Bài viết










 
Album ảnhLiên hoan ảnh nghệ thuật khu vực ĐBSCL lần thứ 28 năm 2013
  VN
  13      


     "Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội lần thứ 3 năm 2013"
     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
 
Cuộc Thi ảnh nghệ thuật Việt Nam-Vẻ Đẹp Bất Tận

Đang truy cập: 13
Lượt truy cập: 7260068





                                           

Ngay trước khi tự sát, Van Gogh đã “suýt” trở thành danh họ










Những người phụ nữ bí ẩn trong tranh khoả thân Phạm Lực

>>Những người phụ nữ bí ẩn trong tranh khoả thân Phạm Lực

Ngay trước khi tự sát, Van Gogh đã “suýt” trở thành danh họa

Sinh thời, Van Gogh không được giới hội họa công nhận, ông không bán được tranh và chết trong vô danh, nghèo khó, bi kịch. Nhưng số phận đã từng lóe lên một tia may mắn với ông ngay trước khi “đóng sập”.

Một phát hiện thú vị và đầy ý nghĩa về cuộc đời và sự nghiệp của Van Gogh đã vừa xuất hiện mới đây. Tờ The Telegraph (Anh) cho hay Van Gogh không phải hoàn toàn vô danh lúc sinh thời như người ta vẫn tưởng, thậm chí, danh tiếng có thể sẽ mỉm cười với ông nếu ông không từ bỏ sinh mạng của mình quá sớm ở tuổi 37.

Thực tế, danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh đã bắt đầu nhận được sự chú ý từ một chính khách lớn ở thời điểm đó - ngài Tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot (1837-1894).

Van Gogh trong bức “Tự họa với băng tai” (1889)
Van Gogh trong bức “Tự họa với băng tai” (1889)

Những thông tin này vừa được đưa ra bởi một nhà nghiên cứu hội họa, dựa trên những thư từ để lại của Theo Van Gogh - người em trai, cũng là người bảo trợ tài chính cho Vincent Van Gogh lúc sinh thời.

Theo Van Gogh làm nghề kinh doanh hội họa. Các bức tranh mà người anh trai Vincent thực hiện sẽ được gửi về cho Theo, như một cách cảm ơn sự bảo trợ tài chính. Dù tranh của Van Gogh khi ấy bị xem là không có giá trị, nhưng Theo bằng nhiều cách xoay xở đã cố gắng để đẩy giá trị tranh của anh mình lên.

Trong quá trình nghiên cứu những lá thư mà Theo Van Gogh để lại (hiện đang được lưu trữ tại Bảo tàng Van Gogh, Amsterdam, Hà Lan), nhà nghiên cứu Martin Bailey đã đọc được một lá thư, trong đó ông Theo cho hay 10 bức tranh của Vincent đã được ông đem trưng bày giới thiệu tại triển lãm nghệ thuật “Salon des Indépendants” ở Paris hồi năm 1890.

Tại đây, một buổi xem tranh quy mô nhỏ đã được thực hiện, Tổng thống Pháp Carnot sau khi xem tranh đã chia sẻ rằng ông rất ấn tượng với các tác phẩm của Van Gogh. Bức thư được ông Theo Van Gogh viết cho anh trai vào ngày 19/3/1890, chỉ vài tháng sau, Vincent Van Gogh qua đời vì tự sát.

Bức “Những cây bách”
Bức “Những cây bách”

Các bức tranh được trưng bày triển lãm khi ấy là các tác phẩm với tông màu tươi sáng, khắc họa cảnh vật của vùng Provence (Pháp), với những bức như “Những cây bách” hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan (New York, Mỹ), hay “Cánh đồng lúa mì sau bão” trưng bày tại Bảo tàng nghệ thuật Ny Carlsberg Glyptotek (Copenhagen, Đan Mạch).

Người được giao nhiệm vụ giới thiệu tranh cho ngài Tổng thống tại sự kiện là họa sĩ người Pháp Paul Signac, ông là một người bạn của anh em nhà Van Gogh. Họa sĩ Paul Signac khi ấy là một trong số rất ít những người ngưỡng mộ tranh Van Gogh.

Nhà nghiên cứu hội họa Martin Bailey cho hay: “Các câu chữ mà ông Theo Van Gogh dùng để miêu tả cuộc xem tranh của ngài Carnot được viết ra quá bình dị, đó là lý do tại sao chi tiết này đã bị bỏ qua bởi nhiều nhà nghiên cứu hội họa trong suốt những năm tháng qua”.

Chi tiết này đã được nhà nghiên cứu Bailey đối chiếu lại với một bài báo được đăng trên tờ Le Petit Parisien (Pháp) ngày 21/3/1890 viết về triển lãm nghệ thuật, trong đó có đề cập việc ngài Carnot rất ấn tượng với “cách sử dụng màu sắc gây sửng sốt” của một số tác phẩm. Trong khi đó, cách sử dụng màu sắc chính là điểm khác biệt lớn nhất của tranh Van Gogh.

Ở thời điểm triển lãm diễn ra, Van Gogh đang ở bệnh viện tâm thần Saint-Paul-de-Mausole sau khi ông tự cắt tai mình. Van Gogh sau đó qua đời vào tháng 7/1890 vì tự sát bằng một phát súng bắn thẳng vào ngực.

Nhà nghiên cứu Martin Bailey là một chuyên gia trong lĩnh vực tranh Van Gogh, ông từng viết vài cuốn sách về Van Gogh và là người đồng phụ trách triển lãm tranh Van Gogh sẽ diễn ra tại Anh vào năm tới.

Van Gogh
Van Gogh

Trong cuộc đời của Van Gogh, có rất nhiều câu chuyện bi kịch đã trở thành “huyền thoại” khi người ta nói về vị danh họa này. Chẳng hạn, cả cuộc đời mình, Van Gogh chỉ bán được một bức tranh với giá rẻ bèo.

Trước chi tiết vừa phát hiện ra, nhà nghiên cứu Bailey đánh giá: “Van Gogh có thể không bán được tranh, nhưng tôi tin rằng ông ấy không hoàn toàn vô danh như chúng ta vẫn nhận định trước nay về sự nghiệp lúc sinh thời của ông.

“Trước lúc qua đời, tức là 7 năm sau khi cầm cọ vẽ, Van Gogh bắt đầu nhận được sự chú ý, dù có thể chưa được biết đến rộng rãi, nhưng ít nhất ông đã được giới trí thức cấp tiến ở Paris để ý, mà Paris lại là kinh đô nghệ thuật của thế giới.

“Tôi từ lâu đã luôn nghi ngờ việc Van Gogh hoàn toàn bị ngó lơ lúc sinh thời, và chi tiết lần này đã cho thấy điều tôi nghi ngờ là có cơ sở. Thực tế, Van Gogh đã nhận được sự chú ý khi tranh ông được người ta đem trưng bày và được một chính khách lớn quan tâm”.

Trong cuốn sách mới ra mắt có tên “Starry Night” (Đêm đầy sao - cũng là tên một bức họa nổi tiếng của Van Gogh), tác giả Bailey khẳng định rằng nếu cuộc đời Van Gogh không kết thúc sớm trong bi kịch ở tuổi 37, thì sự nghiệp của ông sẽ còn chứng kiến những bước tiến và người đương thời sẽ công nhận tài năng hội họa của Van Gogh.


Bích Ngọc
Theo Telegraph


Những giả thuyết bí ẩn về cuộc đời danh họa Van Gogh

 Cuộc đời danh họa Van Gogh chứa đựng nhiều câu chuyện bí ẩn khiến hậu thế không ngừng đưa ra những giả thuyết mới về ông.

Van Gogh là một trong những danh họa được hậu thế yêu mến nhất, là một cái tên kinh điển của trường phái Hậu Ấn tượng với những bức tranh thể hiện một tâm hồn lúc sầu muộn, ủ ê, khi say mê, cuồng nhiệt. Van Gogh đã vẽ nên những siêu phẩm hội họa bằng chính cuộc đời nhiều bi kịch của mình.

Cuộc đời ông chứa đựng những câu chuyện bí ẩn. Cho đến giờ, hậu thế vẫn không ngừng phát hiện và đưa ra những giả thuyết mới về ông. Van Gogh không chỉ là một thiên tài hội họa, mà còn là một nhân vật truyền cảm hứng…

Hãy cùng nhìn lại những giả thuyết thú vị về Van Gogh mà các nhà nghiên cứu từng đưa ra:

Hoa hướng dương trong
tranh Van Gogh bị đột biến gen

Hoa hướng dương trong tranh Van Gogh bị đột biến gen: Tại sao những bông hoa hướng dương trong tranh Van Gogh lại khác với những bông hoa hướng dương thường thấy? Trước đây, người ta vốn cho rằng Van Gogh đã cách điệu những bông hoa, để khiến chúng trở nên khác lạ, hoặc đây có thể là hệ quả của chứng bệnh tâm thần.

Thực tế không phải như vậy, các nhà thực vật học đã khẳng định rằng, những bông hoa trong tranh Van Gogh rất giống với những bông hướng dương bị đột biến gen. Những người trồng hoa có thể đã giữ lại những bông hoa có nét đẹp lạ để đem bán cho họa sĩ. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu vẫn không hiểu đột biến nào có thể khiến một bông hoa hướng dương có nhị xanh như trong tranh Van Gogh.

Van Gogh có thể bị mù
màu

Van Gogh có thể bị mù màu: Phải chăng việc Van Gogh thường dùng những màu đậm, chói, gắt là hậu quả của chứng mù màu? Để lý giải cho cách pha trộn màu sắc phi truyền thống của Van Gogh, một chuyên gia thị giác người Nhật đã đặt ra giả thuyết rằng Van Gogh có vấn đề trong việc cảm thụ sắc đỏ, chính vì thế, ông thường dùng những tông màu đậm, gây ấn tượng mạnh với người xem.

Van Gogh không sáng tạo
nghệ thuật một cách ngẫu hứng, bột phát

Van Gogh không sáng tạo nghệ thuật một cách ngẫu hứng, bột phát: Người ta luôn hình dung Van Gogh là một thiên tài hội họa sáng tạo nghệ thuật rất ngẫu hứng, ông vẽ như để thỏa mãn một nhu cầu tự nhiên mà không hề có sự tính toán trước.

Thực tế, khi nghiên cứu những tác phẩm của Van Gogh, người ta nhận ra rằng ông rất cẩn thận, luôn tiến hành sáng tạo có phương pháp. Ông hiểu rất rõ đặc tính của nhân vật, sự vật mà mình khắc họa, tạo bố cục một cách cẩn trọng, không hề có sự tình cờ, ngẫu hứng. Van Gogh thực tế đã luôn sáng tạo một cách có chủ đích.

Van Gogh có thể đã
không tự cắt tai mình

Van Gogh có thể đã không tự cắt tai mình: Ngày 23/12/1888, Van Gogh trong cơn tức giận đã bị mất kiểm soát, ông chạy bổ về phía họa sĩ Paul Gauguin - người bạn ở chung nhà - với chiếc dao cạo trên tay, nhưng may mắn, Van Gogh đã kịp dừng lại. Hành động bột phát đó khiến Van Gogh thấy ăn năn và đêm hôm đó, ông tự cắt tai mình rồi đi tới một nhà thổ, đưa chiếc tai cho một cô gái bán hoa.

Cô gái này đã gặp cảnh sát trình bày sự việc, cảnh sát đã kịp thời tìm đến nhà Van Gogh để cấp cứu cho ông khỏi chết vì mất máu. Đó là câu chuyện phổ biến nhất về… chiếc tai của Van Gogh.

Nhưng còn một giả thuyết khác rằng Gauguin, vốn là một tay kiếm giỏi, đã cắt tai Van Gogh trong lúc tức giận. Sau khi bình tĩnh lại, hai người thỏa thuận sẽ giữ im lặng: Gauguin muốn tránh bị truy tố, còn Van Gogh muốn níu kéo người bạn mà ông rất quý mến. Tuy vậy, sau khi sự việc êm xuôi, Gauguin liền rời đi, sự trống vắng để lại làm Van Gogh khổ sở và rơi vào tình trạng bất ổn, để rồi phải vào trại tâm thần.

Van Gogh có thể đã bị
sát hại

Van Gogh có thể đã bị sát hại: Người ta thường tin rằng Van Gogh đã tự sát bằng một phát súng, nhưng cũng có một giả thuyết nhận được nhiều sự đồng thuận khi cho rằng Van Gogh đã bị sát hại ở tuổi 37.

Việc Van Gogh vốn mắc những chứng bệnh tâm thần đã khiến giả thuyết về một vụ tự sát thắng thế. Nhưng thực tế, trước khi xảy ra vụ việc, Van Gogh không hề có dấu hiệu nào của việc muốn tự sát.

Ngày 27/7/1890, ở tuổi 37, Van Gogh tự bắn một phát súng vào ngực, tuy vậy, người ta chẳng bao giờ tìm thấy khẩu súng, không có ai chứng kiến sự việc và địa điểm tự sát cũng không rõ ràng.

Viên đạn bắn vào ngực Van Gogh đi chệch hướng do trúng một chiếc xương sườn, nó đã xuyên qua ngực ông nhưng chưa đủ để lấy đi mạng sống. Sau đó, Van Gogh tự đi về nhà trọ và được hai bác sĩ tới thăm khám, nhưng họ không thể gắp viên đạn ra khỏi cơ thể ông. Vậy là Van Gogh chết vì vết thương bị nhiễm trùng sau 29 tiếng trúng đạn.

Trước khi qua đời, người ta đã hỏi Van Gogh xem có phải ông đã tự tử không, ông nói: “Vâng, tôi tin là vậy” - một câu trả lời đầy ẩn ý. Ngoài ra, những giá, cọ, màu vẽ mà Van Gogh mang theo khi đi ra cánh đồng hôm xảy ra vụ việc là để làm gì nếu không phải để vẽ?

Sắc đỏ trong tranh Van
Gogh dần chuyển sang sắc trắng

Sắc đỏ trong tranh Van Gogh dần chuyển sang sắc trắng: Trong sáng tác, Van Gogh thường sử dụng màu công nghiệp vì tiện lợi và rẻ tiền. Đáng buồn là loại màu này không bền với thời gian, giờ đây, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng không chỉ những màu sáng chói trong tranh Van Gogh đang dần mất đi, mà ngay cả sắc đỏ vốn tưởng rất bền cũng đang dần biến đổi sang màu trắng.

Van Gogh đưa bức “Bữa tối
cuối cùng của Chúa” vào tranh

Van Gogh đưa bức “Bữa tối cuối cùng của Chúa” vào tranh: Bức “Hiên quán cà phê về đêm” của Van Gogh khắc họa một nhóm người đang ngồi trong quán cà phê. Số lượng nhân vật, cách sắp đặt vị trí từng nhân vật, cách khắc họa, màu sắc tranh và những dấu thấp tự lẩn khuất trong hậu cảnh khiến nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là một tác phẩm mang nhiều biểu tượng tôn giáo, gợi nhắc tới bức “Bữa tối cuối cùng của Chúa” do danh họa Leonardo Da Vinci thực hiện.

Trước đây, người ta cũng đã nhiều lần bắt gặp những biểu tượng tôn giáo trong tranh Van Gogh, thực tế, ông là một người sùng đạo và từng ước muốn trở thành một mục sư.

Tranh Van Gogh thể hiện
những hiểu biết về thiên văn

Tranh Van Gogh thể hiện những hiểu biết về thiên văn: Năm 1889, Van Gogh đã sáng tạo ra một trong những tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới - bức “Đêm đầy sao”. Bức tranh đi vào lịch sử như một trong những tác phẩm mỹ thuật khắc họa bầu trời đêm đẹp nhất.

