Bài viết


 
Album ảnhLiên hoan ảnh nghệ thuật khu vực ĐBSCL lần thứ 28 năm 2013
  VN
  13      


     "Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội lần thứ 3 năm 2013"
     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
 
Cuộc Thi ảnh nghệ thuật Việt Nam-Vẻ Đẹp Bất Tận
- Những bức ảnh báo chí đoạt giải ảnh Pulitzer năm 2013 đưa đến thế giới một cái nhìn cận cảnh về sự khốc liệt, tàn bạo.

Đang truy cập: 15
Lượt truy cập: 7156286





                                           

Những người phụ nữ bí ẩn trong tranh khoả thân Phạm Lực





























Những bản nhạc chế hài hước của Táo quân

>>Những bản nhạc chế hài hước của Táo quân


 


















Kiệt tác trị giá 4 triệu USD nằm trong kho bảo tàng Anh

Bức tranh được tìm thấy trong kho Viện bảo tàng Swansea, Anh là tác phẩm có giá khoảng 4 triệu USD của họa sĩ người Bỉ Jacob Jordaens.

kiet-tac-tri-gia-4-trieu-usd-nam-trong-kho-bao-tang-anh

Bức tranh từ thế kỷ 17 của họa sỹ Jacob Jordaens có giá khoảng 4 triệu USD. Ảnh: Heritage Images.  

Tiến sỹ Bendore Grosvenor, một sử gia nghệ thuật, xác định bức tranh từ thế kỷ 17 được tìm thấy ở Bảo tàng Swansea là của họa sĩ Jacob Jordaens và có giá trị gần 4 triệu USD, BBC hôm 26/9 đưa tin.

Jacob Jordaens (1593-1678) là họa sĩ người Bỉ nổi tiếng với các bức tranh lịch sử, phong cảnh và chân dung. Bức họa được tìm thấy là bản vẽ sơn dầu hiếm có của Jordaens trước khi ông thực hiện tác phẩm nổi tiếng nhất của mình là "Atalanta và Meleager".

Các nhà nghiên cứu phát hiện nhiều con dấu, kết hợp giữa chữ A và phù hiệu thành phố Antwerpen, quê hương của Jordaens, ở đằng sau bức tranh. Điều đó chứng tỏ nó được vẽ trong khoảng năm 1619–1621. 

"Đây là một phát hiện tuyệt vời. Nó chắc chắn là một tác phẩm tinh hoa của Jordaens", Ben van Beneden, Giám đốc Bảo tàng Rubenshuis, thành phố Antwerpen, Bỉ, cho biết.

"Bức tranh rất đẹp và quan trọng. Nó giúp chúng tôi viết lại câu chuyện về Jacob Jordaens, một trong những họa sĩ mà tôi yêu thích", tiến sỹ Grosvenor chia sẻ. 


Hiền Anh


Tranh khỏa thân của Lê Phổ được bán gần 6 tỷ đồng

Bức họa "La Toillette" trúng giá hai triệu HKD trong phiên đấu tại Hong Kong. 

Tối 26/5, hai phiên đấu giá Nghệ thuật châu Á thế kỷ 20 và đương đạiNgười đương thời: Tiếng nói từ phương Đông và phương Tây được nhà Christie tổ chức song song. Bức La Toilette (tạm dịch: Nhà tắm) của danh họa Lê Phổ là một trong hơn 70 tác phẩm được bán. Trước đó, nhà Christie ước tính tranh có giá khoảng 1.200.000 - 2.200.000 HKD. Cuối cùng, tác phẩm được giao dịch với giá 2.000.000 HKD (khoảng 5,8 tỷ đồng).
Bức La Toilette của Lê Phổ. 

Bức "La Toilette" của Lê Phổ. 

Tranh vẽ một cô gái khỏa thân, nằm nghiêng bên bồn tắm, có kích thước 31x23 cm, được vẽ bằng mực và bột màu trên trên lụa bồi giấy, ra đời năm 1942. Theo Chiristie, tác phẩm được họa sĩ tặng cho bác sĩ Tinh Doan ở Pháp, sau đó thuộc về một bộ sưu tập cá nhân ở Anh. Hồi tháng 4 năm ngoái, bức La Family của Lê Phổ lập kỷ lục khi được nhà Sotheby’s ở Hong Kong bán với giá 1,2 triệu USD (hơn 27 tỷ đồng).

Bức La Family của Lê Phổ là tác phẩm đắt giá nhất của một hoạ sĩ Việt Nam từng được giao dịch. 

Bức "La Family" của Lê Phổ là tác phẩm đắt giá nhất của một họa sĩ Việt Nam từng được giao dịch. 

Họa sĩ Lê Phổ sinh ở Hà Đông, Hà Nội. Ông là một trong những sinh viên ưu tú đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương, được hiệu trưởng - họa sĩ, giáo sư người Pháp Victor Tardieu - đào tạo. Năm 1937, Lê Phổ sang Pháp, kết hôn với bà Paulette Vaux - phóng viên báo Time & Life và định cư tại đây. Pierre Le Tan - con trai của hai người - sinh năm 1950, được thừa hưởng tài năng của cha và trở thành một trong những họa sĩ vẽ minh họa nổi tiếng tại Pháp.

Bức La Marchande de Ôc của Nguyễn Phan Chánh. 

Bức "La Marchande de Ôc" của Nguyễn Phan Chánh. 

Tại phiên đấu giá của Christies Hong Kong tối 26/5, một số tác phẩm khác của danh họa Việt cũng được bán với giá cao. Bức La Marchande de Ôc của Nguyễn Phan Chánh đạt 4.660.000 HKD (tương đương 13,5 tỷ đồng). Tranh vẽ người bán ốc đang bán hàng bằng mực và bột màu trên giấy lụa. Tác phẩm sơn mài mang tên Vietnamesse Ladies của Nguyễn Gia Trí cũng đạt 875.000 HKD (khoảng 2,5 tỷ đồng).

Hà Thu




Tranh từng bị gán mác 'khiêu dâm' được bán với giá 157 triệu USD

“Nu couché” - tác phẩm của danh họa Amedeo Modigliani - trở thành một trong những bức tranh đắt đỏ nhất thế giới. 

Trang Finacal Times đưa tin trong phiên đấu giá tối 14/5 tại New York (Mỹ), nhà Sotheby's đưa ra mức giá khởi điểm của bức Nu Couché (Sur Le Côté Gauche) là 125 triệu USD. Con số này nhanh chóng tăng thêm 5 triệu USD sau vài phút. Sau 18 lần gõ búa, giá tranh đạt 139 triệu USD. Kết thúc phiên đấu giá, tác phẩm được bán với giá 157,2 triệu USD (hơn 3,5 nghìn tỷ đồng). Đây là mức giá kỷ lục được bán ra tại nhà Sotheby's. Nhà cái từ chối tiết lộ danh tính người mua.

Tranh khỏa thân được bán với giá 157 triệu USD

Bức tranh "Nu Couché (Sur Le Côté Gauche)".

Năm 2015, một bức tranh khỏa thân khác của Amedeo Modigliani là Nu Couché (Reclining Nude) được tỷ phú Trung Quốc Liu Yiqian mua với giá 170,4 triệu USD. Bức Nude Sitting on a Divan cũng được nhà Sotheby's bán với giá 69 triệu USD hồi năm 2010.

Bức Nude Sitting on a Divan - một tác phẩm khác trong loạt tranh khỏa thân của Amedeo Modigliani.

Bức "Nude Sitting on a Divan" - một tác phẩm khác trong loạt tranh khỏa thân của Amedeo Modigliani.

Cả ba tác phẩm nằm trong loạt 22 tranh khỏa thân được Amedeo Modigliani sáng tác từ năm 1916 đến năm 1919. Năm 1917, Amedeo lần đầu công bố loạt tranh trong buổi triển lãm cá nhân của ông ở Paris, Pháp. Triển lãm bị đóng cửa sau vài tiếng khai trương vì cảnh sát địa phương cho rằng tác phẩm tục tĩu, mang tính khiêu dâm.

Trước Nu Couché, một số tác phẩm được đấu giá trên 150 triệu USD gồm Salvator Mundi của Leonardo da Vinci (450 triệu USD), Les Femmes d'Alger của Pablo Picasso (179 triệu USD)...

Amedeo Modigliani (1884-1920) là nghệ sĩ người Italy nhưng sinh sống, làm việc chủ yếu ở Pháp. Một số tác phẩm nổi tiếng của ông là Portrait of Maude Abrantes (1907), Bride and Groom (1915), Portrait of Beatrice Hastings (1916), Portrait of a Young Woman (1918)... Họa sĩ tài hoa qua đời ở tuổi 35 vì bệnh tật, nghèo đói và làm việc quá sức.

Hà Thu


Tranh Bùi Xuân Phái đấu giá từ thiện mức khởi điểm 77.000 USD

Nhiều họa phẩm hàng nghìn đến chục nghìn đô sẽ được đấu giá để gây quỹ phẫu thuật dị tật đường tiểu cho trẻ em Việt.

Tác phẩm của họa sĩ Bùi Xuân Phái

Bức tranh "Phố cổ Hà Nội" của họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920-1988) là một trong những tác phẩm được đưa ra trong phiên đấu giá mang tên "Thiện Nhân và những người bạn", do quỹ "Sống để yêu thương" tổ chức. Tranh chất liệu sơn dầu, được sáng tác khoảng năm 1968 - 1972, thuộc nhóm tác phẩm có kích thước lớn nhất của cố họa sĩ.  Giá khởi điểm của bức này là 77.000 USD (hơn 1,7 tỷ đồng).

Tranh Gửi đêm của cố thi sĩ Bùi Giáng

Tranh "Gửi đêm" của cố thi sĩ Bùi Giáng có giá khởi điểm là 2.500 USD (hơn 55 triệu đồng). Tranh được sáng tác năm 1992, chất liệu mực tàu. Họa sĩ Phạm Cung lưu giữ khoảng 20 bức của Bùi Giáng, do giai đoạn năm 1982 - 1994 cố thi sĩ thường đến xưởng của họa sĩ vẽ chơi. Theo ban tổ chức, tranh Bùi Giáng trên thị trường hiện chỉ còn vài chục bức.

Bức Tôi - chiều gió của họa sĩ Lê Kinh Tài có giá khởi điểm 60.000 USD, sáng tác năm 2010. Bức tranh được tác giả lý giảiI

Bức "Tôi - chiều gió" của họa sĩ Lê Kinh Tài có giá khởi điểm 60.000 USD (hơn 1,3 tỷ đồng), được sáng tác năm 2010, chất liệu sơn dầu. Tác giả lý giải thông điệp tranh: "Sự thăng hoa cũng từ gió, mà buông xuôi cũng từ gió. Không một cơn gió nào tác động mạnh hơn gió ở bên trong chính mình".

Tranh Cửa sổ và trò chuyện của họa sĩ Đinh Thị Thắm Poong, giá khởi điểm là 6.000 USD, sáng tác năm 2008. Nữ họa sĩ từng được Thời báo Time từng xếp Đinh Thị Thắm Poong vào nhóm những họa sĩ có tranh bán chạy nhất thị trường châu Á.

Tranh "Cửa sổ và trò chuyện" của họa sĩ Đinh Thị Thắm Poong, giá khởi điểm là 6.000 USD (khoảng 133 triệu đồng), được sáng tác năm 2008, chất liệu màu nước.

Tranh Trong hồ sen của họa sĩ Nguyễn Thị Châu Giang có giá khởi điểm 2.500 USD, sáng tác năm 2011.

Tranh "Trong hồ sen" của họa sĩ Nguyễn Thị Châu Giang có giá khởi điểm 2.500 (hơn 55 triệu đồng), được sáng tác năm 2011, chất liệu lụa.

Tranh Tình quê của họa sĩ Lim Khim Katy có giá khởi điểm 2.000 USD, sáng tác năm 2015.

Tranh "Tình quê" của họa sĩ Lim Khim Katy có giá khởi điểm 2.000 USD (hơn 44 triệu đồng), được sáng tác năm 2015, chất liệu sơn dầu.

Tranh Lối về

Tranh "Lối về" của họa sĩ Nguyễn Văn Đức có giá khởi điểm 2.500 USD, được sáng tác năm 2016, chất liệu sơn dầu.

Tranh Bông dại của họa sĩ Lê Hào có giá khởi điểm

Tranh "Bông dại" của họa sĩ Lê Hào có giá khởi điểm 4.000 USD (gần 90 triệu đồng), được sáng tác năm 2015, chất liệu sơn dầu.

Định - tác phẩm có chất liệu cắt giấy và nhuộm màu của họa sĩ thiết kế Nguyễn Ngọc Vũ có giá khởi điểm 1.700 USD, sáng tác năm 2016.

"Định" - tác phẩm có chất liệu cắt giấy và nhuộm màu của họa sĩ thiết kế Nguyễn Ngọc Vũ - có giá khởi điểm 1.700 USD (hơn 37 triệu đồng), được sáng tác năm 2016.

Tranh Sơn nữ của họa sĩ Đào Xuân Tình có giá khởi điểm 1.500 USD, sáng tác năm 2016, chất liệu sơn dầu.

Tranh "Sơn nữ" của họa sĩ Đào Xuân Tình có giá khởi điểm 1.500 USD (hơn 33 triệu đồng), được sáng tác năm 2016, chất liệu sơn dầu. 

Phiên đấu Thiện Nhân và những người bạn nhằm tìm kiếm kinh phí cho Quỹ Thiện Nhân trong việc phẫu thuật dị tật đường tiểu cho trẻ em Việt Nam. Sự kiện tổ chức vào tối 22/10, theo hai hình thức: đấu giá trực tiếp (live auction) - người tham gia lên tiếng về số tiền mình bỏ ra, và đấu giá thầm lặng (silent auction) - người tham gia viết số tiền mình bỏ ra và danh tính vào một tờ giấy.

Tượng Phật Dược Sư được tạo tác từ chất liệu lưu ly và vàng 24K có giá khởi điểm 5.000 USD (hơn 111 triệu đồng).

Buổi đấu giá diễn ra vào tối 22/10 tại TP HCM, theo hai hình thức: đấu giá trực tiếp (live auction) - người tham gia lên tiếng về số tiền mình bỏ ra - và đấu giá thầm lặng (tạm dịch từ thuật ngữ silent auction) - người tham gia viết số tiền mình bỏ ra và danh tính vào một tờ giấy.

Mai Nhật


Nét phóng khoáng trong tranh nude của danh họa Lưu Công Nhân

Khán giả ở Hà Nội lần đầu thưởng thức các bức vẽ nude do cố họa sĩ thực hiện với bút pháp tả chân, giàu cảm xúc. 

Triển lãm Nét của Lưu Công Nhân diễn ra từ ngày 25/8 đến ngày 24/9 nhân dịp tưởng niệm 10 năm ngày mất của danh họa. Triển lãm trưng bày 50 tác phẩm nổi tiếng của ông, trong đó có 10 bức tranh nude - mảng tranh hiếm người biết đến của ông.  Các bức vẽ rải rác từ năm 1954 đến 2006.

Họa sĩ Lê Thiết Cương - giám tuyển triển lãm - cho biết tranh khỏa thân là mảng đề tài lớn trong sáng tác của Lưu Công Nhân. Ban đầu, anh dự định làm triển lãm riêng cho các tác phẩm này, tuy nhiên do gặp vấn đề về giấy phép, ý tưởng không thành.

le-thiet-cuong-tranh-anh-nude-la-de-tai-binh-thuong-2

Tranh nude của Lưu Công Nhân. 

Trên thực tế, nhiều họa sĩ trước Đổi mới (năm 1986) cũng vẽ nude nhưng không dám thừa nhận chuyện thuê mẫu sáng tác vì quan niệm đây là đề tài cấm kỵ. Không ít người trong giới kể họa sĩ Bùi Xuân Phái sáng tác nhiều tranh khỏa thân nhưng chỉ chú thích là lấy cảm hứng từ thơ Hồ Xuân Hương. Ông cũng không dám treo tranh mà chỉ để tác phẩm vào một chiếc cặp, ai hỏi thì lấy ra.

Lê Thiết Cương lý giải: "Lưu Công Nhân không gặp rào cản về tâm lý khi vẽ nude. Ông không có nhu cầu bán tranh do gia đình khá dư dả về kinh tế. Vì vậy, họa sĩ thoải mái chọn đề tài. Ông cũng đầu tư chi phí thuê mẫu để vẽ. Ngoài ra, ông ít giao du nên không ngại những lời đàm tiếu". 

le-thiet-cuong-tranh-anh-nude-la-de-tai-binh-thuong-3

Lưu Công Nhân từng lấy nguyên mẫu nhiều người thân trong gia đình để sáng tác.

Lưu Công Nhân đặc biệt thích người mẫu hơi béo. Người mẫu trong tranh ông có thể là cô công nhân, chị nông dân hay những người thân trong gia đình. Lê Thiết Cương từng có dịp gặp một số người mẫu của cố họa sĩ ở Đà Lạt. Theo giám tuyển, vẻ đẹp đầy đặn của họ được thể hiện trọn vẹn trong tranh của Lưu Công Nhân.

Họa sĩ Bùi Trọng Dư - người từng vẽ nhiều tranh nude sơn mài - đánh giá tranh của Lưu Công Nhân không toát lên vẻ đẹp "khuôn vàng thước ngọc", cơ thể người phụ nữ trong một số bức hơi béo, không thon gọn nhưng lại khiến người xem rung động. "Tôi được xem tranh khỏa thân của họa sĩ Lưu Công Nhân từ nhiều năm trước. Các bức tranh nude của cố họa sĩ rất kiệm lời, cô đọng về hình, mảng, nét. Nhân vật nữ trong tranh mang vẻ đẹp mộc mạc, dung dị, gần gũi", họa sĩ nói.

Theo Lê Thiết Cương, điểm mạnh của Lưu Công Nhân là tạo hình. Để vẽ mực tàu trên giấy dó, ông phải ký họa nhanh, không tẩy xóa. Vì thế, đường nét trong tranh ông "ngẫu hứng, tung tẩy, phóng khoáng".

Giới chuyên môn nhận xét nét vẽ của cố danh họa Lưu Công Nhân lúc khoan lúc nhặt, lúc đậm khi nhạt, lúc khô lúc nhòe ướt, tạo ra tổng thể hài hòa. Các tác phẩm của ông là nguồn cảm hứng cho các họa sĩ đương đại theo đuổi đề tài tranh khỏa thân như: Đỗ Sơn, Hoàng Phượng Vỹ, Trịnh Tú, Doãn Hoàng Lâm...

Lưu Công Nhân sinh năm 1930, mất năm 2007. Ông tốt nghiệp trường Mỹ thuật kháng chiến khóa 1950 -1953 do họa sĩ Tô Ngọc Vân và các họa sĩ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương dìu dắt. Ông chịu ảnh hưởng từ họa sĩ người Pháp Auguste Renoir (1841 – 1919). Ông đề cao nét tự nhiên, đặc biệt là vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ.

Ông từng có tranh tham dự triển lãm quốc tế tại Vienne (1959), Prague (1960), Berlin (1964), Bucharest (1968, 1960), Paris (1980)...

Những tác phẩm của danh họa được nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân đánh giá là "tiếp nối cái trữ tình của hội họa Đông Dương bằng nét hiện thực lạc quan của kháng chiến".

Một số tranh khỏa thân của họa sĩ Lưu Công Nhân

mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-1
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-2
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-3
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-4
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-5
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-6
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-7
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-8
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-9

Hà Thu



Gia tài hội họa trị giá 14.700 tỷ đồng của tỷ phú Rockefeller

Gia tài hội họa của tỷ phú người Mỹ David Rockefeller đã vừa được bán ra thị trường với giá 646 triệu USD. Sinh thời, ông từng có đam mê treo tranh quý khắp nhà để con cháu được lớn lên bên những siêu phẩm hội họa.

Sinh thời doanh nhân người Mỹ David Rockefeller (1915-2017) đã sưu tập rất nhiều tác phẩm hội họa quý giá. Những bức tranh được ông trưng bày khắp các gian phòng trong các căn biệt thự mà mình sở hữu, để con cháu ông được lớn lên bên cạnh những siêu phẩm hội họa.

Trước khi Rockefeller qua đời hồi năm ngoái ở tuổi 101, ông đã trăng trối lại rằng: “Cuối cùng, những tác phẩm này rồi sẽ lại bước ra với thế giới và một lần nữa sẵn sàng để những người khác chăm nom, hy vọng rằng họ sẽ tìm thấy sự thỏa mãn và niềm vui thích từ các tác phẩm này, giống như gia đình chúng tôi đã từng có”.

Ngay trong năm 2018 này, bộ sưu tập nghệ thuật của ông David Rockefeller đã được đem ra đấu giá, tất cả tiền thu về sẽ được gửi vào các quỹ từ thiện mà sinh thời ông thường quyên góp.

Cuộc đấu giá vừa diễn ra vào thứ 3 tuần này đã chứng kiến số tiền lớn nhất được thu về trong vòng một ngày từ một bộ sưu tập nghệ thuật tư nhân. Con số đáng kinh ngạc này lên tới 646 triệu USD (tương đương gần 14.700 tỷ đồng).

Rất nhiều nhà sưu tầm hội họa có tiếng trên thế giới đã đổ về nhà đấu giá Christie tại New York (Mỹ) để tham gia vào loạt phiên đấu giá kéo dài 3 ngày.

Dưới đây là một số tác phẩm nổi bật nằm trong bộ sưu tập nghệ thuật của gia đình Rockefeller vừa được đem ra đấu giá thành công trong ngày thứ 3 tuần này (8/5).

Bức “Nymphéas en Fleur” (Hoa súng nở) của danh họa người Pháp Claude Monet
Bức “Nymphéas en Fleur” (Hoa súng nở) của danh họa người Pháp Claude Monet

Định giá: 50 triệu USD - Giá bán: 84,7 triệu USD

Trong vòng hai thập kỷ cuối đời, danh họa Claude Monet (1840-1926) dành để vẽ những hồ súng ở quê nhà - xã Giverny (Pháp). Loạt tranh “Hoa súng” được ông thực hiện từ năm 1914-1917 được xem là sự thăng hoa đỉnh điểm trong loạt tác phẩm xoay quanh hoa súng.

Monet không trưng bày những tác phẩm này lúc sinh thời. So với những tác phẩm khác của ông về hoa súng, bức “Nymphéas en Fleur” (Hoa súng nở) được thực hiện với những nét vẽ phóng khoáng, giàu tính biểu đạt, màu sắc và bố cục cũng táo bạo hơn.

Bức “La Rade de Grandcamp” (Vịnh Grandcamp - 1885) của họa sĩ người Pháp Georges Seurat
Bức “La Rade de Grandcamp” (Vịnh Grandcamp - 1885) của họa sĩ người Pháp Georges Seurat

Định giá: 40 triệu USD - Giá bán: 34 triệu USD

Bức “La Rade de Grandcamp” (Vịnh Grandcamp - 1885) của họa sĩ người Pháp Georges Seurat (1859-1891) là một tác phẩm quan trọng trong thời kỳ đầu của trường phái Tân Ấn tượng.

Tác phẩm nằm trong chùm tranh 6 bức được họa sĩ thực hiện trong cùng một năm để thể hiện những ý tưởng mới về ánh sáng, màu sắc trong tranh. Bức tranh khắc họa một cuộc đua thuyền ở thị trấn miền biển của Pháp.

Bức “Odalisque Couchée Aux Magnolias” (Thị nữ nằm bên hoa mộc lan - 1923) của danh họa người Pháp Henri Matisse
Bức “Odalisque Couchée Aux Magnolias” (Thị nữ nằm bên hoa mộc lan - 1923) của danh họa người Pháp Henri Matisse

Định giá: 70 triệu USD - Giá bán: 80,6 triệu USD

Bức họa được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Henri Matisse (1869-1954). Bức tranh được vẽ ở thành phố Nice (Pháp) hồi năm 1923, khi Matisse đang ở đỉnh cao sự nghiệp.

Trong tranh có những cách biểu đạt màu sắc mới lạ, người mẫu là nàng thơ yêu thích nhất của danh họa - cô Henriette Darricarrère, một vũ nữ ba-lê, với khả năng ngồi làm mẫu vẽ trong liên tiếp 10 tiếng đồng hồ.

Trong ngôi nhà của gia đình Rockefeller ở New York (Mỹ), bức họa đã từng được treo ở vị trí đẹp nhất trong phòng khách. Bức tranh này đã lập nên mức kỷ lục mới về giá trả cho tác phẩm của một danh họa Pháp tại cuộc đấu giá.

Bức “La Vague” (Con sóng - 1888) của danh họa người Pháp Paul Gauguin
Bức “La Vague” (Con sóng - 1888) của danh họa người Pháp Paul Gauguin

Định giá: 18,5 triệu USD - Giá bán: 35,3 triệu USD

Bức vẽ khắc họa cảnh biển ở vùng Brittany (Pháp). Màu cát đỏ thiếu tự nhiên của bức tranh là một trong những thử nghiệm táo bạo của Paul Gauguin.

Cùng với bờ cát đỏ, hình ảnh hai người phụ nữ bỏ chạy khi một con sóng lớn ập đến, va vào những tảng đá là một sự ẩn dụ cho tình dục. Vợ của ông David Rockefeller sinh thời từng rất thích bức tranh này và đã treo nó trong phòng đọc của căn biệt thự nằm tại New York (Mỹ).

Bức phác họa “Vincent planteuse de betteraves - Juin” (Trồng củ cải đường tháng 6 - 1885) được thực hiện bởi danh họa người Hà Lan Vincent van Gogh
Bức phác họa “Vincent planteuse de betteraves - Juin” (Trồng củ cải đường tháng 6 - 1885) được thực hiện bởi danh họa người Hà Lan Vincent van Gogh

Định giá: 2 triệu USD - Giá bán: 3,7 triệu USD

Bức phác họa được thực hiện bằng phấn đen trên giấy, tại thị trấn Nuenen, miền nam Hà Lan hồi năm 1885. Trong mùa hè năm ấy, Van Gogh nghiên cứu cách khắc họa dáng điệu cơ thể người bằng cách thường xuyên ngồi phác họa những nông dân.

Trong một lá thư gửi cho em trai, Van Gogh từng gọi bức phác họa này là tác phẩm ấn tượng nhất của mình trong mùa hè năm ấy.

Bức “Fillette à la Corbeille Fleurie” (Cô gái mang giỏ hoa - 1905) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso
Bức “Fillette à la Corbeille Fleurie” (Cô gái mang giỏ hoa - 1905) của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso

Định giá: 100 triệu USD - Giá bán: 115 triệu USD

Khi mua bức tranh này từ một nhà sưu tầm hội họa hồi năm 1968, ông Rockefeller chỉ phải chi ra chưa đầy 1 triệu USD, khi mua tranh về, ông treo trong thư viện căn biệt thự nằm tại New York (Mỹ).

Hiện tại, tác phẩm này đã trở thành bức tranh đắt giá thứ hai do Picasso thực hiện từng được bán ra tại một cuộc đấu giá. Bức đắt đầu bảng là “Les Femmes d’Alger (version ‘O’)” (Những người phụ nữ Alger - phiên bản O) từng được bán ra hồi năm 2015 với giá 179 triệu USD.

Bức “Extérieur de la gare Saint-Lazare, effet de soleil” (Bên ngoài nhà ga Saint-Lazare, hiệu ứng mặt trời - 1877) của danh họa người Pháp Claude Monet
Bức “Extérieur de la gare Saint-Lazare, effet de soleil” (Bên ngoài nhà ga Saint-Lazare, hiệu ứng mặt trời - 1877) của danh họa người Pháp Claude Monet

Định giá: 30 triệu USD - Giá bán: 34 triệu USD

Bức tranh nằm trong bộ 12 bức khắc họa nhà ga Saint-Lazare ở Paris (Pháp). Loạt tranh này thể hiện sự đối lập trong cuộc sống hiện đại, sau khi thực hiện loạt tranh xong xuôi, Monet chuyển hẳn sang vẽ tranh phong cảnh miền quê.

Bức “La Seine à Lavacourt” (Sông Seine trước sân - 1879) của Claude Monet
Bức “La Seine à Lavacourt” (Sông Seine trước sân - 1879) của Claude Monet

Định giá: 8 triệu USD - Giá bán: 16 triệu USD

Bức tranh khắc họa quang cảnh bên bờ sông Seine được thực hiện trong khu vườn của nhà danh họa một ngày hè. Ngôi nhà nằm ở xã Vétheuil (Pháp). Sau khi Monet hoàn tất bức tranh này, vợ ông qua đời. Sau đó, ông đã vượt qua nỗi buồn bằng cách vẽ thêm nhiều bức tranh khắc họa cảnh sông nước.

Bức “Hổ chơi với rùa” (1862) của danh họa người Pháp Eugene Delacroix
Bức “Hổ chơi với rùa” (1862) của danh họa người Pháp Eugene Delacroix

Định giá: 7 triệu USD - Giá bán: 10 triệu USD

Là một trong những họa sĩ nổi bật của trường phái Lãng mạn, Eugene Delacroix (1798-1863) thường đến ngắm những chú hổ ở vườn bách thảo Paris (Pháp). Bức vẽ này là một tác phẩm nổi tiếng của ông cho thấy những nét cọ phóng túng, những màu sắc sinh động.


Bích Ngọc
Theo Forbes/Bloomberg


Những người phụ nữ bí ẩn trong tranh khoả thân Phạm Lực

Những người phụ nữ trong tranh khoả thân của hoạ sĩ Phạm Lực được đánh giá là mang vẻ đẹp thuần Việt, khoẻ khoắn, mộc mạc và hiền thảo... Mỗi bức tranh đều chứa đựng tình yêu mà hoạ sĩ dành cho những người phụ nữ Việt.

Hoạ sĩ Phạm Lực sinh năm 1943 tại Huế, đến năm 1945 theo mẹ về quê ngoại ở Nghi Xuân - Hà Tĩnh. Mẹ ông là chắt ruột của Đại thi hào Nguyễn Du. Chính vùng quê này đã hun đúc nên một Phạm Lực vừa xù xì, vừa chân chất, vừa phóng khoáng.

“Tạng tính của Phạm Lực là chất biển, chất sông nước, cửa sông, cửa nước. Đó là nền móng, là bệ đỡ, là căn tính tạo ra con người - hội hoạ của Phạm Lực. Đất nào người ấy, đất/nước nào người ấy. Đất ấy, sơn ấy, thổ ấy, sông ấy, biển ấy làm nên một hội họa Phạm Lực, vạm vỡ, thô nhám, khỏe khoắn, phóng khoáng, “ăn sóng nói gió”, gân guốc, xù xì, tự nhiên, tự do, chân chất, mộc mạc...”, hoạ sĩ Lê Thiết Cương chia sẻ.

