi là hình ảnh trừu tượng của một tổ chim.

David Martinez, một chuyên gia tài chính Mexico mua tuyệt tác này với giá 140 triệu USD.

3. Woman III - Willem De Kooning

So-3-Woman-III-jpg-1353977675-1353979544


Bức tranh được vẽ năm 1953 này thuộc chuỗi 6 tác phẩm lấy chủ đề phụ nữ được thực hiện từ 1951 đến 1953 của Willem De Kooning. Woman III đứng thứ ba trong số những tác phẩm đắt nhất với giá trị 137,5 triệu USD.

4. Adele Bloch-Bauer của Gustav Klimt

So-4-Adele-jpg-1353973482_500x0.jpg


Gustav Klimt (1862-1918) là họa sĩ theo trường phái tượng trưng người Áo. Bức Adele Bloch-Bauer là một trong những kiệt tác cống hiến bằng cả trái tim của Gustav Klimt, được hoàn thành năm 1907. Tác phẩm kể về tình yêu nồng cháy bị cấm đoán của một thiếu nữ người Áo xinh đẹp. Klimt đã mất 3 năm để hoàn thành tác phẩm này.

Doanh nhân Ronald S. Lauder mua Adele Bloch-Bauer với giá 135 triệu USD vào năm 2006.

5. Nude, green leaves and bust - Pablo Picasso

So-5-Nude-and-jpg-1353973482_500x0.jpg


Đây là một trong nhiều bức tranh họa sĩ tài ba Pablo Picasso vẽ về người tình Marie-Thérése Walter của mình, tác phẩm ra đời vào đầu năm 1932.

Bức tranh được tác giả hoàn thành trong một ngày, với hình ảnh Marie đang nằm ngửa để lộ thân hình gợi cảm và bầu ngực căng tràn sức sống, phía sau chính là hình ảnh bán thân của họa sĩ. Tác phẩm được bán với giá 106,5 triệu USD.

6. Garçon à la pipe (Cậu bé và cái tẩu) - Pablo Picasso

so-6-jpg-1353973244-1353973482_500x0.jpg

Bức tranh được vẽ vào năm 1905 khi Picasso tròn 24 tuổi. Tác phẩm là hình ảnh một thiếu niên mặc bộ quần áo màu xanh, đội một vòng hoa nhỏ trên đầu, trên tay cầm một chiếc tẩu thuốc, ánh mắt u buồn. Với sự kết hợp tài tình giữa gam màu cam, hồng và xanh, họa sĩ đã tái hiện thành công thực trạng về xã hội u buồn và đầy rẫy bệnh tật đương thời. Đây là một trong những tác phẩm đắt nhất của Picasso, được bán với giá 104,2 triệu USD.

7. Dora Maar au Chat - Pablo Picasso

So-7-Dora-jpg-1353979544_500x0.jpg


Bức tranh mô tả Dora Maar, người tình của danh họa, với một con mèo đang ngồi ở trên vai của Dora. Dora là một trong những nhiếp ảnh gia theo chủ nghĩa siêu hiện thực nổi tiếng đương thời, bà cũng là người có ảnh hưởng rất lớn tới các tác phẩm của Picasso. Tác phẩm được mua với giá 95,2 triệu USD.

8. Portrait of Dr. Gachet (Chân dung bác sĩ Gachet) - Vincent Van Gogh

So-8-Bac-si-Gachet-Vincent-van-Gogh-jpg-

Bức tranh được hoàn thành năm 1890. Nhân vật trong tranh, Gachet, cũng chính là người chăm sóc họa sĩ thiên tài trước khi ông qua đời. Tác phẩm được bán với giá 82,5 triệu USD.

9. Le moulin de la Galette - Pierre Auguste Renoir

So-9-Khieu-vu-jpg-1353978724-1353979545_

Bức tranh được vẽ vào năm 1876, miêu tả một chiều chủ nhật ở Moulin de la Galette thuộc khu phố Montmartre, Paris. Tác phẩm thể hiện cuộc sống của những người thuộc tầng lớp công nhân Paris cuối thế kỷ 19, họ thường giải trí bằng cách cùng nhau khiêu vũ và tụ tập ăn uống cho tới khi màn đêm buông xuống. Bức tranh được bán với giá 78,1 triệu USD.

10.Portrait of Joseph Roulin - Van Gogh

So-10-jpg-1353978766-1353979545_500x0.jp

Bức Portrait of Joseph Roulin (Chân dung người đưa thư Joseph Roulin) được danh họa vẽ vào mùa đông năm 1988. Tác phẩm được bán với giá 58 triệu USD.