Người ta cho rằng những vòng xoáy ốc xuất hiện trong tranh đã khắc họa Thiên hà Xoáy ốc ngoài vũ trụ. Có thể bức “Đêm đầy sao” đã lấy cảm hứng từ hình ảnh Thiên hà Xoáy ốc của nhà vũ trụ học người Anh - William Parsons, thực hiện năm 1850. Tuy vậy, nhiều người cũng cho rằng những vòng xoáy ốc này phản ánh tâm trạng mong manh, thất thường của Van Gogh.


Bích Ngọc
Theo Huff Post

Lý giải bí ẩn trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh

í “Đêm đầy sao” là một trong những bức tranh khắc họa bầu trời đêm nổi tiếng nhất trong thế giới hội họa. Xung quanh những vòng xoáy ốc bí ẩn xuất hiện trong tranh, có nhiều bình luận, lý giải khác nhau.

Lý giải bí ẩn trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh

Trong 3 ngày từ 16-18/6/1889, họa sĩ người Hà Lan Vincent van Gogh đã sáng tạo ra một trong những tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới, bức “Đêm đầy sao” khắc họa cảnh vật nhìn từ cửa sổ một phòng bệnh trong bệnh viện tâm thần mà Van Gogh đang nằm điều trị. Bức tranh vĩnh viễn đi vào lịch sử như một trong những tác phẩm mỹ thuật khắc họa bầu trời đêm đẹp nhất.

Những bàn luận trong giới nghiên cứu hội họa về những đường xoáy ốc đặc trưng xuất hiện trong siêu phẩm hội họa này đã luôn đưa lại những cách lý giải khác nhau và vẫn chưa thôi gây “ám ảnh” đối với những người say mê tìm hiểu tranh Van Gogh.

Nhiều người cho rằng những vòng xoáy ốc này phản ánh tâm trạng mong manh, thất thường, thậm chí là vật vã của vị danh họa tại thời điểm đó.

Mới đây, một họa sĩ người Mỹ có tên Michael Benson đã có một cách lý giải mới về những vòng xoáy ốc đặc biệt xuất hiện trong bức “Đêm đầy sao”. Ông Benson cho rằng những vòng xoáy ốc này thực tế khắc họa một dải thiên hà trong vũ trụ và có thể đã được truyền cảm hứng từ những bức tranh xoay quanh chủ đề vũ trụ tại thời điểm đó.

Lý giải bí ẩn trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh
Họa sĩ người Mỹ Michael Benson cho rằng những vòng xoáy trong vũ trụ đã truyền cảm hứng cho những vòng xoáy xuất hiện trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh.

Michael Benson là một họa sĩ kiêm nhiếp ảnh gia, mới đây, ông này đã cho ra mắt cuốn sách mới có tên “Cosmographics” (Hình ảnh vũ trụ). Cuốn sách đã nhắc nhiều tới bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh.

Qua những tìm hiểu của mình, ông Benson cho rằng những nét vẽ trong bức “Đêm đầy sao” của Van Gogh khắc họa dựa theo hình ảnh “Thiên hà Xoáy ốc” (Whirlpool Galaxy) của nhà vũ trụ học người Anh - bá tước William Parsons - thực hiện hồi giữa thế kỷ 19.

Để quan sát bầu trời đêm, nhà quý tộc đã cho thực hiện một chiếc kính viễn vọng lớn nhất thời bấy giờ với đường kính thấu kính lên tới 1,8m. Bằng chiếc kính viễn vọng này, bá tước Parsons đã có thể quan sát Thiên hà Xoáy ốc và vẽ lại những quan sát của mình.

Bức
“Đêm đầy sao” hiện được treo ở Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York.
Bức “Đêm đầy sao” hiện được treo ở Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York.

Ông Benson cho rằng chính bức vẽ của nhà vũ trụ học Parsons đã đưa tới những nét vẽ xoáy ốc rất đặc biệt trong bức “Đêm đầy sao” - bức tranh nổi tiếng nhất trong giới hội họa khắc họa bầu trời đêm.

Tại thời điểm vẽ bức tranh này, Van Gogh đang ở trong bệnh viện tâm thần của xã Saint-Rémy-de-Provence thuộc miền nam nước Pháp. Bức tranh đã khắc họa lại những quan sát của Van Gogh về đêm từ cửa sổ của một phòng bệnh.

Kỹ thuật vẽ xoáy ốc về sau còn tiếp tục xuất hiện trong những bức tranh khác của Van Gogh. Bức vẽ Thiên hà Xoáy ốc của bá tước Parsons khắc họa một thiên hà ở cách trái đất khoảng 23 triệu năm ánh sáng và có kích thước bằng dải Ngân hà, với đường kính khoảng 60.000 năm ánh sáng.

Bức
“Đêm đầy sao” hiện được treo ở Viện bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York.
Năm 1850, lần đầu tiên có một nhà vũ trụ học khắc họa hình dáng một thiên hà xa xôi. Bức vẽ Thiên hà Xoáy ốc của bá tước Parsons (ảnh) có thể đã truyền cảm hứng cho Van Gogh.

Thiên
hà Xoáy ốc ở cách chúng ta khoảng 23 triệu năm ánh sáng.
Thiên hà Xoáy ốc ở cách chúng ta khoảng 23 triệu năm ánh sáng.

Cách lý giải của họa sĩ Benson về bức “Đêm đầy sao” thực tế không hoàn toàn mới. Tháng 6/2014, giáo sư Omar Nasim ở trường Đại học Oxford, Khoa Lịch sử, cũng đã đưa ra những quan điểm tương tự về mối liên hệ giữa hình vẽ dải thiên hà của bá tước Parsons và bức tranh của Van Gogh trong cuốn “Observing by Hand”.

Những cách lý giải về các hình xoáy ốc xuất hiện trong tranh Van Gogh sẽ không bao giờ được khẳng định là chính xác hoàn toàn. Nhưng nếu quả thực hình ảnh về Thiên hà Xoáy ốc đã đưa lại ý tưởng cho Van Gogh, thì ông quả đã khắc họa bầu trời đêm như thể một hiện tượng vũ trụ kỳ vĩ có thể chiêm ngưỡng bằng mắt thường.

Bức tranh của Van Gogh đã mở rộng trí tưởng tượng của người xem, đặt ra trước mắt họ sự kỳ diệu của vũ trụ như thể đang được chiêm ngưỡng qua một chiếc kính viễn vọng vô hình.


Bích Ngọc
Theo Daily Mail

Tranh Van Gogh có giá hơn… 1 nghìn tỉ đồng

 Một bức tranh tĩnh vật của danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh, được vẽ chỉ vài tuần trước khi ông tự tử, sắp được đem ra bán đấu giá trong mùa thu này và được kỳ vọng sẽ đạt mức giá 30 triệu bảng Anh (hơn 1 nghìn tỉ đồng).

Tranh Van Gogh có giá hơn… 1 nghìn tỉ đồng

Bức “Tĩnh vật, bình hoa cúc và anh túc” được đánh giá là bức tranh nổi tiếng bậc nhất trong dòng tranh tĩnh vật từng được đem ra đấu giá trong vòng hai thập kỷ trở lại đây.

Bức tranh được Van Gogh vẽ vào năm 1890 tại ngôi nhà của người bạn thân thiết - bác sĩ Gachet - ở Auvers-sur-Oise, Paris, Pháp. Thời điểm vẽ bức tranh là một yếu tố đặc biệt làm nên một phần giá trị của tranh. Chỉ vài tuần sau, Van Gogh sẽ tự tử bằng một phát súng lục bắn thẳng vào ngực. Vết thương chí mạng khiến danh họa qua đời ở tuổi 37.

Trong sự nghiệp hội họa của mình, Van Gogh chỉ vẽ vài trăm bức tranh, phần lớn trong số này hiện được trưng bày trong các viện bảo tàng. Sắp tới, bức “Tĩnh vật, bình hoa cúc và anh túc” sẽ được bán đấu giá tại New York, Mỹ.

Theo đánh giá của các chuyên gia trong trường phái hội hóa Ấn tượng, bức tranh là một tác phẩm tuyệt đẹp và sống động, thể hiện những cảm xúc cao độ của Van Gogh ở thời kỳ “điên” nhất của vị danh họa, tức là chỉ vài tuần trước khi ông quyết định tự kết thúc cuộc đời mình.

Tranh Van Gogh có giá hơn… 1 nghìn tỉ đồng

Việc Van Gogh sớm qua đời khiến số lượng tranh của ông lưu hành trên thị trường rất ít. Điều này góp phần đẩy giá cao đối với tất cả những bức họa đóng mác Van Gogh mỗi khi được đem ra đấu giá.

Không giống như những danh họa cùng trường phái như Monet hay Picasso - những danh họa nổi tiếng với số lượng tranh đồ sộ, Van Gogh chỉ thực sự cầm cọ vẽ trong vòng một thập kỷ, từ những năm gần 30 tuổi tới khi qua đời năm 37 tuổi.

Sinh thời, Van Gogh bị chứng rối loạn tâm lý lưỡng cực, vui buồn thất thường, có những lúc, năng lượng và sức sáng tạo trong ông lên tới cao trào, nhưng cũng có khi ông bị trầm cảm nặng và không làm nổi những việc đơn giản nhất thường ngày.

Nhiều nhà phê bình coi bức tranh này là một tác phẩm buồn thảm bởi Van Gogh đã hái những bông hoa xuất hiện trong bức tranh từ cánh đồng mà chỉ vài tuần sau ông sẽ tự tử ở đó.

Van Gogh thường xuyên rơi vào tình trạng “cháy túi” và phải dựa vào em trai để có những nguồn cung cấp tài chính. Bức tranh này có lẽ ban đầu đã thuộc quyền sở hữu của bác sĩ Gachet, Van Gogh đã tặng bức tranh như một lời cảm ơn vì bác sĩ đã tận tình chữa bệnh, chăm sóc cho mình.

Vincent Van Gogh trong một bức chân dung tự họa thực hiện hiện từ năm 1886.
Vincent Van Gogh trong một bức chân dung tự họa thực hiện hiện từ năm 1886.

Bức chân dung khắc họa bác sĩ Gachet hiện đang nắm giữ kỷ lục đấu giá đối với các tranh của Van Gogh. Năm 1990, bức tranh này từng được bán đấu giá tại new York và đạt mức hơn 50 triệu bảng Anh (gần 2 nghìn tỉ đồng).

Nhạc kịch Van Gogh được thực hiện nhân kỷ niệm 125 năm ngày mất của danh họa

Vincent Van Gogh trong một bức chân dung tự họa thực hiện hiện từ năm 1886.

Cuộc đời buồn thảm của danh họa Vincent Van Gogh sẽ được đưa lên sân khấu kịch dưới dạng một vở nhạc kịch để kỷ niệm 125 năm ngày mất của ông (1890-2015) - một trong những vị danh họa vĩ đại nhất thế giới.

Vở nhạc kịch được đặt một cái tên đơn giản “Vincent” và sẽ ra mắt khán giả vào năm 2015. Vở nhạc kịch này hứa hẹn sẽ đưa những tác phẩm của Van Gogh tới với khán giả yêu kịch nghệ theo một cách phi truyền thống. Vở kịch do Quỹ Van Gogh Châu Âu bảo trợ.

Van Gogh là một trong những danh họa có nhiều đột phá mới mẻ nhất nền mỹ thuật thế kỷ 19. Tuy vậy, ông chỉ bán được một bức tranh duy nhất trong suốt cuộc đời ngắn ngủi của mình, một cuộc đời khốn khổ bởi những bất ổn tâm lý, những cơn trầm cảm…

Đối với các tổ chức chuyên quan tâm tới tranh Van Gogh, năm 2015 là dịp kỷ niệm “125 năm truyền cảm hứng”, trong năm này sẽ diễn ra nhiều hoạt động để tưởng nhớ Van Gogh, đặc biệt sẽ có một triển lãm tranh Van Gogh được mở ra tại thành phố Amsterdam, Hà Lan.

Bích Ngọc
Tổng hợp

Van Gogh đã đưa... chiếc tai của mình cho người phụ nữ nào?

 Cách đây hơn 130 năm, danh họa người Hà Lan Vincent Van Gogh đã tự cắt tai của chính mình sau một biến cố, sau đó, ông gói chiếc tai lại và đưa cho một người phụ nữ, người ấy là ai?

Đó là Gabrielle Berlatier, con gái của một người nông dân. Câu chuyện đầy trớ trêu và chua xót này đã được nhiều người biết đến trước nay, như thể một bi kịch khác trong cuộc đời của danh họa Van Gogh, khi suốt đời mình, hầu như ông không gắn bó được với một người phụ nữ nào, ngoại trừ một cô gái ông quen trong... “nhà thổ”.

“Chân dung tự họa với băng tai” của Vincent Van Gogh.
“Chân dung tự họa với băng tai” của Vincent Van Gogh.

Cô gái ấy là con gái của một gia đình nông dân. Sau khi Van Gogh cắt tai mình vì tình bạn với họa sĩ Paul Gauguin sụp đổ, Van Gogh đã gói chiếc tai vào một tờ giấy rồi mang tới đưa cô gái. Điều mà nhiều người chưa biết về cô gái này, chính là cái tên của cô - Gabrielle Berlatier.

Những sự việc này xảy ra ở thành phố Arles (Pháp). Cuốn “Van Gogh’s Ear: The True Story” (Cái tai Van Gogh: Câu chuyện thật - 2016) của tác giả Bernadette Murphy đã đề cập tới danh tính người phụ nữ. Tác giả đã từng lần theo những giấy tờ còn lưu lại về Gabrielle Berlatier ở Viện Pasteur (Paris, Pháp).

Hoàn cảnh của Gabrielle khá éo le, biến cố lớn nhất trong đời cô chính là khi cô bị một con chó dại cắn, sau đó, cô đã nhanh chóng được gia đình đưa đi điều trị tại Viện Pasteur (Paris) hồi đầu năm 1888. Gia đình cô vốn chỉ làm nghề nông ở khu vực ngoại thành Arles, họ khá nghèo.

Khi Gabrielle bị chó dại cắn, gia đình đã ngay lập tức tìm mọi cách cứu chữa để cô được sống. Nhưng sau đó, vì vay mượn để có tiền chữa bệnh cho con gái, gia đình Berlatier rơi vào cảnh nợ nần, túng quẫn. Hoàn cảnh đã buộc cô phải vào làm trong một nhà thổ ở Arles sau khi thoát khỏi bàn tay tử thần.

Về phần Van Gogh, sau khi đưa chiếc tai cho cô gái, ông bỏ đi và ngày hôm sau, được tìm thấy trên phố bởi một người cảnh sát, người ta đã đưa ông tới bệnh viện để được chăm sóc chữa lành vết thương rỉ máu. Sau sự việc này, gia đình quyết định đưa Van Gogh vào điều trị trong bệnh viện tâm thần, sau khi ra viện chỉ hai tháng, ông tự sát vào tháng 7/1890.

Bích Ngọc
Theo Guardia



Tranh khỏa thân khắc họa nam giới và nữ giới cần phải cân bằng số lượng?

Trong lịch sử hội họa, phụ nữ được khắc họa khỏa thân nhiều hơn nam giới, vì rất nhiều lý do, trong đó có một lý do thuộc về vẻ đẹp tạo hóa, bởi tạo hóa vốn trao cho người phụ nữ nhiều đường cong gợi cảm và nên thơ.

Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh vừa kỷ niệm 250 năm thành lập và tuyên bố sẽ mở triển lãm tranh về đề tài khỏa thân thời kỳ hội họa Phục hưng trong năm 2019.

Thời kỳ Phục hưng có rất nhiều tác phẩm khắc họa vẻ đẹp cơ thể con người đã trở thành tuyệt phẩm trong lịch sử hội họa, các tác phẩm được thực hiện bởi những bậc thầy như Titian, Raphael, Michelangelo, Leonardo da Vinci, Dürer...

Các tác phẩm này sẽ được Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh đem trưng bày trong thời gian tới nhưng với một định hướng khá đặc biệt, rằng số lượng tranh khỏa thân khắc họa nhân vật nữ sẽ phải cân bằng về số lượng so với tranh khắc họa nhân vật nam.

Bức “Thánh Sebastian” được vẽ bởi họa sĩ Ý Agnolo Bronzino vào năm 1533.
Bức “Thánh Sebastian” được vẽ bởi họa sĩ Ý Agnolo Bronzino vào năm 1533.

Điều này đã được chính Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh tuyên bố với báo chí Anh, nguyên nhân là bởi họ muốn phản ánh đời sống nghệ thuật đương đại giữa bối cảnh bình quyền nam nữ đang trở thành đề tài được quan tâm trong đời sống nghệ thuật.

Giám đốc triển lãm Tim Marlow đã khẳng định về quyết định của Viện và cho hay rằng các chuyên gia đều hứng thú với việc tìm ra được sự cân bằng về mặt số lượng giữa tranh khắc họa nam và nữ khỏa thân.

Kể từ khi kế hoạch triển lãm này được lên ý tưởng từ gần 3 năm trước, đời sống văn hóa nghệ thuật quốc tế đã thay đổi rất nhiều, bao gồm các lĩnh vực như truyền hình, sân khấu, điện ảnh… đều phải có những biến đổi, điều chỉnh trong cách thức hoạt động để đảm bảo về sự bình đẳng nam nữ.

Bức “Adam và Eva” được vẽ bởi họa sĩ Đức Lucas Cranach vào năm 1528.
Bức “Adam và Eva” được vẽ bởi họa sĩ Đức Lucas Cranach vào năm 1528.

Ông Tim Marlow thừa nhận rằng trong lịch sử hội họa, phụ nữ được khắc họa khỏa thân nhiều hơn nam giới, vì rất nhiều lý do, trong đó có một lý do thuộc về vẻ đẹp tạo hóa, bởi tạo hóa vốn trao cho người phụ nữ nhiều đường cong gợi cảm và nên thơ.

Nhưng đồng thời, qua nhiều lần triển lãm tranh khỏa thân ở nhiều quốc gia trên thế giới, các tổ chức bênh vực cho quyền của phụ nữ cũng đã lên tiếng bày tỏ sự không đồng tình khi vẻ đẹp cơ thể của hai giới đều ấn tượng với những sắc thái đa dạng, nhưng dường như phụ nữ lại sở hữu số lượng tranh khỏa thân quá nhiều và cứ bước vào triển lãm tranh khỏa thân thì mặc định đa phần là tranh khắc họa nữ giới.

Điều này đặt trong bối cảnh hiện tại đã không khỏi khiến cho những nhà quản lý triển lãm - bảo tàng phải suy nghĩ. Động thái mà Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh đưa ra được xem là thay đổi đầu tiên chính thức xuất hiện trong giới triển lãm - bảo tàng để hưởng ứng sự bình đẳng nam nữ trong nghệ thuật.

Bức “Venus” được thực hiện vào khoảng năm 1520 bởi danh họa Ý Titian.
Bức “Venus” được thực hiện vào khoảng năm 1520 bởi danh họa Ý Titian.

Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh.
Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh.

Triển lãm tranh khỏa thân thời kỳ Phục hưng do Viện Nghệ thuật Hoàng gia Anh tiến hành dự kiến bắt đầu ra mắt công chúng từ tháng 3/2019 và sẽ bao gồm khoảng 85 tác phẩm được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1400 đến năm 1530, để nhìn lại sự phát triển của “ý tưởng và lý tưởng” xoay quanh vẻ đẹp khỏa thân tuyệt mỹ của con người trong tranh nghệ thuật do các họa sĩ Châu Âu thể hiện. Triển lãm sẽ kéo dài trong khoảng ba tháng.

Bích Ngọc
Theo Telegraph



Vén bí mật giấu kín suốt 120 năm của kiệt tác 'Tiếng thét'

"The Scream" (Tiếng thét) là một trong những siêu phẩm hội họa nổi tiếng của danh họa Edvard Munch. Sau 120 năm, giới khoa học mới tìm ra ý nghĩa và thông điệp của bức họa này.


Vén bí mật giấu kín suốt 120 năm của kiệt tác 'Tiếng thét' - ảnh 1 Tác phẩm hội họa danh tiếng "The scream" của danh họa Na Uy Edvard Munch

Được vẽ năm 1893, "The Scream" không chỉ nổi tiếng thế giới bởi màu sắc và tay nghề của danh họa người Na Uy Edvard Munch mà còn thu hút bởi không ai hiểu một cách rõ ràng thông điệp mà nó chuyển tải. 

Rất nhiều lời đồn đoán và giải mã được đưa ra trong suốt 120 năm qua nhưng dường như không có giả thuyết nào đủ sức chinh phục công chúng. 

Nhiều người, từ dân thường đến nghệ sĩ, đều muốn tìm hiểu cặn kẽ về bầu trời rực rỡ trên đầu của nhân vật trong tranh.  Vào năm 2004, giới thiên văn Mỹ nhận định bầu trời trong tác phẩm của Edvard Munch là phản ánh bầu trời bị bụi đỏ nhuốm màu từ trận phun trào của núi lửa Krakatoa năm 1883 (Indonesia).

Mới đây, kết quả nghiên cứu của giới khoa học đến từ các trường đại học Rutgers-New Brunswick, Oxford và Đại học London được công bố trên bản tin của Hiệp hội Khí tượng Hoa Kỳ có vẻ thuyết phục.  

Vén bí mật giấu kín suốt 120 năm của kiệt tác 'Tiếng thét' - ảnh 2 Nhà nghiên cứu bên tác phẩm

Theo đó, giới khoa học kết luận bầu trời trong bức tranh "Tiếng thét" ánh lên sắc đỏ, vàng là từ những đám mây xà cừ lóng lánh (Nacreous cloud).  Mây xà cừ là một dạng mây hiếm, được hình thành ở những khu vực cực kỳ lạnh của tầng bình lưu thấp, ở độ cao 15.000 - 25.000m.  

Theo miêu tả, mây xà cừ trông giống như những tấm màng mỏng, cuộn lại rồi bung ra, trải rộng khắp rồi bỗng co lại trên bầu trời nhá nhem sáng tối. Trong điều kiện nhiệt độ xuống cực thấp (-78 độ C), các đám mây nhiều dạng khác nhau được hình thành, phân loại theo trạng thái vật lý và thành phần hóa học. Độ cong của bề mặt Trái đất sẽ giúp các đám mây nhận ánh sáng hắt lên từ chân trời và phản xạ lại mặt đất, tạo nên hiện tượng mây xà cừ. Khó để có thể nhìn thấy mây xà cừ vào ban ngày. Chúng thường dễ quan sát hơn vào lúc hoàng hôn hay bình minh.  

Các chuyên gia lý giải rằng khi đám mây xuất hiện vào thế kỷ XIX, chúng đang từ trắng đột ngột chuyển sang ráng đỏ đã khiến tác giả và người có mặt ở đó sợ hãi. Gương mặt thất thần cùng với khẩu hình mô tả người chứng kiến đang thét to vì sợ hãi là những gì được tác giả miêu tả trong bức danh họa.  

Vén bí mật giấu kín suốt 120 năm của kiệt tác 'Tiếng thét' - ảnh 3 Hiện tượng mây xà cừ

"Những gì mà nhân vật trong bức tranh làm là đặt 2 bàn tay của mình che tai để không nghe thấy tiếng hét của nhiều người khi nhìn thấy hình ảnh kinh hoàng trên bầu trời" - các nhà khoa học lý giải.

Với lý thuyết này, "Tiếng thét" không chỉ là một bức họa mà còn là tài liệu khoa học về hiện tượng đám mây xà cừ hiếm gặp của thiên nhiên.

Theo Nld.com.vn

Lê Công Thành và niềm khao khát sự toàn vẹn

  Triển lãm ‘3 . 3 . 3’ của Lê Công Thành đặc biệt không chỉ ở danh tiếng của nhà điêu khắc. Đây là một triển lãm không trưng bày tác phẩm sẵn có từ xưởng nghệ sỹ mà Ban tổ chức đã lựa chọn ba phác thảo từ loạt sáng tác điêu khắc tấm kim loại lát mỏng (kích thước nhỏ) của Lê Công Thành, thể hiện chúng thành chín “thực thể điêu khắc” theo các kích thước trung bình đến lớn, với sự đồng ý của nghệ sỹ và gia đình.

Không gian triển lãm ‘3 . 3 . 3’  của Lê Công Thành.
Không gian triển lãm ‘3 . 3 . 3’ của Lê Công Thành.

Theo Giám tuyển nghệ thuật Nguyễn Anh Tuấn, đây là một “diễn giải điêu khắc từ tinh thần nghệ thuật của Lê Công Thành”. Triển lãm kéo dài từ nay đến 19/8/2018, tại Heritage Space, Dolphin Plaza, số 6 đường Nguyễn Hoàng, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Mỗi phác thảo là một đại diện có tính khái quát về hình tượng điêu khắc mà Lê Công Thành theo đuổi: cơ thể phụ nữ, vật thể tô-tem, cột vô tận, với đầy đủ tinh thần kỳ bí, nhục cảm, khao khát và bề thế trong đặc tính nghệ thuật của ông.

‘3 . 3 . 3’, tên gọi của triển lãm được xuất phát từ con số 9. Số 9 (Chín), đối với Lê Công Thành, là một mệnh đề tuyệt đối của sự tồn tại, một con số biểu đạt sự toàn vẹn cao nhất của các ý niệm tinh thần. Từ ý nghĩa này, chín bức tượng được phóng lớn và biến thiên từ 3 mẫu phác thảo, sắp đặt trong không gian triển lãm theo cung tròn với trung tâm là tác phẩm cao nhất (4.5m), cao độ lần lượt được giảm xuống 3m6, 2m7 và 1m8. Số lượng 9 vật thể điêu khắc trong triển lãm, chính là sự diễn giải về số học (3 lần 3), là một ý đồ được chọn lựa từ đầu. Từ đó, kích thước các chiều của điêu khắc có mặt trong triển lãm này đều nằm trong bội số của 3 và 9. Theo nhà điêu khắc Lê Công Thành, nó biểu đạt sự chưa toàn vẹn, và khao khát sự toàn vẹn nằm trong con người nghệ sỹ.

Lê Công Thành và niềm khao khát sự toàn vẹn - ảnh 1  

Là một người sùng bái sự duy mỹ, cảm thức sâu xa với các nhịp điệu tự nhiên và cơ thể phụ nữ, cũng như tôn sùng sự hoàn hảo, cả cuộc đời Lê Công Thành tìm kiếm hình thức và ngôn ngữ thị giác tối ưu cho để biểu hiện cảm quan vật chất và không gian của ông.

Điêu khắc tấm kim loại lát mỏng, được Lê Công Thành phát triển từ những năm cuối của thập niên 1980s, là một bước chuyển lớn trong tư duy và ngôn ngữ tạo hình của nghệ sỹ. Ông liên tục làm việc với phương cách này trong nhiều năm, ở những phác thảo nhỏ và các tượng cỡ vừa, âm thầm thể nghiệm và nung nấu những cơ hội được biểu đạt chúng trong những không gian lớn. Nó là một phần không nhỏ trong sưu tập nghệ thuật đồ sộ của nghệ sỹ hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật, cũng là phần thú vị nhất, đương đại nhất nhưng lại ít được biết đến nhất.

Việc thể hiện tác phẩm ở kích thước lớn được giám sát kỹ thuật chặt chẽ bởi nhà điêu khắc Nguyễn Lập Phương và xưởng cơ khí Việt Hoàng tại Gia Lâm, Hà Nội. Phương án trưng bày tác phẩm và tổ chức không gian được đưa ra bởi nhà truyền thông thị giác Phạm Đam Ca và các trợ lý. Các tư liệu trong triển lãm được thu thập bởi Phạm Út Quyên.

“Khi biết rằng tất cả chỉ là những phác thảo nhỏ và vừa, được sáng tác trong một không gian khiêm tốn và khép kín, người xem sẽ phải ngạc nhiên trước khả năng phóng lớn của các tác phẩm để phù hợp với những hình thái, chức năng đa dạng của các dạng thức không gian kiến trúc đô thị hay môi cảnh tự nhiên. Điều này đòi hỏi ở nghệ sĩ sức sáng tạo, khả năng tưởng tượng, tính toán và kiểm soát phi thường đối với chất liệu, kết cấu tác phẩm và không gian. Từ đó, triển lãm mong muốn tái khẳng định vị trí của Lê Công Thành như một nghệ sĩ đương thời, vẫn đang hít thở bầu không khí điêu khắc thời đại và vẫn đang say mê sáng tạo” - Giám đốc nghệ thuật Heritage Space Nguyễn Anh Tuấn chia sẻ.

Nhà điêu khắc Lê Công Thành năm nay 86 tuổi, nhưng những sáng tạo của ông dường như không có tuổi.


Nhà điêu khắc Lê Công Thành: 'Mơ ước tác phẩm được phóng to, đặt trong không gian rộng lớn'

Thứ Tư, 25/07/2018 09:30 GMT+7
Triển lãm 3 . 3 . 3- phóng to 3 tác phẩm của nhà điêu khắc Lê Công Thành thành 9 “thực thể” khác nhau đang được trưng bày tại Heritage Space (tầng 1 Dolphin Plaza, số 6 - Nguyễn Hoàng, Hà Nội, mở cửa đến 19/8) . Triển lãm “đánh dấu” là triển lãm điêu khắc “cá nhân đầu tiên” của ông trong suốt sự nghiệp sáng tác dài hơn nửa thế kỷ…

1. Theo nhà tổ chức, “mỗi phác thảo là một đại diện có tính khái quát về hình tượng điêu khắc mà Lê Công Thành theo đuổi: cơ thể phụ nữ, vật thể tô-tem, cột vô tận, với đầy đủ tinh thần kỳ bí, khao khát và bề thế trong đặc tính nghệ thuật của ông”.

Tuy nhiên, vì lý do sức khỏe, nhà điêu khắc Lê Công Thành đã không có mặt tại lễ khai mạc triển lãm cá nhân “đầu tiên” của mình.

Chú thích ảnh
Nhà điêu khắc Lê Công Thành

Đến thăm ông tại tư gia -tại khu tập thể Vĩnh Hồ, Hà Nội - chúng tôi được lão nghệ sĩ 88 tuổi tiết lộ: “Cả đời tôi luôn mơ ước tác phẩm được phóng to, đặt trong không gian rộng lớn. Dù không đến được triển lãm của mình, nhưng tôi rất vui vì tác phẩm của mình được các bạn trẻ yêu nghệ thuật biết đến và phóng to thể hiện đúng như mong muốn của tôi”.