Theo nam hoạ sĩ này, Phạm Lực không cố vẽ, không cố làm nghệ thuật. Vì thế, ông không chạy theo trường phái này, trường phái kia. Con người ông thế nào, ông sẽ vẽ thế đó. Không khí hội hoạ của Phạm Lực được hoạ sĩ Lê Thiết Cương đánh giá là phóng túng và ngẫu hứng. Người xem cảm nhận rõ xúc cảm ào ạt, cuộn sóng và tuôn trào. Vẽ với Phạm Lực là chớp lấy những đợt sóng cảm xúc bất chợt ùa về bằng một trạng thái xuất thần. Lối vẽ ấy gắn với trực hoạ, không tỉa tót, tỉ mỉ, cầu kỳ, làm dáng, điệu đàng…

Cuộc đời và con đường nghệ thuật của Phạm Lực gần như trùng khít với lịch sử đất nước. Năm lên 3, ông phải chia tay cha, theo mẹ về quê ngoại. Cho nên đề tài chủ đạo trong tranh ông là người phụ nữ, người mẹ, tình mẫu tử, bến thuyền, dòng sông… Tranh của ông tự nhiên, không màu mè, xã giao, xúng xính kỹ thuật, phấn son trang điểm. Tranh của ông là cỏ dại đồng hoang, rơm rạ… chứ không phải cỏ vườn hoa hoặc cây cảnh hòn non bộ sắp đặt gọn gàng.

Trong buổi giới thiệu 60 tác phẩm đặc sắc của họa sĩ Phạm Lực được chọn lọc từ bộ sưu tập 700 bức tranh của TS. Nguyễn Sĩ Dũng mới đây tại 72 Nguyễn Trãi - Hà Nội, nhiều người đặc biệt chú ý đến tranh khoả thân của ông.

Hoạ sĩ Phạm Lực lí giải rằng, ông lận đận về đường tình nên để “lỡ duyên” với những người phụ nữ bên cạnh. Dù những người phụ nữ không mãi mãi ở bên nhưng tình yêu của họ đã hóa thân và tỏa sáng trên tranh ông. Cho đến bây giờ, tình yêu với những người phụ nữ vẫn chưa bao giờ vơi cạn, nó cũng mạnh mẽ như tình yêu với hội hoạ chảy trong huyết quản của ông.

TS Nguyễn Sĩ Dũng chia sẻ rằng, tranh khoả thân của Phạm Lực vô cùng đẹp, gợi cảm nhưng không gợi dục. Tất cả các bức tranh này đều vẽ về những thiếu nữ đậm nét hồn Việt. Nét vẽ của ông thường đi liền một đường, không có nhấn nhá. Đa phần các bức vẽ không hề có phác hoạ trước mà đặt bút xuống là vẽ. Vì thế, vẻ đẹp của người thiếu nữ trong tranh khoả thân Phạm Lực bao giờ cũng chân thật, sống động và căng tràn sức sống.

“Phạm Lực vẽ về phụ nữ rất nhiều vì ông là một người khá đào hoa, yêu phụ nữ. Nhưng những người phụ nữ trong tranh ông thường mang vẻ đẹp khoẻ khắn, mộc mạc và hiền thảo… chứ không đài các”, TS. Nguyễn Sĩ Dũng bày tỏ.

TS Nguyễn Sĩ Dũng kể rằng, “cô Lán” là một bức tranh vô cùng quý giá của Phạm Lực. Quý giá không chỉ vì rất đẹp mà còn vì câu chuyện chứa đựng. Đây là câu chuyện về tình yêu, về sự gắn bó, về thân phận của con người trong những biến động của lịch sử.

Cô Lán là bạn gái, người thương của họa sĩ họ Phạm. Trong thời gian làm việc ở Bảo tàng của Quân khu 9 - Cần Thơ, khoảng những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ trước, họa sĩ thường ra uống cà phê ở quán đối diện. Bán cà phê là một thiếu nữ rất xinh đẹp tên Lán. Chàng họa sĩ quân đội (gia đình riêng đang đổ vỡ) và cô gái miền Tây xinh đẹp nhanh chóng phải lòng nhau.

Tuy nhiên, thời gian họ gắn bó với nhau không được dài. Một hôm, cô Lán đòi họa sĩ phải đưa đi chụp ảnh. Sau khi lấy được bức ảnh chụp chung với họa sĩ thì cô gái này biến mất. Họa sĩ Phạm Lực đã đi khắp nơi tìm cô trong nhớ thương khắc khoải nhưng tìm đâu cũng không thấy. Càng tìm, càng vô vọng. Từ đó đến nay đã ba mươi mấy năm trôi qua nhưng nỗi nhớ thương trong lòng người họa sĩ chưa bao giờ nguôi ngoai.

Một số bức tranh khoả thân của Phạm Lực trong triển lãm "Bút Lực":

Thiếu nữ khoả thân 6 vẽ trên chất liệu sơn dầu bao tải.
Thiếu nữ khoả thân 6 vẽ trên chất liệu sơn dầu bao tải.
Tác phẩm Váy đỏ vẽ năm 1987 vẽ trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Tác phẩm "Váy đỏ" vẽ năm 1987 vẽ trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Thiếu nữ khoả thân 4 vẽ năm 1981 trên chất liệu sơn dầu vải bố.
Thiếu nữ khoả thân 4 vẽ năm 1981 trên chất liệu sơn dầu vải bố.
Thiếu nữ khoả thân 7 vẽ năm 1987 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Thiếu nữ khoả thân 7 vẽ năm 1987 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Người đẹp bên hoa vẽ năm 1994 trên chất liệu sơn dầu vải bố.
Người đẹp bên hoa vẽ năm 1994 trên chất liệu sơn dầu vải bố.
Thiếu nữ khoả thân 1 vẽ năm 1981 trên chất liệu bột màu trên giấy.
Thiếu nữ khoả thân 1 vẽ năm 1981 trên chất liệu bột màu trên giấy.
Gia đình văn hoá vẽ năm 2011 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Gia đình văn hoá vẽ năm 2011 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Gảy đàn cho Kiều vẽ năm 1999 - 2000 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Gảy đàn cho Kiều vẽ năm 1999 - 2000 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Lựa chọn khó khăn vẽ năm 1994 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Lựa chọn khó khăn vẽ năm 1994 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Thị Màu, Thị Kính 2 vẽ năm 1976.
Thị Màu, Thị Kính 2 vẽ năm 1976.
Cô Hồng vẽ 2005 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Cô Hồng vẽ 2005 trên chất liệu sơn dầu trên toan.
Ngủ vùi sau trực chiến vẽ năm 1969 trên chất liệu sơn dầu trên giấy.
Ngủ vùi sau trực chiến vẽ năm 1969 trên chất liệu sơn dầu trên giấy.

Bài &Ảnh:
     Hà Tùng Long



Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật

Yasutomo Oka (43 tuổi, đến từ Nhật Bản) khiến người xem kinh ngạc khi tạo ra các bức chân dung sống động như ảnh chụp.

Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 1 Bằng tài vẽ chân dung tả thực, Yasutomo Oka (43 tuổi) tạo nên những bức tranh đẹp đến khó tin. Ban đầu, ai cũng nghĩ đây là tác phẩm được cắt ghép, chỉnh sửa tỉ mỉ bằng photoshop hoặc sản phẩm của công nghệ CGI hiện đại. Thậm chí, một số người còn cho rằng loạt tranh này là ảnh người thật.
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 2 Theo Soranews24, Oka không sử dụng bất kỳ phần mềm nào mà chỉ phác họa bằng tay rồi dùng màu tô lên.
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 3 Tác giả chăm chút từng đường nét nhỏ nhất trong bức tranh. Điều này giúp tác phẩm thêm sinh động, có hồn hơn.
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 4 Muốn tranh giống thực, họa sĩ 43 tuổi thường sử dụng gam màu tối làm nền.
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 5 Để hoàn thành các tác phẩm nghệ thuật này, Oka đã tốn tốn nhiều ngày. Có bức tranh được họa sĩ "ẩp ủ" tới nửa tháng mới xong.
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 6 Nhân vật chính trong tranh của "bậc thầy" vẽ chân dung đều là những thiếu nữ có gương mặt hài hòa, mang đậm nét đẹp Nhật, ăn mặc giản dị.
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 7 Ngoài vẻ đẹp châu Á thuần khiết, đôi khi tác giả cũng vẽ người phương Tây với mái tóc vàng đặc trưng và đôi mắt đại dương xanh thẳm.
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 8 Nét đẹp dịu dàng, trong sáng của con gái Nhật được tác giả thể hiện qua tranh.
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 9 Các cô gái Nhật trong bộ kimono truyền thống là nguồn cảm hứng bất tận cho tác giả Yasutomo Oka.
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 10 Eric Jean Pouillet bình luận: "Không nói nên lời! Đây quả thực là tài năng vượt lên trên mọi người".
Hoạ sĩ Nhật Bản vẽ chân dung sống động như thật - ảnh 11 Chiêm ngưỡng xong loạt tranh sống động của Yasutomo Oka, không bất ngờ khi anh sở hữu tới 44.100 lượt theo dõi trên Twitter. 

Theo Zing



Giới sưu tập, bảo tàng tranh thua ngay trên sân nhà

  Họa sỹ Lương Xuân Đoàn - Phó chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam khẳng định: Mở cánh cửa nghệ thuật ra thế giới đầu tiên chính là hội họa, không phải văn chương. Sau một giai đoạn tưng bừng ngay sau đổi mới, hội họa Việt Nam vấp phải nạn tranh giả, tranh nhái. Ngoài ra còn hàng loạt vấn đề xuất phát từ tư duy quản lý.

Làng Cựu - Đỗ Phấn (Sơn dầu/ 65x75cm/ 2012/ Sưu tập cá nhân ở Ý).
Làng Cựu - Đỗ Phấn (Sơn dầu/ 65x75cm/ 2012/ Sưu tập cá nhân ở Ý).

Theo họa sỹ Lương Xuân Đoàn, Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhu cầu đổi mới của hội họa Việt đã bắt đầu từ rất sớm với tín hiệu là bức sơn dầu “Tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi”, của cố họa sỹ Nguyễn Đỗ Cung, sáng tác năm 76. Đến năm 80, thế hệ đầu tiên của đổi mới xuất hiện. Bấy giờ, nhiều  khuynh hướng trong hội họa Việt cùng tồn tại và nó không ngại ngần công khai ảnh hưởng của nghệ thuật phương Tây hiện đại. Nhiều họa sỹ trong đó có Lương Xuân Đoàn khẳng định: Mở cánh cửa nghệ thuật ra thế giới đầu tiên chính là hội họa, chứ không phải văn chương. Bởi văn chương bị rào cản là ngôn ngữ. “Về cuộc cách mạng thị giác, hội họa bao giờ cũng đứng hàng đầu”, họa sỹ Lương Xuân Đoàn khẳng định. Thập niên 80 được coi là thập niên vàng của mỹ thuật Việt Nam đương đại. 

Có điểm riêng của hội họa là Hội Mỹ thuật Việt Nam ít giữ vai trò trong việc đưa tác phẩm của hội viên hội mình “vượt biên”. Mọi giao lưu kết nối với bên ngoài qua con đường cá nhân là chủ yếu. Trong thời buổi toàn cầu hóa, việc có thông tin về các họa sỹ đương đại Việt Nam là câu chuyện dễ dàng.

“Chảy máu” những tác phẩm giá trị?

Khác với văn chương, khách hàng chủ yếu của nhiều họa sỹ Việt là khách nước ngoài. Trong không khí đổi mới, khi các họa sỹ đang khao khát được có người yêu thích tranh của mình thì giới sưu tập, bảo tàng mỹ thuật Việt đã để mất những tác phẩm có giá trị: “Bảo tàng đương đại Singapore có bộ sưu tập dày dặn của mỹ thuật thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, bao gồm nhiều tác giả, cả thế hệ thứ 1 của đối mới, thế hệ thứ 2 của đổi mới. Tương tự vậy, Bảo tàng nghệ thuật quốc gia Malaysia cũng nắm giữ không ít tác phẩm có giá trị”. Tranh “xuất ngoại”  theo con đường gallery hoặc khách mua gặp trực tiếp tác giả, tức là những con đường tư nhân, phi chính thống. Lí do nào khiến bảo tàng mỹ thuật Việt bị chậm chân trong một số cuộc giành tác phẩm quí? Liệu giá tranh có phải  rào cản của bảo tàng mỹ thuật Việt trong cuộc cạnh tranh? “Đã đành đồng tiền nhà nước thì so với giá trị bức họa tương xứng thế nào được. Nhưng nhiều người nghĩ vào bảo tàng là vinh dự nên giá cả không quan trọng”, theo Phó chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam.

Giới sưu tập, bảo tàng tranh thua ngay trên sân nhà - ảnh 1 Họa sỹ Phạm Luận - người bán được nhiều tranh cho nước ngoài nhưng ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chỉ có một bức tranh bột màu. Ảnh: H.D.

Chúng tôi đến gặp họa sỹ Phạm Luận, một “đại gia” đúng nghĩa trong giới hội họa, người có tranh “xuất ngoại” nhiều và đều đặn ở Việt Nam. Họa sỹ Phạm Luận cho biết: “Lần đầu là năm 1994, khi tôi có triển lãm ở Ngô Quyền (Hà Nội). Khi đó, người của gallery Lã Vọng ở Hồng Kông có tới Việt Nam, họ tình cờ ghé qua triển lãm của tôi. Họ đồng cảm với tranh của tôi nên đã mua. Cuối năm 1994, tôi được họ mời sang Hồng Kông, đó là chuyến xuất ngoại đầu tiên của tôi và cũng là lứa họa sỹ đầu tiên của Việt Nam tới được Hồng Kông. Rồi tôi tiếp tục vẽ. Ngài đại sứ đầu tiên của Singapore tại Việt Nam, đồng thời cũng là một nhà sưu tập yêu thích Việt Nam, hội họa phong cảnh Việt Nam, thích tranh của tôi nên mua nhiều lắm. Từ những năm 1990 đến tận bây giờ vẫn mua, ngài có cả bộ sưu tập gần 200 bức của tôi”. Họa sỹ Phạm Luận rất có duyên với Singapore, nhiều quan chức ngoại giao của nước này có tranh của anh… Tranh của họa sỹ người Hà Nội này cũng có vinh dự được người của hoàng gia Anh lựa chọn. Vậy, họa sỹ có tranh “xuất ngoại” vào tuyền nơi “đài các” ấy có bao nhiêu tranh ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam? Phạm Luận cười: “Chỉ có một bức bột màu”.

Khi đề cập đến vấn đề giá cả, Phạm Luận gạt ngay: “Cứ hỏi Cục trưởng Cục Mỹ thuật xem 4 bức của tôi ở tòa nhà Quốc hội được bao nhiêu tiền?”. Anh kể rằng, đã có lần bảo tàng của ta cũng cho người đến chọn hai bức của anh, đó là hai bức anh cũng cực kỳ tâm đắc. Họa sỹ hăm hở làm khung tranh, chỉ chờ ngày “gả” con. Mà rồi thế nào đó, người ta lại thay đổi ý định, hai “đứa con” lỡ dịp vào bảo tàng Việt. Thế là đành ngậm ngùi cho chúng sang tây. Được biết, sắp tới Phạm Luận sẽ tham gia một triển lãm ở Singapore nhân dịp kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam- Singapore.

Chuyện giới sưu tập, bảo tàng của Việt Nam không giữ được những tác phẩm hội họa giá trị, chưa chắc đã do họa sỹ ham lời. Về vấn đề này, Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam nhìn nhận: “Mình chậm vì mình cần thời gian để khẳng định tác giả, trong khi cái cần làm là ngay khi họa sỹ xuất hiện ông đã phải cả quyết đây là những người cần lưu giữ tác phẩm”. Một ý kiến khác nữa: Chúng ta chậm trễ vì chúng ta cần cả hội đồng để xét tác phẩm. Chín người, mười ý, trong lúc đó tác phẩm đã mau chóng bay xa.

Giới sưu tập, bảo tàng tranh thua ngay trên sân nhà - ảnh 2 Họa sỹ Lương Xuân Đoàn: Ai dám nói đấu giá ngất ngưởng thì khẳng định giá trị thật của tác phẩm, cũng như của danh họa? Nguồn ảnh Internet.

Nỗi buồn “tranh Việt hồi hương”

Có lẽ chưa ai quên cuộc hồi hương của 17 bức tranh Việt: “17 bức “rởm” luôn. Tôi vào xem rồi chạy ra ngay, “rởm” đến mức không thể đứng lâu để nhìn, cái mẫn cảm của thị giác nhanh vô cùng. Nhưng để chứng minh chúng là “hàng giả”, lúc đó phải đòi hỏi cả công nghệ khoa học hình sự vào cuộc, không hề đơn giản, ông nghệ sỹ của mình có đủ tiền theo kiện không?”, họa sỹ Lương Xuân Đoàn chia sẻ. Anh nói thêm: “Vấn đề tranh rởm đã bị phát hiện ngay từ thập kỷ 90, tranh rởm của Việt Nam đã ra nước ngoài, với những triển lãm ở Hồng Kông và một số nước khu vực, khi in thành sách chúng tôi phát hiện ra, người ta xin lỗi và bảo, nếu công bố chuyện này thì gallery của họ sập tiệm. Luật pháp các nước ngoài nghiêm ngặt còn ở ta thì…” Lương Xuân Đoàn thở dài.

Tranh giả, tranh chép ngày càng nhiều. Họa sỹ biết nhưng nhiều khi cũng… mặc kệ. Chuyện này chúng tôi sẽ trở lại hầu quý bạn đọc sau. Chỉ thấy rõ ràng, trong một môi trường mỹ thuật thiếu lành mạnh như hiện nay, chúng ta khó kiểm soát được chất lượng tranh “xuất ngoại”. Chúng tôi hỏi vị Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật: “Tranh nào của Việt Nam được đấu giá cao nhất?”. Ông thành thật: “Cũng khó. Vì biết đâu có những tranh giả đấu giá thành công thì sao, thực hư lẫn lộn. Ai dám nói đấu giá ngất ngưởng đã khẳng định giá trị thật của tác phẩm và của danh họa? Theo thông tin bên ngoài, tạm cho là đúng thì qua sàn đấu giá nước ngoài, “Thôn nữ Bắc Kỳ” của cố họa sỹ Nam Sơn, có giá gần 6 tỷ tiền Việt. Song tôi nhắc lại, bức tranh trị giá mấy trăm ngàn euro, thực hư tranh thật hay tranh chép, cũng không ai dám chắc”. Chưa biết đến bao giờ, môi trường hội họa ở ta mới trở nên trong sạch, lành mạnh. Bây giờ sự hoài nghi có mặt ở khắp mọi nơi. Làm thế nào để mua được tranh thật? Người trong giới đưa ra gợi ý: Gặp trực tiếp họa sỹ hoặc mua tại các triển lãm của các tác giả đó. Nhưng họa sỹ Lương Xuân Đoàn lại đặt câu hỏi: “Dắt đến gặp họa sỹ, có chắc ôm được độc bản không? Có đến 5,6 bản thì bản nào là bản đầu tiên”… Cứ thế này, bảo sao tranh Việt đương đại khi ra nước ngoài không bị dìm giá?

Ủng hộ bằng cấp phép

Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm có chiến lược gì để họa sỹ, nhất là họa sỹ trẻ tiếp cận với thị trường thế giới? Cục trưởng Vi Kiến Thành đáp: “Mỹ thuật không phải lĩnh vực hoạt động theo kiểu tập thể, như hãng phim, công ty, nhà hát... Từng họa sĩ đều hoạt động độc lập. Kinh phí nhà nước hết sức eo hẹp nên Cục không thể nào lo hết cho anh em được, anh em phải xã hội hóa, chủ động thôi. Về chủ trương, Cục luôn luôn ủng hộ tạo điều kiện cho anh em, anh em phải chủ động quan hệ, có đơn vị nào bên kia mời thì anh em cứ đi, Cục sẽ cấp phép”.

Họa sỹ Đào Hải Phong bày tỏ quan điểm: “Tôi nghĩ, riêng khoản này Cục trưởng nói  đúng đấy. Tôi cũng chưa được hưởng bổng lộc gì của Cục hay Hội. Nhưng nếu người quản lí mà nói như thế thì đúng về lí thuyết, tôi hoan nghênh. Thực ra nền mỹ thuật Việt Nam giống như là một bà mẹ ốm đói. Trong khi đó, bao kẻ đòi bú thì lấy đâu ra sữa?

Nghệ sỹ của mình cũng không phải kém cỏi. Nhưng hội cũng không thể nào mua tranh của các họa sỹ được vì kinh phí thấp mà có đến hàng ngàn hội viên. Chỉ có cái dở là một nước nhỏ như thế, nghèo như thế lại lắm họa sỹ đến thế. Tôi thấy ở Mỹ cũng không lắm họa sỹ như ở ta”.


Người mẹ và thiên nhiên của một nữ họa sĩ

  Ngày 8/3, tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, nữ họa sỹ Văn Dương Thành đánh dấu 35 năm sáng tác của mình bằng triển lãm tranh “Người mẹ và thiên nhiên” qua 35 tác phẩm đặc sắc được chọn lựa từ 80 cuộc triển lãm ở các bảo tàng quốc tế và từ hơn 1.700 tác phẩm của chị.

Nghệ sỹ Văn Dương Thành đang sáng tác.
Nghệ sỹ Văn Dương Thành đang sáng tác.

Với chất liệu sơn dầu và sơn mài, sự kết hợp tinh tế giữa phong cách hội họa truyền thống và phương Tây, triển lãm khắc họa Người mẹ, nhiều sắc thái về vẻ đẹp của người phụ nữ và trẻ em trong khung cảnh thiên nhiên Việt Nam với góc nhìn 35 năm qua của chị.

Đây là triển lãm đầu tiên của Văn Dương Thành tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Trong thời gian diễn ra triển lãm, ngày 24/3 sẽ có một  cuộc trao đổi học thuật giữa họa sỹ với các họa sỹ trẻ, các nhà nghiên cứu, sinh viên về hội họa và cách phát hiện tài năng hội họa từ trẻ khuyết tật. Trình diễn áo dài với hoa văn lấy cảm hứng từ các bức tranh của họa sỹ Văn Dương Thành diễn ra vào ngày bế mạc triển lãm, 8/5.

Ngoài ra, nhân kỷ niệm ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 và 30 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam và Australia, họa sỹ Văn Dương Thành giới thiệu với người yêu tranh 60 tác phẩm, trong đó có bộ tranh mới nhất sơn dầu, sơn mài và lụa với kích thước lớn, đề tài “Người Mẹ và thiên nhiên Việt Nam” tại Xưởng họa Hoa Sen Trắng, Biệt thự C29, ngõ 210 đường Nghi Tàm, Hà Nội. Cuộc triển lãm được kéo dài đến 1/5/2018. Chủ đề bao quát bức tranh lớn là phụ nữ và hạnh phúc. Những bức tranh khổ lớn với diện tích tổng cộng là 16 m2 trên nền vải thể hiện sự lao động hết mình, sự tập trung cao độ của sức lực và cảm xúc để có thể biểu hiện chủ đề hùng vĩ trên đây. Nữ họa sĩ nhỏ bé đã lao động miệt mài từ sáng sớm đến đêm khuya trong suốt hai tháng để hoàn tất chương trình sáng tác lớn nhất trong năm của mình. Lúc này những bức tranh đã được hoàn thiện, chị vô cùng vui sướng được chia sẻ thành quả với những tấm lòng yêu mến nghệ thuật.

Nữ họa sỹ Văn Dương Thành được biết đến như một nghệ sĩ tài năng đến từ châu Á. Sinh ra tại Phú Yên, lớn lên tại Hà Nội, họa sỹ Văn Dương Thành từng giảng dạy mỹ thuật tại Thụy Điển trong 20 năm qua, đào tạo hơn 1.000 sinh viên. Năm 20 tuổi, các bức tranh của Văn Dương Thành được chọn đưa vào bộ sưu tập của Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam và chị trở thành họa sĩ trẻ nhất có được vinh dự này.

Kể từ đó, nhiều tác phẩm tinh tế của chị được trưng bày tại các Viện bảo tàng Mỹ thuật Quốc gia nhiều nước như Việt Nam, Singapore, Hồng Kông, Thụy Điển, Ba Lan, Romania...

Năm 2009, Văn Dương Thành được Giáo sư - Giám đốc Bảo tàng Chopin ở Warsaw mời đến dự Lễ kỷ niệm gắn tác phẩm tại đại sảnh do bức chân dung của Chopin -“IMPROMPTUM - Chân dung của  CHOPIN FREDERIC” bằng chất liệu sơn mài trên gỗ, vàng, bạc và vỏ trứng (90x100cm) được bảo tàng lựa chọn trưng bày.

Văn Dương Thành tham gia nhiều hoạt động xã hội thiện nguyện, dạy nghệ thuật cho trẻ em kém may mắn trong làng SOS. Chị đã tặng một số tác phẩm của mình cho các cuộc đấu giá từ thiện hàng năm tại Việt Nam để gây quỹ cho trẻ em tàn tật và học bổng cho sinh viên tài năng. Chị là giảng viên khách mời của trường Đại học Quốc gia, trường Marie Curie. Chị cũng tham gia nhiều hoạt động hữu nghị của các nhà ngoại giao APEC 2017, phục vụ trưng bày tại hơn 15 lễ kỉ niệm Quốc khánh Việt Nam tại nhiều nước.

Văn Dương Thành đã nhận giải thưởng “Vinh danh nước Việt” năm 2007 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội - trao tặng những nhà khoa học, nghệ sĩ Việt Nam nổi tiếng ở nước ngoài, “Giải thưởng quốc tế về nghệ thuật Kiệt xuất” do CFMI - Snecma, Mỹ - Pháp năm 1995 và 1997.

 


Hoạ sĩ Thế Sơn lên tiếng về bức phù điêu gây tranh cãi ở Phùng Hưng

  Ngay sau khi phố bích hoạ Phùng Hưng khai trương, nhiều người thắc mắc về bức phù điêu gợi đến mục đích quảng cáo thương mại. Hoạ sĩ Nguyễn Thế Sơn, giám tuyển dự án bích hoạ này trả lời Tiền Phong xung quanh tranh cãi này.

Tác phẩm
Tác phẩm "Tuần lễ thời trang Phố cổ" gây tranh cãi. Ảnh: Mạnh Thắng

Phù điêu gợi một số thương hiệu thời trang nổi tiếng thế giới xuất hiện bên cạnh bức tranh Hàng Trống gây tranh cãi, anh có thể nói gì về điều này?
Tác phẩm “Tuần lễ thời trang phố cố” của tác giả trẻ Xuân Lam. Tôi có thể nói ngay, đây là tác phẩm cảnh báo về giá trị di sản truyền thống bị nhạt nhoà.
Bức tranh vốn là tranh Hàng Trống, di sản truyền thống trước 1945 H nằm ngay trong phố cổ Hàng Trống, bây giờ nhiều người chỉ mang máng. Không mấy ai biết rõ bức tranh đó là di sản tranh Hàng Trống, nhưng lại nhận ra ngay thương hiệu thời trang nổi tiếng kia bởi chúng ta nằm cạnh lò sản xuất hàng “fake” lớn nhất thế giới, biểu tượng thời trang này cũng là biểu trưng toàn cầu hoá.
Hoạ sĩ Thế Sơn lên tiếng về bức phù điêu gây tranh cãi ở Phùng Hưng - ảnh 1 Chi tiết thời trang hàng hiệu xuất hiện trong tranh Hàng Trống tại phố bích hoạ Phùng Hưng. Ảnh: Mạnh Thắng

Tại sao nghệ sĩ lại chọn cách thể hiện dễ gây tranh cãi như thế?
Tác phẩm nghệ thuật đương đại không phải là sự mô phỏng, sao chép. Nếu một số bức trong phố Phùng Hưng chỉ là ảnh phóng to, đơn giản dễ hiểu thì một số khác gợi mở hơn. Với tư cách giám tuyển, tôi yêu cầu các nghệ sĩ đưa ra tác phẩm có yếu tố sáng tạo, phải là những câu chuyện mà người ta xem xong và đặt câu hỏi. Nghệ thuật đương đại đòi hỏi có tương tác về mặt tư duy. Nếu nghệ sĩ chỉ vẽ lại hoặc mô phỏng bức ảnh cũ thì không phải nghệ thuật đương đại.

"Người ta dễ dàng nhận ra biểu tượng thương hiệu thời trang, nhưng mơ hồ về tác phẩm tranh Hàng Trống"-Nguyễn Thế Sơn.


Xem ra anh đạt được ý đồ, bởi người xem tranh cãi rất nhiều về chi tiết lạ này?
Đúng. Tác phẩm đặt cho người xem rất nhiều thắc mắc, chứ không đơn giản là tranh tuyên truyền cổ động. Người Việt Nam chưa có thói quan xem tác phẩm, đọc giải thích bên cạnh. Những lời giải thích này không nặng mô tả tác phẩm, nó gợi mở cho người xem cảm nhận tác phẩm. Rõ ràng ở đây người xem sẽ nhận ra lời cảnh báo: Chúng ta đang bị toàn cầu hoá cuốn đi, coi nhẹ giá trị truyền thống.
Tác giả Xuân Lam vốn yêu di sản truyền thống, từng có dự án vẽ lại tranh Đông Hồ. Để thực hiện tác phẩm này, bạn ấy rất khó khăn vào bảo tàng chụp lại bức ảnh về tranh Hàng Trống, bạn ấy muốn khuyến khích giới trẻ quan tâm tới giá trị truyền thống: Người ta dễ dàng nhận ra biểu tượng thương hiệu thời trang, nhưng mơ hồ về tác phẩm tranh Hàng Trống.

Những bức hình 'cực chất' trong dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng

  Sau một thời gian tạm ngưng, hiện nay các họa sĩ Việt Nam đã trở lại thực hiện dự án bích họa trên phố Phùng Hưng, dự kiến trước Tết Nguyên đán sẽ hoàn thành.


Dự án "Bích họa trên phố Phùng Hưng" được thực hiện trên đoạn phố Phùng Hưng nối từ Lê Văn Linh tới Hàng Cót gồm 18 tác phẩm, trong đó có 10 tác phẩm của các họa sĩ Việt Nam, 7 bức của các họa sĩ Hàn Quốc và 1 bức do nghệ sĩ 2 nước cùng thực hiện.

Toàn bộ phố Phùng Hưng có 131 cổng vòm, đã có 4 cổng được đục ra để phục vụ giao thông, còn lại 127 cổng vòm theo kế hoạch sẽ được chia thành 3 giai đoạn để triển khai. Dự án "Bích hoạ trên phố Phùng Hưng" nằm trong giai đoạn 1.