Thăm dò
Bạn có ấn tượng nhất với bức tranh nào?

Mai Hiên
Ảnh: Xinhua

Bi kịch của những nàng thơ yêu danh họa Picasso

Trong bảy phụ nữ quan trọng nhất với họa sĩ thiên tài thì hai người tự sát, hai người bị rối loạn tâm lý.

Gần đây, tại Mỹ, bức Cô bé và giỏ hoa được bán với giá 115 triệu USD của Picasso gây tranh luận. Bức vẽ thể hiện một cô gái khỏa thân với cơ thể được cho là của một trẻ vị thành niên. Merrill - giám đốc tài năng tại The Wing (một không gian cộng đồng dành cho phụ nữ) - cho rằng bức tranh của Picasso cần được điều tra bởi ông lo ngại khả năng Linda - nhân vật trong tranh - bị danh họa lạm dụng lúc vẽ. "Chúng tôi muốn biết tại sao Picasso lại chọn vẽ đứa trẻ trần truồng này và những điều ông ấy cố gắng truyền đạt bằng cách thức như vậy", Merrill nhận định trong thư gửi Huffpost. Giữa phong trào Me Too (chống lạm dụng tình dục) đang lên cao, nhiều người đặt vấn đề về cách Picasso sử dụng người mẫu cũng như đối xử với họ. Cao hơn là cách ông đối xử với phụ nữ - bởi họ đa phần là nguyên mẫu cho tranh của ông.

Danh họa Picasso.

Danh họa Picasso.

Không phải lần đầu tiên vấn đề này được đặt ra. Năm 2001, trong cuốn sách Picasso: My Grandfather, Marian Picasso - một trong những cháu gái của danh họa - cho rằng Picasso đối xử tệ với phụ nữ. Marian Picasso là con gái của Paulo Picasso - con trai của danh họa với người vợ đầu, Olga Khokhlova. Cô chia sẻ: "Picasso đã thuần hóa, mê hoặc và dày vò họ để thăng hoa trong nghệ thuật. Sau khi trải qua nhiều đêm giải phóng cơ thể phụ nữ, Picasso sẽ vứt bỏ người tình một khi họ khô héo". Marian cũng chia sẻ những câu chuyện ẩn khuất trong gia đình: "Không ai trong gia đình tôi có thể thoát được sự dày vò của thiên tài ấy. Ông nội tôi cần máu để ký lên mỗi bức tranh sau khi chúng hoàn thiện. Đó là máu của cha tôi, anh tôi, mẹ tôi, bà tôi và chính tôi. Ông ấy cần máu của những người yêu thương”.

Theo Paris Review, Diana Widmaier - cháu gái khác của danh họa - nói tại triển lãm cá nhân ở Paris năm 2017: “Không ai sử dụng và lạm dụng phụ nữ của mình giống như nghệ sĩ vĩ đại nhất thế kỷ 20”. Picasso từng nói với Francoise Gilot - học trò, người tình kém danh họa 40 tuổi: “Phụ nữ là những cỗ máy gây đau khổ. Đối với tôi chỉ có hai loại phụ nữ: nữ thần hoặc thảm chùi chân”.

Theo Irish Times, 80% tác phẩm của Picasso vẽ về phụ nữ mang ẩn ức tình dục hơn là tình yêu. Picasso quan niệm: “Vẽ tranh như là cách khác lưu giữ cuốn nhật ký”. Những sáng tác của Picasso chứa đầy khoái cảm tình dục và sự lạm dụng thân thể phụ nữ.

Bức The Dream của Picasso.

Bức "The Dream" của Picasso.

Trong bức Woman Reading, Picasso vẽ người tình Marie. Da của Marie có màu tím nhạt, mái tóc vàng và đôi mắt hình quả hạnh nhân. Trong mỗi bức tranh, người tình của Picasso thường tạo dáng trong tư thế ngồi trên ghế bành hoặc nằm xuống. Bức The Dream thể hiện rõ ràng hơn khoái cảm của Picasso với phụ nữ. Ông vẽ Marie ngủ trên ghế, đầu tựa vào một bên vai. Phía trên khuôn mặt cô là hình dạng của dương vật. Bàn tay đặt ở bộ phận sinh dục, gợi tư thế thủ dâm. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1974 với Đài phát thanh Văn hóa Pháp, Marie nói rằng danh họa đã lạm dụng thể xác cô trước khi hai người bắt đầu công việc tại phòng vẽ.