Nhà điêu khắc Lê Công Thành bộc bạch, điêu khắc kim loại tấm mỏng là một bước chuyển lớn trong tư duy và ngôn ngữ tạo hình của ông giai đoạn gần đây. Ông âm thầm thể nghiệm và nung nấu những cơ hội được biểu đạt chúng trong những không gian lớn. Số tác phẩm này có đến cả 100 tác phẩm, ông rất muốn được mang ra triển lãm hết, bởi nó là phần thú vị nhất, đương thời nhất của người nghệ sĩ đang say mê sáng tạo nhưng ít được biết đến nhất gần đây.

“Tất cả chỉ là những phác thảo nhỏ và vừa được sáng tác trong một không gian khiêm tốn. Nhưng người xem sẽ phải ngạc nhiên khi các tác phẩm này được phóng lớn và đặt trong những không gian kiến trúc phù hợp”- họa sĩ Kim Thái, vợ Lê Công Thành chia sẻ thêm về sáng tác của chồng.

 
Quang cảnh triển lãm 3 . 3 . 3

2. Giám tuyển Nguyễn Anh Tuấn - Giám đốc nghệ thuật của Heritage Space nhận định, việc phóng to các tác phẩm với kích thước lớn được trưng bày trong triển lãm lần này được giám sát kỹ thuật chặt chẽ bởi nhà điêu khắc Nguyễn Lập Phương tại xưởng cơ khí ở Gia Lâm, Hà Nội.

9 tác được biến thiên từ 3 mẫu phác thảo, sắp đặt trong không gian triển lãm theo cung tròn với trung tâm là tác phẩm cao nhất (4,5m), cao độ lần lượt được giảm xuống 3,6m, 2,7m và 1,8m, nhằm biểu đạt khao khát sự toàn vẹn của người nghệ sĩ cả đời tôn sùng tìm kiếm…sự hoàn hảo.

3. Lê Công Thành (sinh năm 1931 tại Hải Châu, Đà Nẵng) nhưng trải qua phần lớn tuổi thơ tại nhà ngoại ở Quảng Ngãi và thường hay lui tới Bảo tàng Điêu khắc Chăm. Sau này, điêu khắc Chăm đã có ảnh hưởng sâu sắc tới sáng tác của Lê Công Thành như chính ông thừa nhận: “Tôi trở thành một nhà điêu khắc tất cả vì được bao quanh bởi điêu khắc Chăm”.

Chú thích ảnh
Một góc phòng trưng bày tác phẩm của Lê Công Thành tại tư gia

Lê Công Thành từng được cử đi học mỹ thuật cùng khóa với Tô Ngọc Vân (1955-1957) và trở thành sinh viên duy nhất trong lớp Điêu khắc Khóa I- Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (1957-1962). Sau đó, ông có hơn 10 năm giảng dạy tại trường Mỹ thuật Công nghiệp rồi nghỉ hưu chuyển về sáng tác tự do trong căn nhà nhỏ của ở khu tập thể Vĩnh Hồ, Hà Nội.

Tại đây, Lê Công Thành tập trung chủ yếu vào mô tả vẻ đẹp phồn thực của người phụ nữ và cho ra đời hàng ngàn tác phẩm có kích thước nhỏ và vừa với ngôn ngữ sáng tác khái quát triệt để và có tính ước lệ cao. Điển hình là phác thảo tượng Mẹ Âu Cơ (hay Người đàn bà và bọc trứng) được phóng lớn dựng tại Công viên biển Đông (đường Phạm Văn Đồng, Đà Nẵng).

Lê Công Thành cũng đầu thử nghiệm với điêu khắc tấm mỏng và cho ra hàng trăm phác thảo sử dụng kim loại nhẹ, bìa carton và dây căng, sau này ông sử dụng thêm một số lá kim loại mỏng có thể cắt tay như đồng, nhôm như đã nói ở trên.

Là nghệ sĩ luôn nắm giữ một tinh thần nghệ thuật có tính cộng đồng, sáng tác của Lê Công Thành đều có khả năng thu nhỏ hay phóng lớn để tạo ra một ngôn ngữ sáng tác vô cùng độc đáo, vừa có tính cá thể, lại vừa mang tính quốc tế cao.

Hoài Thương

Triển lãm 'Tranh giấy Lê Công Thành'

Thứ Sáu, 03/11/2017 10:15 GMT+7
 Triển lãm Tranh giấy Lê Công Thành khai mạc sáng qua (2/11) tại Nhà triển lãm Mỹ thuật (29 Hàng Bài, Hà Nội).

Triển lãm giới thiệu 39 tác phẩm tranh giấy của họa sĩ, nhà điêu khắc Lê Công Thành (sinh năm 1923 tại Đà Nẵng), ông tốt nghiệp khóa mỹ thuật kháng chiến (1955-1957) và điêu khắc khóa 1 - ĐH Mỹ thuật VN, nguyên giảng viên khoa Điêu khắc ĐH Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội.

Chú thích ảnh
Một tác phẩm của Lê Công Thành tại triển lãm

Các tác phẩm trong triển lãm được họa sĩ Bằng Lâm lựa chọn từ trên 300 bức tranh giấy sáng tác trong khoảng 30 năm của lão họa sĩ. Những bức tranh ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ với nét vẽ phóng khoáng, bay bổng, mạnh mẽ thể hiện hình ảnh những người phụ nữ đầy sức sống, bản năng và khao khát tự do.

Chú thích ảnh
Cảnh khai mạc triển lãm “Tranh giấy Lê Công Thành”

“Tranh giấy nghệ thuật của Lê Công Thành khúc chiết, không ồn ào, màu sắc đơn giản, dứt khoát, giản lược đến tột cùng. Đó là cảm xúc mang những rung động sâu thẳm trong con tim của những người khao khát đổi mới, khao khát sáng tạo. Nhưng hơn tất cả, là tình yêu say đắm người đàn bà đến mức nồng nàn để vươn tới cái đẹp, mang tính nhân văn sâu sắc, giải phóng phụ nữ” - họa sĩ Bằng Lâm, giám tuyển triển lãm chia sẻ.


Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng

Những bức tranh đã từng bị những kẻ trộm đóng giả làm người mua đánh cắp mang đi trong lúc đánh lạc hướng chủ nhân.


Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng - ảnh 1 Hai bức tranh quý vừa được tìm thấy.

Cảnh sát Ý đã vừa tìm thấy lại tranh bị đánh cắp của danh họa người Pháp Pierre-Auguste Renoir (1841-1919) và danh họa Peter Paul Rubens (1577-1640). Đó đều được coi là những siêu phẩm hội họa, đã từng bị những kẻ trộm đánh cắp đem đi hồi năm 2017. Tổng giá trị tranh bị đánh cắp lên tới tương đương 776 tỷ đồng.

Những kẻ trộm này đã bị cảnh sát Ý lần ra và bắt giữ mới đây, sau chiến dịch điều tra kéo dài 17 tháng. Hai bức tranh quý đã vừa được nhà chức trách trưng bày trước báo chí vào ngày thứ 6 vừa qua tại thành phố Monza (Ý).

Hai bức tranh từng bị đánh cắp khỏi hai thương gia chuyên rao bán các tác phẩm hội họa. Những nhân vật bị tình nghi đã đóng giả làm những người mua tiềm năng đến xem tranh.

Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng - ảnh 2 Những kẻ trộm thông qua điện thoại đã gọi cho thương gia bán tranh bảo rằng họ sẵn sàng trả 26 triệu euro cho các bức tranh và muốn tới xem tranh trực tiếp.
Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng - ảnh 3 Lợi dụng lúc đánh lạc hướng hai thương gia, nhóm 5 kẻ trộm tranh đã đánh cắp những bức tranh và bỏ trốn.
Tìm lại được tranh quý trị giá 776 tỷ đồng - ảnh 4 Cuối tuần này, hai bức tranh quý được thực hiện bởi Renoir và Rubens đã được tìm thấy lại và trưng bày trước báo chí Ý.

Cảnh sát cho hay họ đã tìm thấy những bức tranh này nằm trong một nhà kho ở thành phố Turin (Ý). Có tổng cộng 8 nghi phạm liên quan trong vụ này, 5 người đã bị bắt giữ hồi tháng trước.

 

Theo Dân trí






Hai kiệt tác 'triệu đô' của Nguyễn Phan Chánh sẽ hồi cố hương

Thứ Hai, 28/05/2018 07:25 GMT+7
 Như Thể thao và Văn hóa (TTXVN) đã đề cập, ngày 25 và tối 26/5/2018 tại Hong Kong (Trung Quốc), là một dấu mốc đáng nhớ của danh họa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984), khi nhiều tranh của ông xuất hiện tại đây, trong đó có hai kiệt tác.

Kết quả kiệt tác Người bán ốc bán gần 600.000 USD và Em bé cho chim ăn bán hơn 853.000 USD - cao giá nhất và nhì của Nguyễn Phan Chánh trên thị trường quốc tế.
Tin vui là các nhà sưu tập Việt Nam đã đấu giá thành công hai bức này, chúng sẽ được hồi hương sau thời gian dài chu du trên thế giới. Giá hai bức này giờ được xếp vào Top 5 các bức tranh cao giá nhất của Việt Nam trên sàn quốc tế, sau các bức của Lê Phổ, Joseph Inguimberty...
Chú thích ảnh
Tự họa của Nguyễn Phan Chánh năm 1962 (ảnh chụp lại từ sách Nguyễn Phan Chánh của nhà sưu tập Trần Hậu Tuấn)
Từ hành trình của ốc
Bức La Marchande de Ôc (Người bán ốc, mực và bột màu trên lụa bồi giấy, 88cm x 65,5cm, 1929) xuất hiện tại phiên đấu kép Nghệ thuật Á châu thế kỷ 20 và đương đại và Người đương thời: Tiếng nói từ Đông và Tây của Christie’s Hong Kong tối 26/5/2018. Phiên này giới thiệu 77 lô hàng, đại diện từ Việt Nam có 5 lô.
Bức này từng xuất hiện tại Triển lãm quốc tế Paris - Bois de Vincennes, Pháp, kéo dài từ ngày 6/5 đến 15/11/1931, nơi Nguyễn Phan Chánh tham gia 6 tác phẩm. Có lẽ việc Nguyễn Phan Chánh được xuất hiện tại triển lãm danh giá này là nhờ năm 1929, khi còn học ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ông đã giành giải Nhất cuộc thi vẽ mẫu tem Bưu chính Đông Dương.
Năm 1931, Nguyễn Phan Chánh còn vẽ hai bức lụa mà sau này thành kiệt tác, đó là Chơi ô ăn quan Em bé cho chim ăn. Đây cũng là những năm đầu tiên Nguyễn Phan Chánh thử sức với lụa, theo sự khích lệ của thầy hiệu trưởng Victor Tardieu (1870-1937).
Chú thích ảnh
Với hơn 853.000 USD, một nhà sưu tập Việt Nam đã quyết tâm hồi hướng “Em bé cho chim ăn”
Kiệt tác Người bán ốc được sưu tập từ năm 1931, thỉnh thoảng mới xuất hiện chỗ này chỗ kia. Gần nhất là tại Bảo tàng Hoàng gia Mariemont, Bỉ, trong triển lãm Hoa đào và chim xanh: Nghệ thuật và văn minh của Việt Nam, kéo dài từ ngày 20/4 đến 18/8/2002. Bức này gần như chưa xuất hiện tại Việt Nam, nên rất may, không có tranh chép và tranh giả.
Suốt đời Nguyễn Phan Chánh vẽ chừng 150, hoặc 160, hoặc 170 bức tranh - tùy số liệu và cách tính. Bức Người bán ốc có kích thước đặc biệt nhất, là 88cm x 65,5cm, trong khi kích thước phổ biến của Nguyễn Phan Chánh là 65cm x 50cm.
Rất hy vọng chủ nhân mới của bức này sẽ hào phóng và dũng cảm cho Người bán ốc được xuất hiện tại vài triển lãm/trưng bày tại Việt Nam. Điều này không chỉ “giải cơn khát” xem tranh thật của Nguyễn Phan Chánh, mà còn là dịp để người hâm mộ đến gần hơn một kiệt tác đã rời xa quê hương gần 90 năm.
Chú thích ảnh
Với gần 600.000 USD, nhiều ý kiến cho rằng “Người bán ốc” đang quá rẻ
Đến lối về của chim
Christie’s Hong Kong ngày 27/5 có hai phiên đấu liên quan đến tranh Việt, trong đó phiên Nghệ thuật Á châu thế kỷ 20 giới thiệu 227 lô hàng, tranh Việt có 21 lô. Tại đây xuất hiện những tên tuổi quen thuộc như Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lương Xuân Nhị, Hoàng Tích Chù, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Trung… Phần lớn đã bán vượt giá dự kiến, một tín hiệu đáng mừng.
Bức Enfant à l'oiseau (Em bé cho chim ăn, mực và bột màu trên lụa, 65cm x 50cm, 1931 - với khung gốc của Gadin) xuất hiện tại phiên này, có giá dự kiến từ 127.983 đến 204.774 USD. Kết quả bán 6.700.000 HKD, tương đương 853.921 USD, tăng giá hơn 600%.
Thật khó để biết hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam có bao nhiêu bức Em bé cho chim ăn, vì Nguyễn Phan Chánh và các “môn đệ” như Ngô Minh Cầu, Mai Long… từng nhiều lần chép lại bức này theo yêu cầu từ bảo tàng và ngoại giao, chưa nói các nơi làm tranh giả khác.
Nếu gốc tích mà Christie’s đưa ra là khả tín, thì bức tại phiên đấu này có khả năng là bản gốc, hoặc gần với bản gốc nhất. Khái niệm “gần với bản gốc” là để chỉ một tác phẩm mà do chính họa sĩ chép lại, hoặc giám sát việc chép lại, rồi tự mình tỉa tót, ký tên, đóng dấu... Do hoàn cảnh lịch sử, sinh thời Nguyễn Phan Chánh nhiều lần làm chuyện này.
Gốc tích mà Christie’s đưa ra là tạp chí L'Illustration (số 4683, phát hành năm 1932), và triển lãm của Trường Mỹ thuật Hà Nội và Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Agindo (Paris, Pháp, năm 1932).
Khác với sự lặng lẽ và “lành lặn” về câu chuyện của Người bán ốc, chắc chắn việc hồi hương của Em bé cho chim ăn sẽ còn những thị phi, vì tại Việt Nam có ít nhất 2 bức. Một bức thuộc sở hữu của bảo tàng, một bức thuộc sở hữu của tư nhân. Giá một ngày nào đó, cả ba bức này (và các bức Em bé cho chim ăn khác, nếu có được) cùng xuất hiện tại một triển lãm, thì rất tuyệt, vì lúc ấy giới chuyên môn và người hâm mộ sẽ có cơ hội so sánh. Những triển lãm dạng đối chứng này trên thế giới cũng thường tổ chức.
Những bức tranh nổi tiếng của Nguyễn Phan Chánh
Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh nổi tiếng với những tác phẩm như Chơi ô ăn quan, Vo gạo, Xem bói, Lên đồng, Em bé cho chim ăn, Người bán gạo, Rửa rau cầu ao, Cô gái róc mía, Người đàn bà hái rau muống, Đi cày, Người bán ốc, Hạnh phúc, Cô hàng xén, Người hát rong, Đám rước… Nguyễn Phan Chánh vẽ nhiều chủ đề, to tát cũng có, nhưng ông đặc biệt thành công khi diễn đạt những con người bình dị, những hình ảnh thân thuộc của Bắc bộ.


Có thể nói ba phiên đấu xa xỉ cuối tháng 5/2018 của nhà đấu giá Christie's tại Hong Kong lại chứng kiến sự lên ngôi của tranh Việt, với các bức tranh tiền tỷ.
Văn Bảy

Đấu giá Christie’s HongKong: 'Người bán ốc' của Nguyễn Phan Chánh lập kỷ lục?