Giai đoạn 2 sẽ tác động đến các cổng vòm từ đoạn phố Phùng Hưng đến phố Hàng Cót (mở vòm để phục vụ không gian văn hóa của Hà Nội). Giai đoạn 3 sẽ tác động vào các cổng vòm từ Cửa Đông đến phố Lê Văn Linh.

dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 1 Đoạn phố Phùng Hưng (dài chưa đầy 200m) nối từ Lê Văn Linh tới Hàng Cót đã trở thành không gian đầu tiên để hiện thực hóa ý tưởng “phố vòm cầu Hà Nội” 
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 2 Theo ghi nhận của PV ngày 1/2, có khoảng 7 họa sĩ đang miệt mài hoàn thiện những bích họa của mình.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 3 Một họa sĩ đang giới thiệu cho phóng viên về ý tưởng tác phẩm của mình.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 4 Công việc đang được các họa sĩ gấp rút hoàn thiện.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 5 Vòm cầu được sắp đặt bằng các phụ tùng của chiếc xe cup cổ xưa.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 6 Các họa sĩ đang hoàn thành những công đoạn cuối cùng trong tác phẩm của mình.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 7 Trước đó, vào ngày 3.11.2017, các họa sĩ Hàn Quốc đã thực hiện 4 bức bích họa đầu tiên ở khu vực các vòm cầu số 56, 58, 59, 74.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 8 Có tổng cộng 10 tác phẩm của các họa sĩ Việt, 7 bức của các họa sĩ Hàn Quốc và 1 bức do nghệ sĩ 2 nước cùng thực hiện.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 9 Một tác phẩm độc đáo sử dụng chất liệu giấy in ảnh, sau đó bồi lên những ô đá của vòm cầu.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 10 Góc phố Hàng Mã xưa được tái hiện trên vòm cầu số 63 đang chuẩn bị hoàn thiện những bước cuối cùng.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 11 Vòm cầu số 69 tái hiện lại rất chân thực cảnh người dân Hà Nội xưa xếp hàng chờ gánh nước từ những vòi nước công cộng.
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 12 Một số tác phẩm đã được hoàn thành trong Dự án "Bích họa trên phố Phùng Hưng".
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 13
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 14
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 15
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 16
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 17
dự án Bích họa trên phố Phùng Hưng - ảnh 18




Bức tranh đáng giá 22 tỷ đồng bị bỏ quên bí ẩn trên xe buýt

Một bức tranh từng bị đánh cắp khỏi viện bảo tàng cách đây 9 năm đã bất ngờ được tìm thấy lại theo cách tình cờ đến… không ngờ.

Một bức tranh của danh họa người Pháp Edgar Degas (1834-1917) từng bị đánh cắp khỏi một viện bảo tàng ở thành phố Marseille (Pháp) cách đây 9 năm đã bất ngờ được tìm thấy trở lại. Đại diện Bộ Văn hóa Pháp cho biết nhân viên phục vụ trên xe buýt đã tìm thấy một chiếc vali vô chủ bị bỏ lại trên xe, bên trong là bức tranh bị đánh cắp.

Chiếc xe buýt chở bức tranh bị đánh cắp khi đó đang hoạt động ở khu vực ngoại ô thành phố Paris. Bức tranh được tìm thấy có giá ước tính tương đương hơn 22 tỷ đồng. Khi phát hiện chiếc vali vô chủ, nhân viên phục vụ trên xe buýt đã hỏi các hành khách nhưng không ai có mặt trên xe nhận là chủ của chiếc vali.

Bức tranh được tìm thấy bên trong vali có tên “Les Choristes” (Những ca sĩ của dàn hợp xướng) đã được danh họa người Pháp Edgar Degas thực hiện từ năm 1877.

Cận cảnh bức “Les Choristes” (Những ca sĩ của dàn hợp xướng) vừa được tìm thấy một cách tình cờ đến… bất ngờ.
Cận cảnh bức “Les Choristes” (Những ca sĩ của dàn hợp xướng) vừa được tìm thấy một cách tình cờ đến… bất ngờ.

Danh họa Edgar Degas vốn nổi tiếng với những bức tranh khắc họa các vũ công.
Danh họa Edgar Degas vốn nổi tiếng với những bức tranh khắc họa các vũ công.

Hơn một nửa các tác phẩm của Edgar Degas có liên quan tới chủ đề vũ công hoặc các điệu nhảy, điệu múa. Vị danh họa cũng được xem là một trong những người có công sáng lập ra trường phái Ấn tượng trong hội họa.
Hơn một nửa các tác phẩm của Edgar Degas có liên quan tới chủ đề vũ công hoặc các điệu nhảy, điệu múa. Vị danh họa cũng được xem là một trong những người có công sáng lập ra trường phái Ấn tượng trong hội họa.

Các chuyên gia đến từ Bảo tàng Orsay (Musee d'Orsay) tại Paris, Pháp, đã khẳng định rằng bức tranh vừa được tìm thấy chính là bức tranh của Edgar Degas từng bị đánh cắp khỏi bảo tàng Cantini (Musee Cantini) nằm ở thành phố Marseille hồi năm 2009.

Bức tranh vốn dĩ thuộc sở hữu của bảo tàng Orsay nằm ở Paris, tại thời điểm tranh bị đánh cắp, bảo tàng Orsay đang cho bảo tàng Cantini mượn tranh để trưng bày. Vụ trộm tranh khi ấy đã được thực hiện “hoàn hảo” tới mức nhà chức trách trong quá trình điều tra đã không tìm thấy bất cứ manh mối nào để lại.

Các tác phẩm của Edgar Degas luôn đạt được mức giá cao khi xuất hiện tại các cuộc đấu giá.
Các tác phẩm của Edgar Degas luôn đạt được mức giá cao khi xuất hiện tại các cuộc đấu giá.

Bên cạnh sự nghiệp hội họa, Edgar Degas còn là một nghệ sĩ điêu khắc.
Bên cạnh sự nghiệp hội họa, Edgar Degas còn là một nghệ sĩ điêu khắc.

Một bức chân dung tự họa của Edgar Degas.
Một bức chân dung tự họa của Edgar Degas.

Edgar Degas là một họa sĩ - nhà điêu khắc danh tiếng của nền nghệ thuật Pháp trong thế kỷ 19. Ông theo đuổi trường phái Ấn tượng và thường khắc họa các nữ vũ công trong các tác phẩm của mình, Degas thích khắc họa nhân vật ở những góc độ khác thường.

Degas nổi tiếng với những bức tranh khắc họa vũ công ba-lê và thường ông khắc họa họ ở phía sau sân khấu, trong trạng thái sẵn sàng để bước ra trình diễn. Những tác phẩm của Degas đã có ảnh hưởng tới nhiều họa sĩ lớn, trong đó có danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso.

Dù những tác phẩm điêu khắc của Degas cũng được đánh giá cao, nhưng Degas hiếm khi tự tin trưng bày giới thiệu các tác phẩm điêu khắc của mình tới công chúng lúc sinh thời, vì vậy, khía cạnh nhà điêu khắc của ông hiếm khi được đề cập tới khi ông còn sống. Khi Degas qua đời năm 1917, người ta đã tìm thấy hơn 150 tác phẩm điêu khắc trong studio của ông.

Trong cuộc đời mình, Degas đã vẽ tới 1.500 bức tranh khắc họa vũ nữ ba-lê. Tâm hồn ông được chính ông ví như “đôi giày múa ba-lê bằng lụa màu hồng xinh xắn nhưng đã nhàu nhĩ sau buổi tập”.

Một nét khác biệt nữa là Degas thường không ghi lại danh tính những người phụ nữ xuất hiện trong tranh ông, thậm chí ông còn “giấu mặt” họ đi, bởi Degas chỉ tập trung vào hình thể, động tác và trang phục.

Sự ám ảnh của Degas với các vũ công ba-lê kéo dài suốt 4 thập kỷ, đề tài này đã chứng kiến sự chuyển dịch của ông từ hội họa hàn lâm cổ điển sang hiện đại. Một nửa số tranh mà Degas vẽ trong suốt cuộc đời là để khắc họa các vũ công ba-lê.

Đôi khi, những bức tranh còn như “thấm mệt” với sự luyện tập vất vả của các diễn viên múa. Degas không chỉ khắc họa sự thăng hoa, tài tình của họ mà còn đi sâu vào nội tâm họ. Sự khắc họa tinh tế vẻ đẹp của những chiếc váy còn được ông nhấn mạnh hơn cả biểu cảm gương mặt hay ánh mắt nhân vật.

Nếu những họa sĩ khác thường khắc họa mẫu nữ với vẻ đẹp hoàn hảo thì Degas không bao giờ đặc tả vẻ đẹp ấy. Ông đặc tả phụ nữ bằng sự chú tâm đầy kiên nhẫn, miêu tả họ thật chân thực bằng cây cọ thay vì lồng ghép vào đó sự thăng hoa, tôn sùng. Đương thời, ông đã từng thú nhận thái độ đối địch của mình đối với phụ nữ.

Những phát ngôn của Degas có thể khiến người ta nghĩ rằng ông từng bị đau khổ nhiều vì phụ nữ để rồi quay ra căm ghét họ, ông vẽ rất nhiều tranh về phụ nữ nhưng vẽ bằng sự lạnh lùng, quan sát tỉ mỉ, chi tiết.

Mối quan tâm hàng đầu của Degas là sự chân thực, ông vượt lên trên những quan niệm thường thấy trong hội họa thế kỷ 19 và luôn đặt cho mình nhiệm vụ quan sát thật sâu kỹ đối tượng được khắc họa.

Ở thế kỷ 19, những vũ công múa ba-lê thường có cuộc sống nghèo khó, vất vả, họ được trả công bèo bọt để trình diễn mua vui cho khán giả, vốn thuộc giới thượng lưu, quý tộc. Thuở ấy, phụ nữ phương Tây vẫn còn ăn vận “kín cổng cao tường” nên những cô gái xuất hiện trước đám đông mà khoe ra bờ vai, đôi chân như các diễn viên múa ba-lê vẫn là một sự rất “hiếm hoi”.

Cuộc sống của các vũ công múa ba-lê thời bấy giờ chẳng lấy gì làm xán lạn, họ vừa phải lao động nghệ thuật vất vả vừa phải chật vật với đời sống cơm áo. Đa phần họ không kết hôn. Những vũ công thường qua lại với những quý ông - những nhà bảo trợ giàu có để được bảo đảm về mặt tài chính, nhưng những quý ông thượng lưu này sẽ không bao giờ lấy họ làm vợ.

Tất cả những điều này đều được Degas quan sát và thấu hiểu, vì vậy, có những bức vẽ của ông khắc họa cả sự mệt mỏi, bơ phờ của diễn viên múa. Nếu có một danh xưng nào để nói về Degas, hẳn người ta sẽ phải gọi ông là “danh họa bậc thầy về múa”.

Ông đã quan sát các mẫu của mình kỹ đến mức, không chỉ khắc họa vẻ đẹp hào nhoáng của họ mà còn đặc tả cả nội tâm phức tạp, mệt mỏi của họ. Trong đời sống xã hội ở Paris lúc bấy giờ, những phụ nữ đứng đắn, lịch thiệp, không bao giờ khoe ra bờ vai và đôi chân, vì vậy, họa sĩ muốn khắc họa phụ nữ chỉ có thể tìm đến hoặc kỹ nữ hoặc vũ công.

Cả cuộc đời, Degas không bao giờ kết hôn, chỉ luôn mê mải khắc họa nhân vật đặt trong những bối cảnh không gian đóng kín. Những gì đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm trí Degas không bao giờ thay đổi. Suốt cả cuộc đời ông sống với những quan niệm, ám ảnh và đam mê quen thuộc, đó là lý do tại sao ông có thể vẽ cả nghìn bức tranh về các nữ diễn viên múa mà không… chán.

5 vụ trộm tranh lớn nhất gây sốc với thế giới:


Vụ trộm tranh 100 triệu USD ở Paris (Pháp) tháng 8/1911:

Vụ trộm tranh 100 triệu USD ở Paris (Pháp) tháng 8/1911:

Vincenzo Peruggia, một cựu nhân viên bảo tàng Louvre đã tận dụng những hiểu biết của mình về nội tình trong bảo tàng để đánh cắp bức “Mona Lisa” của danh họa Leonardo da Vinci. Đây là vụ trộm tranh “khét tiếng” nhất. Peruggia trốn trong một chiếc tủ, chờ tới khi nhân viên về hết, liền đánh cắp bức tranh, cất giấu dưới tà áo khoác rộng. Cảnh sát đã bắt Peruggia khi kẻ trộm tranh này đang thực hiện cuộc giao dịch bán tranh sau đó hai năm.


Vụ trộm tranh 300 triệu USD tại Boston (Mỹ) tháng 3/1990:

Vụ trộm tranh 300 triệu USD tại Boston (Mỹ) tháng 3/1990:

Hai người đàn ông dùng trang phục cảnh sát giả, khống chế nhân viên an ninh tại phòng triển lãm Isabella Stewart Gardner, lấy đi băng ghi hình an ninh của phòng trưng bày, đồng thời lấy đi bức tranh khắc họa cảnh biển duy nhất mà danh họa người Hà Lan Rembrandt từng thực hiện - bức “Bão ngoài biển Galilee”, thêm đó là các bức - “Buổi hòa nhạc” của danh họa người Hà Lan Johannes Vermeer, “Chez Tortoni” của danh họa người Pháp Édouard Manet. Cho tới giờ, tranh vẫn chưa được tìm thấy, và tội phạm cũng vẫn chưa sa lưới pháp luật.


Vụ trộm tranh 100 triệu USD ở Amsterdam (Hà Lan) tháng 12/2002:

Vụ trộm tranh 100 triệu USD ở Amsterdam (Hà Lan) tháng 12/2002:

Kẻ trộm đột nhập vào bảo tàng Van Gogh, lấy đi hai bức tranh “Cảnh biển ở Scheveningen” và “Giáo đoàn rời khỏi nhà thờ tin lành ở Nuenen”.


Vụ trộm tranh 65 triệu USD ở Scotland tháng 8/2003:

Vụ trộm tranh 65 triệu USD ở Scotland tháng 8/2003:

Sau khi tham gia một tour tham quan lâu đài Drumlanrig ở Scotland, hai người đàn ông tách đoàn và đánh cắp bức “Madonna of the Yarnwinder” của danh họa người Ý Leonardo da Vinci. Hệ thống an ninh trong lâu đài khi đó không bật, những người nhìn thấy hai kẻ trộm tranh thực hiện phi vụ phạm tội ngay giữa ban ngày có tiến lại can thiệp, nhưng hai tên này khẳng định rằng mình là… cảnh sát ngầm đang luyện tập phương án an ninh cho lâu đài. Tất cả… đều tin ngay. Bức tranh được tìm thấy lại năm 2007, nhưng hai kẻ trộm tranh thì vẫn “nhởn nhơ”.


Vụ trộm tranh 120 triệu USD ở Oslo (Na Uy) tháng 8/2004:

Vụ trộm tranh 120 triệu USD ở Oslo (Na Uy) tháng 8/2004:

Những nhân viên làm việc tại bảo tàng Munch đã bị khống chế bởi những kẻ trộm có vũ trang ngay giữa ban ngày. Hai bức tranh của danh họa Edvard Munch đã bị lấy đi, gồm bức “Tiếng thét” và “Madonna”. Đến tháng 5/2006, cảnh sát bắt được những tên trộm. Hai bức tranh được tìm thấy 3 tháng sau đó.


Bích Ngọc
Theo New York Times/Huffington Post


Bí ẩn về vị danh họa cả cuộc đời ám ảnh vẽ tranh vũ nữ ba-lê

Trong cuộc đời mình, ông đã vẽ tới 1.500 bức tranh khắc họa vũ nữ ba-lê. Dù luôn khắc họa phụ nữ nhưng sinh thời ông lại giữ thái độ “đối địch” với họ. Tâm hồn ông được ví như “đôi giày múa ba-lê bằng lụa màu hồng xinh xắn nhưng đã nhàu nhĩ sau buổi tập”.

Trong hội họa, mỗi một vị danh họa thường gắn liền với một nhóm chủ đề nào đó đặc trưng của riêng họ, mà chỉ cần nhắc đến tên của họa sĩ thôi, loạt tranh đó đã hiện ra trong trí nhớ người yêu hội họa, như Van Gogh có loạt tranh hoa hướng dương, Picasso có loạt tranh chân dung về những người phụ nữ từng bước qua cuộc đời ông…

Và còn có một danh họa nổi tiếng với những bức tranh khắc họa diễn viên múa ba-lê. Ông là Edgar Degas (1834-1917) - họa sĩ người Pháp theo đuổi trường phái Ấn tượng. Degas sinh ra trong một gia đình trung lưu khá giả ở Paris, ngay từ thời niên thiếu, ông đã bị ám ảnh bởi múa.

Sinh thời, ông tự tự miêu tả tâm hôn mình giống như “một đôi giày múa ba-lê bằng lụa màu hồng xinh xắn nhưng đã nhàu nhĩ sau buổi tập”.

Degas cho rằng phần đông mọi người không hiểu được hết niềm hứng thú của ông trong những bức tranh khắc họa vũ công ba-lê: “Mọi người thường gọi tôi là họa sĩ chuyên vẽ các vũ công. Nhưng họ không bao giờ hiểu rằng niềm đam mê chủ đạo của tôi lại nằm ở những động tác múa và những trang phục đẹp đẽ của các vũ công”.

Trong khi các họa sĩ thường thích đi ra ngoài và thả hồn vào không gian mở để vẽ tranh thì Degas thích ngồi trong một góc phòng kín để quan sát và vẽ. Dù theo đuổi trường phái Ấn tượng, nhưng ông tự nhận mình mang hơi hướng Hiện thực, việc ngồi vẽ trong phòng kín giúp ông có thể vẽ được chính xác hơn những gì đang diễn ra trước mắt.

Một nét khác biệt nữa là Degas thường không ghi lại danh tính những người phụ nữ xuất hiện trong tranh ông, thậm chí ông còn “giấu mặt” họ đi, bởi Degas chỉ tập trung vào hình thể, động tác và trang phục.

Nếu để tâm tới góc nhìn của Degas, người ta sẽ nhận thấy ông luôn hướng ánh mắt xuống mặt sàn, vì vậy, người xem tranh tinh ý vẫn sẽ phần nào cảm nhận thấy sự hiện diện của ông trong không gian căn phòng tập của các nữ vũ công.

Sự ám ảnh của Degas với các vũ công ba-lê kéo dài suốt 4 thập kỷ, đề tài này đã chứng kiến sự chuyển dịch của ông từ hội họa hàn lâm cổ điển sang hiện đại. Một nửa số tranh mà Degas vẽ trong suốt cuộc đời, khoảng 1.500 bức, khắc họa các vũ công ba-lê.

Trong các bức tranh của Degas, vũ công luôn xuất hiện hơi nhòa, hiếm khi được khắc họa sắc nét, bởi Degas muốn nhấn vào những động tác nhún nhảy, xoay vòng làm mờ đi cả gương mặt của các vũ công, chỉ còn lại hình thể, động tác và trang phục.

Các vũ công trong tranh Degas thường đang thực hiện một động tác nào đó, họ hiếm khi được khắc họa gương mặt một cách sắc nét và đa phần đều giống nhau.

Đôi khi, những bức tranh còn như “thấm mệt” với sự luyện tập vất vả của các diễn viên múa. Degas không chỉ khắc họa sự thăng hoa, tài tình của họ mà còn đi sâu vào nội tâm họ. Sự khắc họa tinh tế vẻ đẹp của những chiếc váy còn được ông nhấn mạnh hơn cả biểu cảm gương mặt hay ánh mắt nhân vật.

Nếu những họa sĩ khác thường khắc họa mẫu nữ với vẻ đẹp hoàn hảo thì Degas không bao giờ đặc tả vẻ đẹp ấy. Ông đặc tả phụ nữ bằng sự chú tâm đầy kiên nhẫn, miêu tả họ thật chân thực bằng cây cọ thay vì lồng ghép vào đó sự thăng hoa, tôn sùng. Đương thời, ông đã từng thú nhận thái độ đối địch của mình đối với phụ nữ.

Những phát ngôn của Degas có thể khiến người ta nghĩ rằng ông từng bị đau khổ nhiều vì phụ nữ để rồi quay ra căm ghét họ, ông vẽ rất nhiều tranh về phụ nữ nhưng vẽ bằng sự lạnh lùng, quan sát tỉ mỉ, chi tiết.

Mối quan tâm hàng đầu của Degas là sự chân thực, ông vượt lên trên những quan niệm thường thấy trong hội họa thế kỷ 19 và luôn đặt cho mình nhiệm vụ quan sát thật sâu kỹ đối tượng được khắc họa.

Ở thế kỷ 19, những vũ công múa ba-lê thường có cuộc sống nghèo khó, vất vả, họ được trả công bèo bọt để trình diễn mua vui cho khán giả, vốn thuộc giới thượng lưu, quý tộc. Thuở ấy, phụ nữ phương Tây vẫn còn ăn vận “kín cổng cao tường” nên những cô gái xuất hiện trước đám đông mà khoe ra bờ vai, đôi chân như các diễn viên múa ba-lê vẫn là một sự rất “hiếm hoi”.

Cuộc sống của các vũ công múa ba-lê thời bấy giờ chẳng lấy gì làm xán lạn, họ vừa phải lao động nghệ thuật vất vả vừa phải chật vật với đời sống cơm áo. Đa phần họ không kết hôn. Những vũ công thường qua lại với những quý ông - những nhà bảo trợ giàu có để được bảo đảm về mặt tài chính, nhưng những quý ông thượng lưu này sẽ không bao giờ lấy họ làm vợ.

Tất cả những điều này đều được Degas quan sát và thấu hiểu, vì vậy, có những bức vẽ của ông khắc họa cả sự mệt mỏi, bơ phờ của diễn viên múa. Nếu có một danh xưng nào để nói về Degas, hẳn người ta sẽ phải gọi ông là “danh họa bậc thầy về múa”.

Ông đã quan sát các mẫu của mình kỹ đến mức, không chỉ khắc họa vẻ đẹp hào nhoáng của họ mà còn đặc tả cả nội tâm phức tạp, mệt mỏi của họ. Trong đời sống xã hội ở Paris lúc bấy giờ, những phụ nữ đứng đắn, lịch thiệp, không bao giờ khoe ra bờ vai và đôi chân, vì vậy, họa sĩ muốn khắc họa phụ nữ chỉ có thể tìm đến hoặc kỹ nữ hoặc vũ công.

Dù luôn có những phát ngôn lạnh lùng về phụ nữ, nhưng Degas lại rất thấu hiểu và phần nào cảm thông với đời sống của những nữ vũ công.

“Mỗi bức tranh luôn đòi hỏi phải có chút bí ẩn, chút mơ hồ, chút tưởng tượng. Nếu bạn luôn đặc tả mọi ý tứ một cách đơn giản đến hoàn hảo, cuối cùng bạn sẽ khiến người ta phát ngấy” - Edgar Degas từng nói như vậy. Những suy nghĩ và cảm xúc của ông đằng sau các bức tranh khắc họa vũ công ba-lê vẫn luôn khiến giới phê bình cảm nhận thấy có một lớp màn bí ẩn.

Cả cuộc đời, Degas không bao giờ kết hôn, chỉ luôn mê mải khắc họa nhân vật đặt trong những bối cảnh không gian đóng kín. Những gì đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm trí Degas không bao giờ thay đổi. Suốt cả cuộc đời ông sống với những quan niệm, ám ảnh và đam mê quen thuộc, đó là lý do tại sao ông có thể vẽ cả nghìn bức tranh về các nữ diễn viên múa mà không… chán.

Những điều này khiến ông trở thành một nhân vật bí ẩn trong giới hội họa, có lẽ, giống như nhận định rằng “mỗi bức tranh luôn đòi hỏi phải có chút bí ẩn, chút mơ hồ, chút tưởng tượng…”, ông cũng chủ ý biến mình trở thành một danh họa “bí ẩn, mơ hồ”, khó giải mã.

Bích Ngọc
Theo Huffington Post







Bức tranh có giá 10.234 tỷ đồng gây chấn động giới nghệ thuật

Thông tin đã vừa được hé lộ về nhân vật ẩn danh đứng sau thương vụ mua bán tranh đắt nhất thế giới. Bức “Salvator Mundi”, do danh họa người Ý Leonardo Da Vinci thực hiện, vừa được bán ra hồi tháng trước với giá 450,3 triệu USD (tương đương 10.234 tỷ đồng).

Người mua bức tranh là một hoàng tử đến từ Ả Rập Saudi. Hiện bức tranh đang chuẩn bị được treo tại bảo tàng nghệ thuật Louvre Abu Dhabi. Đây là một sự kiện gây chấn động giới nghệ thuật bởi mức giá “không tưởng” được trả cho bức tranh. Giờ đây, tác phẩm sẽ được trưng bày trong một bảo tàng đầy tham vọng, vừa mở cửa hồi đầu tháng 11 vừa qua.

Bức tranh có giá 10.234 tỷ đồng gây chấn động giới nghệ thuật  - ảnh 1 Bức “Salvator Mundi”, do danh họa người Ý Leonardo Da Vinci thực hiện, vừa được bán ra hồi tháng trước với giá 450,3 triệu USD (tương đương 10.234 tỷ đồng).
Người mua tranh (trên giấy tờ) là hoàng tử Bader bin Abdullah bin Mohammed bin Farhan al-Saud. Sự kiện đấu giá tranh diễn ra hồi tháng trước tại thành phố New York (Mỹ) đã gây nên cú sốc cho giới sưu tầm hội họa quốc tế, bởi bức “Salvator Mundi” đã đạt mức giá nằm ngoài mọi sự kỳ vọng và trở thành bức tranh đắt nhất thế giới từng được bán ra.

Tin tức này đã vừa được tờ New York Times đăng tải mới đây. Theo đó, điều kỳ lạ là hoàng tử Bader vốn không phải một nhà sưu tầm hội họa từng được biết tới trước đây.

Ngay sau thông tin mà New York Times đưa ra, tờ tạp chí tài chính danh tiếng Wall Street Journal (Mỹ) cũng thông tin thêm về thương vụ mua bán siêu phẩm hội họa “kinh điển” này. Theo đó, người thực chất chi tiền cho vụ mua tranh chính là Thái tử Ả Rập Saudi - Mohammed bin Salman. Còn hoàng tử Bader chỉ là người đại diện trung gian trong thương vụ.

Bức tranh có giá 10.234 tỷ đồng gây chấn động giới nghệ thuật  - ảnh 2 Bức “Salvator Mundi” là một trong chưa đầy 20 bức tranh của danh họa Leonardo Da Vinci còn tồn tại cho tới nay. Tại thời điểm được đem ra đấu giá, đây cũng đồng thời là bức họa cuối cùng của Da Vinci còn có thể mua trên thị trường do các bức khác đều đã nằm trong bộ sưu tập của các bảo tàng lớn, vốn thường không rao bán tác phẩm quý.
Bức tranh có giá 10.234 tỷ đồng gây chấn động giới nghệ thuật  - ảnh 3 Hoàng tử Bader (trái) trong một bức ảnh chụp với cựu thị trưởng thành phố New York (Mỹ) - tỷ phú Michael Bloomberg (phải).
Bức tranh có giá 10.234 tỷ đồng gây chấn động giới nghệ thuật  - ảnh 4 Thái tử Ả Rập Saudi - Mohammed bin Salman - mới thực sự là người đứng sau thương vụ mua bán tranh đắt nhất lịch sử.
Trong tuần này, phía bảo tàng Louvre Abu Dhabi (nằm ở thủ đô của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất) cũng đã lên tiếng xác nhận việc tác phẩm hội họa “Salvator Mundi” sẽ được trưng bày tại đây. Louvre Abu Dhabi là bảo tàng đầu tiên trên thế giới mang tên “Louvre” nằm bên ngoài lãnh thổ Pháp. Viện bảo tàng này được mở ra với những tham vọng rất lớn.

Nơi đây được kỳ vọng sẽ trở thành “bảo tàng quốc tế đầu tiên nằm tại các nước Ả Rập”. Trước thông tin mà bảo tàng Louvre Abu Dhabi đưa ra, phía nhà đấu giá Christie’s - đơn vị thực hiện cuộc đấu giá tranh hồi tháng trước - đã gửi lời chúc mừng.

Được vẽ bằng chất liệu sơn dầu trên ván gỗ với kích thước 45,4 cm × 65,6 cm, bức “Salvator Mundi” (Người cứu rỗi thế giới) là một hình dung về Chúa, cho thấy ngài đang hướng ánh mắt dịu hiền nhìn vào người xem tranh, tay phải của ngài như đang ban phước, tay trái nâng một quả cầu pha lê trong suốt.

Mức giá mà bức “Salvator Mundi” đạt được cao gấp đôi kỷ lục từng được xác lập trước đó bởi bức “Những người phụ nữ Algiers (Phiên bản O)” của danh họa người Tây Ban Nha Pablo Picasso - giá 179,4 triệu USD, được bán ra hồi năm 2015, cũng tại New York.

Viện bảo tàng nghệ thuật Louvre Abu Dhabi đã chính thức mở cửa vào ngày 8/11 vừa qua, dự lễ khánh thành có sự hiện diện của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron. Ông đã gọi viện bảo tàng này là “cây cầu nối giữa những nền văn minh”. Đây là một trong ba viện bảo tàng sẽ được đưa vào hoạt động và cùng nằm trên đảo Saadiyat của Abu Dhabi.

Bức tranh có giá 10.234 tỷ đồng gây chấn động giới nghệ thuật  - ảnh 5
Bức “Salvator Mundi” sắp được trưng bày tại bảo tàng Louvre Abu Dhabi. Đây là bảo tàng đầu tiên trên thế giới có tên Louvre nằm ngoài lãnh thổ Pháp.

Bảo tàng Louvre Abu Dhabi được mở ra với khoảng 600 tác phẩm nghệ thuật và hiện vật trưng bày. Trong một thỏa hiệp hợp tác kéo dài 30 năm, phía Pháp sẽ giúp tư vấn, cho mượn các tác phẩm nghệ thuật, hỗ trợ tổ chức triển lãm tại bảo tàng Louvre Abu Dhabi, đáp lại sẽ là khoản tiền “đền đáp” trị giá một tỷ euro.

Nằm trong những tác phẩm nghệ thuật đầu tiên mà phía bảo tàng Louvre (Paris, Pháp) cho bảo tàng Louvre (Abu Dhabi) mượn, có bức “La Belle Ferronniere” cũng được thực hiện hiện bởi danh họa Leonardo Da Vinci.

Bức “Salvator Mundi” (Người cứu rỗi thế giới) ở thời điểm bị quên lãng nguồn gốc đích thực, từng được bán ra với giá chỉ 45 bảng Anh (gần 1,4 triệu đồng) hồi năm 1958. Khi đó, người ta tưởng rằng bức tranh chỉ là một bản copy được thực hiện bởi học trò của Da Vinci.

Hành trình lưu lạc của bức tranh rơi vào cảnh chìm nổi cho mãi tới năm 2011, một đội ngũ chuyên gia hội họa mới trả lại danh tính xác thực cho tác phẩm. Ở thời điểm bức tranh được rao bán đấu giá mới đây, chủ nhân của tác phẩm là tỷ phú người Nga Dmitry Rybolovlev.

Ông Rybolovlev đã mua lại bức tranh này hồi năm 2013 với giá 127,5 triệu USD khi tác giả của họa phẩm đã được khẳng định là Da Vinci.

Theo Dân trí




15 bức tranh 'Truyện Kiều' bán hơn 360 triệu, bức Thúy Kiều ‘nuy' bán 9,9 triệu

Thứ Tư, 13/12/2017 11:30 GMT+7
 Như đã đưa tin, từ 2- 12/12, tại Đông A Gallery (115 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) đã diễn ra triển lãm và bán đấu giá online hai bộ tranh minh họa mới cho hai tác phẩm kinh điển của nền văn học nước nhà: Truyện Kiều - Nguyễn Du và Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu.