Phần lớn phụ nữ gắn bó Picasso có số phận bất hạnh. Trong bảy phụ nữ được cho là quan trọng nhất với Picasso thì hai người tự sát, hai người bị rối loạn tâm lý. Năm 1904, danh họa yêu Fernande Oliver - cảm hứng chính trong sáng tác của Picasso thời kỳ Hoa Hồng (giai đoạn danh họa sử dụng màu cam và hồng, tương phản với nhiều tông màu nhạt). Sau này, Oliver ngoại tình với một nghệ sĩ người Italy kém tuổi. Điều này khiến Picasso tức giận. Ông chia tay Olivier để quan hệ với Marcelle Humbert - người mà ông gọi là “Eva” trong một số bức tranh lập thể. Marcelle là người khó nắm bắt, bí ẩn nhất trong bảy phụ nữ của nghệ sĩ.

Picasso và vợ - Olga Khokhlova.

Picasso và vợ - Olga Khokhlova.

Năm 1918, họa sĩ cưới diễn viên ballet Olga Khokhlova - người vợ đầu. Cả hai có con chung tên Paulo. Buồn chán vì sự nghiệp múa sớm kết thúc, chồng lại ra ngoài lăng nhăng, Olga trở nên điên loạn và thường xuyên tấn công các người tình của Picasso. Cuộc hôn nhân kéo dài 17 năm, sau đó vợ chồng ông ly thân năm 1935. Luật hôn nhân Pháp quy định sau khi ly hôn sẽ phải chia đôi tài sản nên Picasso chỉ ly dị khi Olga mất năm 1955.

Trong thời gian sống với Olga, nghệ sĩ bí mật quen cô gái 17 tuổi Marie - Therese Walter vào năm 1927. Họ có chung con gái tên Maria. Marie luôn ảo tưởng về sự chung thủy của Picasso với cô và nuôi hy vọng một ngày trở thành vợ hợp pháp. Sau này, khi Picasso qua đời được bốn năm, Marie treo cổ tự vẫn. Theo Los Angeles, sự ra đi của Marie có liên quan đến cái chết của danh họa.

Trong thời gian yêu Marie, Picasso nảy sinh tình cảm với nhiếp ảnh gia, họa sĩ Dora Maar (giai đoạn cuối thập niên 1930). Marie cùng Dora tranh giành Picasso. Dora Maar có mối tình kéo dài tám năm với danh họa. Về sau, Picasso dành tình cảm cho cô gái khác tên Francoise Gilot. Điều này khiến Dora suy sụp tinh thần, đến mức Picasso phải đưa bà vào bệnh viện chữa trị.

Năm 63 tuổi, Picasso yêu Francoise Gilot - sinh viên chuyên ngành nghệ thuật. Cả hai có chung hai con là Claude và Paloma. Khác với những người tình trước đó của Picasso, Francoise là người chủ động rời bỏ ông. Cú sốc này khiến danh họa nghĩ bản thân đã già và trở nên kỳ quặc trong mắt phụ nữ. Điều này tác động rõ rệt trong tâm lý sáng tác của Picasso. Một vài tác phẩm của ông miêu tả người lùn già nua đối lập cô gái trẻ đẹp.

Thế nhưng, không lâu sau, ông tìm được người tình khác tên Jacqueline Roque - công nhân xưởng gốm. Hai người duy trì mối quan hệ suốt phần đời còn lại của Picasso. Danh họa tổ chức đám cưới với Jacqueline năm 1961 như cách trả thù Francoise vì đã tự ý rời bỏ ông. Sau khi Picasso qua đời, Jacqueline nghiện rượu, thần kinh bất ổn và tự sát năm 1986.

Pablo Picasso (1881 - 1973) là nhà họa sĩ, điêu khắc thiên tài, người Tây Ban Nha. Ông là một trong những nghệ sĩ nổi danh nhất thế kỷ 20. Ông nổi tiếng với các tác phẩmnhư: Những cô nàng ở Avignon, Chân dung dì Pepa… Picasso có vài bức tranh nằm trong danh sách những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế giới, như bức Nude on a black armchair, Les Noces de Pierrette, Garçon à la pipe - được bán ra 104 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby vào năm 2004, lập kỷ lục thế giới lúc đó về giá cho một tác phẩm nghệ thuật.

Trọng Trường






 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN KHÁC



Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.