Đấu giá Christie’s HongKong: 'Người bán ốc' của Nguyễn Phan Chánh lập kỷ lục?

Thứ Bảy, 26/05/2018 14:57 GMT+7
Có thể nói ba phiên đấu xa xỉ cuối tháng 5/2018 của nhà đấu giá Christie's tại Hong Kong lại chứng kiến sự lên ngôi của tranh Việt, với các bức tranh tiền tỷ.

Tại đây không chỉ có tác phẩm có giá dự kiến cao nhất của danh họa Nguyễn Phan Chánh, mà tranh Việt còn giới thiệu được nhiều tên tuổi quan trọng khác.
1. Tại phiên đấu đôi tối nay (26/5) có tên Nghệ thuật Á châu thế kỷ 20 và đương đại; và Người đương thời: Tiếng nói từ Đông và Tây giới thiệu 77 lô hàng, đại diện từ Việt Nam có 5 lô hàng thuộc loại xa xỉ.
Chú thích ảnh
Bức tranh lụa dự kiến đắt giá nhất của Nguyễn Phan Chánh: "Người bán ốc"
Tiêu điểm nhất là bức La Marchande de Ôc (Người bán ốc, mực và bột màu trên lụa bồi giấy, 88cm x 65,5cm, 1929) của Nguyễn Phan Chánh, giá dự kiến từ 358.561 đến 486.618 USD.
Xét toàn phiên, mức dự kiến này của Nguyễn Phan Chánh đang ưu trội hơn các danh họa trong khu vực Đông Nam Á như José Joya, Vicente Silva Manansala, Fernando Cueto Amorsolo, Hendra Gunawan, Affandi, Georgette Chen, Cheong Soo Pieng, Chen Wen Hsi… Thậm chí không còn khoảng cách với Hàn Quốc, nhưng còn cách khá xa Trung Quốc, Nhật Bản.
Nếu bán thành công với giá trên 400.000 USD, đây sẽ là bức tranh lụa cao giá nhất của Nguyễn Phan Chánh trên thị trường công khai. Theo dự đoán, bức này có thể bán hơn 600.000 USD, vì độ hoàn chỉnh và ý nghĩa lịch sử của nó.
Năm 2013, cũng tại Christie’s Hong Kong, bức lụa La Marchand de Riz (Người bán gạo, năm 1932) của Nguyễn Phan Chánh đã được bán với giá tương đương 390.000 USD, trong khi mức khởi điểm chỉ là 75 USD.
Chú thích ảnh
"Một tách trà" của Lê Phổ dự kiến từ 192.086 đến 320.143 USD
Phiên này Lê Phổ có bức Une tasse de thé (Một tách trà, mực và bột màu trên lụa bồi giấy, 36cm x 29 cm, khoảng 1938-1940) với giá dự kiến từ 192.086 đến 320.143 USD. Và bức La Toilette (Nhà tắm, mực và bột màu trên lụa bồi giấy, 31cm x 23cm, 1942) có giá dự kiến từ 153.669 đến 281.726 USD. Cả hai bức này đều được dự đoán sẽ bán trên mức trần dự kiến.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Nhà tắm" của Lê Phổ, giá dự kiến từ 153.669 đến 281.726 USD
Nhưng đặc biệt nhất của phiên này là sự xuất hiện của Danh Võ (sinh 1975), một nghệ sĩ sinh ra tại Bà Rịa, lớn lên tại Đan Mạch. Tác phẩm 165° W (165 độ Tây, vàng lá trên thùng giấy, 91 x 173 cm, 2011) có giá dự kiến gây choáng váng: từ 153.532 đến 204.709 USD.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "165° W" của Danh Võ, nhìn có vẻ đơn giản nhưng rất đắt đỏ
Thật khó để hình dung vì sao tác phẩm này có giá khủng như vậy? Theo Christie's: Vật liệu tác phẩm có xuất xứ là một vỏ thùng giấy cũ của nhà sản xuất đồ uống chai nhựa của Thái Lan. Ở phía góc dưới bên trái, có lời bài hát của David Bowie: “Time he flexes like a whore” (Thời giờ của hắn ta uốn éo như một con điếm), được Danh Võ viết theo lối gothic. Đây cũng là một kiểu chữ mà cha của Danh Võ - nhà thư pháp Phùng Võ - ưu chuộng.
Tác phẩm này được dự đoán sẽ bán trên 300.000 USD. Nếu bán thành công, sẽ trở thành nghệ sĩ đương đại Việt và gốc Việt có giá cao nhất trên sàn đấu giá công khai.
2. Hai phiên ngày mai (27/5), một phiên có tên Nghệ thuật Á châu thế kỷ 20, với 227 lô hàng, tranh Việt có 21 lô. Tại đây xuất hiện những tên tuổi quen thuộc như Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lương Xuân Nhị, Hoàng Tích Chù, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Trung…
Chú thích ảnh
Bức "Em bé cho chim ăn" giá dự kiến từ 127.983 đến 204.774 USD
Tại phiên này có bức Enfant à l'oiseau (Em bé cho chim ăn, mực và bột màu trên lụa, 65cm x 50cm, 1931 - với khung gốc của Gadin), giá dự kiến từ 127.983 đến 204.774 USD.
Thật khó để biết hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam có bao nhiêu bức Em bé cho chim ăn, vì Nguyễn Phan Chánh và các “môn đệ” như Ngô Minh Cầu từng nhiều lần chép lại bức này, chưa nói các nơi làm tranh giả.
Nếu gốc tích mà Christie’s đưa ra là khả tín, thì bức tại phiên đấu này có khả năng là bản gốc hoặc gần với bản gốc nhất. Khái niệm gần với bản gốc là để chỉ một tác phẩm mà do chính họa sĩ chép, hoặc giám sát việc chép, rồi tự mình tỉa tót, ký tên. Do hoàn cảnh lịch sử, sinh thời Nguyễn Phan Chánh thường làm chuyện này.  
Gốc tích mà Christie’s đưa ra là tạp chí L'Illustration (số 4683, phát hành năm 1932), và triển lãm của Trường Mỹ thuật Hà Nội và Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại AGINDO (Paris, Pháp, năm 1932).
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Vấn khăn trùm đầu" của Tôn Thất Đào
Các yếu tố lạ có Tôn Thất Đào (1910 - 1979), bức La Coiffure (Vấn khăn trùm đầu, mực và bột màu trên lụa, 49,5cm x 66,5cm) với giá dự kiến từ 23.037 đến 31.995 USD. Tôn Thất Đào là danh sư tại Huế, tác phẩm từng xuất hiện trong các triển lãm chung tại Hà Nội năm 1939, Nhật Bản năm 1940, Sài Gòn năm 1945, Vatican (Ý) năm 1950... Nếu gặp những người mua có thông tin về họa sĩ, bứa này có thể được đấu hơn 100.000 USD.
Chú thích ảnh
Bức "Thuyền câu đậu bến" (sơn mài, 75cm x 127,5cm) của Trần Văn Hà (sinh 1911), với giá dự kiến từ 10.238 đến 12.798 USD
Một phiên cùng ngày có tên Nghệ thuật đương đại Á châu, giới thiệu 133 lô hàng, tranh Việt có Trương Tân (sinh 1963), Dinh Q. Lê (sinh 1968), Hồng Việt Dũng (sinh 1962)… Các tác phẩm có giá dự kiến từ 7.679 đến 19.197 USD.
Văn Bảy


Đấu giá bức tranh lụa đáng sưu tập 'Thôn nữ Bắc kỳ' của họa sĩ Nam Sơn

Thứ Hai, 19/03/2018 07:26 GMT+7
 Từ lúc 14h30 ngày 26/3 (giờ Paris), bức tranh lụa Thôn nữ Bắc kỳ của Nguyễn Nam Sơn sẽ được nhà đấu giá Aguttes đưa lên sàn đấu tại trung tâm đấu giá danh tiếng Drouot (Pháp). Trong 73 lô hàng, đại diện của Việt Nam có đến 19 lô, một tỷ lệ khá lớn, chứng tỏ một phần sức hút của tranh Việt.

Cùng với Victor Tardieu (1870- 1937), Nguyễn Nam Sơn (Nguyễn Văn Thọ 15/2/1890 - 26/1/1973) là đồng sáng lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Hà Nội. Với khoảng 60 năm gắn bó với nghề, ông để lại khoảng 400 tác phẩm trên nhiều chất liệu, trong đó lụa có hơn 20 bức.
Tác phẩm đến từ Hà Nội
Theo thông tin từ nhà đấu giá Aguttes, Thôn nữ Bắc kỳ có hơn nửa thế kỷ “ngủ yên” trong một bộ sưu tập tư nhân tại Hà Nội, vốn là của thừa kế từ trước năm 1960. Tác phẩm có thể vẽ năm 1935, từng xuất hiện tại hội chợ có tên là Salon de la Sadeai ở Hà Nội năm 1936. Tại hội chợ này, Nam Sơn còn tham gia 3 bức tranh lụa khác.
Trong các tài liệu lưu trữ của gia đình Nam Sơn cũng có đề cập đến tác phẩm này. Ngoài chữ ký và triện, dòng lạc khoản chữ Hán bên góc trái tác phẩm viết: “Thần Kiếm hồ Nguyễn Nam Sơn bút ý”, tạm dịch: “Bức họa này do kẻ hèn ngụ bên hồ Hoàn Kiếm là Nguyễn Nam Sơn vẽ”.
Chú thích ảnh
Nguyễn Nam Sơn thời trẻ, hình chụp năm 1919
Về vẻ đẹp của tác phẩm, nhà nghiên cứu Ngô Kim Khôi mô tả: “Toàn thể bức tranh chủ yếu là sắc màu xanh lá cây chuyển sang lam ngọc, mềm mại, đa dạng và trong trẻo, vẽ ba thôn nữ miền Kinh Bắc. Người đứng trước là nhân vật chính, nhỏ tuổi nhất, vai gánh buồng chuối được diễn tả một cách tinh tế. Gương mặt xinh xắn, tóc vấn như một chiếc vương miện cài trên đầu. Cô mặc chiếc áo cộc trắng, cổ áo để lộ ra mảnh yếm đào. Một chiếc quần dài màu đen được cột bằng dải lụa xanh. Một dây bùa trừ tà đeo ở cổ, như một điểm trang. Đằng sau là hai phụ nữ lớn tuổi hơn. Đó là mùa Đông, trời lạnh nên họ mặc áo tơi, buộc khăn mỏ quạ, tông xanh nhấn mạnh thêm vẻ lạnh giá của không gian. Cả ba đều có dáng vấp truyền thống tượng trưng và quen thuộc của người nông thôn miền Bắc Việt Nam”.
Dù không chuyên về tranh lụa, nhưng qua Thôn nữ Bắc kỳ, người xem có thể thấy kỹ thuật lụa của Nam Sơn rất tinh tế. Đặc biệt ở cách thể hiện màu sắc, nhìn như xuyên suốt qua thớ lụa. Kỹ thuật này cũng được nhìn thấy qua bức lụa Về chợ mà ông vẽ năm 1927 - nghĩa là trước đó gần 10 năm - từng triển lãm tại Paris. Và Về chợ có lẽ cũng là bức tranh lụa đầu tiên của mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Bởi một trong những sơ tổ tranh lụa hiện đại là Nguyễn Phan Chánh thì phải đến năm 1928 mới chuyển sang học kỹ thuật vẽ lụa Vân Nam và bắt đầu thành công.
Chú thích ảnh
Tranh lụa “Thôn nữ Bắc kỳ” của Nguyễn Nam Sơn
Xứng đáng trưng bày ở bảo tàng
Nhìn chất lượng tác phẩm và vị thế của Nam Sơn trong lịch sử mỹ thuật hiện đại, Thôn nữ Bắc kỳ xứng đáng được treo ở các bảo tàng mỹ thuật công lập tại Việt Nam. Hơn nữa, với giá bán ước đoán từ 35.000 đến 50.000 euro, tác phẩm cũng không quá đắt giá để sưu tập.
Thế nhưng, khả năng để các bảo tàng mỹ thuật công lập tại Việt Nam chiến thắng ở các phiên đấu giá như thế này thì gần như không có. Do cơ chế tài chính, nếu có sẵn tiền thì cũng không kịp mua, vì duyệt chi rất mất thời gian, phải họp tới họp lui nhiều lần. Kế đến, các tổ chức như bảo tàng công lập thì thường phải kết toán chi tiêu từng năm, nên không thể có tiền dự trữ cho những việc đột xuất như đấu giá. Cho nên nhiều người còn chỉ biết trông chờ vào các bảo tàng tư nhân, các nhà sưu tập độc lập.
Lê Phổ - “á quân” về giá bán ước đoán
Phiên đấu còn nhiều tác phẩm của bộ tứ quen thuộc tại Pháp là Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, Mai Trung Thứ. Đáng chú ý nhất có lẽ là tác phẩm Jeune Fille Songeuse (Thiếu nữ mơ mòng, sơn mài, 60cm x 91cm, 1936) của Lê Phổ, dù giá bán ước đoán chỉ từ 25.000 đến 30.000 euro.
Nếu tác phẩm có giá ước đoán cao nhất phiên thuộc về Pierre Bonnard (1867-1947), từ 500.000 đến 600.000 euro, thì “á quân” về giá thuộc về Lê Phổ, với hai tác phẩm Maternité (Mẫu tử, mực nho và màu nước trên lụa, 59,5cm x 48cm) và Jeune fille à la rose (Thiếu nữ bên hoa hồng, mực Nho và màu trên lụa, 41cm x 32,2cm) cùng ước đoán từ 150.000 đến 200.000 euro.




Tranh của Vũ Cao Đàm đạt mức giá hàng chục tỷ khi đấu giá ở Pháp


Tranh của Vũ Cao Đàm đạt mức giá hàng chục tỷ khi đấu giá ở Pháp

Thứ Ba, 24/10/2017 20:00 GMT+7
Chiều 23/10, giờ Paris, tranh Việt lại “làm mưa làm gió” tại nhà đấu giá Aguttes, Pháp. Phiên đấu có tên Họa sĩ Á châu tranh ấn tượng thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, giới thiệu 48 lô hàng, tranh Việt có đến 12 lô.