Đây là lần đầu tiên Đông A tổ chức đấu giá các tác phẩm đang triển lãm tại phòng tranh trên fanpage Đông A Gallery. Các minh họa Truyện Kiều Lục Vân Tiên đã nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các nhà sưu tập, những người yêu thích nghệ thuật. Mỗi ngày, các lượt bỏ giá mới đều tăng. Riêng đêm “chung kết đấu giá” 12/12 đã ghi nhận lượt tương tác tăng mạnh với rất nhiều lượt bỏ giá mới.
Với mức giá khởi điểm chung là 0 đồng, kết thúc phiên đấu giá, tất cả các bức minh họa Truyện Kiều đã được chốt giá từ mức 7,2 triệu cho đến 65 triệu, trong đó, bức tranh có mức giá cao nhất là Đoàn viên của họa sĩ Thành Chương (65 triệu).
Bức Đoàn viên của họa sĩ Thành Chương chốt giá 65 triệu đồng
Bức Đoàn viên của họa sĩ Thành Chương chốt giá 65 triệu đồng
Tiếp đến là bức Thúy Kiều và Thúc Sinh của họa sĩ Đinh Quân (45 triệu), bức Kiều ở thảo am, tu cùng sư Giác Duyên sau khi được cứu của họa sĩ Hồng Việt Dũng (41,7 triệu), bức Mã Giám sinh đưa Kiều về Lâm Truy của họa sĩ Đặng Xuân Hòa (30,2 triệu).
Bức Thúy Kiều và Thúc Sinh của họa sĩ Đinh Quân chốt giá 45 triệu
Bức Thúy Kiều và Thúc Sinh của họa sĩ Đinh Quân chốt giá 45 triệu
Hai minh họa Kiều mắc lừa Bạc Bà, Bạc Hạnh của họa sĩ Phạm An Hải và Hồ Tôn Hiến họa sĩ Lê Quảng Hà cùng chốt ở mức giá 30 triệu. Ngoài ra, bức Kiều nhảy sông tự vẫn sau khi hầu đàn Hồ Tôn Hiến của họa sĩ Nguyễn Quân với hình ảnh Thúy Kiều “nuy” đạt giá 9,9 triệu đồng.
 
Bức Kiều nhảy sông tự vẫn sau khi hầu đàn Hồ Tôn Hiến của họa sĩ Nguyễn Quân đạt giá 9,9 triệu đồng.
Bộ tranh minh họa Lục Vân Tiên của họa sĩ Nguyễn Công Hoan đã đấu giá thành công với mức 48 triệu. Như vậy, phiên đấu giá đã kết thúc với tổng 410,4 triệu đồng. Riêng 15 bức tranh vẽ minh họa Truyện kiều bán được 362,4 triệu đồng.
Nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Hoài Nam đã lập cú đúp khi trả hai mức giá cao nhất cho minh họa lẻ của cuốn Truyện Kiều – bức Đoàn viên của họa sĩ Thành Chương và bộ tranh minh họa Lục Vân Tiên của họa sĩ Nguyễn Công Hoan. Như vậy, phần qùa đặc biệt từ Đông A là hai cặp vé khứ hồi từ Hà Nội hoặc TP. HCM đi Singapore và vé tham dự Art Stage Singapore vào tháng 1/2018 đều thuộc về nhà sưu tập này.
Ngoài ra, để tri ân những người quan tâm tới phiên đấu giá, Đông A gửi người tham gia bỏ giá tối thiểu một lần quà tặng là cuốn Truyện Kiều hoặc Lục Vân Tiên.
Hoài An



Chiêm ngưỡng 15 bức tranh vẽ 'Truyện Kiều', có cả Thúy Kiều 'nuy'

Thứ Bảy, 02/12/2017 19:10 GMT+7
Như đã đưa tin, sáng nay (2/12) tại Đông A Gallery (115 Nguyễn Thái Học, Hà Nội) đã diễn ra lễ khai mạc, tọa đàm và triển lãm 2 bộ tranh minh họa mới cho hai tác phẩm kinh điển của nền văn học nước nhà: Truyện Kiều - Nguyễn Du và Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu.

Họa sĩ Thành Chương và nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng đã có những chia sẻ xung quanh việc thực hiện minh họa cho cuốn Truyện Kiều 2017. Nhiều bạn đọc cũng bày tỏ sự ủng hộ với việc làm mới Truyện Kiều dưới góc nhìn của những họa sĩ đương thời.
Đồng thời, cũng trong sáng nay, BTC đã công bố việc đấu giá 15 tranh minh họa Truyện Kiều và bộ tranh 19 bức minh họa Lục Vân Tiên.
Họa sĩ Thành Chương và nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng chia sẻ quá trình vẽ minh họa Truyện Kiều
Từ trái sang: Họa sĩ Vũ Lâm, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng và họa sĩ Thành Chương về minh họa Truyện Kiều
Ngay sau công bố, bộ tranh minh họa Lục Vân Tiên đã được ông Nguyễn Xuân Diễn đề mức giá 30 triệu. Các minh họa Truyện Kiều cũng đã được các nhà sưu tập, người yêu thích nghệ thuật đưa ra những mức giá đầu tiên.
Cùng chiêm ngưỡng 15 bức tranh Kiều của các họa sĩ đương đại Việt:
Chị em Thúy Kiều của Đặng Tiến
"Chị em Thúy Kiều" của Đặng Tiến
Đêm thề nguyền của Kim-Kiều của Đỗ Dũng
"Đêm thề nguyền của Kim-Kiều" - tranh Đỗ Dũng
Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Truy của  Đặng Xuân Hòa
"Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Truy" của Đặng Xuân Hòa
Kiều ở lầu Ngưng Bích của Trần Văn Thảo
"Kiều ở lầu Ngưng Bích" của Trần Văn Thảo
Thúy Kiều và Thúc sinh của Đinh Quân
"Thúy Kiều và Thúc Sinh" của Đinh Quân
Kiều hầu rượu cho Thúc sinh và Hoạn thư của Phan Cẩm Thượng
"Kiều hầu rượu cho Thúc Sinh và Hoạn Thư" của Phan Cẩm Thượng
Kiều ở Quan Âm các của  Hà Trí Hiếu
"Kiều ở Quan Âm Các" của Hà Trí Hiếu
Kiều mắc lừa Bạc bà, Bạc Hạnh của Phạm An Hải
"Kiều mắc lừa Bạc Bà, Bạc Hạnh" của Phạm An Hải
Thúy Kiều và Từ Hải của Đỗ Hoàng Tường
"Thúy Kiều và Từ Hải" của Đỗ Hoàng Tường
Kiều báo ân báo oán của Phạm Quang Vinh
"Kiều báo ân báo oán" của Phạm Quang Vinh
Hồ Tôn Hiến của  Lê Quảng Hà
"Hồ Tôn Hiến" của Lê Quảng Hà
"Kiều nhảy sông tự vẫn sau khi hầu đàn Hồ Tôn Hiến" của Nguyễn Quân. Bức tranh gây chú ý khi vẽ Kiều trong tình trạng "nuy"
 
"Kiều ở thảo am, tu cùng sư Giác Duyên sau khi được cứu" của Hồng Việt Dũng
Kim Trọng trên đường tìm Kiều của  Phạm Bình Chương
"Kim Trọng trên đường tìm Kiều" của  Phạm Bình Chương
Đoàn viên của Thành Chương
"Đoàn viên" của Thành Chương
Theo BTC, kết quả của cuộc đấu giá (bao gồm đấu giá trực tiếp, đấu giá online trên fanpage Đông A Gallery, đấu giá điện thoại) sẽ được công bố vào lúc 9h ngày 13/12/ 2017.
Đặc biệt, người thắng đấu giá với mức giá cao nhất cho một bức tranh bất kỳ trong 15 tác phẩm của Truyện Kiều và người thắng đấu giá bộ tranh Lục Vân Tiên sẽ nhận được 1 cặp vé máy bay khứ hồi từ Hà Nội hoặc TP. HCM đi Singapore và vé tham dự Art Stage Singapore vào tháng 1/2018.
Hoài An



Đấu giá tranh nhìn từ Việt Nam (kỳ 2): Nhà sưu tập trong nước bán tranh cho các nhà đấu giá quốc tế

Thứ Năm, 21/12/2017 20:00 GMT+7

 Sau năm 1975, tranh Việt tại các nhà đấu giá quốc tế thường đến từ 3 nguồn chính: Các phòng tranh, nhà sưu tập, môi giới trong nước cung cấp; các nhà ngoại giao, doanh nhân, nhà sưu tập từng làm việc tại Việt Nam; các họa sĩ Việt, nhà sưu tập định cư ở nước ngoài.
Nguồn cung cấp đầu tiên luôn giữ vai trò chính yếu về số lượng, kéo dài đến tận ngày nay.
Nhà cung cấp: không đếm xuể
Từ 1954 đến 1975 tại miền Bắc, tranh Việt ra nước ngoài chủ yếu bằng con đường ngoại giao, là quà tặng, hoặc các nhà ngoại giao quốc tế sưu tập. Giai đoạn này tại miền Nam đã có các hoạt động của thị trường, mà điểm nhấn là Đệ nhất triển lãm hội họa - điêu khắc SàiGòn, khai mạc ngày 26/10/1962 tại vườn Tao Đàn, ngoài nghệ sĩ trong nước, còn có nghệ sĩ từ 20 nước đến tham dự như một hội chợ.
Chú thích ảnh
Bộ tranh sơn mài "Sát Thát" (220 cm x 75cm x 4) của Nguyễn Gia Trí thì Tự Do từ chối bán cho khách nước ngoài. Hiện nay "Sát Thát" đã thuộc một nữ sưu tập tại TP.HCM
Mỹ thuật Việt Nam có hơn một thập niên ngủ yên, sau khi hòa bình lập lại (1975-1985), các họa sĩ vẫn làm việc chầm chậm. Từ sau cột mốc Đổi mới (1986), khi các họa sĩ tự chuyển mình, cùng với đó là sự xuất hiện của du khách, thương nhân nước ngoài và Việt kiều, tranh Việt bắt đầu ra nước ngoài. Những người này trở thành nhịp cầu của tranh Việt ra thế giới. Trong khoảng 10 năm (1985-1995), nhà sưu tập Hà Thúc Cần đã “xuất” 500 - 600, có người nói cả ngàn tác phẩm ra nước ngoài.
Tự Do khai trương ngày 22/6/1989, trở thành phòng tranh tư nhân đầu tiên tại Việt Nam sau 1975. Cho tới ngày đóng cửa, trong gần 28 năm hoạt động, phòng tranh đã tổ chức 197 cuộc triển trong nước và 17 cuộc triển lãm ở các nước như Thụy Điển, Hong Kong (Trung Quốc), Australia, Bỉ, Mỹ, Singapore… Ngoài tham gia gởi tác phẩm đi đấu giá, phòng tranh này cũng đã giới thiệu hơn 5.000 lượt tác phẩm qua các cuộc trưng bày, mà phần lớn nhà sưu tập là người nước ngoài.
Giai đoạn 1991-1998, khi XUNHASABA chuyển đổi ngành theo hướng đa dạng hóa, họ cũng đã tham gia một phần vào thị trường tranh, làm nhà trung chuyển nhiều tranh ra quốc tế, đến các nhà đấu giá.
Công ty Sơn mài Lam Sơn (1992-1999) cũng là một nhà cung cấp đáng kể, không chỉ tranh sơn mài, mà còn nhiều tranh thuộc thể loại và chất liệu khác như sơn mài, lụa.
Sau khi Mỹ xóa bỏ cấm vận kinh tế Việt Nam (1994), giai đoạn 1995-2005 là cực kỳ sôi động, Việt Nam có hàng trăm phòng tranh ra đời, mà khách hàng chủ yếu là người nước ngoài, và một phần là các nhà đấu giá, các hội chợ quốc tế. Có thể đơn cử vài cái tên như Lã Vọng, Vĩnh Lợi, Hồng Hạc, Lotus, Hiền Minh, Mai’s, Không Gian Xanh… Trong đó, nổi lên những nhà cung cấp cỡ bự, hoặc bền bĩ như Tự Do, Apricot, Hà Nội Studio, Đức Minh, Trần Hậu Tuấn…
Từ 2005 đến nay, ngoài những tên tuổi cũ còn tồn tại, trong những tên tuổi mới nổi, đã xuất hiện thêm những nhân tố từ bên ngoài có “chân rết” tại Việt Nam như Primo Marella (Italy), ArtBlue Studio (Singapore), Thavibu, 333Gallery (Thái Lan), Dumontail (Mỹ, Pháp, Trung Quốc)… Đây là chưa tính, gần đây đã có những nhà sưu tập cá nhân bắt đầu gởi tranh đến các nhà đấu giá quốc tế.
Chú thích ảnh
Trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 11/2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã đến xem tranh tại Apricot
Manh nha thị trường thứ cấp
Nếu nhìn lại 30 năm của thị trường mỹ thuật nội địa (1986 - 2016), chức năng của một thị trường sơ cấp đã hoạt động khá liên tục, xôm tụ, trong khi thị trường thứ cấp thì đã manh nha, nhưng hoạt động trồi sụt.
Đặc trưng dễ nhận thấy của thị trường sơ cấp là mua bán bước một, nghĩa là mua có thể tận gốc, nhưng bán thì không cần tận ngọn. Các nhà cung cấp bước một này có đặc điểm chung là hoạt động giống như một “đại lý ủy nhiệm”, chỉ mua và bán thuần túy, chứ ít khi mua lại, hoặc ít khi tham gia sâu vào các móc xích khác của thị trường như định giá, nâng giá, đấu giá, bảo tàng, bộ sưu tập, bảo hiểm… Điều này cũng ảnh hưởng đến tâm lý và cách hành xử chung của nhiều nhà sưu tập tư nhân, họ cũng thường làm tương tự.
Nhưng tình hình đang chuyển biến, 2-3 năm gần đây, Việt Nam đã xuất hiện các cá nhân và tổ chức muốn định hình thị trường thứ cấp. Thị trường thứ cấp (secondary market) khác thị trường sơ cấp (primary market) ở một điểm quan trọng là hướng đến việc mua bán lại những bức tranh mà thị trường sơ cấp đã bán ra. Thị trường thứ cấp có hai chức năng đặc biệt: Tham gia vào việc tạo ra tính thanh khoản cao cho bức tranh;Tạo ra các phương thức giao dịch chuyên nghiệp, dễ dàng… cho các thanh khoản đó.
Các nhà đấu giá như Lạc Việt, Lý Thị, Chọn, rồi các phiên đấu giá, các hợp đồng mua bán nghệ thuật, các tổ chức tài chính, bảo hiểm… vào cuộc, đang nỗ lực tạo ra thị trường thứ cấp, làm cho vị thế của các nhà cung cấp tranh trong nước thay đổi.
Văn Bảy


Đấu giá tranh nhìn từ Việt Nam: Những nhà sưu tập Việt 'lên sàn' quốc tế (Kỳ 1)

Thứ Tư, 20/12/2017 07:27 GMT+7
Cách đây chừng 3-4 năm thôi, nếu nói đến một nhà đấu giá tranh tại Việt Nam, do người Việt sáng lập và điều hành, thì có thể bị cho là viển vông, mơ mộng. Nhưng hiện nay cả nước đã có 3-4 nhà đấu giá tranh hoạt động thường xuyên, song hành đó là hàng chục phiên đấu giá trên mạng, phiên đấu giá từ thiện. Tất cả đang làm cho thị trường tranh nội địa thêm sôi động, thu hút sự quan tâm của nhiều giới… Thử cùng Thể thao & Văn hóa (TTXVN) nhìn vài nét sơ lược về những hoạt động liên quan trực tiếp, hoặc gián tiếp đến đấu giá tranh Việt kể từ những năm 1925 cho đến nay.
Theo thời gian, ngày càng có nhiều nhà sưu tập nội địa ra nước ngoài đấu giá, đây là một thực tế mới tại Việt Nam hiện nay. Trong 5 thế hệ sưu tập tại Việt Nam, thế hệ nào cũng có người ra nước ngoài đấu giá, nhưng thế hệ thứ 5 thì có nhiều người đi hơn.
Một miếng giữa làng…
Có thể dùng câu thành ngữ “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” để chỉ lý do chính của việc ra nước ngoài đấu giá tranh. Việc mua bán chuyền tay, giao dịch ngầm vẫn xảy ra, và sẽ còn tồn tại lâu dài, nhưng nhiều nhà sưu tập lại muốn sự công khai, minh bạch.
Chú thích ảnh
Tác phẩm “Mẹ và con ở trong vườn” của Lê Phổ do Trần Tuấn Linh đấu trực tiếp tại nhà Sotheby’s Hong Kong
Ngày 1/10/2017, nhà sưu tập Trần Tuấn Linh (Hà Nội) đấu giá thành công bức tranh Mẹ và con ở trong vườn của Lê Phổ tại nhà Sotheby’s Hong Kong. Với tổng chi phí cho tác phẩm lên đến 35.211 USD, chưa tính chi phí cho ăn ở, đi lại, thuế hải quan, nhưng Trần Tuấn Linh khá hài lòng. “Tôi cần sự minh bạch và bảo đảm nhất có thể nên muốn chọn các phiên đấu giá uy tín để đầu tư” - Trần Tuấn Linh nói. Cũng tại phiên này, gần 10 bức tranh khác đã thuộc sở hữu mới của người Việt.
Một lý do chính yếu nữa. Trong khoảng 30 năm (1986 - 2016), phần lớn tranh đẹp của mỹ thuật Việt Nam đã được bán ra nước ngoài, các nhà sưu tập thời nay muốn tái sở hữu thì phải chấp nhận đi mua cầm về. Các thế hệ sưu tập tại Việt Nam, từ thế hệ đầu như Đức Minh, Nguyễn Xuân Oánh… đều nhiều lần ra nước ngoài để tìm mua. Nhà sưu tập Nguyễn Minh (Hà Nội) thuộc thế hệ thứ 5, là một ví dụ điển hình. Trong hơn 200 tranh mà anh sở hữu được, có lẽ hơn một nửa anh đấu giá tại nước ngoài, trực tiếp hoặc trực tuyến.
Các phiên đấu của 15 nhà đấu giá có mỹ thuật Việt trải rộng khắp 5 châu, nhưng phổ biến nhất vẫn là ở Pháp, Hong Kong (Trung Quốc), Singapore, Mỹ, Anh… Hoàn toàn có thể khẳng định các nhà sưu tập nội địa đã từng bén gót đến những nơi này để mua tranh.
Chú thích ảnh
Tác phẩm “Nơi hò hẹn” của Vũ Cao Đàm mà Nguyễn Minh đã đấu trực tuyến tại trang shapiroauctions.com
Chiều 23/10/2017, giờ Paris, tại nhà đấu giá Aguttes, một nhà sưu tập đến từ phố Bà Triệu, Hà Nội (muốn giấu tên) đã đấu thành công bức tranh Hai thiếu nữ ngồi thêu của Vũ Cao Đàm với mức giá 226.950 euro (hơn 6 tỷ đồng), trong khi giá ước định từ 35.000 đến 40.000 euro.
Đi nước ngoài đấu giá đang trở thành xu hướng, vài phiên tại Singapore, Hong Kong, Paris… đã có cả chục nhà sưu tập tranh đến từ Việt Nam cùng tham gia đấu.
Ngồi nhà vẫn “đi đấu” quốc tế
Khoảng 5 năm trở lại đây, mạng Internet đã hỗ trợ đắc lực cho các nhà sưu tập tranh, giúp họ tiết kiệm đáng kể về thời gian và tiền bạc. Nhà sưu tập Nguyễn Minh cho biết anh đã đấu giá thành công nhiều tác phẩm quý giá qua mạng. Ví dụ tác phẩm Nơi hò hẹn của Vũ Cao Đàm anh đã mua 17.500 USD (chưa tính phí, thuế và hải quan) trên mạng shapiroauctions.com đặt tại Mỹ.
Chú thích ảnh
Trang đấu giá trực tuyến invaluable.com luôn sẵn sàng nhiều tác phẩm của Lê Phổ
Trong 50 nhà đấu giá nghệ thuật danh tiếng và uy tín nhất thế giới, hơn 40 nhà đã thực hiện thêm các phiên đấu giá trực tuyến. Bên cạnh đó, đã xuất hiện những chuyên trang đấu giá nghệ thuật có bán mỹ thuật Việt như artprice.com, artsy.net, invaluable.com, liveauctioneers.com, artspace.com, onlineauction.com… Đây là chưa kể những trang bán hàng trực tuyến như Amazon, eBay, eBid, Bonanza, Webstore.com, Atomic Mall, eCRATER… thỉnh thoảng cũng có bán tranh Việt.
Ngoài sự tiết kiệm, ưu điểm lớn nhất của đấu giá trực tuyến là khả năng chia sẻ hình ảnh tác phẩm, kiểm tra chéo chất lượng sản phẩm. Những người hạn chế về ngoại ngữ, giao tiếp, hoặc ngại xuất hiện trước đám đông thì đấu giá trực tuyến càng thuận tiện. Một số quan chức và doanh nhân Việt Nam đang chọn cách thức này để được yên tâm.
Nhà sưu tập Phùng T.H. (xin viết tắt tên) cho biết chị đấu giá bằng tiền riêng, nhưng việc xuất hiện công khai cũng ngại, nó có thể ảnh hưởng xấu đến uy tín của cha mình, một quan chức đương nhiệm. “Việc chuyển tiền và nhận hàng qua đấu giá trực tuyến cũng khá dễ dàng, an toàn, nên tôi ưu tiên chọn nó. Hơn nữa, khi cần hỏi thông tin, chất lượng một tranh nào trước khi đấu, tôi có nhiều thời gian và nhiều chuyên gia hơn các phiên đấu trực tiếp” - chị H. nói.
5 thế hệ nhà sưu tập tranh Việt
Thế hệ thứ nhất (chủ yếu hoạt động trước thập niên 1990) có cả chục người nổi trội, ví dụ Đức Minh, Nguyễn Xuân Oánh, Tô Ninh, Nguyễn Văn Lâm, Trần Thịnh, Nguyễn Bá Đạm, Nguyễn Viết Châu… Thế hệ thứ hai (từ đầu thập niên 1990) có Hà Thúc Cần, Danh Anh, Đặng Hải Sơn, Trần Hậu Tuấn, Bùi Quốc Chí, Nguyễn Đăng Quang, … Thế hệ thứ ba (từ cuối thập niên 1990) có Quỳnh Nga, Đỗ Huy Bắc, Hàn Tấn Quang, Trần Tử Văn, Ngô Phương Quỳnh, Lê Thiệp, Phạm Phú Ngọc Trai… Thế hệ thứ 4 (từ đầu thập niên 2000) có Lê Thái Sơn, Đặng Lê Nguyên Vũ, Lan Hương, Đinh Hoa, Đỗ Thị Tuyết Mai… Thế hệ thứ 5 (từ khoảng 2010 trở lại đây) có Nguyễn Minh, Mai Thanh, Phan Minh Thông, Nguyễn Thanh Phượng… Từ khoảng 1945 cho đến nay, Việt Nam có hơn 100 nhà sưu tập mà “vua biết mặt, chúa biết tên”.



Hội khóa của cựu sinh viên đại học Mỹ thuật có gì đặc biệt?

Tại nhà triển lãm 45 Tràng Tiền đang diễn ra triển lãm mang tên “Khởi động” trưng bày các tác phẩm nghệ thuật của cựu sinh viên khóa 31(1987 – 1992) Đại học Mỹ thuật Việt Nam kỷ niệm 25 năm ngày ra trường.

Tác phẩm December 1. Chất liệu Sơn dầu (100x100cm) của họa sĩ Vũ Thăng.
Tác phẩm December 1. Chất liệu Sơn dầu (100x100cm) của họa sĩ Vũ Thăng.
Triển lãm trưng bày 36 tác phẩm sơn mài, sơn dầu và đồ họa của 12 tác giả, lớp họa sĩ sinh ra khi đất nước còn chiến tranh, trưởng thành trong hòa bình, có cái nhìn sâu sắc, phong phú về cuộc sống.
Theo họa sĩ Nguyễn Bằng Lâm, Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, các họa sĩ tham gia triển lãm đã sáng tạo muôn hình muôn vẻ, biểu hiện sự sâu sắc về vốn sống, sự chín chắn về bút pháp và sự ngọt ngào về màu sắc. Kỹ thuật điêu luyện trong nhịp điệu bố cục – trong tranh tràn ngập những tình cảm mạnh mẽ mà từng họa sĩ khám phá sáng tạo, mặc cho vẽ theo phong cách nào: Hiện thực, biểu hiện hay trừu tượng.
Đây là phòng tranh đẹp của các họa sĩ khóa 31 của đại học Mỹ thuật Việt Nam dành tặng công chúng yêu nghệ thuật Thủ đô.
Triển lãm kéo dài từ ngày 13/12 đến ngày 16/12/2017.
Một số tác phẩm đặc sắc trong triển lãm.
Hội khóa của cựu sinh viên đại học Mỹ thuật có gì đặc biệt? - ảnh 1  Đón trăng - 2008, sơn mài (109x104 cm) - Phạm Tuấn Kiền
Hội khóa của cựu sinh viên đại học Mỹ thuật có gì đặc biệt? - ảnh 2 Luân hồi. Sơn dầu (150x150 cm) - Phạm Hồng Sơn
Hội khóa của cựu sinh viên đại học Mỹ thuật có gì đặc biệt? - ảnh 3 Bắt cá. Màu in trên bìa (54x79 cm) - Nguyễn Thị Vy
Hội khóa của cựu sinh viên đại học Mỹ thuật có gì đặc biệt? - ảnh 4 Gà chọi. Sơn mài (100x120cm) - Nguyễn Đình Thường
Hội khóa của cựu sinh viên đại học Mỹ thuật có gì đặc biệt? - ảnh 5 December 2. Sơn dầu (100x100 cm) - Vũ Thăng
Hội khóa của cựu sinh viên đại học Mỹ thuật có gì đặc biệt? - ảnh 6 Bình minh trên biển quê Thanh. Sơn mài (150x150) - Nguyễn Hoàng Linh
Hội khóa của cựu sinh viên đại học Mỹ thuật có gì đặc biệt? - ảnh 7 Cầu. Sơn mài (100x240cm) - Nguyễn Đình Thường
Hội khóa của cựu sinh viên đại học Mỹ thuật có gì đặc biệt? - ảnh 8 Sen. Sơn dầu(120x90cm) - Lê Tuyết Thu

 

Đấu giá tranh Vũ Cao Đàm và các họa sĩ đương đại thu 5 tỷ đồng phẫu thuật trẻ sứt môi


Đấu giá tranh Vũ Cao Đàm và các họa sĩ đương đại thu 5 tỷ đồng phẫu thuật trẻ sứt môi

Thứ Bảy, 04/11/2017 08:45 GMT+7
Đây không phải là cách nói chơi, mà là ý nghĩa thực sự từ phiên đấu giá Together For Operation Smile do Live To Love Vietnam tổ chức tối qua (3/11) tại Gem Center, TP.HCM. Kết quả thật mỹ mãn, với 100% tác phẩm, vật phẩm, tặng phẩm được bán thành công, thu về gần 185 ngàn USD và 586 triệu đồng.
Ngay sáng 4/11 này, sẽ có hàng trăm trẻ em sứt môi, hở hàm ếch… được phẫu thuật miễn phí tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. Qua phiên đấu, danh họa Vũ Cao Đàm và các họa sĩ đương thời của Việt Nam đã góp một phần đáng kể vào chương trình thiện nguyện do tổ chức phi chính phủ Operation Smile phối hợp thực hiện.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Hoa đào" của Liêu Nguyễn Hướng Dương đủ sức mổ 55 trẻ em sứt môi
Chỉ với hơn 300 USD (khoảng 7 triệu đồng), một trẻ em sứt môi có thể tìm lại được nụ cười, tương lai và cả cuộc đời của mình. Với giá khởi điểm 2.000 USD, tác phẩm Hoa đào (acrylic trên bố, 110cm x 160cm, 2017) của Liêu Nguyễn Hướng Dương đã bán được 19 ngàn USD. Với 17 ngàn USD dôi ra này, sẽ có khoảng 55 trẻ em sứt môi được phẫu thuật.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Thiếu nữ ngày Xuân" (màu nước trên giấy dó, 57cm x 106cm, 2015) của Bùi Tiến Tuấn
Riêng mảng hội họa, kết quả như sau: Thiếu nữ ngày Xuân của Bùi Tiến Tuấn bán 3.500 USD, khởi điểm 1.800 USD. Bộ ba tác phẩm Phong cảnh trung du của Hồ Hồng Lĩnh bán 20.000 USD, khởi điểm 4.000 USD. Bức Mùa Thu vàng của Nguyễn Văn Đức bán 15.000 USD, khởi điểm 1.800 USD. Bức Bình yên của Bình Nhi bán 10.000 USD, khởi điểm 1.000 USD.
Chú thích ảnh
Tiêu điểm của phiên đấu, tác phẩm "Nơi hẹn hò" của Vũ Cao Đàm
Tiêu điểm của phiên đấu này là tác phẩm Nơi hẹn hò (sơn dầu trên toan, 61cm x 73,5cm, 1969) của Vũ Cao Đàm (1908 - 2000), với khởi điểm: 42.000 USD, kết quả bán 55.000 USD.
Đây là tác phẩm đã qua tay vài nhà sưu tập và vài phiên đấu giá quốc tế, nhiều người tỏ ra tiếc vì tác phẩm đã không đạt mức giá cao hơn. Bởi hiện nay tranh của Vũ Cao Đàm đang tăng giá trên thị trường quốc tế, nhiều tác phẩm đã có giá bán hơn 150.000 USD.
Chú thích ảnh
Bộ ba tác phẩm "Phong cảnh trung du" (sơn dầu trên bố, 80cm x 80cm x 3 bức, 2013) của Hồ Hồng Lĩnh
Danh họa Vũ Cao Đàm sinh tại Hà Nội, học điêu khắc tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 2 (1926 - 1931). Sau khi tốt nghiệp, ông nhận học bổng để sang Pháp du học, sau đó ở lại Pháp, thành danh với cả điêu khắc và hội họa. Ông được mời làm tác phẩm cho nhiều chính khách và nghệ sĩ như André Baugé, Roger Bourdin... Nhiều tác phẩm điêu khắc của ông được nhà nước Pháp mua đặt tại nhiều bảo tàng.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Mùa Thu vàng" (sơn dầu trên toan, 100cm x 130cm, 2017) của Nguyễn Văn Đức
“Điều đáng chú ý ở nghệ thuật của Vũ Cao Đàm, trên thực tế, không hoàn toàn là tính “ngoại lai” của đề tài hoặc bút pháp thể hiện - mà trên hết - bởi một nội dung hết sức riêng tư, với những phẩm chất nghệ thuật vừa phương Đông vừa phương Tây, vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa có nét cổ sơ chân chất. Ông vẽ các hình tượng Thần, mẹ con, thiếu nữ, các hoạt cảnh trữ tình, kỵ sĩ... mang đầy chất huyền thoại như được phóng tác từ những “mẫu gốc” trong kho tàng văn hóa dân gian và nền thi ca phương Đông” - nhà nghiên cứu Quang Việt nhận định.
Tác phẩm có tên Nơi hẹn hò vừa đấu giá tối qua lấy cảm hứng từ Truyện Kiều, mô tả cảnh Thúy Kiều Kim Trọng gặp nhau. Đây có thể là “bối cảnh” của các câu thơ như: “… Phong lưu rất mực hồng quần/ Xuân xanh sấp xỉ tới tuần cập kê/ Êm đềm trướng rủ màn che/ Tường đông ong bướm đi về mặc ai”.
Thêm một điều thú vị, tổ chức Live To Love Vietnam chuyên gây quỹ thiện nguyện nhưng không để phục vụ cho các hoạt động thiện nguyện của chính mình. Hàng năm, Live To Love Vietnam sẽ chọn ra các đối tác thiện nguyện có hiệu quả để trao lại số tiền đã quyên góp được, như năm này là Operation Smile.