Cụ thể, 12 lô này gồm có 7 bức của Vũ Cao Đàm (1908 - 2000) và 6 bức của Lê Phổ (1907-2001) - hai tên tuổi quen thuộc tại thị trường mỹ thuật Pháp.
Chú thích ảnh
Bức "Hai thiếu nữ ngồi thêu" của Vũ Cao Đàm bán 226.950 € (hơn 6 tỷ đồng)
Nhìn ở khía cạnh đấu giá, sức thanh khoản của mỹ thuật Việt vẫn rất khả quan, có đến 8/12 lô được bán. Trong khi đó, nhìn tổng phiên thì có đến 22/48 đã không đấu giá thành công.
Ngay lô đầu tiên, tác phẩm Hai thiếu nữ (mực và màu trên lụa, 47 cm x 58,5 cm, 1939) của Vũ Cao Đàm có giá ước định từ 25.000 đến 30.000 €, kết quả bán 99.450 € (hơn 2,6 tỷ đồng).
Chú thích ảnh
Bức "Thiếu nữ" của Vũ Cao Đàm bán 127.500 €
Tiêu điểm của Vũ Cao Đàm tại phiên này là bức Hai thiếu nữ ngồi thêu (mực và màu trên lụa, 79 cm x 59 cm), có giá ước định từ 35.000 đến 40.000 €, kết quả bán 226.950 € (hơn 6 tỷ đồng). Đây cũng là một trong những bức cao giá nhất của Vũ Cao Đàm trên thị trường đấu giá quốc tế.
Chú thích ảnh
Bức "Hoa quân tử lan" của Lê Phổ bán 112.200 €
Các tranh còn lại của Vũ Cao Đàm đều tăng giá và bán được. Bức Hoa lay-ơn bán 63.750 €, bức Thiếu nữ bán 127.500 €, bức Chân dung thiếu nữ với màn che mặt bán 16.575 €, bức Chân dung người bạn họa sĩ bán 14.025 €, bức Bạch mã bán 44.625 €. 
Một tác phẩm giản dị có tên Hoa quân tử lan (45 cm x 57 cm) của Lê Phổ đã bán đến 112.200 €, trong khi giá ước định từ 30.000 đến 40.000 €, cũng là một bất ngờ.
Theo tin mà chúng tôi có được, đã có nhiều người Trung Quốc và Việt Nam tham gia đấu tranh Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, cuối cùng bức bán 226.950 € đã thuộc về một nhà sưu tập sống tại phố Bà Triệu (Hà Nội).
Văn Bảy



Triển lãm thạch bản Vũ Cao Đàm: Nỗi buồn của một danh họa

Thứ Bảy, 23/06/2012 08:12 GMT+7
Hôm nay (23/6), triển lãm Bộ sưu tập tranh thạch bản của Vũ Cao Đàm - họa sĩ bậc thầy của thế kỷ 20 tại tòa nhà Metropolitan (235 Đồng Khởi, TP.HCM) sẽ kết thúc. Đây là lần đầu tiên giới thưởng lãm nghệ thuật trong nước được chiêm ngưỡng lại một số phiên bản tác phẩm của một danh họa Việt Nam thời kỳ đầu. Thế nhưng, đằng sau hào quang ấy là một nỗi buồn “không của riêng ai”.

Sống ở Pháp, sáng tác kết hợp tư tưởng Đông - Tây với chủ đề Việt Nam, tác phẩm của Vũ Cao Đàm từ sớm đã tìm được chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Ví dụ, từ những năm 1940, Chính phủ Pháp đã mua 3 tác phẩm của Vũ Cao Đàm, đó là hai tranh lụa Chân dung người Hà Nội (1939), Đàn bà An Nam (1939) và tượng đồng Người Đông Dương, tượng này đặt tại Bảo tàng Mỹ thuật André Diligent de Roubaix.


Tác phẩm Chuyện trò với giai nhân trong vườn, mực và gouache trên lụa, 85,5 x 115,5 cm, 1939.
Chưa tiêu biểu
Vũ Cao Đàm (1908-2000) có cuộc đời hoạt động nghệ thuật khá ổn định, kéo dài trong hơn 60 năm, kể từ đầu thập niên 1930. Trải qua nhiều chất liệu (điêu khắc, lụa, sơn dầu, nặn tượng, phù điêu, thạch bản, tranh giấy, sơn mài…), với hàng ngàn tác phẩm và bản in, thế mà trong triển lãm hồi cố lần đầu tiên tại quê nhà, chỉ có 15 tranh in từ thạch bản, thuộc sưu tập của một cá nhân. Thể loại thạch bản vốn dành cho những ai yêu mến họa sĩ mà không đủ tiền mua tranh thật; giá trị lớn nhất là tính lưu niệm và chữ ký của tác giả.
Đành rằng, có còn hơn không, nhưng điều này cũng làm lộ ra lỗ hổng và thiếu sót trong công việc sưu tập của các bảo tàng lớn. Đáng lẽ, với danh họa này, triển lãm hồi cố lần đầu tiên nên được tổ chức trang trọng và chuyên nghiệp hơn, thiếu tác phẩm thì phải đi mượn (điều bình thường trên thế giới), để làm sao phác họa được diện mạo và tôn vinh một tài năng đã có nhiều đóng góp cho lịch sử hội họa Việt Nam. Muốn làm được điều này, tất nhiên cần sự tham dự của định chế văn hóa và bảo tàng, với các sách lược bài bản, không thể chỉ trông chờ một vài cá nhân như nhà sưu tập Lan Hương lần này.
Tòa nhà Metropolitan chắc chắn có nhiều khán phòng sang trọng, tương xứng với tên tuổi và tài năng của Vũ Cao Đàm. Thế nhưng, việc tổ chức ngay sảnh ra vào, nơi có hàng ngàn người vì công việc khác phải đi qua đây, lại là một hình ảnh không được đẹp; đó là chưa nói nếu đúng ngày mưa, tuy không bị ướt, nhưng thấy quá buồn. Tôi ngồi cà phê kế bên quan sát gần như cả ngày 17/6 - một ngày mưa, khách của Metropolitan vào ra rất nhiều, số người quan tâm tới những bức tranh kế bên lối đi của họ thì khá ít. Điều này còn làm phân tâm những người thực sự muốn thưởng lãm hoặc đến mua tranh.
Điều làm cho Vũ Cao Đàm trở nên đặc sắc trong thị trường quốc tế (nếu có) là ở tranh lụa giai đoạn 1930-1952 và tượng bán thân, triển lãm này chưa thể hiện được điều đó. Mà có muốn làm bài bản hơn thì cũng rất khó, vì ở Việt Nam tác phẩm của Vũ Cao Đàm khá khan hiếm, chẳng biết mượn ở đâu để trưng bày.
Bị hoài nghi?
Một tác phẩm của Vũ Cao Đàm là Chuyện trò với giai nhân trong vườn (1939) từng được bán với giá 230.477 USD tại Sotheby’s ở Hong Kong hồi tháng 4/2008. Với giá bán này, có thể nói một số tác phẩm đẹp và hiếm của Vũ Cao Đàm đã thuộc diện cao giá nhất Việt Nam, có thể xếp cùng Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh… Nhưng cần lưu ý rằng, số tác phẩm như vậy ở mỗi họa sĩ thường không nhiều, vì số nhiều vẫn là tác phẩm “lót đường”, nghĩa là nó được vẽ cùng thời với tác phẩm đỉnh cao, nên na ná về chủ đề và phong cách. Đó là chưa nói, khi bước qua thời kỳ đỉnh cao và chất liệu tiêu biểu (mà Vũ Cao Đàm là lụa, tượng bán thân), các tác phẩm khác khó mà đạt giá cao như vậy.
Có một nỗi buồn nữa, đó là 2-3 năm gần đây, tác phẩm của Lê Phổ, Mai Trung Thứ và Vũ Cao Đàm đã qua “cơn sốt” tại một số nhà đấu giá ở Hong Kong, Singapore… Có mấy lý do, đầu tiên, tác phẩm “hot” nhất của họ là tranh lụa (giai đoạn đầu), vốn khan hiếm, gần đây giá lên cao, nên ít có người mua và bán. Thứ hai, với tranh sơn dầu, thì chủ đề và cách vẽ thường lặp lại, sau 10 năm lên sàn đấu giá, người mua đã bớt hào hứng. Thứ ba, dù sống tại Pháp, với đạo đức bản thân và những ràng buộc của thị trường, mấy ông đã thoát được cám dỗ làm giả, thế nhưng gần đây đã xuất hiện tranh giả (do các nhà buôn làm), khiến người mua khá e dè. Trong 3-4 phiên đấu gần đây ở khu vực, tranh của mấy ông xuất hiện khá khiêm nhường, với giá khởi điểm không còn cao như 5-10 năm trước.
Chính vì những lý do như vậy, vượt qua những khiếm khuyết vốn có, triển lãm phiên bản in lần này trở thành cái cớ để chúng ta tưởng tượng về diện mạo một thời của danh họa Vũ Cao Đàm.
Văn Bảy

Nhà sưu tập 8X bỏ cả tỷ đồng mua tranh Việt


Nhà sưu tập 8X bỏ cả tỷ đồng mua tranh Việt

Thứ Ba, 01/08/2017 07:38 GMT+7
 Tối 30/7, phiên đấu giá số 5 tại Nhà đấu giá Chọn đã diễn ra thành công ngoài mong đợi. Ở đó, bức Tình yêu đầu tiên (chất liệu bột màu, kích thước 45x50cm) sáng tác năm 1973 của danh họa Trần Văn Cẩn có giá khởi điểm 6.000 USD đã được trả giá cao kỷ lục: 41.000 USD (gần 1 tỷ đồng).

1.Đây là mức giá cao nhất từ trước đến nay tại Nhà đấu giá Chọn. Tác phẩm có giá cao thứ hai là Con giáp (bột màu, 29x33cm) của Nguyễn Tư Nghiêm với giá 16.000 USD. Tác phẩm có giá cao thứ 3 chính là bức Phố cũ (sơn dầu, kích thước 50x40cm) - từng bị nghi là tranh giả - được gõ búa với giá 12.500 USD.
Tổng giá trị giao dịch toàn phiên là 83.400 USD. Tuy nhiên, trong 12 mục đấu, có 4 hạng mục không có người trả giá, 2 hạng mục chỉ được trả giá khởi điểm…
Điều đặc biệt có thể nhận thấy ở phiên đấu giá thứ 5 của Chọn là tình yêu với hội họa Việt từ các nhà sưu tập trẻ. Người thắng đấu giá bức tranh Tình yêu đầu tiên là Hà Huy Thanh (sinh năm 1982). Người thắng đấu bức Con giáp là Lê Đình Chiến. Và người thắng đấu giá bức tranh Phố cũ là Phùng Quang Việt (sinh năm 1987).
Nhà sưu tập trẻ Phùng Quang Việt bên bức
Nhà sưu tập trẻ Phùng Quang Việt bên bức "Phố cũ".
Khi Thể thao & Văn hóa (TTXVN) đặt câu hỏi “Vì sao anh lại mua bức tranh Phố cũ vốn đang có nghi vấn là tranh giả?”, nhà sưu tập trẻ Phùng Quang Việt trả lời luôn: “Vì tôi thích. Chỉ vậy thôi!”, đồng thời xin lỗi vì từ chối chia sẻ thêm.
Cần nhắc lại, trước phiên đấu giá này, ngày 22/10/2006, nhà đấu giá Sotheby’s (Singapore) từng bán đấu giá một bức Phố cũ tương tự của Bùi Xuân Phái với giá 11.443 USD. Nhà đấu giá Christie’s (Hong Kong) sau đó cũng bán một bức tranh Phố cũ vào ngày 25/5/2014 với giá 12.804 USD.
Do vậy, họa sĩ Bùi Thanh Phương, con trai danh họa Bùi Xuân Phái cũng từng cho rằng bức tranh này chỉ là tranh chép. Tuy nhiên, đại diện Nhà đấu giá Chọn khẳng định: “Chúng tôi tin tưởng vào đội ngũ chuyên gia thẩm định của mình”.
Sau đó, giới chuyên môn cũng lên tiếng cho rằng, khó có thể biết được ở trên thế giới còn có “bao nhiêu” bức tranh mang tên Phố cũ của danh họa Bùi Xuân Phái và tranh cãi về mặt cảm quan cũ - mới, về chất sơn, chất toan, đinh cũ... thì cãi nhau là vô chừng... không hồi kết! Cách tốt hơn cả là nhờ khoa học kỹ thuật, làm phân tích Cacbon để xác định tuổi của bức tranh, nhưng cách này trên thế giới người ta làm chuẩn chứ Việt Nam thì…cũng chưa chắc!
Do vậy, trước khi người mua quyết định đặt cọc, trả giá… phải tỉnh táo và sáng suốt.

2. "Giá bức tranh tuỳ thuộc năng lực nhà sưu tầm”, nhà sưu tập Hà Huy Thanh, người bỏ 41.000 USD mua bức Tình yêu đầu tiên của danh họa Trần Văn Cẩn, nhận xét.
“Nền nghệ thuật Việt Nam có một giá trị tiềm tàng rất lớn, giá trị sử dụng rất cao nhưng giá trị trao đổi rất thấp” – anh nói thêm. Như những gì vừa diễn ra, anh Thanh đã sẵn sàng bỏ ra cả tỷ đồng để có được một bức tranh của danh họa vì thấy được tiềm năng cao trong lĩnh vực này.
Chú thích ảnh
Nhà sưu tập trẻ Hà Huy Thanh
Hiện nay, khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực (từ ngày 1/7/2017), các phiên đấu giá tác phẩm nghệ thuật đang là một xu hướng kinh doanh mới tại Việt Nam với 3 đơn vị: Chọn, Lạc Việt và Lythi.
Tuy nhiên, theo nhận định của giới chuyên môn, các nhà đấu giá chỉ là cầu nối trung gian giữa người mua và người bán, còn việc thẩm định, đánh giá tác phẩm đỏi hỏi phải là người có chuyên môn cao và trung thực.
Bởi, Luật Đấu giá tài sản cũng chưa quy nhiều trách nhiệm cho các đơn vị đấu giá, khi không buộc họ chịu trách nhiệm về giá trị và chất lượng của tài sản đấu giá. Chính vì vậy, tranh giả hay thật hoàn toàn phụ thuộc vào người bán và khả năng thẩm định của người mua.
ức
Bức "Tình yêu đầu tiên" của Trần Văn Cẩn được mua với giá gần 1 tỷ
Trên lý thuyết, rủi ro mua phải tranh giả, tranh chưa rõ nguồn gốc vẫn có thể xảy ra, dù cho người mua được trực tiếp xem tác phẩm hay có quyền yêu cầu nhà đấu giá cho xem các giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và các tài liệu liên quan đối với tác phẩm nghệ thuật mà họ định mua. Bởi, những giấy tờ đó hoàn toàn cũng có thể bị làm giả ngoài ý muốn của những người trong cuộc.
Dù vậy, vẫn có thể khẳng định rằng những phiên đấu giá các tác phẩm nghệ thuật đã góp phần mở ra kênh mua, bán tác phẩm nghệ thuật một cách công khai, và thúc đẩy hoạt động sáng tác nghệ thuật.
Nói như nhà phê bình mỹ thuật Phạm Trung, có được "người mua" Việt Nam với những giá như tại phiên đấu giá vừa diễn ra là vô cùng đáng quý. Bởi, điều này sẽ góp phần đẩy giá tranh Việt Nam lên dần, cả trong và ngoài nước.
Ngọc Tường
Thể thao &Văn hóa


Sotheby’s Hong Kong trưa 3/4: Tranh Việt 'làm mưa làm gió', giành giá 'khủng'


Sotheby’s Hong Kong trưa 3/4: Tranh Việt 'làm mưa làm gió', giành giá 'khủng'

Thứ Hai, 03/04/2017 18:21 GMT+7
 Phiên đấu Modern and Contemporary Southeast Asian Art của nhà Sotheby’s Hong Kong khai mạc từ lúc 10h ngày 3/4, nhiều người vui vì đa số tranh Việt tăng giá tích cực.

Phiên đấu giới thiệu trong 172 lot (lô), trong đó có gần 40 lô của Việt Nam, hoặc liên quan trực tiếp đến Việt Nam, gần 30/40 lô bán được giá cao hơn dự kiến. Đây là một tín hiệu rất tích cực, vì lâu nay nhà đấu giá này cũng hơi kiêng dè các tác phẩm của Việt Nam, vì nạn giả và nhái hoành hành.

Tác phẩm "Hoa tươi" của Lê Phổ bán được bán 148.120 USD
Tiêu điểm của phiên đấu này đương nhiên thuộc về Lê Phổ, không chỉ vì ông có nhiều tác phẩm, giá dự kiến cao, mà còn ở khả năng tạo sự bất ngờ lớn. Tất cả những tác phẩm được bán của ông đều cao hơn mức dự kiến tối thiểu, vài bức vượt dự kiến tối đa đến nhiều lần.
Các tác phẩm thu hút của Lê Phổ gồm: Composition De Fleurs (Hoa tươi), dự kiến từ 103.040 đến 193.200 USD, kết quả bán 148.120 USD - cao hơn mức dự kiến tối thiểu; Jeunes Filles Au Bouquet De Tulipes (Thiếu nữ bên hoa tu-líp) dự kiến 33.488 đến 48.944 USD, bán 88.550 USD; La Cueillette (Hái quả) dự kiến 36.064 đến 48.944 USD, bán 67.620 USD.

Tác phẩm "Vọng phu biển" của Nguyễn Trung
Bất ngờ của phiên này còn có thể kể đến tác phẩm Maternity And The Sea (Vọng phu biển) của Nguyễn Trung, với dự kiến từ 15.456 đến 23.184 USD, kết quả gõ búa 35.420 USD. Bất ngờ vì Nguyễn Trung sinh năm 1940 tại Sóc Trăng, hiện sống ở TP.HCM, dòng tranh này được ông vẽ thường xuyên, số lượng lớn, nhiều người vẫn nghĩ giá phải thấp hơn 15.000 USD.

Tác phẩm "Lướt thuyền trên Thác Bờ sông Đà" của Nguyễn Văn Tỵ
Một bất ngờ nữa là tác phẩm Rapid Of Cho Bo On The Black River (có lẽ tiếng Anh viết nhầm chữ Cho Bo, nên tạm dịch: Lướt thuyền trên Thác Bờ sông Đà) của Nguyễn Văn Tỵ (1917 - 1992) có giá dự kiến từ 45.080 đến 57.960 USD, gõ búa bán đến 112.700 USD.
Nhìn ở khía cạnh lịch sử chất liệu, tác phẩm sơn mài trên vóc này (gồm 8 tấm, với tổng kích thước 95,5 cm x 250 cm, sáng tác năm 1943) có sự hoàn chỉnh đáng ngưỡng mộ.
Văn Bảy


10 bức họa nổi tiếng về phụ nữ

‘Mona Lisa’, ‘Người đàn bà xa lạ’ hay ‘Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai’ là những tác phẩm tôn vinh vẻ đẹp người phụ nữ - niềm cảm hứng bất tận và là một đề tài muôn thuở của hội họa.

1. The Birth of Venus (Sự ra đời của thần Vệ Nữ)

Tác giả: Sandro Botticelli (Italy)
Năm hoàn thành: 1486

1-The-Birth-of-Venus-jpg-1362389426_500x

Sandro Botticelli là một họa sĩ thiên tài người Italy vào thời kỳ tiền Phục Hưng. The Birth of Venus là tác phẩm vĩ đại nhất của ông và được coi như là một biểu tượng của “Chân - Thiện - Mỹ”. Trong thần thoại Hy Lạp, thần Vệ Nữ được sinh ra từ bọt biển, là con của Chúa tể bầu trời - thần Uranus. Sự ra đời của thần Vệ Nữ trở thành một đề tài lớn trong hội họa, trong đó có những bức tranh rất nổi tiếng của Cabanel, Bouguereau hay Amaury Duval.

Tuy vậy, bức tranh của Botticelli vẫn được công nhận rộng rãi là tác phẩm hoàn hảo và kinh điển nhất. Trong tranh, thần Vệ Nữ được miêu tả có mái tóc mây vàng rực rỡ, làn da trắng muốt, gương mặt thánh thiện và làn môi mọng. Vệ Nữ có cơ thể tròn trịa, đầy đặn, tràn đầy sức sống, tượng trưng cho sự sinh sôi, tình yêu, hoan lạc và sắc đẹp.

2. Mona Lisa (Nàng Mona Lisa)

Tác giả: Leonardo da Vinci (Italy)
Năm hoàn thành: khoảng 1503 – 1506

2-Mona-Lisa-Leonardo-da-Vinci-jpg-136238

Leonardo da Vinci là một thiên tài toàn năng người Italy: một họa sĩ, kiến trúc sư kiệt xuất, một nhạc sĩ, một kỹ sư siêu việt, một nhà khoa học đi trước thời đại… Mona Lisa, không nghi ngờ gì, là tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới, được coi như chuẩn mực của cái đẹp.

Bức họa thể hiện một người đàn bà đầy đặn, trông có vẻ phúc hậu đang đan tay vào nhau, khóe miệng khẽ giãn ra một nụ cười hư ảo. Hậu thế đã cố gắng phân tích bí ẩn trong nụ cười của nàng Mona Lisa: nàng đang cười hay không cười, nụ cười đó có ý nghĩa gì, làm sao da Vinci có thể tạo nên một nụ cười như vậy… nhưng chưa bao giờ đưa ra được câu trả lời thỏa mãn. Đã có hàng loạt giả thuyết, huyền thoại xung quanh nguyên mẫu của bức tranh.

Người ta tranh cãi nguyên mẫu của bức tranh là mẹ của họa sĩ, một gái điếm, vợ của một thương gia giàu có, người tình đồng giới của ông hoặc là chính Leonardo da Vinci. Đáp lại sự tò mò của hậu thế, Mona Lisa vẫn mãi mãi mỉm cười bí ẩn, như thể luôn muốn nói một điều gì mà chẳng bao giờ nói.

3. Sleeping Venus (Vệ Nữ say ngủ)

Tác giả: Giorgione (Italy)
Năm hoàn thành: 1510

3-Sleeping-venus-jpg-1362389427_500x0.jp

Giorgione là một bậc thầy hội họa của phong trào Phục Hưng. Cuộc đời của ông ngắn ngủi, để lại không nhiều tác phẩm và trong số đó, Sleeping Venus là bức tranh nổi tiếng nhất. Khi Giorgione mất, bức Sleeping Venus vẫn còn dang dở và Titian, một danh họa vĩ đại khác, cũng là bạn của ông đã hoàn thành bức tranh bằng cách vẽ thêm phong cảnh và bầu trời.

Sleeping Venus vẽ một phụ nữ nằm nghiêng, mắt nhắm nghiền như đang ngủ, mặt khẽ quay về hướng người xem, tay phải làm gối, tay trái đặt hờ lên cơ thể, chân trái duỗi đặt trên chân phải hơi co lại – một kiểu bố cục kinh điển mà rất nhiều tác phẩm hội họa về sau đã học theo. Thiên nhiên đằng sau nàng cũng có những đường cong tinh tế như họa lại cơ thể của người đàn bà, tôn vinh sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Việc vẽ một người phụ nữ khỏa thân đánh dấu một cuộc cách mạng trong nghệ thuật và được coi là một trong những điểm khởi đầu của mỹ thuật hiện đại.

4. Girl with a Pearl Earring (Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai)

Tác giả: Johannes Vermeer (Hà Lan)
Năm hoàn thành: khoảng năm 1665

4-Girl-with-a-Pearl-Earring-jpg-13623894

Johannes Vermeer là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất của Thời đại Hoàng kim Hà Lan. Sinh thời, ông vẽ rất chậm và để lại rất ít tranh, phần lớn tranh của ông lấy đề tài những người phụ nữ của tầng lớp bình dân. Girl with a Pearl Earring là một trong những kiệt tác để đời của ông, được mệnh danh là “Mona Lisa Hà Lan” hoặc “Mona Lisa phương Bắc”.

Bức tranh mô tả một thiếu nữ nhìn nghiêng, khăn đội đầu che hết mái tóc, đồ trang sức duy nhất là một bên hoa tai bằng ngọc trai. Thiếu nữ trong tranh có đôi mắt tròn to, lộ vẻ rụt rè, sợ hãi nhưng làn môi mọng lại hé mở, khơi gợi ham muốn. Bức tranh vừa thể hiện sự ngây thơ mong manh, vừa phảng phất một sự cám dỗ gọi mời. Ánh sáng phản chiếu trên hoa tai ngọc trai là một điểm nhấn hoàn hảo của tác phẩm. Năm 1999, Tracy Chevalier đã viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng cùng tên với cảm hứng dựa trên bức tranh này.

5. Whistler’s Mother (Mẹ của Whistler)

Tác giả: James McNeil Whistler (Mỹ)
Năm hoàn thành: 1871

5-Whistler-s-mother-jpg-1362389427_500x0

Whistler là một họa sĩ nổi tiếng gốc Mỹ, một trong những chủ soái của phong trào “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Whistler’s Mother là bức tranh nổi tiếng nhất của ông, được coi là biểu tượng Mỹ và “Mona Lisa của thời Victoria”.

Tương truyền, Whistler đã định vẽ một người khác nhưng bất thành và ông liền thay thế người mẫu bằng chính mẹ ông, bà Anna Whistler. Cũng có tin đồn, đầu tiên bà Whistler được vẽ đứng nhưng sau đó vì quá mỏi chân, bà phải ngồi trên ghế.

Trong tranh, bà mặc một bộ váy màu đen giản dị, ngồi gọn gàng, tay đặt trên váy, chân đặt trên chiếc ghế để chân, nhìn chăm chú về phía trước. Nét mặt nghiêm trang và tông màu đen xám của bức tranh gợi một cảm giác ngột ngạt và tang tóc như thể một điều gì đó rất nghiêm trọng đang xảy ra. Tuy nhiên, ngày nay bức tranh được rộng rãi công nhận như là một biểu tượng mẫu mực của tình mẹ.

6. Portrait of an Unknown Woman (Người đàn bà xa lạ)

Tác giả: Ivan Nikolaevich Kramskoi (Nga)                                           
Năm hoàn thành: 1883

6-Portrait-of-an-unknown-woman-jpg-13623

Kramskoi là một họa sĩ và nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng, chủ soái của phong trào nghệ thuật dân chủ Nga. Portrait of an Unknown Woman được coi là một kiệt tác của nền hội họa Nga và từ lâu đã rất quen thuộc với công chúng Việt Nam với tên gọi Người đàn bà xa lạ.

Bức tranh vẽ một người phụ nữ ngồi trên xe ngựa mui trần vào buổi sáng mùa đông ảm đạm, tuyết phủ trắng xóa mái nhà. Người phụ nữ trong tranh quý phái và kiêu hãnh với đầu ngẩng cao, môi mím chặt nghiêm nghị, ánh mắt nhìn xuống uể oải.

Cho đến nay, nguyên mẫu của bức họa vẫn là một điều bí ẩn với rất nhiều phỏng đoán chưa được chứng minh. Bức tranh thường được ví với Anna Karenina trong kiệt tác cùng tên của đại văn hào Leo Tolstoy và đã nhiều lần được dùng để minh họa cho trang bìa của cuốn sách. Bức tranh được đánh giá là thể hiện tính cách Nga rõ rệt và là một biểu tượng của sự đài các, thượng lưu.

7. Madame X (Quý bà X)

Tác giả: John Singer Sargent (Mỹ)
Năm hoàn thành: 1884

7-Madame-X-jpeg-1362389427_500x0.jpg

John Singer Sargent là một họa sĩ vẽ tranh chân dung hàng đầu thế kỷ 19. Madame X là bức tranh nổi tiếng và có lẽ là tai tiếng nhất của ông.

Người phụ nữ trong tranh là Virginie Gautreau, vợ của một ông chủ nhà băng giàu có người Pháp. Sinh thời, bà rất nổi tiếng trong giới thượng lưu Paris vì sắc đẹp ưu việt của mình. Bức chân dung vẽ bà trong bộ váy màu đen cúp ngực, tay phải làm trụ khẽ đỡ lấy cơ thể, tay khác bấu hờ vạt váy và gương mặt quay đi hướng khác. Màu đen bóng của bộ váy cùng tông màu nâu của hậu cảnh như tương phản và càng làm nổi bật thêm làn da trắng nhức.

Cơ thể người mẫu như hướng về phía người họa sĩ nhưng đầu lại quay sang một bên, vẻ lảng tránh, tạo cảm giác xung đột, vừa muốn tiến đến vừa muốn cưỡng lại. Bức tranh bị coi là khêu gợi, không đứng đắn và trở thành một "quả bom" scandal thời bấy giờ. Bà Gautreau từ đó không xuất hiện trước công chúng nữa còn họa sĩ Sargent thì nhanh chóng rời khỏi Pháp, định cư lâu dài ở London.

8. Flaming June (Tháng Sáu bỏng cháy)

Tác giả: Nam tước Frederic Leighton (Anh)
Năm hoàn thành: 1895

8-Flaming-June-jpg-1362389428_500x0.jpg

Nam tước Frederic Leighton là một họa sĩ kiêm nhà điêu khắc nổi tiếng người Anh. Flaming June là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông và được coi là một kiệt tác của hội họa thế giới.

Nguyên mẫu trong tranh là nữ diễn viên Dorothy Dene, người được đánh giá là có gương mặt và hình thể giống với hình mẫu lý tưởng của Leighton nhất. Dorothy Dene vào những năm 1890 cũng được mệnh danh là người đẹp nhất nước Anh. Bức tranh khắc họa cô đang nằm ngủ trong một tư thế thiếu tự nhiên tựa như đó chỉ là một giấc ngủ ngắn mệt nhọc.

Tác phẩm đẫm chìm trong màu hổ phách hoàn hảo và cảnh dòng sông ở hậu cảnh gần như sáng trắng dưới ánh nắng mặt trời tháng sáu. Bộ váy mỏng manh trong suốt thể hiện những đường cong tinh tế của người phụ nữ. Cây trúc đào bên góc phải tượng trưng cho sự mong manh giữa giấc ngủ và cái chết. Thiếu nữ trong tranh với vẻ đẹp vừa nhục dục vừa trong sáng khiến người xem nhớ đến những tiên nữ nanh-phơ trong thần thoại Hy Lạp ngày xưa.

9. Portrait of Adele Bloch-Bauer I (Chân dung nàng Adele Bloch-Bauer I)

Tác giả: Gustav Klimt (Áo)
Năm hoàn thành: 1907

9-Portrait-of-Adele-Bloch-Bauer-I-jpg-13

Gustav Klimt là một họa sĩ thiên tài người Áo, nổi tiếng với những đề tài về phụ nữ và tình yêu. Cho tới nay, Portrait of Adele Bloch-Bauer I là một trong 5 bức tranh được trả giá cao nhất trong lịch sử. Năm 2006, bức tranh được bán với giá kỷ lục 135 triệu USD, trở thành bức tranh đắt giá nhất lúc bấy giờ.

Adele Bloch-Bauer là vợ của một nhà tư bản kếch xù, người thường mạnh dạn ủng hộ và giúp đỡ tiền bạc cho Gustav Klimt. Bà là tình nhân bí mật của Klimt và cũng là người phụ nữ duy nhất được họa sĩ hai lần vẽ chân dung. Bức chân dung thứ hai của bà, Portrait of Adele Bloch-Bauer II, từng được trả giá 88 triệu USD, cũng là một trong những bức tranh đắt giá nhất thế giới.

Portrait of Adele Bloch-Bauer I tràn ngập một màu vàng vương giả, người phụ nữ trong tranh trông thoải mái và đường bệ như một nữ hoàng. Bức tranh còn được mệnh danh là “Mona Lisa của nước Áo” hoặc “Phu nhân vàng”.