Như Hà



Nét phóng khoáng trong tranh nude của danh họa Lưu Công Nhân

Khán giả ở Hà Nội lần đầu thưởng thức các bức vẽ nude do cố họa sĩ thực hiện với bút pháp tả chân, giàu cảm xúc. 

Triển lãm Nét của Lưu Công Nhân diễn ra từ ngày 25/8 đến ngày 24/9 nhân dịp tưởng niệm 10 năm ngày mất của danh họa. Triển lãm trưng bày 50 tác phẩm nổi tiếng của ông, trong đó có 10 bức tranh nude - mảng tranh hiếm người biết đến của ông.  Các bức vẽ rải rác từ năm 1954 đến 2006.

Họa sĩ Lê Thiết Cương - giám tuyển triển lãm - cho biết tranh khỏa thân là mảng đề tài lớn trong sáng tác của Lưu Công Nhân. Ban đầu, anh dự định làm triển lãm riêng cho các tác phẩm này, tuy nhiên do gặp vấn đề về giấy phép, ý tưởng không thành.

le-thiet-cuong-tranh-anh-nude-la-de-tai-binh-thuong-2

Tranh nude của Lưu Công Nhân. 

Trên thực tế, nhiều họa sĩ trước Đổi mới (năm 1986) cũng vẽ nude nhưng không dám thừa nhận chuyện thuê mẫu sáng tác vì quan niệm đây là đề tài cấm kỵ. Không ít người trong giới kể họa sĩ Bùi Xuân Phái sáng tác nhiều tranh khỏa thân nhưng chỉ chú thích là lấy cảm hứng từ thơ Hồ Xuân Hương. Ông cũng không dám treo tranh mà chỉ để tác phẩm vào một chiếc cặp, ai hỏi thì lấy ra.

Lê Thiết Cương lý giải: "Lưu Công Nhân không gặp rào cản về tâm lý khi vẽ nude. Ông không có nhu cầu bán tranh do gia đình khá dư dả về kinh tế. Vì vậy, họa sĩ thoải mái chọn đề tài. Ông cũng đầu tư chi phí thuê mẫu để vẽ. Ngoài ra, ông ít giao du nên không ngại những lời đàm tiếu". 

le-thiet-cuong-tranh-anh-nude-la-de-tai-binh-thuong-3

Lưu Công Nhân từng lấy nguyên mẫu nhiều người thân trong gia đình để sáng tác.

Lưu Công Nhân đặc biệt thích người mẫu hơi béo. Người mẫu trong tranh ông có thể là cô công nhân, chị nông dân hay những người thân trong gia đình. Lê Thiết Cương từng có dịp gặp một số người mẫu của cố họa sĩ ở Đà Lạt. Theo giám tuyển, vẻ đẹp đầy đặn của họ được thể hiện trọn vẹn trong tranh của Lưu Công Nhân.

Họa sĩ Bùi Trọng Dư - người từng vẽ nhiều tranh nude sơn mài - đánh giá tranh của Lưu Công Nhân không toát lên vẻ đẹp "khuôn vàng thước ngọc", cơ thể người phụ nữ trong một số bức hơi béo, không thon gọn nhưng lại khiến người xem rung động. "Tôi được xem tranh khỏa thân của họa sĩ Lưu Công Nhân từ nhiều năm trước. Các bức tranh nude của cố họa sĩ rất kiệm lời, cô đọng về hình, mảng, nét. Nhân vật nữ trong tranh mang vẻ đẹp mộc mạc, dung dị, gần gũi", họa sĩ nói.

Theo Lê Thiết Cương, điểm mạnh của Lưu Công Nhân là tạo hình. Để vẽ mực tàu trên giấy dó, ông phải ký họa nhanh, không tẩy xóa. Vì thế, đường nét trong tranh ông "ngẫu hứng, tung tẩy, phóng khoáng".

Giới chuyên môn nhận xét nét vẽ của cố danh họa Lưu Công Nhân lúc khoan lúc nhặt, lúc đậm khi nhạt, lúc khô lúc nhòe ướt, tạo ra tổng thể hài hòa. Các tác phẩm của ông là nguồn cảm hứng cho các họa sĩ đương đại theo đuổi đề tài tranh khỏa thân như: Đỗ Sơn, Hoàng Phượng Vỹ, Trịnh Tú, Doãn Hoàng Lâm...

Lưu Công Nhân sinh năm 1930, mất năm 2007. Ông tốt nghiệp trường Mỹ thuật kháng chiến khóa 1950 -1953 do họa sĩ Tô Ngọc Vân và các họa sĩ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương dìu dắt. Ông chịu ảnh hưởng từ họa sĩ người Pháp Auguste Renoir (1841 – 1919). Ông đề cao nét tự nhiên, đặc biệt là vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ.

Ông từng có tranh tham dự triển lãm quốc tế tại Vienne (1959), Prague (1960), Berlin (1964), Bucharest (1968, 1960), Paris (1980)...

Những tác phẩm của danh họa được nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân đánh giá là "tiếp nối cái trữ tình của hội họa Đông Dương bằng nét hiện thực lạc quan của kháng chiến".

Một số tranh khỏa thân của họa sĩ Lưu Công Nhân

mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-1
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-2
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-3
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-4
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-5
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-6
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-7
mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-8
                                           mot-so-tranh-khoa-than-cua-hoa-si-luu-cong-nhan-9

Hà Thu


Tranh nude của các nữ hoạ sĩ Việt vẽ thường rất đắt và hiếm?


  Hoạ sĩ Lê Thiết Cương vừa có buổi trò chuyện về chủ đề tranh nude Việt Nam trong khuôn khổ triển lãm “Nét” của cố danh hoạ Lưu Công Nhân. Trong buổi trò chuyện, nam ông đề cập khá một cách khá cụ thể về tranh nude do các hoạ sĩ nữ vẽ.

Không hoạ sĩ nào không thích thể nghiệm với tranh nude

Theo hoạ sỹ Lê Thiết Cương, người ta đã từng rất kinh ngạc khi nhìn thấy chiếc thạp đồng Đào Thịnh (được tìm thấy ở xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, Yên Bái năm 1961) cách đây 2500 năm, trên nắp thạp có miêu tả bốn đôi trai gái đang trong tư thế phồn thực. Nam đóng khố, nữ mặt váy ngắn, tức là không nude hoàn toàn.

Lịch sử mỹ thuật Việt Nam từ Lý, Trần, Lê, Mạc đến cuối thế kỷ 19 còn rất nhiều hiện vật với các chất liệu gỗ, gốm… lấy đề tài nude làm nguồn cảm hứng. Các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên ngày nay như: Bana, Gia Rai, Cơ Tu… cũng có các tác phẩm điêu khắc nude.

Tranh nude của Doãn Hoàng Lâm. Ảnh: LTC.
Tranh nude của Doãn Hoàng Lâm. Ảnh: LTC.

“Mỹ thuật Việt Nam hiện đại tính từ khi thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương, khoá mỹ thuật đầu tiên là bộ tứ danh hoạ “Nghiêm - Liên - Sáng - Phái” rồi các danh hoạ Lê Phổ, Vũ Cao Đàn, Lê Thị Lựu… đều vẽ tranh nude rất nhiều. Tôi đó ai tìm thấy hoạ sỹ nào không quan tâm đến đề tài nude. Gần như các hoạ sĩ đều có vẽ, có thể nghiệm, có tìm mình qua đề tài nude. Lứa đầu tiên của trường mỹ thuật Đông Dương đều có vẽ về đề tài này.

Hoạ sĩ Trần Lưu Hậu là lứa sau của mỹ thuật Đông Dương, ông vẽ nhiều đề tài nhưng trong đó có đề tài nude. Ông đã từng tổ chức triển lãm những bức tranh này ở 29 Hàng Bài cách đây 7 - 8 năm.

Cố danh hoạ Lưu Công Nhân hiện đang có triển lãm “Nét” ở Hà Nội. Đối với hoạ sỹ Lưu Công Nhân đề tài nude là một đề tài lớn trong nghiệp hội hoạ của ông. Và đa phần ông vẽ bằng màu nước trên giấy và mực nho trên giấy gió.

Những năm từ 1975 -1986, Hà Nội có hai cửa hàng bán tranh, một là ở góc Lý Thường Kiệt - Hàng Bài bây giờ và một ở số 7 Hàng Khay. Người bán tranh ở số 7 Hàng Khay bảo với tôi rằng, thời đó bác ấy chỉ dám treo những bức tranh của các Bùi Xuân Phái vẽ về phố cổ Hà Nội thôi còn không dám treo tranh nude bác Phái vẽ. Bác ấy phải cho tranh nude của bác Phái vào trong một chiếc cặp, ai hỏi mới dám mở ra. Khi xem tranh nude, mọi người hãy quan tâm đến cách hoạ sĩ thể hiện như thế nào chứ đừng quan tâm đến con người trên bức tranh ấy”, hoạ sĩ Lê Thiết Cương nói.

Tranh nude Đỗ Sơn. Ảnh: LTC.
Tranh nude Đỗ Sơn. Ảnh: LTC.

Nam hoạ sĩ này cũng cho rằng, đề tài nude đối với nghệ thuật cũng chỉ là đề tài, nó cũng bình đẳng như các đề tài khác. Đề tài nude còn là thuốc thử tốt nhất, chính xác nhất để phân biệt một nghệ sĩ giỏi hay kém.

Trong đề tài nude, nhục cảm đã tạo ra cảm xúc đặc thù để từ đó biến thành mỹ cảm. Rất khó để phân tích, bóc tách rạch ròi đâu là nhục cảm, đâu là mỹ cảm trong một tác phẩm nude. Quan trọng nhất là tác giả thể hiện đề tài đó như thế nào, tức là phong cách của họ chứ không phải xem bản thân đề tài đó.

Tranh nude của các hoạ sĩ nữ rất đắt và hiếm

Hoạ sĩ Lê Thiết Cương chia sẻ rằng, Việt Nam không chỉ có nam hoạ sĩ vẽ tranh nude mà còn có cả hoạ sĩ nữ cũng vẽ. Có thể kể đến một số tên tuổi như: Lê Thị Lựu, Nguyễn Thanh Hoa, Lê Thị Minh Tâm, Sơn Lâm…

Tranh nude của nữ tác giả Lê Thị Minh Tâm. Ảnh: LTC.
Tranh nude của nữ tác giả Lê Thị Minh Tâm. Ảnh: LTC.

“Đề tài này luôn bị xã hội coi là đề tài nhạy cảm nhưng cô hoạ sĩ Lê Thị Minh Tâm lại rất thích vẽ về đề tài này. Cô ấy bảo với tôi, cô ấy vẽ được 10 bức tranh về đề tài nude. Nhưng ở nhà chồng, cứ mỗi lần đang vẽ mà bố mẹ chồng đi vào thì cô ấy phải lấy chân đẩy bức tranh xuống gầm giường. Dù thế nhưng hiện tại tác giả này vẫn đang theo đuổi đề tài này như một niềm đam mê.

Một nữ hoạ sĩ nữa là rất hay vẽ tranh mực nho trên giấy gió đó là hoạ sĩ Phương Bình. Cô ấy có thế mạnh là vẽ trực tiếp. Một nữ hoạ sĩ đã mất tên là Sơn Lâm, người Hải Phòng. Sơn Lâm có cái hay là vẽ đề tài khoả thân nhưng trên chất liệu sơn mài. Hoạ sĩ Nguyễn Thanh Hoa lâu nay không thấy vẽ nữa nhưng có giai đoạn cô ấy vẽ nữ và nam nude. Tranh của Thanh Hoa lúc nào cũng một người nam và nữ trong tình trạng nude. Ở Hà Nội có vài ba hoạ sĩ vẽ về đề tài nude. Họ là những nữ hoạ sĩ đồng tính và họ vẽ những bức tranh nam và nữ nude rất đẹp.

Tranh của các nữ hoạ sĩ nữ đồng tính về đề tài này rất đắt và rất khó để tìm ra. Trước tôi có đi tìm thì thấy nói rằng, tranh một số nữ hoạ sĩ dạng này có vài 3 gallery mua độc quyền. Tôi có vào website của một gallery thì thấy họ đề 10.000 USD một bức sơn dầu khổ 90x1,1m”, hoạ sĩ Lê Thiết Cương kể.

Theo nam hoạ sĩ này, đề tài về nude khác với đề tài về phố phường, phong cảnh, tĩnh vật… Và vẽ nude vô cùng khó vì nó đòi hỏi người hoạ sĩ phải có năng lực biến nhục cảm thành mỹ cảm. Nếu không có năng lực đó, người hoạ sĩ khi ngồi trước một người mẫu một mình trong xưởng vẽ sẽ không bao giờ vẽ được đề tài này.

Người vẽ bắt buộc phải có sự rung động trước vẻ đẹp của người mẫu nhưng vì là tranh nghệ thuật nên phải biến dục tính ấy thành mỹ cảm. Nếu không có mỹ cảm thì người ta thà đi mua ảnh khoả thân về xem còn hơn. Nhưng vẽ nude mà thanh cao thì thà vẽ cửa sổ có ánh trăng, phong cảnh, đồi núi… còn hơn.

Tranh nude của tác giả Nguyễn Thanh Hoa. Ảnh: LTC.
Tranh nude của tác giả Nguyễn Thanh Hoa. Ảnh: LTC.

Hoạ sĩ Lê Thiết Cương cho rằng, nam vẽ nữ thì dễ hơn bởi dù sao cũng có sự rung động nam nữ, nhưng nữ vẽ nữ mới khó. Anh kể rằng, trong một lần đi theo một tổ chức phi chính phủ, anh có hỏi một số cô gái là tại sao hai người và người nữ có thể quan hệ tình cảm được với nhau được thì nhận được câu trả lời là vì người nữ hiểu người nữ.

Khi những nữ hoạ sĩ đồng tính vẽ nude họ thường nhìn người mẫu nữ bằng con mắt của nam giới. Và khi đối diện với người mẫu nữ đó các hoạ sĩ nữ cũng có những rung cảm của hoạ sĩ nam.

“Khi người xem tranh nude phải thấy được yếu tố nhục cảm biểu hiện dưới dạng mỹ cảm mới là đang xem tranh. Tôi chống đối lại mọi ý kiến cho rằng, tranh nude thì không thấy phần nhục cảm. Phương Đông có một câu rất hay: “Dục tính mới sinh ra nhân tính”. Tất cả mọi biến động quan trọng nhất của con người đều liên quan đến đời sống tình dục, nhất là giới nghệ sĩ, mới sinh ra được một tác phẩm.

Nam hoạ sĩ này cũng chia sẻ, cách đây một tháng, một triển lãm tranh nude ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã được cấp phép. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho mỹ thuật vì như thế thì công chúng sẽ có nhiều cơ hội để tiếp cận với tranh nude hơn.

Hà Tùng Long/Dân Trí




Tranh nude tôn vinh cơ thể phụ nữ

Triển lãm "Phượng" diễn ra từ ngày 12 đến 18/7 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội mang đến góc nhìn đa diện về phái đẹp.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu

Triển lãm gồm 37 tác phẩm tranh và tượng nude của 14 nghệ sĩ Hải Phòng sống và làm việc tại Hà Nội. Các họa sĩ sử dụng nhiều chất liệu khác nhau như sơn mài, sơn dầu… để bày tỏ tình yêu, sự trân trọng với nét đẹp của phụ nữ.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-1

Tranh sơn mài nude của Bùi Trọng Dư. Theo anh, họa sĩ phải cố gắng rất nhiều để khi đứng trước một bức tranh nude, người xem có thể cảm nhận được cái đẹp chứ không thấy sự dung tục.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-2

Tranh nude của Nguyễn Đình Hợp - họa sĩ từng có tranh sơn mài trưng bày tại Sydney và London.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-3

Tranh nude của Nguyễn Thị Thủy - họa sĩ nữ duy nhất tham gia triển lãm.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-4

Tranh của Nguyễn Quốc Thắng.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-5

Nét đẹp ẩn hiện của phái đẹp trong tranh Nguyễn Quốc Thắng.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-6

Tranh nude của Nguyễn Ngọc Dân.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-7

Đình Quân sử dụng gam đỏ trong các bức tượng nude.

tranh-nude-ton-vinh-co-the-phu-nu-8

Hà Thu



Triển lãm 50 tác phẩm của danh họa Lưu Công Nhân

Những bức tranh nổi tiếng lựa chọn từ hơn 400 tác phẩm của 'bậc thầy màu nước' sẽ được triển lãm tại trung tâm VCCA, Hà Nội.

Tưởng niệm 10 năm ngày mất của danh họa Lưu Công Nhân, nghệ sĩ Lê Thiết Cương đã trao đổi với nhà sưu tập Nguyễn Phúc Hưởng, người sở hữu hơn 400 tranh của cố họa sĩ, mở triển lãm "Nét", gồm 50 bức nổi tiếng nhất.

Đây là triển lãm cá nhân chính thức đầu tiên tại Hà Nội sau năm 1975 của học trò Tô Ngọc Vân.

polyad

Ảnh chân dung họa sĩ Lưu Công Nhân. Nguồn: Tư liệu của G39 và nhà sưu tập.

Theo đó, sự kiện gồm rất nhiều tác phẩm đặc biệt của "bậc thầy màu nước" như bình dân học vụ (tranh sơn dầu khổ 160 x 130cm, vẽ năm 1955); chân dung thiếu nữ, khỏa thân (nude) trên các chất liệu đa dạng như sơn dầu, giấy dó, bột màu, phấn sáp, màu nước, ký họa than chì...

polyad

Đi cấy (1960) - Sơn dầu trên toan, 81x100cm. Nguồn: Tư liệu của G39 và nhà sưu tập.

Bên cạnh bộ sưu tập của Nguyễn Phúc Hưởng, đây cũng là cơ hội hiếm để công chúng chiêm ngưỡng "Những cô gái công trường" của Lưu Công Nhân hiện thuộc bộ sưu tập của Apricot. 

Trong khuôn khổ của triển lãm, họa sĩ Lê Thiết Cương cũng sẽ có buổi chia sẻ về phong cách nghệ thuật của cố họa sĩ tài ba, những ảnh hưởng của ông tới mỹ thuật Việt...

Triển lãm mở cửa từ ngày 25/8 đến ngày 24/9 tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA), B1-R3 Vincom Royal City, Nguyễn Trãi, Hà Nội.

Tốt nghiệp trường Mỹ thuật khóa kháng chiến tại Việt Bắc (1950 - 1953), Lưu Công Nhân (1931 - 2007) là một trong những học trò xuất sắc của danh họa Tô Ngọc Vân. Ông chịu ảnh hưởng từ họa sĩ người Pháp - Auguste Renoir (1841 – 1919) với quan niệm về phong cách biểu hiện, luôn đề cao nét tự nhiên, đặc biệt là vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ.  

Vẻ đẹp trong tranh Lưu Công Nhân luôn tổ hợp yếu tố duyên dáng quê mùa, bình dị mộc mạc với hào hoa, sang trọng, hiện đại dù là vẽ sơn dầu trên vải hay màu nước trên giấy.

polyad

Tĩnh vật hoa (1993) - Bột mầu trên giấy, 41x52cm. Nguồn: Tư liệu của G39 và nhà sưu tập.

Ông đã góp phần định hình nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam trên bản đồ thế giới với các tác phẩm tham dự triển lãm quốc tế tại Vienne Biennal V (1959), Prague (1960), Berlin (1964), Bucarest (1968, 1960), Paris (1980)...

Những tác phẩm của danh họa này được nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân đánh giá là "tiếp nối cái trữ tình của hội họa Đông Dương bằng nét hiện thực lạc quan của kháng chiến".  


Thu Ngân



Triển lãm tranh nghệ thuật về phụ nữ

Triển lãm "Mascara" trưng bày chân dung phụ nữ qua góc nhìn của các nghệ sĩ trẻ đương đại Việt Nam.

Các tác giả tham gia gồm Nguyễn Nghĩa Cương, Nguyễn Văn Cường, Vũ Đình Tuấn, Bùi Thanh Tâm, Ngô Văn Sắc, Nguyễn Thế Hùng, Phạm Tuấn Tú và nghệ sĩ điêu khắc Lương Đức Hùng. Họ thuộc hai thế hệ 7X - 8X, đều là những nghệ sĩ đương đại đã tạo dựng được phong cách và dấu ấn cá nhân.

Ban tổ chức lý giải việc lấy tên triển lãm là dụng cụ trang điểm mắt của phụ nữ: "Mascara thể hiện bản năng làm đẹp của phụ nữ, là công cụ để họ trang điểm, tạo điểm nhấn để thu hút, thậm chí có thể tạo một thứ mặt nạ để mê hoặc người đối diện", theo ban tổ chức. Tên này phù hợp nội dung triển lãm - những góc nhìn khác nhau về vẻ đẹp phụ nữ.

trien-lam-tranh-nghe-thuat-ve-phu-nu

Tác phẩm "Cô gái Việt Nam 13" tham dự triển lãm.

Theo ban tổ chức, tác phẩm tham gia triển lãm không chỉ là chân dung phụ nữ đơn thuần mà là những khuôn mặt của thời đại. Họ hiện lên đa sắc, đa hình và đa ý niệm qua các bức vẽ.

Triển lãm kéo dài từ ngày 26/8 tới ngày 15/9 tại 24 Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Sự kiện nằm trong chuỗi sự kiện phức hợp do tổ chức nghệ thuật độc lập RealArt tổ chức dịp Quốc khánh 2/9. Khán giả cũng được xem buổi biểu diễn thời trang nghệ thuật Thu’s colors do nghệ sĩ Trần Thu và nhà thiết kế Phạm Thu Hồng thực hiện. Bộ sưu tập do các người mẫu không chuyên, không đạt chuẩn về ngoại hình trình diễn. Nghệ sĩ Nguyễn Duy Thành sẽ biểu diễn múa đương đại. Hai chương trình diễn ra tối 2/9 tại cùng địa điểm.

Di Ca



Tranh giả, đạo nhái - nỗi đau của họa sĩ Việt

Thị trường tranh Việt phát triển lộn xộn, thật giả lẫn lộn khiến nhiều họa sĩ mong cơ quan chức năng có chế tài nghiêm khắc, cương quyết. 

Đầu tháng 9, bộ tranh sơn mài An lạc của họa sĩ Nguyễn Trường An bị tố đạo 90% ý tưởng tác phẩm khắc gỗ A di đà Phật của họa sĩ Nguyễn Khắc Hân. A di đà Phật từng được trao huy chương vàng tại Triển lãm Mỹ thuật Việt Nam 2015, trong khi đó, An lạc được trưng bày tại triển lãm Báo cáo sáng tác mới ở Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM từ ngày 22/8 đến ngày 6/9. Vì sự cố, ban tổ chức đã loại tác phẩm An lạc khỏi triển lãm.

Trước đó, giữa tháng 8, giới chơi tranh phát hiện hai tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Rô Hùng trong tay một nhà sưu tập bị xóa chữ ký, mạo danh là tranh Phạm An Hải. Hồi đầu tháng 5, một bức tranh sao chép tác phẩm The Young Beggar do họa sĩ Tây Ban Nha Bartolomé Esteban Murillo vẽ năm 1650 bị mạo danh là tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Bức họa mạo danh được định giá 45.000 USD. Con trai cố họa sĩ đã khẳng định đây không phải tác phẩm của cha mình.

tranh-gia-dao-nhai-noi-dau-cua-hoa-si-viet

Tranh của họa sĩ Tây Ban Nha Bartolomé Esteban Murillo (trái) và bức tranh bị mạo danh là tác phẩm của Tô Ngọc Vân. 

Giữa bối cảnh nhiều vụ lộn xộn diễn ra trong làng mỹ thuật Việt, hồi tháng 8, tờ New York Times của Mỹ đăng bài viết phản ánh thị trường tranh Việt Nam "đầy rẫy sự giả dối". Bài viết dẫn câu chuyện tranh giả, tranh mạo danh tại Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM cuối năm 2016. Khi tham quan triển lãm "Những bức tranh trở về từ châu Âu", tác giả Thành Chương kinh ngạc khi phát hiện tác phẩm Trừu tượng ông vẽ vào khoảng năm 1970 - 1971 bị làm giả chữ ký của Tạ Tỵ.

Sau đó, giới chuyên môn đã mở cuộc họp xem xét các tác phẩm trong triển lãm và phát hiện 15 bức tranh thuộc bộ sưu tập tại bảo tàng là tranh giả, không phải bản vẽ do tác giả đứng tên thực hiện.

Không chỉ tại triển lãm nói trên, họa sĩ Bùi Trọng Dư cho biết hiện tượng làm giả tranh diễn ra thường xuyên. Tranh của hai bộ tứ mỹ thuật Việt Nam gồm: Nguyễn Gia Trí - Tô Ngọc Vân - Nguyễn Tường Lân - Trần Văn Cẩn và Nguyễn Sáng - Dương Bích Liên - Nguyễn Tư Nghiêm - Bùi Xuân Phái thường bị làm giả nhiều. Ông Bùi Thanh Phương - con trai họa sĩ Bùi Xuân Phái - từng thừa nhận không phân biệt được các bức tranh của bố ông trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là thật hay giả.

tranh-gia-dao-nhai-noi-dau-cua-hoa-si-viet-1

Họa sĩ Thành Chương bên bức tranh "Trừu tượng" của ông nhưng bị mạo danh, đề tên danh họa Tạ Tỵ. 

Họa sĩ trẻ Trịnh Minh Tiến - người sáng lập dự án Real Art (Nghệ thuật đích thực) - gọi thực trạng này là nỗi đau của các họa sĩ Việt.

Năm 2009, tạp chí New York Times từng lý giải các tác phẩm trước 1975 được sao chép ra nhiều bản để đề phòng trường hợp bị phá hủy do chiến tranh. Việc này trở thành một "thảm họa". Đến nay, nhiều nhân viên bảo tàng cũng không phân biệt được thật - giả. Các bức tranh giả được treo tại bảo tàng hoặc tuồn ra bên ngoài, gây lũng đoạn thị trường.

Họa sĩ Vũ Đình Tuấn nhấn mạnh tranh giả phát triển hơn từ sau khi đất nước thực hiện cơ chế Đổi mới năm 1986, nghệ thuật trở thành mặt hàng ngày càng có giá trị. Tranh giả, tranh mạo danh đều nhằm mục đích qua mặt công chúng, nâng cao giá trị thật của mặt hàng để trục lợi. Họa sĩ Thành Chương từng thừa nhận có thể tranh Tạ Tỵ có giá cao hơn tranh ông nên người ta mới mạo danh như vậy.

Họa sĩ Trịnh Minh Tiến cho biết giới họa sĩ thường khá bức xúc khi tranh bị làm giả, tuy nhiên, họ e ngại khoản kiện tụng. Ranh giới đúng sai trong nghệ thuật rất mong manh trong khi cơ sở pháp luật trong nước chưa chặt chẽ, dễ dẫn đến rủi ro. Một kết quả không như ý có thể khiến nghệ sĩ mất uy tín. Thành Chương bức xúc bày tỏ ở Việt Nam, tình trạng tranh giả hay mạo danh ngày càng "lố lăng, thô thiển, công khai". Ông tiếc nuối khi nhớ lại việc tranh của ông dù được hội đồng thẩm định kết luận bị giả mạo chữ ký Tạ Tỵ nhưng cơ quan chức năng vẫn không đưa ra được biện pháp xử lý nào với những người có trách nhiệm trong vụ mua bán tranh giả.

Họa sĩ Bùi Trọng Dư chia sẻ nhiều họa sĩ Việt Nam gặp rào cản tâm lý khi phát hiện tranh của họ bị làm giả, sao chép, đạo nhái. Đôi lúc, "thủ phạm" là bạn bè, người thân. Vì thế, họ thường nể nang và cho qua. Dần dần, tình trạng này dẫn đến việc dễ dãi trong vấn đề làm giả, sao chép tranh. Anh nói thêm rằng hiện nay, nghệ nhân ở một số làng nghề thêu, sơn mài cũng thường xuyên sử dụng tranh không bản quyền. Giới mỹ thuật hiện chưa có biện pháp ngăn chặn.

Hồi tháng 4, bức họa của cố họa sĩ Lê Phổ được bán với giá gần 1,2 triệu USD tại một cuộc đấu giá ở Hong Kong. Trịnh Minh Tiến chia sẻ giới nghệ thuật vẫn rỉ tai nhau rằng khi nền mỹ thuật có sản phẩm đạt "triệu USD", thị trường ấy đang bước vào giai đoạn "dậy thì". Tuy nhiên, nạn tranh giả, đạo nhái tranh có thể kéo tụt đà phát triển. 

tranh-gia-dao-nhai-noi-dau-cua-hoa-si-viet-2

Bùi Thanh Tâm sử dụng vàng lá để tô điểm cho tác phẩm. Họa sĩ cho biết chính anh cũng khó sao chép lại tranh của mình. 

Để hạn chế tình trạng tranh giả, họa sĩ Bùi Thanh Tâm chỉ làm việc với các gallery uy tín. Anh khuyên người mua nên tìm hiểu kỹ về tác phẩm mình định kinh doanh, sưu tầm. Tranh thật thường đi cùng các giấy tờ xác nhận có đầy đủ chữ ký, con dấu của các bên liên quan. Anh nhấn mạnh rằng sự thiếu hụt kiến thức của người yêu tranh sẽ tạo điều kiện cho tranh giả phát triển. Ngoài ra, Vũ Đình Tuấn, Bùi Thanh Tâm cho biết họ nghiên cứu, phát triển những kỹ thuật vẽ riêng để không ai có thể sao chép như vẽ trên lụa, đắp các chi tiết vàng lá... Nhiều họa sĩ trẻ cho rằng đây là giải pháp cần thiết trong tình trạng phải "sống chung với lũ". 

Họa sĩ đương đại phần nào có thể chủ động bảo vệ tác phẩm nhờ việc phát triển cách vẽ không bị ăn cắp. Nhưng theo nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng, hiện không có biện pháp nào để bảo vệ tác phẩm của họa sĩ quá cố. "Thị trường tranh ở Việt Nam mới manh nha hình thành nhưng lại không có luật kinh doanh nghệ thuật. Giới mỹ thuật hoàn toàn bất lực", ông Phạm Cẩm Thượng nói. Họa sĩ Thành Chương kết luận: "Điều quan trọng là cần có sự can thiệp, giải quyết của các cơ quan chức năng và một cơ chế luật pháp rõ ràng. Như vậy, những kẻ buôn bán, làm tranh giả mới không nhơn nhơn được".

Họa sĩ Bùi Trọng Dư cho rằng trong cuộc chiến chống tranh giả, các họa sĩ cũng như Hội Mỹ thuật Việt Nam cần có thái độ cương quyết, không vị nể.

Hà Thu



Cục trưởng Cục Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm Vi Kiến Thành:


Chiêm ngưỡng bức tranh hơn 12 tỷ đồng của Lê Phổ đấu giá tại Pháp


Chiêm ngưỡng bức tranh hơn 12 tỷ đồng của Lê Phổ đấu giá tại Pháp

Thứ Ba, 13/06/2017 16:46 GMT+7
Như Thể thao & Văn hóa (TTXVN) đã đưa tin, có 12 tranh Việt tại phiên đấu giá Tableaux Des XIXÈ & XXÈ Siècles Art Contemporain (Tranh thế kỷ 19-20 và nghệ thuật đương đại) của nhà Aguttes tại Pháp hôm 12/6, kết quả có đến 10/12 tác phẩm được bán. Với các nhà phân tích, khả năng thanh khoản như vậy như là rất lý tưởng.

Hai tác phẩm có giá ước đoán cao nhất của phiên này thuộc về Lê Phổ đều được bán rất nhanh, chủ sở hữu mới (theo nhận diện tại phiên đấu) là người Pháp hoặc châu Âu.
Chú thích ảnh
Một góc trưng bày trước phiên đấu. Ảnh: Ngô Kim Khôi
Cụ thể, tác phẩm Tourterelles (Đôi chim cu gáy, lụa, 64 cm x 96 cm, khoảng 1937) có giá ước đoán từ 180.000 - 220.000 Euro đã được bán với giá 220.000 Euro, cộng thêm 27,51% (60.522 Euro) chi phí và thuế.  
Chú thích ảnh
Bức "Tình mẫu tử" đã bán hơn 12 tỷ đồng
Đặc biệt, bức Maternité (Tình mẫu tử, lụa, 50 cm x 38 cm, khoảng 1937-1938) của Lê Phổ cùng có giá ước đoán từ 180.000 - 220.000 Euro, đã bán được 370.000 Euro, sau một cuộc “tranh giành” gây cấn. Bức này cộng thêm 27,51% (101.787 Euro) chi phí và thuế, tổng cộng là 471.787 Euro, hơn 12 tỷ đồng.
Chú thích ảnh
Tranh Việt được treo gần như riêng một bức tường. Ảnh: Ngô Kim Khôi
Kết quả các tranh Việt khác: Tác phẩm Ven sông của Joseph Inguimberty bán được 25.000 Euro; Thiếu nữ cầm quạt của Mai Trung Thứ bán 12.000 Euro; Huyền thoại giấc mơ của Lê Phổ bán 20.000 Euro; Khỏa thân của Vũ Cao Đàm bán 45.000 Euro; Hoa glay-ơn của Vũ Cao Đàm bán 28.000 Euro; Lọ hoa của Lê Phổ bán 25.000 Euro; Nhành đào của Vũ Cao Đàm bán 12.000 Euro; Nhảy múa trước bình minh của Lê Phổ bán 18.000 Euro.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Mẹ và con"
Nhìn chung nhà đấu giá Aguttes đã đưa ra giá ước đoán khá chính xác, chứng tỏ khả năng đánh giá của họ với tranh Việt là rất sâu sát.
Hồi 24/10/2016, nhà đấu giá này từng bán bức Mère et enfant (Mẹ và con, lụa, 63 cm x 45 cm, khoảng 1950) của Lê Phổ với giá 369.750 Euro, trong khi giá ước đoán là 120.000 - 150.000 Euro.

Về họa pháp, cả hai bức lụa này đều khá điển hình cho kỹ thuật thượng thừa và nhân sinh quan "Đông Tây kết hợp", nên vừa quen vừa lạ. Lê Phổ được yêu thích vì khả năng Việt hóa nhuần nhuyễn, mầm mại các chủ đề của Tây phương.
Văn Bảy


Tranh Lê Phổ đang áp đảo về giá khởi điểm tại Pháp


Tranh Lê Phổ đang áp đảo về giá khởi điểm tại Pháp

Chủ Nhật, 11/06/2017 20:06 GMT+7
Tại phiên đấu giá Tableaux Des XIXÈ & XXÈ Siècles Art Contemporain (Tranh thế kỷ 19-20 và nghệ thuật đương đại) của nhà Aguttes tại Pháp, tranh Việt đáng áp đảo về giá ước đoán.
Phiên đấu này diễn ra lúc 14h30 ngày 12/6 tại khu đấu giá Drouot ở quận 9, thủ đô Paris, với 77 lô hàng, Việt Nam có 12 đại diện.
Chú thích ảnh
Bìa vựng tập đấu giá về một trích đoạn từ tranh của Lê Phổ
Phiên đấu có tác phẩm của nhiều tên tuổi lừng danh như Edgar Degas (1834-1917), Qi Baishi (Tề Bạch Thạch, 1864-1957), Adolphe Monticelli (1824-1886), Pierre-Auguste Renoir (1841-1919), Amedeo Modigliani (1884-1920), Paul-Émile Pissarro (1884-1972), Andy Warhol (1928-1987), Zao Wou-Ki (Triệu Vô Cực, 1921-2013), Camille Claudel (1864-1943)…, nhưng Lê Phổ lại đang áp đảo về giá.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Tourterelles" (Đôi chim cu gáy)
Cụ thể, tác phẩm Tourterelles (Đôi chim cu gáy, lụa, 64 cm x 96 cm, khoảng 1937) và Maternité (Tình mẫu tử, lụa, 50 cm x 38 cm, khoảng 1937-1938) của Lê Phổ cùng có giá ước đoán từ 180.000 - 220.000 Euro, cao gần như gấp 5-10 lần các danh họa còn lại.
Chú thích ảnh
Và tác phẩm "Maternité" (Tình mẫu tử" của Lê Phổ cùng có giá ước đoán từ 180.000 đến 220.000 Euro
Mà không chỉ có Lê Phổ, các tên tuổi khác từ Việt Nam như Vũ Cao Đàm (1908-2000), Joseph Inguimberty (1896-1971)… cũng có giá khởi điểm thuộc hàng cao tại phiên này.
Ads by AdAsia
You can close Ad in {40} s
Vẫn chủ để quen thuộc về phụ nữ Bắc kỳ, tác phẩm Au bord de l'eau (Ven sông, sơn dầu trên bố, 65 cm x 92 cm, 1933) của Joseph Inguimberty có cái nhìn thật sống động, trìu mến về một sinh hoạt miền quê.
Chú thích ảnh
Tác phẩm "Au bord de l'eau" (Ven sông) của Joseph Inguimberty có giá ước đoán từ
25.000 đến 35.000 Euro
Tất nhiên, giá bán tại một phiên đấu chỉ có tính nhất thời, còn đẳng cấp và phong độ của từng tên tuổi mới là dài lâu, ổn định. Thế nhưng, nhờ có kinh nghiệm nhiều năm về nghệ thuật Việt, lại có đội ngũ công tác thẩm định tốt, nhà đấu giá Aguttes đã khá thành công khi đưa ra các lô hàng đợt này. Đa số tranh Việt có chất lượng tốt về thị giác, tình trạng bảo quản hoàn hảo.   
Bên cạnh hai tác phẩm có giá khởi điểm cao nhất phiên, hai tác phẩm khỏa thân Allégorie du sommeil (Giấc mơ huyền thoại, màu nước - gouache và chì trên giấy, 26 cm x 40,5 cm, 1940) của Lê Phổ và của Vũ Cao Đàm cũng rất đáng chú ý vì giá trị tạo hình và cách nhìn táo bạo.
Văn Bảy





Vì sao tranh của họa sĩ Lê Phổ có giá hơn 1 triệu USD?

Sự kiện tác phẩm mỹ thuật “Đời sống gia đình” (Family Life) của danh họa Lê Phổ đã bán được hơn 1 triệu USD, cụ thể giá bán dự kiến từ 231.840 - 309.120USD, và kết quả bán được 1.172.080 USD tại phiên đấu giá Modern and Contemporary Art của nhà Sotheby’s đầu tháng 4, thực sự là một “cú sốc đáng mừng” trong đời sống mỹ thuật Việt Nam.

Một cuộc trò chuyện với ông Vi Kiến Thành - Cục trưởng Cục Mỹ thuật, nhiếp ảnh và Triển lãm, từ sự kiện trên và tác động của nó tới thị trường mỹ thuật Việt Nam.

                                Bức tranh trên 1 triệu USD của danh họa Lê Phổ.
                                               Bức tranh trên 1 triệu USD của danh họa Lê Phổ.

Từ góc nhìn của ông thì sự kiện này có ý nghĩa như thế nào?

- Đây là một thông tin ấn tượng, hết sức vui mừng vì giá trị kinh tế của một bức tranh VN thông qua giao dịch tại các sàn đấu giá có tính chuyên nghiệp. Đây là giá bán tranh VN cao nhất từ trước tới nay trên thị trường thế giới. Và cho thấy thị trường tranh VN phải vận hành theo hướng minh bạch, công khai để tiếp tục có những tác phẩm vươn tầm.

Thường việc giao dịch trên thị trường tranh VN không công khai, minh bạch, dẫn tới hai hệ lụy: Giá tranh VN không được đẩy lên cao ở thị trường quốc tế và phát sinh tệ tranh giả, tranh sao chép giả làm tranh thật. Một thời gian dài, các giao dịch mua bán tranh ở ta đều bí mật. Người mua có thể mua trực tiếp với họa sĩ và việc mua không có biên lai, hóa đơn và tất nhiên là không có biên lai thuế. Với các gallery, ngành thuế cũng cào bằng, áp mức thuế cho chủ gallery, khiến Nhà nước thất thu thuế, trong khi đúng ra ngành thuế phải cần cụ thể từng tác phẩm mua bán phải nộp thuế bao nhiêu...

Theo ông, vì sao tranh của họa sĩ Lê Phổ đạt mức trên 1 triệu USD?

- Việc tranh của họa sĩ Lê Phổ bán giá cao không thuần túy là do giá trị thật của tác phẩm, mà bên cạnh chất lượng, giá trị nghệ thuật còn rất nhiều yếu tố kèm theo: Vị trí của tác giả, đời sống thực tế và huyền thoại của tác phẩm, lịch sử tác phẩm ra đời từ đâu, qua tay các nhà sưu tập nào hay lưu trữ ở bảo tàng nào... Về bức “Đời sống gia đình” này, tôi không nắm được đời sống của nó.

Còn giá trị tranh của Lê Phổ nằm ở tinh thần VN, tinh thần Á Đông. Các nhân vật trong tranh ông từ thiếu nữ, em bé đều tạo hình rất VN, được đưa vào tác phẩm kiên trì, kiên định. Tạo hình của ông không biến động theo thời gian, mà nó xuyên suốt, tạo nên thương hiệu, làm người xem thấy quan điểm thẩm mỹ của ông. Có tranh sơn dầu, ông vẫn vẽ gần như tranh lụa, không xử lý khối, ánh sáng như kiểu Châu Âu.

Lê Phổ là một họa sĩ sống ở Pháp nhiều năm, và tên tuổi ông cứ dày thêm qua tác phẩm, qua hoạt động nghề nghiệp một cách chuyên nghiệp, đến một thời điểm nhất định tạo nên mức giá rất cao cho tác phẩm của mình.

Trong mắt ông, những họa sĩ nào ở VN trong tương lai gần có thể bán tranh bằng hoặc cao hơn tranh họa sĩ Lê Phổ?

- Hiện ở trong nước có một nhóm họa sĩ thuộc hàng top, bán giá cao và chất lượng nghệ thuật cũng rất tốt, như Đặng Xuân Hòa, Hồng Việt Dũng, Phạm Luận... Phía nam có họa sĩ Lê Kinh Tài, đáng chú ý, tầm chưa đến 40 tuổi mà bán nhiều tranh với giá cao... Cũng có một số tác giả bán tốt nhưng tôi không đánh giá cao về chất lượng nghệ thuật.

Các nhà sưu tập tranh thế giới hiện tìm kiếm gì ở tranh Việt Nam?

- Hơn 20 năm về trước, các nhà sưu tập đã bị bất ngờ vì mỹ thuật VN, khi trước đó họ chỉ biết VN là một nước chiến tranh liên miên, không ngờ vẫn có một lớp họa sĩ vẽ rất tốt, chủ yếu theo mỹ thuật Đông Dương. Sau này, kể từ giai đoạn đổi mới trở đi, các nhà sưu tập tìm đúng những cái họ quan tâm, tuy nhiên sự suy thoái kinh tế trên thế giới đã tác động tới các nhà sưu tập. Bản thân những nhà sưu tập tầm cỡ cũng rất bảo thủ, họ muốn nhắm tới những tác giả có độ tin cậy cao, được kiểm chứng qua cả một quá trình về tài năng.

Tiếc là các họa sĩ VN thường trong quá trình vận hành mà chưa tới đỉnh. Nội lực của họa sĩ VN thường không tịnh tiến theo thời gian, 60 tuổi đổ lại thì phát tiết nhiều cái hay, còn ít người 60 trở đi mà sáng tạo vượt bậc, vượt khung. Điều này mâu thuẫn với thế giới khi thường họa sĩ càng già vẽ càng hay. Ở ta, hiếm có ai được như họa sĩ Trần Lưu Hậu năm nay trên 80 tuổi mà vẫn vẽ hay. Tôi cũng không lý giải được điều này, có thể do đặc thù của họa sĩ VN chăng?

Các nhà quản lý có vai trò gì trong việc tạo cơ chế cho người tài, thưa ông?

- Cục và hội có thể tác động như người khuyến khích, tạo môi trường làm việc thuận lợi, còn cá nhân nghệ sĩ quyết định chất lượng tác phẩm. Tôi tin là trong tương lai, chúng ta ngày càng có thêm nhiều tác giả tầm cỡ...

Mỹ thuật là lĩnh vực cởi mở, thông thoáng. Chúng ta cần thị trường mỹ thuật trong nước đảm bảo sức tiêu thụ bền vững thì đỉnh cao mới vọt lên. Nếu không chỉ là hoạt động đơn lẻ, ngẫu hứng...

Vì sao các cuộc thi va triển lãm mỹ thuật toàn quốc 5 năm/lần đáng ra phải là sân chơi đẳng cấp nhất, vậy mà chưa thực sự là sự kiện nổi bật của giới mỹ thuật cả nước, thưa ông?

- Các họa sĩ VN luôn muốn sự mới mẻ ở công tác tổ chức, ở nhân sự, giám tuyển, nhưng không phải nhu cầu này lúc nào cũng được đáp ứng. Sống trong đời sống phẳng, nhu cầu giới thiệu, triển lãm tác phẩm ở trong và ngoài nước không còn bị bó hẹp như ngày xưa. Bão hòa các sân chơi, vì thế việc thu hút các họa sĩ như trước kia là rất khó. Muốn làm như thế phải quyết liệt thay đổi, ngay từ việc công bố hội đồng nghệ thuật từ đầu, để thí sinh yên tâm gửi gắm tác phẩm vào những tên tuổi xứng đáng. Mọi thay đổi đều khó như triển lãm đổi mới “Mở cửa” đã thử nghiệm thay đổi cách làm mới, nhưng cũng gặp nhiều phản ứng khác nhau...

Hiện nhu cầu mua tranh của công chúng ngày càng tăng, nhưng họ lại lúng túng khi chọn tranh, ông có lời khuyên nào?

- Chúng ta thiếu những nơi làm tư vấn mỹ thuật cho công chúng. Nhưng tư vấn mỹ thuật ở ta cũng chưa có tiền lệ, bản thân không phải người Việt nào cũng muốn tin vào tư vấn. Nhưng hiện nay, tất cả các cục trong ngành văn hóa nghệ thuật đang triển khai một đề án công nghiệp văn hóa, trong đó phải làm ngân hàng dữ liệu về tác giả, tác phẩm. Khi xong, công chúng sẽ có thể truy nhập vào đó để lựa chọn...

Xin trân trọng cảm ơn ông.

Theo Việt Văn
Lao Động





Tranh Van Gogh bị đánh cắp giá 100 triệu USD vừa trở về cố hương


Hai bức tranh của danh họa người Hà Lan - Vincent Van Gogh - bị đánh cắp cách đây 14 năm cuối cùng đã được trở về quê nhà trong tuần này.

Trước đây, hai bức tranh với trị giá ước tính 100 triệu USD (2.272 tỷ đồng) đã được đem trưng bày trong một viện bảo tàng tôn vinh những siêu phẩm hội họa của Van Gogh ở Amsterdam, Hà Lan.

Năm ngoái, trong một cuộc điều tra tội phạm buôn bán chất cấm, cảnh sát Ý đã tìm thấy hai bức tranh này. Giám đốc Viện bảo tàng Van Gogh - ông Axel Rueger chia sẻ: “Những bức tranh đã trở về, đây là một trong những ngày đặc biệt nhất trong lịch sử bảo tàng chúng tôi”.

Du khách khi tới thăm Hà Lan, có dịp lưu lại thủ đô Amsterdam, thường không quên ghé thăm bảo tàng Van Gogh để được chiêm ngưỡng những siêu phẩm hội họa của vị danh họa nổi tiếng nhất xứ sở hoa tulip.

Hai bức tranh của danh họa Vincent Van Gogh đã trở về quê nhà Hà Lan sau khi bị đánh cắp 14 năm trước.
Hai bức tranh của danh họa Vincent Van Gogh đã trở về quê nhà Hà Lan sau khi bị đánh cắp 14 năm trước.

Bức “Cảnh biển ở Scheveningen” (1882) là một trong hai bức tranh sơn dầu đáng giá hàng triệu USD bị kẻ trộm đột nhập lấy đi khỏi bảo tàng ngày 7/12/2002.
Bức “Cảnh biển ở Scheveningen” (1882) là một trong hai bức tranh sơn dầu đáng giá hàng triệu USD bị kẻ trộm đột nhập lấy đi khỏi bảo tàng ngày 7/12/2002.

Bức “Giáo đoàn rời khỏi nhà thờ tin lành ở Nuenen” (1884-1885) là bức sơn dầu còn lại bị đánh cắp trong cùng vụ việc. Bức tranh này khắc họa ngôi làng nơi cha mẹ Van Gogh sinh sống, ông từng thực hiện bức tranh để tặng mẹ.
Bức “Giáo đoàn rời khỏi nhà thờ tin lành ở Nuenen” (1884-1885) là bức sơn dầu còn lại bị đánh cắp trong cùng vụ việc. Bức tranh này khắc họa ngôi làng nơi cha mẹ Van Gogh sinh sống, ông từng thực hiện bức tranh để tặng mẹ.

Phát biểu tại sự kiện trả tranh quý lại cho bảo tàng, tướng Gianluigi D'Alfonso của lực lượng cảnh sát kinh tế Ý kể lại quá trình tìm thấy tranh: “Hai bức tranh lúc được tìm thấy hồi năm ngoái được bọc trong những tấm vải, cất trong một thùng giấu kín sau một bức tường giả, đặt trong một nông trại gần thành phố Naples, Ý”.

Ở nông trại này, người ta đã tìm thấy nhiều tài sản quý giá, thậm chí cả một chiếc máy bay cỡ nhỏ phục vụ cho việc tẩu thoát. Hai bức tranh bị cất giấu phía sau một bức tường giả, được xây lên để ngụy trang. Kẻ trộm đã đột nhập vào bảo tàng Van Gogh ngày 7/12/2002 lúc 8h sáng, khi viện bảo tàng còn chưa mở cửa.

Kẻ trộm đã dùng thang leo lên nóc bảo tàng, đột nhập vào trong, sử dụng dây thừng để leo ra. Kẻ trộm ngay sau đó đã bị tóm gọn bởi dấu vết DNA để lại hiện trường. Dù vậy, hai người này chỉ là “tay sai” thực hiện, tranh đã bị đưa đến cho kẻ chủ mưu từ trước đó - một tay trùm buôn bán chất cấm.

Giám đốc bảo tàng Van Gogh - ông Axel Rueger (trái) và bà Jet Bussemaker - Bộ trưởng Giáo dục, Văn hóa và Khoa học Hà Lan, cùng xuất hiện tại sự kiện trả tranh.
Giám đốc bảo tàng Van Gogh - ông Axel Rueger (trái) và bà Jet Bussemaker - Bộ trưởng Giáo dục, Văn hóa và Khoa học Hà Lan, cùng xuất hiện tại sự kiện trả tranh.

Hiện giờ, hai bức tranh đã được trưng bày trở lại tại bảo tàng. Dù vậy, trong những năm tháng lưu lạc vừa qua, đã có những tổn hại nhất định đối với hai bức tranh.
Hiện giờ, hai bức tranh đã được trưng bày trở lại tại bảo tàng. Dù vậy, trong những năm tháng lưu lạc vừa qua, đã có những tổn hại nhất định đối với hai bức tranh.

Hai kẻ trộm tranh đã lĩnh mức án 4 năm tù. Sau khi bị bắt, hai người này khai rằng thoạt tiên họ định đánh cắp bức “Hoa hướng dương” nổi tiếng, nhưng bức tranh này có bức độ bảo vệ an ninh quá cao, khó đánh cắp. Vì vậy, họ chuyển hướng sang hai bức cài đặt ít thiết bị an ninh hơn.
Hai kẻ trộm tranh đã lĩnh mức án 4 năm tù. Sau khi bị bắt, hai người này khai rằng thoạt tiên họ định đánh cắp bức “Hoa hướng dương” nổi tiếng, nhưng bức tranh này có bức độ bảo vệ an ninh quá cao, khó đánh cắp. Vì vậy, họ chuyển hướng sang hai bức cài đặt ít thiết bị an ninh hơn.

Bức “Những người ăn khoai tây” cũng rất nổi tiếng và ít cài đặt thiết bị an toàn, nhưng kích thước lại lớn, không thể đưa qua lỗ hổng tầng mái.
Bức “Những người ăn khoai tây” cũng rất nổi tiếng và ít cài đặt thiết bị an toàn, nhưng kích thước lại lớn, không thể đưa qua lỗ hổng tầng mái.

Bức “Cảnh biển ở Scheveningen” là bức duy nhất mà viện bảo tàng sưu tập được về thời kỳ Van Gogh còn sinh sống tại thành phố Den Haag (Hà Lan), từ năm 1881-1883. Trong thời kỳ này, Van Gogh chỉ vẽ hai bức tranh khắc họa cảnh biển, cho thấy rõ phong cách hội họa ngay từ buổi đầu cầm cọ của ông.

Bức “Giáo đoàn rời khỏi nhà thờ tin lành ở Nuenen” được Van Gogh vẽ tặng mẹ. Đó là một bức tranh cỡ nhỏ khắc họa nhà thờ nơi cha của Van Gogh từng là mục sư. Năm 1885, sau khi cha mất, Van Gogh đã hoàn tất bức tranh, vẽ thêm những người đi lễ nhà thờ ở tiền cảnh, trong số này, có những người phụ nữ đang choàng khăn tang như một sự gợi nhớ tới người cha đã mất.

Giám đốc bảo tàng Van Gogh chia sẻ: “Khi cảnh sát Ý liên hệ, tôi cũng hy vọng lắm nhưng có hoài nghi, bởi trong suốt những năm qua, tôi đã nhiều lần nhận được những cuộc gọi khẳng định rằng người ta biết hai bức tranh bị đánh cắp đang ở đâu. Nhưng mỗi khi thông tin được xác minh là giả mạo, tôi lại thấy quá thất vọng”.

Hai bức tranh bị đánh cắp dù không phải những tác phẩm trứ danh của Van Gogh nhưng vẫn là những tài sản quý giá trong bộ sưu tập của bảo tàng. “Mức độ an ninh trong bảo tàng giờ đây đã được nâng lên mức tối đa, vì vậy, chúng tôi có thể tự tin rằng mọi bức tranh trong bảo tàng giờ đều được an toàn”, giám đốc bảo tàng khẳng định.

Sau những năm tháng lưu lạc, hai bức tranh đã chịu những tổn hại nhất định.
Sau những năm tháng lưu lạc, hai bức tranh đã chịu những tổn hại nhất định.

Hiện tại, hai bức tranh đã được đem trưng bày trở lại. Tiếp theo đây, người ta sẽ tính phương án phục chế.
Hiện tại, hai bức tranh đã được đem trưng bày trở lại. Tiếp theo đây, người ta sẽ tính phương án phục chế.

Hiện tại, giới mỹ thuật Hà Lan đang rất hồ hởi với tin vui mới này.
Hiện tại, giới mỹ thuật Hà Lan đang rất hồ hởi với tin vui mới này.

5 vụ trộm tranh lớn nhất gây sốc với thế giới:


Vụ trộm tranh 100 triệu USD ở Paris (Pháp) tháng 8/1911: Vincenzo Peruggia, một cựu nhân viên bảo tàng Louvre đã tận dụng những hiểu biết của mình về nội tình trong bảo tàng để đánh cắp bức “Mona Lisa” của danh họa Leonardo da Vinci. Đây là vụ trộm tranh “khét tiếng” nhất. Peruggia trốn trong một chiếc tủ, chờ tới khi nhân viên về hết, liền đánh cắp bức tranh, cất giấu dưới tà áo khoác rộng. Cảnh sát đã bắt Peruggia khi kẻ trộm tranh này đang thực hiện cuộc giao dịch bán tranh sau đó hai năm.

Vụ trộm tranh 100 triệu USD ở Paris (Pháp) tháng 8/1911: Vincenzo Peruggia, một cựu nhân viên bảo tàng Louvre đã tận dụng những hiểu biết của mình về nội tình trong bảo tàng để đánh cắp bức “Mona Lisa” của danh họa Leonardo da Vinci. Đây là vụ trộm tranh “khét tiếng” nhất. Peruggia trốn trong một chiếc tủ, chờ tới khi nhân viên về hết, liền đánh cắp bức tranh, cất giấu dưới tà áo khoác rộng. Cảnh sát đã bắt Peruggia khi kẻ trộm tranh này đang thực hiện cuộc giao dịch bán tranh sau đó hai năm.


Vụ trộm tranh 300 triệu USD tại Boston (Mỹ) tháng 3/1990: Hai người đàn ông dùng trang phục cảnh sát giả, khống chế nhân viên an ninh tại phòng triển lãm Isabella Stewart Gardner, lấy đi băng ghi hình an ninh của phòng trưng bày, đồng thời lấy đi bức tranh khắc họa cảnh biển duy nhất mà danh họa người Hà Lan Rembrandt từng thực hiện - bức “Bão ngoài biển Galilee”, thêm đó là các bức - “Buổi hòa nhạc” của danh họa người Hà Lan Johannes Vermeer, “Chez Tortoni” của danh họa người Pháp Édouard Manet. Cho tới giờ, tranh vẫn chưa được tìm thấy, và tội phạm cũng vẫn chưa sa lưới pháp luật.

Vụ trộm tranh 300 triệu USD tại Boston (Mỹ) tháng 3/1990: Hai người đàn ông dùng trang phục cảnh sát giả, khống chế nhân viên an ninh tại phòng triển lãm Isabella Stewart Gardner, lấy đi băng ghi hình an ninh của phòng trưng bày, đồng thời lấy đi bức tranh khắc họa cảnh biển duy nhất mà danh họa người Hà Lan Rembrandt từng thực hiện - bức “Bão ngoài biển Galilee”, thêm đó là các bức - “Buổi hòa nhạc” của danh họa người Hà Lan Johannes Vermeer, “Chez Tortoni” của danh họa người Pháp Édouard Manet. Cho tới giờ, tranh vẫn chưa được tìm thấy, và tội phạm cũng vẫn chưa sa lưới pháp luật.


Vụ trộm tranh 100 triệu USD ở Amsterdam (Hà Lan) tháng 12/2002: Kẻ trộm đột nhập vào bảo tàng Van Gogh, lấy đi hai bức tranh “Cảnh biển ở Scheveningen” và “Giáo đoàn rời khỏi nhà thờ tin lành ở Nuenen”.

Vụ trộm tranh 100 triệu USD ở Amsterdam (Hà Lan) tháng 12/2002: Kẻ trộm đột nhập vào bảo tàng Van Gogh, lấy đi hai bức tranh “Cảnh biển ở Scheveningen” và “Giáo đoàn rời khỏi nhà thờ tin lành ở Nuenen”.


Vụ trộm tranh 65 triệu USD ở Scotland tháng 8/2003: Sau khi tham gia một tour tham quan lâu đài Drumlanrig ở Scotland, hai người đàn ông tách đoàn và đánh cắp bức “Madonna of the Yarnwinder” của danh họa người Ý Leonardo da Vinci. Hệ thống an ninh trong lâu đài khi đó không bật, những người nhìn thấy hai kẻ trộm tranh thực hiện phi vụ phạm tội ngay giữa ban ngày có tiến lại can thiệp, nhưng hai tên này khẳng định rằng mình là… cảnh sát ngầm đang luyện tập phương án an ninh cho lâu đài. Tất cả… đều tin ngay. Bức tranh được tìm thấy lại năm 2007, nhưng hai kẻ trộm tranh thì vẫn “nhởn nhơ”.

Vụ trộm tranh 65 triệu USD ở Scotland tháng 8/2003: Sau khi tham gia một tour tham quan lâu đài Drumlanrig ở Scotland, hai người đàn ông tách đoàn và đánh cắp bức “Madonna of the Yarnwinder” của danh họa người Ý Leonardo da Vinci. Hệ thống an ninh trong lâu đài khi đó không bật, những người nhìn thấy hai kẻ trộm tranh thực hiện phi vụ phạm tội ngay giữa ban ngày có tiến lại can thiệp, nhưng hai tên này khẳng định rằng mình là… cảnh sát ngầm đang luyện tập phương án an ninh cho lâu đài. Tất cả… đều tin ngay. Bức tranh được tìm thấy lại năm 2007, nhưng hai kẻ trộm tranh thì vẫn “nhởn nhơ”.


Vụ trộm tranh 120 triệu USD ở Oslo (Na Uy) tháng 8/2004: Những nhân viên làm việc tại bảo tàng Munch đã bị khống chế bởi những kẻ trộm có vũ trang ngay giữa ban ngày. Hai bức tranh của danh họa Edvard Munch đã bị lấy đi, gồm bức “Tiếng thét” và “Madonna”. Đến tháng 5/2006, cảnh sát bắt được những tên trộm. Hai bức tranh được tìm thấy 3 tháng sau đó.

Vụ trộm tranh 120 triệu USD ở Oslo (Na Uy) tháng 8/2004: Những nhân viên làm việc tại bảo tàng Munch đã bị khống chế bởi những kẻ trộm có vũ trang ngay giữa ban ngày. Hai bức tranh của danh họa Edvard Munch đã bị lấy đi, gồm bức “Tiếng thét” và “Madonna”. Đến tháng 5/2006, cảnh sát bắt được những tên trộm. Hai bức tranh được tìm thấy 3 tháng sau đó.

Starry, Starry Night (Vincent) - Don McLean

Sự kỳ diệu của nghệ thuật “vẽ tranh trong nước”

Bích Ngọc
Theo Independent/Deutsche Welle



Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm

Nguyễn Hữu Khoa từng vẽ hàng trăm bức tranh hoa đào và mở hai triển lãm "Đào xuân" vào 1/2014 và đầu năm nay.

Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ CòmHọa sĩ Còm tên thật là Nguyễn Hữu Khoa. Anh sinh ra ở làng Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội. Anh tốt nghiệp khoa điêu khắc Đại học Mỹ thuật Việt Nam nhưng lại tự nghiên cứu hội họa và bắt đầu sáng tác năm 2008. 

" id="vne_slide_image_0" style="cursor: url(" http:="" st.f1.vnecdn.net="" responsive="" js="" utils="" slideshow="" css="" images="" icons="" zoom_cursor.png"),="" auto;"="">  

Họa sĩ Còm tên thật là Nguyễn Hữu Khoa. Anh sinh ra ở làng Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội. Anh tốt nghiệp khoa điêu khắc Đại học Mỹ thuật Việt Nam nhưng lại tự nghiên cứu hội họa và bắt đầu sáng tác năm 2008. 