10. Dora Maar with Cat (Dora Maar với Mèo)

Tác giả: Pablo Picasso (Tây Ban Nha)
Năm hoàn thành: 1941

10-Dora-Maar-with-cat-jpg-1362389428_500

Picasso là họa sĩ thiên tài người Tây Ban Nha, một trong những cái tên sáng chói nhất trong giới hội họa thế kỷ 20. Dora Maar with Cat được giới phê bình cùng công chúng đánh giá cao và là một trong những bức tranh đắt nhất thế giới với giá hơn 95 triệu USD.

Dora Maar là người tình lâu năm của họa sĩ và cũng là một nhiếp ảnh, họa sĩ có tiếng. Trong tranh, bà ngồi trên một cái ghế trông như ngai vàng với một cái mũ trông như vương miện trên đầu. Một con mèo nhỏ xuất hiện bên vai phải, trông vừa có sự hăm dọa, vừa có vẻ hài hước. Những móng tay của Dora Maar cũng được vẽ rất dài và sắc nhọn, hàm ý cô cũng là một con mèo nhỏ ranh mãnh. Bức tranh cũng rất nổi tiếng về sự lựa chọn màu sắc, phối màu phức tạp.

Thăm dò
Bạn thích bức họa nào nhất về phụ nữ?

Anh Trâm

Những bức tranh đắt giá nhất hành tinh

Gia đình Hoàng gia Qatar chi hơn 250 triệu USD để sở hữu bức "The Card Players", mang đến kỷ lục mới về những tác phẩm hội họa cao giá nhất.

1. The Card Players (Những người chơi bài) - Paul Cezanne

So-1-Nhung-nguoi-danh-bai-jpg-1353973481


Cha đẻ của nghệ thuật hiện đại - Paul Cezanne vẽ bức The Card Players vào khoảng năm 1893. Nó thuộc series 5 bức tranh mô tả những người nông dân ngồi chơi bài. Series tranh này được coi là những họa phẩm quan trọng nhất thuộc trường phái hậu ấn tượng.

Được sáng tác vào những năm cuối đời của danh họa, The Card Players tái hiện cảnh những nông dân ngồi chơi một ván bài. Năm 2012, hoàng gia Qatar đã chi 254 triệu USD để sở hữu báu vật này, đưa Những người chơi bài trở thành bức họa đắt giá nhất thế giới tính đến nay. 

2. Number 5 - Jackson Pollock

so-jpg-1353973481_500x0.jpg


Jackson Pollock (1912-1956) là người có đóng góp to lớn trong lĩnh vực tranh trừu tượng của Mỹ. Number 5 được họa sĩ nổi tiếng vẽ vào năm 1948, trên một tấm vải khổ lớn bằng cách nhỏ từng giọt sơn xuống. Đây được gọi là hình ảnh trừu tượng của một tổ chim.

David Martinez, một chuyên gia tài chính Mexico mua tuyệt tác này với giá 140 triệu USD.

3. Woman III - Willem De Kooning

So-3-Woman-III-jpg-1353977675-1353979544


Bức tranh được vẽ năm 1953 này thuộc chuỗi  6 tác phẩm lấy chủ đề phụ nữ được thực hiện từ 1951 đến 1953 của Willem De Kooning. Woman III đứng thứ ba trong số những tác phẩm đắt nhất với giá trị 137,5 triệu USD.

4. Adele Bloch-Bauer của Gustav Klimt

So-4-Adele-jpg-1353973482_500x0.jpg


Gustav Klimt (1862-1918) là họa sĩ theo trường phái tượng trưng người Áo. Bức Adele Bloch-Bauer là một trong những kiệt tác cống hiến bằng cả trái tim của Gustav Klimt, được hoàn thành năm 1907. Tác phẩm kể về tình yêu nồng cháy bị cấm đoán của một thiếu nữ người Áo xinh đẹp. Klimt đã mất 3 năm để hoàn thành tác phẩm này.

Doanh nhân Ronald S. Lauder mua Adele Bloch-Bauer với giá 135 triệu USD vào năm 2006.

5. Nude, green leaves and bust - Pablo Picasso

So-5-Nude-and-jpg-1353973482_500x0.jpg


Đây là một trong nhiều bức tranh họa sĩ tài ba Pablo Picasso vẽ về người tình Marie-Thérése Walter của mình, tác phẩm ra đời vào đầu năm 1932.

Bức tranh được tác giả hoàn thành trong một ngày, với hình ảnh Marie đang nằm ngửa để lộ thân hình gợi cảm và bầu ngực căng tràn sức sống, phía sau chính là hình ảnh bán thân của họa sĩ. Tác phẩm được bán với giá 106,5 triệu USD.

6. Garçon à la pipe (Cậu bé và cái tẩu) - Pablo Picasso

so-6-jpg-1353973244-1353973482_500x0.jpg

Bức tranh được vẽ vào năm 1905 khi Picasso tròn 24 tuổi. Tác phẩm là hình ảnh một thiếu niên mặc bộ quần áo màu xanh, đội một vòng hoa nhỏ trên đầu, trên tay cầm một chiếc tẩu thuốc, ánh mắt u buồn. Với sự kết hợp tài tình giữa gam màu cam, hồng và xanh, họa sĩ đã tái hiện thành công thực trạng về xã hội u buồn và đầy rẫy bệnh tật đương thời. Đây là một trong những tác phẩm đắt nhất của Picasso, được bán với giá 104,2 triệu USD.

7. Dora Maar au Chat - Pablo Picasso

So-7-Dora-jpg-1353979544_500x0.jpg


Bức tranh mô tả Dora Maar, người tình của danh họa, với một con mèo đang ngồi ở trên vai của Dora. Dora là một trong những nhiếp ảnh gia theo chủ nghĩa siêu hiện thực nổi tiếng đương thời, bà cũng là người có ảnh hưởng rất lớn tới các tác phẩm của Picasso. Tác phẩm được mua với giá 95,2 triệu USD.

8. Portrait of Dr. Gachet (Chân dung bác sĩ Gachet) - Vincent Van Gogh

So-8-Bac-si-Gachet-Vincent-van-Gogh-jpg-

Bức tranh được hoàn thành năm 1890. Nhân vật trong tranh, Gachet, cũng chính là người chăm sóc họa sĩ thiên tài trước khi ông qua đời. Tác phẩm được bán với giá  82,5 triệu USD.

9.  Le moulin de la Galette - Pierre Auguste Renoir

So-9-Khieu-vu-jpg-1353978724-1353979545_

Bức tranh được vẽ vào năm 1876, miêu tả một chiều chủ nhật ở Moulin de la Galette thuộc khu phố Montmartre, Paris. Tác phẩm thể hiện cuộc sống của những người thuộc tầng lớp công nhân Paris cuối thế kỷ 19, họ thường giải trí bằng cách cùng nhau khiêu vũ và tụ tập ăn uống cho tới khi màn đêm buông xuống. Bức tranh được bán với giá 78,1 triệu USD.

10. Portrait of Joseph Roulin - Van Gogh

So-10-jpg-1353978766-1353979545_500x0.jp

Bức Portrait of Joseph Roulin (Chân dung người đưa thư Joseph Roulin) được danh họa vẽ vào mùa đông năm 1988. Tác phẩm được bán với giá 58 triệu USD.

Thăm dò
Bạn có ấn tượng nhất với bức tranh nào?

Mai Hiên
Ảnh: Xinhua

Bi kịch của những nàng thơ yêu danh họa Picasso

Trong bảy phụ nữ quan trọng nhất với họa sĩ thiên tài thì hai người tự sát, hai người bị rối loạn tâm lý.

Gần đây, tại Mỹ, bức Cô bé và giỏ hoa được bán với giá 115 triệu USD của Picasso gây tranh luận. Bức vẽ thể hiện một cô gái khỏa thân với cơ thể được cho là của một trẻ vị thành niên. Merrill - giám đốc tài năng tại The Wing (một không gian cộng đồng dành cho phụ nữ) - cho rằng bức tranh của Picasso cần được điều tra bởi ông lo ngại khả năng Linda - nhân vật trong tranh - bị danh họa lạm dụng lúc vẽ. "Chúng tôi muốn biết tại sao Picasso lại chọn vẽ đứa trẻ trần truồng này và những điều ông ấy cố gắng truyền đạt bằng cách thức như vậy", Merrill nhận định trong thư gửi Huffpost. Giữa phong trào Me Too (chống lạm dụng tình dục) đang lên cao, nhiều người đặt vấn đề về cách Picasso sử dụng người mẫu cũng như đối xử với họ. Cao hơn là cách ông đối xử với phụ nữ - bởi họ đa phần là nguyên mẫu cho tranh của ông.

Danh họa Picasso.

Danh họa Picasso.

Không phải lần đầu tiên vấn đề này được đặt ra. Năm 2001, trong cuốn sách Picasso: My Grandfather, Marian Picasso - một trong những cháu gái của danh họa - cho rằng Picasso đối xử tệ với phụ nữ. Marian Picasso là con gái của Paulo Picasso - con trai của danh họa với người vợ đầu, Olga Khokhlova. Cô chia sẻ: "Picasso đã thuần hóa, mê hoặc và dày vò họ để thăng hoa trong nghệ thuật. Sau khi trải qua nhiều đêm giải phóng cơ thể phụ nữ, Picasso sẽ vứt bỏ người tình một khi họ khô héo". Marian cũng chia sẻ những câu chuyện ẩn khuất trong gia đình: "Không ai trong gia đình tôi có thể thoát được sự dày vò của thiên tài ấy. Ông nội tôi cần máu để ký lên mỗi bức tranh sau khi chúng hoàn thiện. Đó là máu của cha tôi, anh tôi, mẹ tôi, bà tôi và chính tôi. Ông ấy cần máu của những người yêu thương”.

Theo Paris Review, Diana Widmaier - cháu gái khác của danh họa - nói tại triển lãm cá nhân ở Paris năm 2017: “Không ai sử dụng và lạm dụng phụ nữ của mình giống như nghệ sĩ vĩ đại nhất thế kỷ 20”. Picasso từng nói với Francoise Gilot - học trò, người tình kém danh họa 40 tuổi: “Phụ nữ là những cỗ máy gây đau khổ. Đối với tôi chỉ có hai loại phụ nữ: nữ thần hoặc thảm chùi chân”.

Theo Irish Times, 80% tác phẩm của Picasso vẽ về phụ nữ mang ẩn ức tình dục hơn là tình yêu. Picasso quan niệm: “Vẽ tranh như là cách khác lưu giữ cuốn nhật ký”. Những sáng tác của Picasso chứa đầy khoái cảm tình dục và sự lạm dụng thân thể phụ nữ.

Bức The Dream của Picasso.

Bức "The Dream" của Picasso.

Trong bức Woman Reading, Picasso vẽ người tình Marie. Da của Marie có màu tím nhạt, mái tóc vàng và đôi mắt hình quả hạnh nhân. Trong mỗi bức tranh, người tình của Picasso thường tạo dáng trong tư thế ngồi trên ghế bành hoặc nằm xuống. Bức The Dream thể hiện rõ ràng hơn khoái cảm của Picasso với phụ nữ. Ông vẽ Marie ngủ trên ghế, đầu tựa vào một bên vai. Phía trên khuôn mặt cô là hình dạng của dương vật. Bàn tay đặt ở bộ phận sinh dục, gợi tư thế thủ dâm. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1974 với Đài phát thanh Văn hóa Pháp, Marie nói rằng danh họa đã lạm dụng thể xác cô trước khi hai người bắt đầu công việc tại phòng vẽ.

Phần lớn phụ nữ gắn bó Picasso có số phận bất hạnh. Trong bảy phụ nữ được cho là quan trọng nhất với Picasso thì hai người tự sát, hai người bị rối loạn tâm lý. Năm 1904, danh họa yêu Fernande Oliver - cảm hứng chính trong sáng tác của Picasso thời kỳ Hoa Hồng (giai đoạn danh họa sử dụng màu cam và hồng, tương phản với nhiều tông màu nhạt). Sau này, Oliver ngoại tình với một nghệ sĩ người Italy kém tuổi. Điều này khiến Picasso tức giận. Ông chia tay Olivier để quan hệ với Marcelle Humbert - người mà ông gọi là “Eva” trong một số bức tranh lập thể. Marcelle là người khó nắm bắt, bí ẩn nhất trong bảy phụ nữ của nghệ sĩ.

Picasso và vợ - Olga Khokhlova.

Picasso và vợ - Olga Khokhlova.

Năm 1918, họa sĩ cưới diễn viên ballet Olga Khokhlova - người vợ đầu. Cả hai có con chung tên Paulo. Buồn chán vì sự nghiệp múa sớm kết thúc, chồng lại ra ngoài lăng nhăng, Olga trở nên điên loạn và thường xuyên tấn công các người tình của Picasso. Cuộc hôn nhân kéo dài 17 năm, sau đó vợ chồng ông ly thân năm 1935. Luật hôn nhân Pháp quy định sau khi ly hôn sẽ phải chia đôi tài sản nên Picasso chỉ ly dị khi Olga mất năm 1955.

Trong thời gian sống với Olga, nghệ sĩ bí mật quen cô gái 17 tuổi Marie - Therese Walter vào năm 1927. Họ có chung con gái tên Maria. Marie luôn ảo tưởng về sự chung thủy của Picasso với cô và nuôi hy vọng một ngày trở thành vợ hợp pháp. Sau này, khi Picasso qua đời được bốn năm, Marie treo cổ tự vẫn. Theo Los Angeles, sự ra đi của Marie có liên quan đến cái chết của danh họa.

Trong thời gian yêu Marie, Picasso nảy sinh tình cảm với nhiếp ảnh gia, họa sĩ Dora Maar (giai đoạn cuối thập niên 1930). Marie cùng Dora tranh giành Picasso. Dora Maar có mối tình kéo dài tám năm với danh họa. Về sau, Picasso dành tình cảm cho cô gái khác tên Francoise Gilot. Điều này khiến Dora suy sụp tinh thần, đến mức Picasso phải đưa bà vào bệnh viện chữa trị.

Năm 63 tuổi, Picasso yêu Francoise Gilot - sinh viên chuyên ngành nghệ thuật. Cả hai có chung hai con là Claude và Paloma. Khác với những người tình trước đó của Picasso, Francoise là người chủ động rời bỏ ông. Cú sốc này khiến danh họa nghĩ bản thân đã già và trở nên kỳ quặc trong mắt phụ nữ. Điều này tác động rõ rệt trong tâm lý sáng tác của Picasso. Một vài tác phẩm của ông miêu tả người lùn già nua đối lập cô gái trẻ đẹp.

Thế nhưng, không lâu sau, ông tìm được người tình khác tên Jacqueline Roque - công nhân xưởng gốm. Hai người duy trì mối quan hệ suốt phần đời còn lại của Picasso. Danh họa tổ chức đám cưới với Jacqueline năm 1961 như cách trả thù Francoise vì đã tự ý rời bỏ ông. Sau khi Picasso qua đời, Jacqueline nghiện rượu, thần kinh bất ổn và tự sát năm 1986.

Pablo Picasso (1881 - 1973) là nhà họa sĩ, điêu khắc thiên tài, người Tây Ban Nha. Ông là một trong những nghệ sĩ nổi danh nhất thế kỷ 20. Ông nổi tiếng với các tác phẩm như: Những cô nàng ở Avignon, Chân dung dì Pepa… Picasso có vài bức tranh nằm trong danh sách những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế giới, như bức Nude on a black armchair, Les Noces de Pierrette, Garçon à la pipe - được bán ra 104 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby vào năm 2004, lập kỷ lục thế giới lúc đó về giá cho một tác phẩm nghệ thuật.

Trọng Trường






 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 

Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.