 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm  

Họa sĩ Còm đã tổ chức một số triển lãm hí họa chân dung các văn nghệ sĩ và người nổi tiếng. Nhưng trong vài năm gần đây, anh tập trung vẽ hoa đào. 

 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm  

Bản thân từng là người trồng đào nên anh cho rằng bản thân hiểu loài cây này một cách sâu sắc.

 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm  

Anh tin rằng giữa mình và hoa đào có một cái duyên và anh sinh ra là để vẽ đào Tây Hồ.

 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm" id="vne_slide_image_4" style="cursor: url(" http:="" st.f1.vnecdn.net="" responsive="" js="" utils="" slideshow="" css="" images="" icons="" zoom_cursor.png"),="" auto;"="">  

Họa sĩ Còm nói: "Mỗi cây đào có hàng trăm, hàng ngàn bông hoa và nếu nhìn thoáng qua, chúng ta sẽ tưởng chúng đều giống nhau. Nhưng khi nhìn kỹ tôi nhận ra mỗi bông hoa có một dáng vẻ, sắc thái, đặc điểm riêng".

 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm  

Hoa đào trong mỗi bức tranh của họa sĩ Còm đều mang dáng dấp, sắc thái riêng. 

 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm" id="vne_slide_image_6" style="cursor: url(" http:="" st.f1.vnecdn.net="" responsive="" js="" utils="" slideshow="" css="" images="" icons="" zoom_cursor.png"),="" auto;"="">  

Họa sĩ sử dụng nhiều nguyên liệu khác nhau như sơn dầu, acrylic, bột màu... để sáng tạo bộ sưu tập tranh "Đào xuân".

 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm  
 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm  
 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm  
 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm  
 
Muôn sắc hoa đào trong tranh của họa sĩ Còm  

Gà trống và hoa đào trong tác phẩm mừng xuân Đinh Dậu của họa sĩ Còm. 

 

Vĩ Thanh



Năm Dậu nói chuyện vẽ gà của họa sĩ Thành Chương

Thứ Tư, 01/02/2017 08:00
Xuân mới Đinh Dậu này, 60 bức tranh đặc sắc vẽ gà của họa sĩ Thành Chương trưng bày trong Hội chợ nghệ thuật “Domino Art Fair” tại Hà Nội và TP.HCM nhận được sự mến mộ không nhỏ của công chúng yêu mỹ thuật.
Họa sĩ Thành Chương

Gặp gỡ người họa sĩ đương đại, sáng giá của Việt Nam trong một ngày mùa Xuân mưa lất phất bay, Thành Chương chia sẻ: mùa Xuân năm nay, ông rất vui vì được tham gia một sự kiện lớn về hội họa của Trung tâm nghệ thuật ở số 1 Lương Yên cùng hơn 160 nghệ sĩ tên tuổi, tài năng khắp hai miền Nam, Bắc.

Sự kiện bắt đầu từ ngày 20/1 tại Hà Nội, kết thúc ngày 27/2 tại TP.HCM. Tại đây, được dành riêng một gian bày khoảng 10 bức sơn mài, họa sĩ đã nghĩ phải tạo sự khác biệt. Năm nay là năm Gà, hơn nữa cách đây đúng 60 năm, bức Đôi gà tồ - dấu ấn đầu tiên về hội họa của ông ra đời, nên 60 bức tranh gà cả 3 chất liệu (bột màu, sơn dầu, sơn mài) đã được họa sĩ lựa chọn trưng bày. Triển lãm 60 bước tranh gà này được ông coi là sự kiện đánh dấu tròn một vòng hoa giáp cho bức tranh “Đôi gà tồ” của mình.

Theo họa sĩ Thành Chương, vẽ mấy chục con gà là một bài toán khó, làm sao để không trùng lặp, đòi hỏi họa sĩ phải đủ trường lực về tài năng, bút pháp. 60 con gà phải là 60 tranh với bút pháp đa dạng. Một cái khó nữa với ông là làm sao là phô diễn bút pháp, kỹ thuật, nhưng vẫn thể hiện được phong cách cá nhân mạnh mẽ của mình. Để giải bài toàn này, ông đã dựa vào các tích, các truyện, như: Gà trống nuôi con, Gà gáy sáng, Gà nở…; vận dụng cả triết lý sống, hình thức nhân cách hóa con gà, thậm chí đưa chính đời sống con người vào tranh khi vẽ gà chọi, gà cảnh, gà rừng, gà yêu thương nhau, duy trì nòi giống...

Tranh trong triển lãm của họa sĩ Thành Chương

Để có được 60 bức tranh gà đem triển lãm, họa sĩ đã làm việc liên tục trong một tháng với nhiều đêm thức trắng. Cuối cùng, từ gần 100 bức, ông đã chọn được những bức tranh ưng ý nhất.

Nguyễn Thành Chương quê gốc ở làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; là con trai trưởng của cố nhà văn Kim Lân. Cậu bé Thành Chương đã biết cầm bút màu vẽ tranh trước khi cầm bút viết những chữ cái đầu đời khi lên 7 tuổi. Bức tranh Đôi gà tồ của cậu đã giành giải Vàng cuộc thi vẽ tranh thiếu nhi quốc tế tổ chức tại Luân đôn, Anh quốc. Từ đó, gần như cuộc thi thiếu nhi quốc tế nào, cậu cũng gửi tranh dự thi và luôn đoạt giải cao. Cái tên “Chương gà tồ” cũng theo ông từ đó tới tận bây giờ.

Họa sĩ Thành Chương là một trong số ít họa sĩ của nước ta sống bằng nghề, không những vậy còn sống rất ung dung. Ông vẽ rất nhiều và tranh của ông thường bán đắt như “tôm tươi”. Đặc biệt, Thành Chương đã nhận được một vinh dự mà chưa một họa sĩ Việt Nam nào có được, đó là: Bức tranh Tình yêu của ông bày trong triển lãm “Một trái tim, một thế giới” tại New York đã được Liên Hợp Quốc chọn làm một trong 6 mẫu tem kỷ niệm Năm quốc tế về Những người tình nguyện. Con tem có bức tranh Tình yêu ấy được phát hành khắp thế giới, giống như những con tem gắn liền với các tác phẩm nổi tiếng của các danh họa hàng đầu thế giới như: Pablo Picasso, Hans Emi, Leroy Neiman... Ở Việt Nam, cũng như nhiều nước trên thế giới, công chúng yêu mỹ thuật còn biết đến tên tuổi họa sĩ Thành Chương bởi chính ông đã làm nên một dòng tranh - Tranh Thành Chương, giống như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn làm nên dòng Nhạc Trịnh.

Căn hộ của họa sĩ Thành Chương ở khu Cầu Giấy, Hà Nội thật gọn gàng với những tiện nghi khá sang trọng nhưng rất ấm cúng. Trong tổ ấm của mình, ông có treo những bức tranh của vợ, các con ở những nơi yêu thích. Tết này, ông đặc biệt dành việc trang trí nhà cửa cho vợ và các con gái của mình.

Với sức làm việc, sáng tạo đáng khâm phục, họa sĩ Thành Chương đã vẽ không biết bao nhiêu tranh, riêng tranh tự họa gương mặt mình cũng lên tới cả ngàn bức. Tuy nhiên, ông không vẽ tại biệt viện hay tại nhà của mình mà sử dụng một căn hộ khác ở tầng dưới làm xưởng vẽ. Họa sĩ bảo rằng gần như ngày nào ông cũng vẽ, rằng sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ cho hai cô con gái yêu quý ngủ ông mới xuống xưởng vẽ. Ở đó, ông một mình thỏa thuê làm việc mà không bị ai làm phiền...

Ít khi tâm sự về cuộc sống riêng tư của mình nhưng họa sĩ Thành Chương có vẻ khá tự hào về người vợ hiện tại - bà Ngô Hương. Tuy nhiên, những người biết, yêu mến ông đều truyền tai nhau rằng “Thành Chương đắt duyên mỹ nhân, đời ông đã không dưới ba lần ôm hoa, mà lần nào cũng cưới được người đàn bà vừa đẹp vừa nổi tiếng, đa phần họ đến với anh trước khi có cái ốc đảo thần tiên mang tên Việt phủ Thành Chương”.

Hai vợ chồng họa sĩ giờ sống rất hạnh phúc bên hai cô con gái nhỏ, đáng yêu. Và Việt phủ Thành Chương càng ngày càng được nhiều người yêu mến, được các tờ báo lớn hàng đầu của thế giới như: The New York Times, International Herald Tribune, Telegraph… chú ý, giới thiệu.

Mỹ Bình - TTXVN




Thế giới kỳ lạ trong tranh vẽ gà của họa sĩ Thành Chương

Thứ Hai, 16/01/2017 12:00
Tôi chào đời năm 1957, cầm tinh gà. Đó là năm một cậu bé Việt Nam tám tuổi đã nhận Giải Vàng trong cuộc thi hội họa thiếu nhi tổ chức lại Anh. Cậu bé vẽ một cặp gà tồ. Cậu bé ấy là họa sĩ Thành Chương.

Như vậy, năm nay, tôi đã bước sang tuổi 60 và cặp gà tồ ấy cũng 60 tuổi. Sau 60 năm kể từ khi cặp gà tồ của họa sĩ Thành Chương ra đời tôi mới lần đầu tiên được ngắm nhìn cặp gà ấy. Và bằng trí tưởng tượng của mình, tôi cố hình dung cậu bé Thành Chương tám tuổi đã vẽ cặp gà ấy như thế nào. Vì sao một cậu bé tám tuổi lại đạt tới sự chính xác như thế về hình, điêu luyện như thế về nét, chặt chẽ như thế về bố cục và sống động như thế trong cảm xúc. Cặp gà đẹp đến mức người ta đã gọi ông bằng cái tên “Chương gà tồ”.

Nghĩa là, cậu bé tám tuổi Thành Chương đã làm lên một thương hiệu. Việc này thật chẳng dễ dàng chút nào với một họa sỹ chứ chưa nói đến một cậu bé cầm cọ. Không ít người gọi ông là thần đồng hội họa Việt Nam.

Nhưng điều đó cũng chỉ là một quá khứ xa xôi như không ít thần đồng ở đất nước này mà thôi nếu Thành Chương không phải Thành Chương của những gì ông đã vẽ sau đó và nếu không phải là của Thành Chương của một ngày 60 năm sau, ngày họa sĩ Thành Chương từ một cặp gà tồ đã mở ra một thế giới gà huyền ảo của ông.


Tranh gà của họa sĩ Thành Chương

Có một điều tôi nhận thấy là: hầu như trong suốt 60 năm qua, tôi không thấy gà xuất hiện trong tranh của ông. Mà nếu trí nhớ phản bội tôi thì cùng lắm cũng chỉ có dăm ba lần một chú gà nào đó chợt đi qua thế giới hội họa của ông và lại biến mất rất nhanh. Để rồi một ngày, những con gà của ông hiện ra với muôn hình dáng, với muôn màu sắc và với muôn cảm xúc. Chỉ trong chừng gần một tháng, ông đã vẽ hơn 100 con gà mà không con gà nào giống con gà nào. Những con gà ngày ngày nối tiếp nhau ra đời cho tôi nhận thấy không có dấu hiệu nào của sự dừng lại. Quả là một sự sáng tạo tài tình trong một trí tưởng tượng vô tận.

Để vẽ một đề tài và đặc biệt vẽ một con vật thực sự là một thách thức khi họa sỹ muốn dựng lên cả một thế giới về nó. Hầu hết các họa sĩ chỉ vẽ đến bức thứ 5 hoặc bức thứ mười là chững lại. Nếu vẽ tiếp, họ thường sẽ lập lại những bức vẽ trước đó và người xem có thể đoán trước những gì tiếp theo của họ. Nhưng họa sĩ Thành Chương đã dẫn tôi đi qua hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Mỗi con gà sinh ra sau lại mới lạ như con gà đầu tiên. Hơn 100 con gà là hơn một trăm “chủng loại” gà nhưng tất cả lại sinh ra từ một người mẹ của chúng: đó là họa sĩ Thành Chương. Vẫn là Thành Chương của đường nét ấy, của hình khối ấy, của màu sắc ấy và của những biểu tượng ấy, nhưng tất cả lại khác biệt. Khác biệt nhưng vẫn chỉ thuộc về một. Một đấy là Thành Chương. Mỗi con gà của ông là một sáng tạo, là một thế giới, là một “độc bản”.

Tất cả những con gà kể cả cặp gà tồ ông vẽ 60 năm về trước đều rất hiện đại, nhưng con gà nào cũng như bước ra từ dân gian. Đây là thách thức rất lớn đối với các nghệ sĩ tạo hình. Và tất những điều ấy đã làm nên tên tuổi ông và thế giới hội họa của ông.

Những con gà của họa sĩ Thành Chương nếu xếp nối nhau sẽ tạo thành một sự biến ảo bất ngờ và vô tận. Có con gà nở từ dáng một bông hoa, có con gà mọc ra từ dáng một cái cây, có con gà sinh ra từ những nét bay của thư pháp, có con gà hóa thân từ nét hoa văn thổ cẩm, có con gà hiện ra từ một dáng người... Là gà đấy nhưng là hoa đấy, là gà đấy nhưng là cây đấy, là gà đấy nhưng là chữ đấy, là gà đấy nhưng là người đấy...và ngược lại. Và thế giới gà của họa sĩ Thành Chương là một thế giới người. Một thế giới của những xum họp gia đình, của những đôi vợ chồng hạnh phúc, của những đứa con yêu thương, của những cặp tình nhân mê đắm, của những ái ân bất tận, của tình mẫu tử, phụ tử, của bạn hữu, của những con người kiêu hãnh...

Họa sĩ Thành Chương đã làm nên một thế giới gà bằng trí tưởng tượng kỳ lạ. Trí tưởng tượng ấy chỉ được hiển lộ một cách trọn vẹn và quyến rũ bằng một tài năng của một nghệ sĩ lớn. Và với thế giới gà của họa sĩ Thành Chương, thêm một lần nữa tôi nhận ra rằng: những vẻ đẹp của đời sống này là vô tận. Tất cả chỉ kết thúc khi đôi mắt của trí tưởng tượng của chúng ta đóng sập lại.

Loạt tranh vẽ gà nhân năm Đinh Dậu của họa sĩ Thành Chương:

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều




Đón năm Dậu, ngắm tranh gà của triển lãm Đinh Dậu

Cập nhật lúc: 10:47 10/01/2017 (GMT+7)

Năm thứ ba cùng thực hiện ý tưởng triển lãm vẽ con giáp chào đón năm mới, ngày 13/1, nhóm họa sĩ G39 sẽ trở lại với công chúng với "Dậu Dome" tại Hà Nội


don nam dau, ngam tranh ga cua trien lam dinh dau hinh 1



Mĩ thuật Việt: 365 ngày sôi động

Thứ Ba, 03/01/2017 12:18:00

Đời sống mĩ thuật năm 2016 được xem là sôi động, với nhiều triển lãm lớn, những cuộc đấu giá tranh lần đầu tiên được tổ chức. Dẫu vẫn còn những vướng mắc, khó khăn nhưng trong xu thế tiếp tục tìm tòi, sáng tạo, giới họa sĩ đang nỗ lực xây dựng một thị trường mĩ thuật lành mạnh và chuyên nghiệp hơn nữa.

Phiên đấu giá 5 tác phẩm nghệ thuật đầu tiên tại Hà Nội.

Hàng trăm cuộc triển lãm lớn-nhỏ, chung-riêng được tổ chức trong năm qua ở các vùng, miền đã đem lại một bức tranh khá vui cho đời sống mĩ thuật Việt Nam.

Nhưng một cuộc không thể không nhắc đến đó là triển lãm “Mở cửa”- Mỹ thuật 30 năm thời kỳ Đổi mới (1986 - 2016) diễn ra từ ngày 21 đến ngày 28/9/2016 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội).

Triển lãm nhìn nhận, đánh giá sự phát triển và đổi mới của mĩ thuật Việt Nam trong 30 năm (1986 - 2016), giúp công chúng có một cái nhìn khái quát về đời sống mĩ thuật Việt Nam trong 30 năm đổi mới của đất nước.

Cũng cần nhắc tới cuộc triển lãm và trao giải thưởng tranh đồ họa ASEAN diễn ra từ 14 đến 22/12 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Đây là nơi gặp gỡ, giao lưu, trao đổi nghệ thuật giữa nghệ sĩ các nước ASEAN và giới thiệu các tác phẩm tranh đồ họa độc đáo, phong phú và đa dạng cả về nội dung và hình thức thể hiện.

Hay như cuộc thi do Bộ VH-TT&DL phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại các nước ASEAN và Đại sứ quán các nước ASEAN tại Việt Nam tổ chức, với 198 tác giả ASEAN gửi 340 tác phẩm tới tham dự...

Bức Mẫu đơn đỏ của họa sĩ Lê Phổ được bán với giá 40.000 USD.

Đấu giá tranh - bước khởi đầu

Trong năm 2016, không chỉ để làm từ thiện như trước, hoạt động đấu giá nghệ thuật mang tính thương mại đã chính thức ra đời. Đó là phiên đấu giá các tác phẩm nghệ thuật đầu tiên do Công ty cổ phần bán đấu giá Lạc Việt tổ chức tại Hà Nội hay một số galerry tổ chức tại TP HCM.

Rồi các họa sĩ tổ chức đấu giá tranh ủng hộ việc phục dựng nhà Lang (Hòa Bình) bị cháy, đấu giá tranh ủng hộ chiến sĩ làm nhiệm vụ ngoài đảo Trường Sa…

Hình thức đấu giá trên mạng cũng xuất hiện khi họa sĩ Phạm An  Hải khởi xướng, tổ chức cuộc đấu giá online các tác phẩm hội họa dưới sự điều hành của  diễn đàn Vietnam art space. 

Chỉ trong hơn 2 ngày cuộc đấu giá đã bán được 50 bức tranh, đây là dấu hiệu đáng mừng vì hòa chung với xu thế “phẳng” của thế giới, tạo điều kiện cho các họa sĩ có thể có thêm những kênh bán tác phẩm của mình đến tay người yêu mĩ thuật.

Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường mĩ thuật hiện nay với nhiều “mảng tối” xung quanh nạn tranh giả, tranh chép thì sàn đấu giá góp phần mang đến một khuôn mặt mới về sự minh bạch của các tác phẩm nghệ thuật. 

Mới đây, phiên đấu giá tối 17/12 tại TP HCM cũng là một sự kiện thú vị. Theo các chuyên gia, tranh của các họa sĩ nổi tiếng như Lê Phổ, Trần Đông Lương, Lê Văn Xương... thì khá “đắt hàng” nhưng không… đắt giá.

Bức “Mẫu đơn đỏ” (sơn dầu) của Lê Phổ bán được 40.000 USD (giá khởi điểm 30.000 USD). Bức “Chân dung thiếu nữ” (chì trên giấy) của Trần Đông Lương được bán 23.000 USD (giá khởi điểm 22.000 USD).

Bức “Thiếu nữ” (lụa) của Lê Văn Xương bán 22.500 USD (giá khởi điểm 22.000 USD). Bức “Hoa cẩm chướng” (sơn dầu trên lụa) của Nguyễn Ngọc Đan bán 2.500 USD (giá khởi điểm 2.000 USD).

Tác phẩm của họa sĩ Thành Chương trong triển lãm “Mở cửa” - Mỹ thuật 30 năm thời kỳ đổi mới.

Điều này cho thấy việc đấu giá không thực sự hào hứng, sôi nổi cho lắm. Còn tranh của các họa sĩ đương đại nổi tiếng Việt Nam hiện nay như Lê Kinh Tài, Bùi Tiến Tuấn, Nguyễn Hoài Hương, Lương Lưu Biên... thì chẳng ai “ngó ngàng” tới.

Bên cạnh đó, việc người đấu giá thành công cặp chóe Tứ linh trị giá hơn 6 tỉ đồng tại phiên đấu giá đầu tiên do Công ty cổ phần bán đấu giá Lạc Việt tổ chức ở Hà Nội, sau đó “xù” không mua nữa khiến cho công tác tổ chức đấu giá cần phải xem xét lại. Cần phải có các điều khoản, quy định pháp luật chặt chẽ; chẳng hạn cần tăng mức phí đặt cọc cao hơn để người đấu giá thắng không bỏ cuộc.

Trong khi đó, các tác phẩm nghệ thuật không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu giá. Vì vậy, Luật Đấu giá tiếp tục sửa đổi được kỳ vọng mang lại cơ sở pháp lý hoàn chỉnh hơn để hỗ trợ hoạt động này.

Theo họa sĩ Vi Kiến Thành, BTC cần chọn người giới thiệu, tác giả, tác phẩm và người điều hành phiên đấu giá có uy tín hơn. Ông cũng cho rằng, đấu giá nghệ thuật phải có tính văn hóa, sang trọng chứ không thể xô bồ như các sản phẩm khác.

Triển lãm “Mở cửa” - Mỹ thuật 30 năm thời kỳ đổi mới thu hút sự quan tâm của giới mĩ thuật.

Tranh giả vẫn hoành hành

Lâu nay việc những tác phẩm hội họa nổi tiếng bị làm giả vẫn là “chuyện thường ở huyện” song triển lãm  “Những bức tranh trở về từ châu Âu” là sự kiện vô tiền khoáng hậu. Đến một nơi đầy tính chuyên môn như Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM cũng bị tranh giả “xâm lấn” thì còn gì đau xót hơn.

Các chuyên gia đã chỉ ra 15 trong số 17 tác phẩm không phải bản vẽ do tác giả đứng tên thực hiện; hai bức còn lại bị mạo danh; đề nghị Bảo tàng có văn bản gửi Công an và Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao TP HCM tạm giữ để phục vụ điều tra và xử lý.

Các bức tranh tưởng được vẽ dưới bàn tay tài danh hội họa như bộ tứ huyền thoại làng hội họa Việt Nam: Nghiêm - Liên - Sáng - Phái (Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái); cùng một số họa sĩ nổi tiếng Trường Mỹ thuật Đông Dương (giai đoạn 1925 - 1945) thực chất chỉ là “ốc mượn hồn”.

Bảo tàng đã gửi lời xin lỗi đến công chúng về sự việc này nhưng cơ quan quản lý đã “không kịp” vào cuộc vì hết thời gian triển lãm, chủ nhân bộ sưu tập đã mang các tác phẩm về… Như vậy, những tác phẩm không phải là thật đó vẫn có cơ  hội trôi nổi ra thị trường. 

Một sự kiện cũng gây “chấn động” không kém đó là trong phiên đấu giá nghệ thuật gây quỹ từ thiện Thiện Nhân và những người bạn tại TP HCM, bức tranh sơn dầu “Phố cổ Hà Nội” của danh họa Bùi Xuân Phái được đấu giá thành công với mức giá 102.000 USD (gần 2,3 tỷ đồng).

Bức tranh cũng dính nghi án nhưng chưa kiểm chứng được khi các nhà chuyên môn và gia đình họa sĩ Bùi Xuân Phái đã lên tiếng nghi ngờ kiệt tác sơn dầu của danh họa là tranh giả…

Từ những năm 90 của thế kỉ trước, nạn tranh giả đã “bung lụa” khi hàng loạt các danh họa nổi tiếng như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Phan Chánh và cả những tác giả trẻ mới nổi đều bị sao chép tranh và bán công khai. Không có sự xử lí mạnh tay từ các cơ quan chức năng, trải qua một thời gian dài, tranh giả từ đắt tới rẻ bày bán khắp nơi.

Điều này ảnh hưởng  lớn tới uy tín của chính tác giả khi mà những bức vẽ không còn là “độc bản” và thị trường mĩ thuật lao xao, bát nháo kéo dài quá lâu không có cách nào khắc phục.

Gần đây, khi đã hội nhập với thế giới, người ta giật mình cần có sự minh bạch hơn thì nạn tranh giả đã hoành hành quá lâu rồi. Đây là nỗi ám ảnh của các nhà sưu tập chân chính, đồng thời làm ảnh hưởng tới thị trường mĩ thuật Việt Nam.

Hơn lúc nào hết, cần luật mạnh tay hơn trong nạn tranh giả, nhưng rõ ràng cũng phải có cơ sở pháp lý mới xử lý được, còn nếu không tất cả vẫn chỉ là “nghi án” mà thôi.

Bùi Trọng Hiếu



Đấu giá tranh danh họa Lê Phổ và Affandi ở Sài Gòn

Bức "Mẫu đơn đỏ" của Lê Phổ và "Hội chợ phù hoa" của họa sĩ Indonesia - Affandi - hứa hẹn gây sốt tại buổi đấu giá tối 17/12.

Cuộc đấu giá mang tên "Vị nghệ thuật" (tên tiếng Anh "Treasures of the Arts") sẽ diễn ra vào 19h ngày 17/12 ở TP HCM.

Điểm thu hút sự chú ý ở buổi đấu giá là sự xuất hiện tác phẩm của hai danh họa: Lê Phổ (1907 - 2001) và Affandi (1907 - 1990). Trong khoảng 20 năm qua, tác phẩm của cả hai đã tạo niềm hứng khởi, kịch tính cho các phiên đấu giá quốc tế. Họ cũng đang thuộc số ít các tên tuổi họa sĩ được tìm kiếm bậc nhất ở Đông Nam Á.

Khi thông tin về buổi đấu giá được công bố, không ít người đặt câu hỏi về việc thẩm định: "Liệu tranh của danh họa Lê Phổ và Affandi ở đây có phải là tranh thật không?". Bởi bức tranh Hội chợ phù hoa của Affandi lại không có chữ ký của tác giả.

Vấn đề này được đặt ra khi dư âm buồn về việc Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, trong tháng 7 vừa qua, phải xin lỗi công chúng vì đã mở cuộc triển lãm toàn tranh giả. Không trả lời thẳng vào câu hỏi, bà Lý Bích Ngọc - giám tuyển tranh cho buổi đấu giá "Vị nghệ thuật" - khẳng định các tác phẩm đem ra đấu giá đều có nguồn gốc rõ ràng. "Chúng tôi vẫn mong giới chuyên môn giúp mỹ thuật Việt Nam nói chung giải quyết vấn đề còn rất nan giải này", bà Bích Ngọc chia sẻ.

Bức Mẫu đơn đỏ (Les Pivoines Rouge, sơn dầu trên bìa cứng, kích thước 92,4cm x 64,8 cm) của danh họa Lê Phổ từng xuất hiện tại phiên đấu Impressionist & Modern Art của nhà Doyle ngày 4/11/2015 ở New York (Mỹ). Người mua tác phẩm là Ngoc Cao.

Bức Mẫu đơn đỏ của danh họa Lê Phổ.

Bức "Mẫu đơn đỏ" của danh họa Lê Phổ.

Họa sĩ Lê Phổ sinh ở Hà Đông, Hà Nội. Ông là một trong những sinh viên ưu tú đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương, được chính hiệu trưởng - họa sĩ, giáo sư người Pháp Victor Tardieu - đào tạo. Năm 1937, Lê Phổ sang Pháp, kết hôn với bà Paulette Vaux - phóng viên báo Time & Life và định cư tại đây. Pierre Le Tan - con trai của hai người - sinh năm 1950, được thừa hưởng tài năng của cha và trở thành một trong những họa sĩ vẽ minh họa nổi tiếng tại Pháp.

Bức Hội chợ phù hoa của Affandi là tác phẩm sơn dầu có kích thước 60 cm x 120 cm, được danh họa sáng tác khoảng thập niên 1960. Từ bé, Affandi đã đam mê hội họa. Chính vì thế, ông không trở thành bác sĩ như mong muốn của cha mà tự học để làm họa sĩ. Ông nổi danh từ thập niên 1950 với các tác phẩm biểu đạt lối vẽ tự do, phóng khoáng, mạnh mẽ về màu sắc lẫn thủ pháp. Affandi có lối vẽ độc đáo là không dùng cọ hay bút mà cầm nguyên ống màu nặn ra để sáng tác trực tiếp. Nhiều nhà phê bình đã ví von ông là "Vincent van Gogh" của mỹ thuật Đông Nam Á.

Bức Hội chợ phù hoa của Affandi.

Bức "Hội chợ phù hoa" của Affandi.

Phiên đấu giá mỹ thuật này diễn ra theo hai hình thức là "Đấu trực tiếp" (live auction) và "Đấu ngẫm ngợi" (silent auction). Trong đó, hình thức đầu được áp dụng cho các tác phẩm của danh họa Lê Phổ, Affandi và các họa sĩ như Hasim, Trần Đông Lương, Lê Văn Xương, Lê Kinh Tài, Lê Thiết Cương, Bùi Tiến Tuấn, Lương Lưu Biên, Nguyễn Hoài Hương, Nguyễn Ngọc Đan…

Họa phẩm của Liêu Nguyễn Hướng Dương, Lim Khim Katy, Trần Thanh Cảnh, Lê Kiệt, Hồ Hồng Lĩnh, Trung Nghĩa, Lê Minh Đức, Mạc Hoàng Thượng, Trần Ngọc Đức, Trần Thế Vĩnh, Phạm Đình Tiến, Văn Thạnh, Bùi Đức Tạo… được áp dụng hình thức thứ hai.

Buổi đấu giá diễn ra ở số 19, Công Trường Lam Sơn, quận 1, TP HCM.

Thất Sơn


Tranh của Lê Phổ, Vũ Cao Đàm trưng bày ở Hà Nội

Công chúng được dịp thưởng lãm hơn 50 tác phẩm của các họa sĩ trưởng thành từ Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Trong lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (tiền thân của Đại học Mỹ thuật Việt Nam ngày nay) có vai trò quan trọng. Đây là nơi đào tạo nên thế hệ họa sĩ hiện đại đầu tiên của đất nước. 

Khoảng 50 tác phẩm của các họa sĩ thành danh từ ngôi trường này sẽ được giới thiệu trong triển lãm "Hội họa Việt Nam - một diện mạo khác". Triển lãm khai mạc lúc 18h ngày 19/10, kéo dài tới hết ngày 23/10 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Các tác phẩm trưng bày thuộc bộ sưu tập tư nhân của nhà sưu tầm Nguyễn Minh. 

tranh-cua-le-pho-vu-cao-dam-trung-bay-o-ha-noi

Tác phẩm "Điểm tâm" của Lê Phổ. 

Sở dĩ triển lãm được đặt tên "Một diện mạo khác" bởi các tác phẩm trưng bày đều được Nguyễn Minh mua qua hình thức đấu giá quốc tế. Nhiều bức trong số đó được các họa sĩ Việt Nam sáng tác khi ở nước ngoài. "Họ vẽ về Việt Nam qua hồi ức, bởi thế tác phẩm mang một diện mạo khác", Nguyễn Minh nói.

Trong số 50 tác phẩm, chiếm lượng lớn nhất là tranh của Lê Phổ với 12 bức. Tranh của bậc thầy trường phái hậu ấn tượng được trưng bày đều là sơn dầu, có thể kể tên một vài bức như Cô gái trong vườn, Hái hoa hồng, Bữa sáng, Tĩnh vật...

Triển lãm cũng có chín bức của họa sĩ Vũ Cao Đàm - nổi tiếng ở nghệ thuật điêu khắc và tranh sơn dầu. Một số tác phẩm được trưng bày trong triển lãm như Thúy Kiều - Kim Trọng, Mẫu tử...

tranh-cua-le-pho-vu-cao-dam-trung-bay-o-ha-noi-1

"Chuyện trò" - tác phẩm của Vũ Cao Đàm  trưng bày trong triển lãm .

Ngoài ra, triển lãm giới thiệu tới công chúng những tác phẩm của các họa sĩ nổi tiếng trưởng thành từ Mỹ thuật Đông Dương như Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Trần Duy, Phan Thông, Phạm Hậu...

Nhà sưu tầm Nguyễn Minh sở hữu nhiều tranh quý. Bộ sưu tập nghệ thuật của anh hiện lưu giữ hơn 200 tác phẩm hội họa hiện đại trải dài qua nhiều giai đoạn, từ thời kỳ Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thời chiến tranh, bao cấp và giai đoạn đổi mới.

Để có được những tác phẩm này, Nguyễn Minh phải cất công theo đuổi, lặn lội tìm kiếm cả trong và ngoài nước. Nhiều bức anh phải cạnh tranh vất vả tại các phiên bán của các nhà đấu giá nổi tiếng như Christie, Sotheby's... 

Lam Thu




Thị trường mỹ thuật nội địa Việt Nam non trẻ và kém chuyên nghiệp

Giới mỹ thuật trong nước nhận định, tranh Việt bán được nhưng phần lớn cho người nước ngoài. Người Việt thường mua tranh để trang trí chứ chưa có hoạt động mua đi bán lại tạo thị trường thứ cấp.

Thị trường mỹ thuật được hiểu là nơi buôn bán, giao dịch các tác phẩm mỹ thuật và mỹ thuật ứng dụng. Không chỉ là một lĩnh vực tài chính, thị trường mỹ thuật còn bao gồm hoạt động giao lưu, trao đổi giữa giá trị nghệ thuật, giá trị tài năng, sáng tạo.

Để cấu thành một thị trường mỹ thuật cần nhiều yếu tố, như tự thân các tác phẩm phải có giá trị; đội ngũ nghệ sĩ sáng tạo tài năng; các nhà sưu tầm, người mua, hệ thống gallery, bảo tàng, nhà triển lãm chuyên nghiệp; hệ thống giáo dục mỹ thuật tốt, không chỉ đào tạo người sáng tác mà cả người thưởng thức... Theo nhà báo Đào Mai Trang của Tạp chí Mỹ Thuật - chuyên nghiên cứu mỹ thuật đương đại Việt Nam - nước ta có đầy đủ điều kiện nền tảng để cấu thành thị trường nội địa. Tuy nhiên, cái thiếu là chưa thể gắn kết các điều kiện ấy thành một nền tảng vững chắc và thuận lợi. 

body-thi-truong-3057-1427777164.jpg

Bức tranh "Nhìn từ đỉnh đồi" của họa sĩ Lê Phổ được bán với giá 840.000 USD tại phiên đấu giá năm 2014 của nhà Christie's (công ty mua bán, đấu giá tranh nghệ thuật lớn nhất thế giới, hoạt động từ năm 1766 và đặt trụ sở chính tại London)

Những năm 1990 đến giữa những năm 2000 là giai đoạn tranh Việt Nam được mua nhiều. Tuy nhiên, thời gian sôi động ấy vẫn chưa tạo nên một thị trường mỹ thuật nội địa thực sự, bởi có ít người Việt mua tranh Việt. Theo anh Trung Thành - Giám đốc Gallery Ngàn Phố (một gallery hoạt động 10 năm tại Hà Nội), lượng người Việt tới gallery mua tranh rất ít. Khách nước ngoài vãng lai mua tranh hầu hết vì lý do ngoài nghệ thuật, ví dụ như họ có cha ông từng tham chiến ở Việt Nam nên mua tranh Việt như một món đồ kỷ niệm.  

Suzanne Lecht - Giám đốc Art Vietnam Gallery (một phòng tranh về nghệ thuật đương đại Việt Nam, hoạt động 12 năm nay) - chia sẻ, suốt hơn 10 năm mở Art Vietnam, bà chỉ thấy có ba hay bốn người Việt mua tranh. Bà cho rằng, Việt Nam có những yếu tố để hình thành một thị trường nhưng dường như chúng đều yếu ớt. Suzanne Lecht phân tích, Việt Nam có một số gallery, nhưng số lượng phòng tranh thực sự chứ không phải cửa hàng buôn bán tranh chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Việt Nam cũng có người sưu tầm nhưng ít ỏi. Số người Việt mua tranh càng ngày càng nhiều hơn, nhưng vẫn chưa đủ tạo nên thị trường nội địa. 

Cuốn sách Thị trường nghệ thuật 2012 (do Artprice phát hành) đưa ra thông tin trong khoảng ba năm (2010 - 2012), Trung Quốc dẫn đầu thị trường tranh toàn cầu, chiếm 41% doanh thu toàn thế giới. Sở dĩ giá tranh của họa sĩ người Hoa đạt mức ngoạn mục bởi giới nhà giàu Trung Quốc bỏ số tiền lớn mua tranh, với mục đích không để tác phẩm giá trị của họ rơi vào nước khác sở hữu. Tại một buổi trò chuyện nghệ thuật, họa sĩ Lê Thiết nói: "Ở các phiên đấu giá của nhà Larasati (một nhà đấu giá nghệ thuật nổi tiếng ở Singapore), tranh của các nước Thái Lan, Indonesia, Singapore bán được với giá cao đều do người giàu của nước họ mua".

Nhận thức về mỹ thuật của công chúng trong nước đóng vai trò quan trọng đối với thị trường nội địa. Họa sĩ Lê Thiết Cương nói: "Nhiều người lúc nào cũng kêu gào tranh bán đắt quá. Nhưng họ có nhà, có đất, đổi bao nhiêu cái xe, thì chả bao giờ kêu những thứ ấy đắt cả. Khi nào họ coi tranh là đất, là vàng, là USD, cứ 100 người mua tranh có 5 người coi tranh là hàng hóa đầu tư, thì đó là dấu hiệu tốt cho thị trường mỹ thuật". Theo họa sĩ, không thể "đùng một cái" là có một thị trường sôi động, mà mỗi người hoạt động trong lĩnh vực đều phải cố gắng một chút.

Tự thân các nghệ sĩ, những gallery thời gian qua đã có hành động tích cực để hướng tới đối tượng khách hàng người Việt. Chính Lê Thiết Cương chọn cách giới thiệu nghệ thuật tới số đông công chúng Việt. Cách đây vài năm, khi làm giám tuyển cho một chương trình nghệ thuật, anh tham gia với hai điều kiện: "Nghệ thuật phải làm cho người Việt Nam, và triển lãm không được đưa vào không gian nghệ thuật hàn lâm". Vì muốn đưa nghệ thuật đến gần hơn với công chúng, anh đã tổ chức các triển lãm ở các không gian công cộng như Tràng Tiền Plaza, khu Royal City, một showroom xe hơi, và sắp tới, anh còn tổ chức ở bến xe Mỹ Đình.

"Tôi có khoảng 50 cuộc triển lãm trong và ngoài nước, 49 cuộc tôi làm có yếu tố hướng tới đối tượng người nước ngoài. Nhưng cuộc gần đây, tôi làm triển lãm mà không in một chữ tiếng Anh nào trên các phương tiện quảng bá, từ giấy mời, bao bì, standy, sách triển lãm... Tôi làm vậy không phải là hy vọng có người Việt mua, mà để thể hiện sự tôn trọng với người Việt trước đã. Rồi hy vọng vài năm nữa, 10 năm, 20 năm nữa họ giàu có hơn, yêu thích và hiểu mỹ thuật hơn", Lê Thiết Cương nói.

body-dung-1119-1424766719-7895-142777716

"Tết Art" - một hội chợ nghệ thuật hướng tới công chúng Việt.

Gần đây, cũng với mong muốn đưa tác phẩm gần hơn với công chúng, một số nghệ sĩ đã đứng ra tổ chức các hội chợ nghệ thuật. Họa sĩ Nguyễn Hồng Phương phối hợp với CuCi Fine Art thực hiện Hội chợ Nghệ thuật Hà Nội lần thứ nhất. Chương trình diễn ra từ 5 tới 28/12/2014 tại Hàng Da Galleria, với sự tham gia của hơn 50 nghệ sĩ, tạo cơ hội quảng bá, giới thiệu tranh, điêu khắc... Tháng 2/2015, hội chợ nghệ thuật Tết Art tiếp tục được tổ chức tại đây với quy mô lớn hơn. Tổng kết Tết Art đã thu về gần một tỷ đồng tiền bán tranh. Sự kiện thu hút nhiều người Việt tới Chợ Hàng Da xem tranh, và 99% khách mua tranh là người Việt.

Nghệ sĩ Trịnh Minh Tiến - người sáng lập Tết Art - chia sẻ: "Làm Tết Art đâu phải chỉ cho công chúng tiếp cận, mà mình đang làm cho chính bản thân họa sĩ. Bởi nếu bán tranh cho người Việt, tác phẩm của mình sẽ ở lại đất nước. Chính người mua sẽ trở thành bạn bè của mình, họ có thể giới thiệu với những bạn bè người Việt khác. Và như vậy, trong tương lai, họ là người góp phần giúp đỡ mình trong việc tạo thị trường mỹ thuật".

Lam Thu



Tết Art - một hình thức đưa nghệ thuật tới công chúng

Chợ tranh đương đại Tết Art có 99% khách mua là người Việt Nam, đánh dấu thành công của việc đưa hội họa tiếp cận công chúng.

Tại nhiều nước trên thế giới, nghệ thuật có một lượng công chúng đông đảo với các bảo tàng nhiều người tham quan, những chương trình nghệ thuật mất tiền vẫn chật kín ghế, những phố hội họa như Place du Tertre trên đồi Montmartre, phố Arbat tại Moscow, công viên Ueno tại Tokyo... Ở Việt Nam, nghệ thuật vẫn chưa có nhiều công chúng. Trong nỗ lực tiếp cận khán giả, Tết Art được thực hiện.

body-dung-1119-1424766719.jpg

Một góc không gian tại Tết Art.

Tết Art do Real Art và Hàng Da Galleria phối hợp tổ chức từ 5 tới 16/2 tại Hà Nội. Mục đích chương trình nhằm kết nối nghệ sĩ với khán giả, giúp người yêu nghệ thuật trong nước hiểu và sở hữu các tác phẩm của họa sĩ Việt Nam với mức giá hợp lý. Các tác phẩm tham gia Tết Art 2015 đều được giám tuyển cẩn thận, song hầu hết đều có mức giá dưới 20 triệu đồng. Đó là nỗ lực của ban tổ chức và các nghệ sĩ để mang nghệ thuật đến mọi nhà.

Ngay việc dùng từ "chợ" trong tên chương trình cũng là một gợi ý hay của ban tổ chức. Theo họa sĩ Trịnh Minh Tiến - đồng sáng lập chương trình Tết Art - "chợ" là không gian thân thuộc của người Việt, nơi tập trung các sản phẩm, và trao đổi buôn bán, gặp gỡ của người dân. Việc mang tranh ra "chợ", thay vì các phòng triển lãm sang trọng, đã phá vỡ rào cản giữa nghệ thuật và công chúng, đưa tác phẩm và nghệ sĩ tiếp cận trực tiếp tới người dân, mang đến cho công chúng mọi lứa tuổi cơ hội tiếp xúc nghệ thuật và giáo dục thẩm mỹ trực tiếp.

body-2-Tet-Art-7374-1424766719.jpg

Đông đảo công chúng tham gia chợ tranh Tết đương đại Tết Art.

Điều thú vị tại Tết Art là việc không đề tên tranh, tác giả cũng như giá tranh bên cạnh tác phẩm. Đây là cách làm của nhiều triển lãm trên thế giới, nhằm đảm bảo người xem được hoàn toàn tự do thưởng thức nghệ thuật không giới hạn và các tác phẩm hoàn toàn công bằng trước công chúng. Cách làm này có thể mới đầu gây bỡ ngỡ cho người xem, nhưng công chúng sẽ cảm nhận hiệu quả của cách sắp xếp tranh và hưởng ứng cách làm. Các họa sĩ cũng luôn túc trực để giải đáp thắc mắc dành cho tác phẩm.

Doanh thu của chợ tranh đương đại Tết Art 2015 đạt khoảng một tỷ đồng, với 99% khách hàng là người Việt. Đặc biệt, ba bức tranh sơn mài khổ lớn của họa sĩ Trịnh Tuân được ban tổ chức triển lãm với mục đích giới thiệu tới người xem, đã được ba khách hàng Việt Nam quyết tâm mua với mức giá lên tới cả chục nghìn USD mỗi bức. Ngoài ra, các tác phẩm của họa sĩ gạo cội trong nền mỹ thuật Việt Trần Huy Oánh đã được một số người quan tâm và ngỏ lời mua với mức giá cao.

body-3-Tet-Art-8901-1424766719.jpg

Chương trình hướng dẫn công chúng thực hành kỹ thuật tranh khắc ở Tết Art.

Tranh tại Tết Art đã vượt qua giá trị truyền thống như một món đồ trang trí mà nâng tầm với giá trị đầu tư và trao đổi. Điều đó thể hiện ở việc tại chợ tranh bắt đầu có nhà sưu tập đem tác phẩm đến bán. Mặc dù chiếm phần lớn tranh được mua là để treo, sưu tầm, và làm quà tặng Tết, số ít mua đầu tư, con số trên với một chợ như Tết Art cũng là tia hy vọng cho một thị trường mỹ thuật.

Ngoài mô hình Tết Art, đã và đang có nhiều hình thức đưa nghệ thuật đến với công chúng, và được hưởng ứng như chương trình triển lãm của Luala Concert, các quán cà phê nghệ thuật như Manzi, lAcA, không gian nghệ thuật Zone 9 cũ... Việc đưa nghệ thuật ra ngoài, thoát khỏi những không gian chính thống để tiếp cận trực tiếp tới cộng đồng cũng là hình thức giáo dục thẩm mỹ, tạo nền tảng cho lớp người yêu nghệ thuật tương lai.

Thu Hằng



Các hoạ sĩ nói về gallery và thương mại nghệ thuật

Sự hình thành ồ ạt các phòng tranh, sự tăng đột ngột số lượng hoạ sĩ trong vài năm qua, một mặt có thể nói là phát triển, mặt khác là dấu hiệu của sự xuống dốc và thương mại hoá nghệ thuật. Đó là suy nghĩ chung của các hoạ sĩ, nhà phê bình Phan Cẩm Thượng, Trần Lương, Dương Tường.

Một tác phẩm của hoạ sĩ Quang Minh tại Gallery Cỏ xanh.

- Các ông có nhận xét gì về toàn cảnh gallery ở nước ta?

- Phan Cẩm Thượng: Vài trăm gallery trong nước cùng bán một thứ hàng kém phẩm chất, loanh quanh với mươi tác giả thời thượng, trình bày một thứ hội họa loè loẹt về màu sắc, phô trương về kỹ thuật, và nông cạn về ý tưởng. Gallery hiện nay không phát hiện hoạ sĩ, hoạt động chỉ với mục đích duy nhất là kiếm tiền. Hầu hết phòng tranh đều không đạt tiêu chuẩn về kinh doanh nghệ thuật, yếu về nhạy cảm thẩm mỹ, kém về quyền lực kinh tế, không đủ tư cách trao đổi với các gallery ở nước ngoài. Có thể nói đây là thời kỳ suy thoái của gallery Việt Nam.

- Trần Lương: Hoạt động gallery ở Việt Nam chưa chuyên nghiệp. Nhiều ông chủ đứng ra điều hành phòng tranh mà không có một chút kiến thức nào về hội họa. Gallery chạy theo lợi nhuận, hầu như không giới thiệu được hoạ sĩ, hay ủng hộ nghệ thuật. Người ta cũng không cần biết đến style của nghệ thuật, treo đủ các loại từ sơn dầu đến lụa, từ tả thực đến trừu tượng…, không một gallery chuyên nghiệp nào làm như vậy cả.

- Dương Tường: Gallery ở ta thiên về hàng “souvernir”. Một số phòng tranh có được thành công “sổi” không phải nhờ thẩm mỹ tốt mà do nghe ngóng thị hiếu, rồi bám theo các hoạ sĩ “ăn khách”.

- Người ta nói nhiều đến nạn tranh giả ở Việt Nam. Sự thực thì sao?

- Phan Cẩm Thượng: Rất nhiều. Gallery bán tranh giả của hoạ sĩ đang sống, các nhà sưu tập bán tranh giả của hoạ sĩ đã chết. Họ nghĩ rằng người mua không biết gì, cũng không ý thức được việc làm tranh giả khiến mất uy tín của tranh thật. Bản quyền tác giả bị vi phạm nghiêm trọng mà người vi phạm đầu tiên chính là các hoạ sĩ. Đã đến thời điểm phải có luật kinh doanh trong hoạt động mỹ thuật.

- Đối tác chủ yếu của thị trường tranh Việt Nam là người nước ngoài. Ông nghĩ sao khi thị trường Mỹ thuật VN không có công chúng trong nước?

- Trần Lương: Người Việt Nam không mua tranh không hẳn là vì họ không có tiền, không đến xem triển lãm mỹ thuật không phải vì không có thời gian, vấn đề là việc giáo dục thẩm mỹ ở ta còn nhiều bất cập. Cần phải đưa công chúng tới nghệ thuật, tạo ra môi trường hoạt động mỹ thuật để nâng cao nhận thức trong dân trí, mà theo tôi, Trung tâm mỹ thuật đương đại (Art-centre) là hình thức rất hiệu quả, nó là cầu nối công chúng và nghệ thuật. Mở những lớp học cơ bản về nghệ thuật, mời nghệ sĩ đến nói chuyện, giao lưu với công chúng… là cách để công chúng tiếp cận với nghệ thuât.

Đan Phượng




Nhiều họa sĩ lên tiếng về bức tranh đấu giá của cố danh họa Bùi Xuân Phái

Bức tranh 'Phố cổ Hà Nội' đang gây tranh cãi /// ẢNH: TƯ LIỆU
Bức tranh 'Phố cổ Hà Nội' đang gây tranh cãi    ẢNH: TƯ LIỆU

Ngay sau khi họa sĩ Bùi Thanh Phương, con trai cố danh họa Bùi Xuân Phái, lên tiếng khẳng định bức tranh sơn dầu Phố cổ Hà Nội của cố danh họa Bùi Xuân Phái là tranh giả, đã có không ít họa sĩ Việt cùng đồng loạt lên tiếng.

Được biết bức tranh trên vốn thuộc sở hữu của nhà sưu tập Đức Minh, sáng tác từ khoảng năm 1968-1972, và đã được bán đấu giá thành công với số tiền 102.000 USD vào tối 22.10 tại TP.HCM, do Quỹ Sống để yêu thương (Live To Love Việt Nam) tổ chức nhằm tìm kiếm kinh phí cho chương trình Thiện Nhân và những người bạn, hỗ trợ phẫu thuật dị tật đường tiểu cho trẻ em.
Hiện ông Bùi Quốc Chí, con trai nhà sưu tập Đức Minh, nơi sở hữu bức tranh trên, và Ban tổ chức buổi đấu giá tranh vẫn khẳng định đây là bức tranh thật.
Bức tranh không có “chất” Bùi Xuân Phái
Theo họa sĩ Bùi Thanh Phương, thật và giả chỉ cần nhìn đã đủ biết. “Đó là bức tranh giả. Chỉ nhìn thôi đã đủ biết rồi. Tôi đã rất mệt mỏi với vấn nạn tranh giả của bố tôi. Nhưng không thể không lên tiếng vì như thế này thế hệ sau sẽ không còn biết tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái thực sự là thế nào. Tranh của cụ hiện gia đình không còn giữ nhiều, nó đã là sở hữu của cộng đồng rồi. Nhưng tranh của cụ lại bị làm giả bởi những người không chuyên nghiệp mà lại bán giá cao trên thị trường là điều thực sự đáng buồn”, họa sĩ Phương nói. Họa sĩ Phương cũng cho biết ông từng nhiều lần lên tiếng về tranh giả Bùi Xuân Phái lưu hành và bán ở khắp nơi nhưng không có tác dụng.
Họa sĩ Nguyễn Thanh Bình cho biết nhà sưu tập Đức Minh (tên thật Bùi Đình Thản) vốn chơi rất thân với họa sĩ Bùi Xuân Phái nên tuyệt đối không có tranh giả, nhái (hơn nữa thời kỳ ấy không có "hiện tượng" này vì không có "thị trường"). Tuy nhiên sau khi xem tranh, họa sĩ Bình khẳng định bức tranh đấu giá là tranh giả.
“Bức tranh này không cần anh Bùi Thanh Phương lên tiếng, những ai trong nghề lâu năm đều thấy nó là giả. Dễ thấy nhất là các nét "contour" (đường viền quanh hình) của bác Phái không bao giờ "đều đặn, thẳng thớm" như thế. Người nhái bức tranh này hoàn toàn không hiểu tình cảm và bút pháp của bác Phái khi vẽ những mái nhà "xiêu vẹo"... Cái xiêu vẹo, lô xô của bác Phái là ngẫu hứng có chủ ý bằng tay nghề điêu luyện, đường "contour" của bác dày dặn và tình cảm”, họa sĩ Bình nói.
Họa sĩ Bình phân tích: “Nét vẽ tình cảm là không "tô", không "kẽ"... nó "đi" một cách tự nhiên, "luyến láy" tự nhiên nhưng có chủ đích. "... mái ngói thâm nâu..." của phố cổ Hà Nội in sâu trong tâm hồn người Hà Nội, nó là màu thời gian đi theo người nghệ sĩ, vì vậy nó không phải là màu nâu đỏ. Người nhái bức tranh này chẳng những không có tình cảm gì với Hà Nội mà còn không hiểu gì về bút pháp của nghệ sĩ.
Bác Phái thường vẽ tranh nhỏ (thậm chí rất nhỏ) một phần vì điều kiện vật chất, một phần vì tái hiện cảm xúc trên diện tích nhỏ nhanh hơn, dễ hơn... và một điều hiển nhiên, bác "vẽ" chứ không "tô màu". Việc phủ màu lên, chạy theo cảm xúc, nên thường diễn ra nhanh, lấy màu từ pallette nhanh, do đó màu trên từng nhát cọ chẳng những không giống nhau mà còn "chồng lấn" lên nhau một cách tự nhiên, tạo ra một hòa sắc rất tình cảm. Rõ ràng, bức được mang ra đấu giá chỉ là một bức tô màu sao chép vụng về. Người mang nó ra đã thiếu hiểu biết, người mua nó về cũng thiếu hiểu biết…”.
Kiến trúc sư, họa sĩ, nhà thơ Nguyễn Anh Vũ cũng nhận xét rằng “tranh cứng quèo, giả cũng không nên hồn”.
Một số họa sĩ khác giấu tên cũng cho rằng bức Phố cổ Hà Nội không có “chất” Bùi Xuân Phái. Tranh của Bùi Xuân Phái thường vẽ những gam màu trầm nhưng nội dung tranh lại không trầm mà thể hiện rõ cuộc sống Hà Nội, còn bức tranh đã bán có gam màu chói, nội dung tranh lại quá u tối, không phải tinh thần của Bùi Xuân Phái.
Tuy nhiên họa sĩ Nguyễn Hải Nam cũng cho rằng “tranh cụ Phái bị làm giả nhiều quá nên bây giờ cứ thấy tranh của cụ là bị nghi ngờ không biết có phải là tranh thật không”.
Tranh đấu giá có cần thẩm định?
Theo họa sĩ Nguyễn Thanh Bình, để nhận biết được tranh thật giả, trước hết phải hiểu và nhận ra bút pháp, phong cách, hiểu cá tính của tác giả. Họa sĩ Bình giải thích: “Bác Phái là một người rất điềm đạm, từ tốn (thậm chí có khi còn hơi "nhát") nói năng ôn tồn, nhỏ nhẹ, khiêm tốn... vì thế gam màu của bác ấy lúc nào cũng trầm, buồn... Gam màu luôn luôn thể hiện tính cách. Bác Phái là một họa sĩ chuyên nghiệp, được (người Pháp) đào tạo bài bản, nên nét vẽ của bác cũng chuyên nghiệp, bài bản... Cái xiên xẹo, vẹo vọ của những mái nhà phố cổ bác ấy vẽ không phải vì "yếu hình" mà là chủ ý để diễn tả sự "già nua, buồn bã". Những nhát cọ chồng lấn lên nhau, quyện vào nhau, chẳng những thể hiện sự vững vàng trong điều khiển màu, hòa sắc mà còn là sự "xê dịch, nhúc nhích" của cảm xúc nhằm tạo ra không gian... Chính điều này làm loạt tác phẩm Phố của bác hút hồn người xem".
Còn họa sĩ Nguyễn Đình Đăng (Nhật Bản) cho rằng việc đầu tiên xem xét bức tranh thật giả trước hết so chữ ký. “So chữ ký của cụ Phái với chữ ký trên tranh là việc ai cũng có thể làm được", họa sĩ Đăng nói. Nhưng trên thực tế cho thấy trên nhiều bức tranh giả đã đạt tới trình độ có chữ ký giống hệt như chữ ký thật, nên điều này sẽ gặp khá nhiều khó khăn.
Nhiều ý kiến cho rằng cũng bởi sự thiếu hụt một hội đồng thẩm định mang tầm quốc gia cùng những quy định pháp luật rõ ràng trong việc đấu giá tranh nên nảy sinh nhiều tình trạng đấu giá tranh vô tội vạ, không rõ thật giả.
Họa sĩ Lã Huy cho rằng cần đem bức tranh đang gây tranh cãi trên ra hội đồng thẩm định và kiểm định xem thực hư thế nào. “Thật giả thì chưa có rõ nhưng mà tỷ lệ tranh Phái giả hơi nhiều. Việc cứ thế đem ra đấu giá mà không cần thẩm định là thiếu hiểu biết, làm ăn cẩu thả. Phải có một đội ngũ chuyên gia công tâm và đủ tài năng để thẩm định thật giả. Có vậy tiếng tăm của danh họa Bùi Xuân Phái mới được giữ gìn”, họa sĩ Huy nói.
Còn họa sĩ Lê Huy Tiếp cũng cho biết ông chưa dám khẳng định vì chưa nhìn thấy tranh thật, tuy nhiên ông đã rất vui mừng vì thấy cuộc đấu giá đó có người dễ dàng bỏ ra hơn 100.000 USD để mua một bức tranh của Bùi Xuân Phái, chứng tỏ họ yêu hoặc muốn đầu tư vào mỹ thuật Việt.
Tuy nhiên cũng có một số ý kiến cho rằng mục đích đấu giá tranh là từ thiện nên việc mua nhầm phải tranh chưa ''xịn'' cũng không phải là điều đáng phải tranh cãi, trừ phi người mua xót tiền lên tiếng.

Đại Mỹ Lệ








Tranh Bùi Xuân Phái đấu giá từ thiện mức khởi điểm 77.000 USD

Nhiều họa phẩm hàng nghìn đến chục nghìn đô sẽ được đấu giá để gây quỹ phẫu thuật dị tật đường tiểu cho trẻ em Việt.

Tác phẩm của họa sĩ Bùi Xuân Phái

Bức tranh "Phố cổ Hà Nội" của họa sĩ Bùi Xuân Phái (1920-1988) là một trong những tác phẩm được đưa ra trong phiên đấu giá mang tên "Thiện Nhân và những người bạn", do quỹ "Sống để yêu thương" tổ chức. Tranh chất liệu sơn dầu, được sáng tác khoảng năm 1968 - 1972, thuộc nhóm tác phẩm có kích thước lớn nhất của cố họa sĩ.  Giá khởi điểm của bức này là 77.000 USD (hơn 1,7 tỷ đồng).

Tranh Gửi đêm của cố thi sĩ Bùi Giáng

Tranh "Gửi đêm" của cố thi sĩ Bùi Giáng có giá khởi điểm là 2.500 USD (hơn 55 triệu đồng). Tranh được sáng tác năm 1992, chất liệu mực tàu. Họa sĩ Phạm Cung lưu giữ khoảng 20 bức của Bùi Giáng, do giai đoạn năm 1982 - 1994 cố thi sĩ thường đến xưởng của họa sĩ vẽ chơi. Theo ban tổ chức, tranh Bùi Giáng trên thị trường hiện chỉ còn vài chục bức.

Bức Tôi - chiều gió của họa sĩ Lê Kinh Tài có giá khởi điểm 60.000 USD, sáng tác năm 2010. Bức tranh được tác giả lý giảiI

Bức "Tôi - chiều gió" của họa sĩ Lê Kinh Tài có giá khởi điểm 60.000 USD (hơn 1,3 tỷ đồng), được sáng tác năm 2010, chất liệu sơn dầu. Tác giả lý giải thông điệp tranh: "Sự thăng hoa cũng từ gió, mà buông xuôi cũng từ gió. Không một cơn gió nào tác động mạnh hơn gió ở bên trong chính mình".

Tranh Cửa sổ và trò chuyện của họa sĩ Đinh Thị Thắm Poong, giá khởi điểm là 6.000 USD, sáng tác năm 2008. Nữ họa sĩ từng được Thời báo Time từng xếp Đinh Thị Thắm Poong vào nhóm những họa sĩ có tranh bán chạy nhất thị trường châu Á.

Tranh "Cửa sổ và trò chuyện" của họa sĩ Đinh Thị Thắm Poong, giá khởi điểm là 6.000 USD (khoảng 133 triệu đồng), được sáng tác năm 2008, chất liệu màu nước.

Tranh Trong hồ sen của họa sĩ Nguyễn Thị Châu Giang có giá khởi điểm 2.500 USD, sáng tác năm 2011.

Tranh "Trong hồ sen" của họa sĩ Nguyễn Thị Châu Giang có giá khởi điểm 2.500 (hơn 55 triệu đồng), được sáng tác năm 2011, chất liệu lụa.

Tranh Tình quê của họa sĩ Lim Khim Katy có giá khởi điểm 2.000 USD, sáng tác năm 2015.

Tranh "Tình quê" của họa sĩ Lim Khim Katy có giá khởi điểm 2.000 USD (hơn 44 triệu đồng), được sáng tác năm 2015, chất liệu sơn dầu.

Tranh Lối về

Tranh "Lối về" của họa sĩ Nguyễn Văn Đức có giá khởi điểm 2.500 USD, được sáng tác năm 2016, chất liệu sơn dầu.

Tranh Bông dại của họa sĩ Lê Hào có giá khởi điểm

Tranh "Bông dại" của họa sĩ Lê Hào có giá khởi điểm 4.000 USD (gần 90 triệu đồng), được sáng tác năm 2015, chất liệu sơn dầu.

Định - tác phẩm có chất liệu cắt giấy và nhuộm màu của họa sĩ thiết kế Nguyễn Ngọc Vũ có giá khởi điểm 1.700 USD, sáng tác năm 2016.

"Định" - tác phẩm có chất liệu cắt giấy và nhuộm màu của họa sĩ thiết kế Nguyễn Ngọc Vũ - có giá khởi điểm 1.700 USD (hơn 37 triệu đồng), được sáng tác năm 2016.

Tranh Sơn nữ của họa sĩ Đào Xuân Tình có giá khởi điểm 1.500 USD, sáng tác năm 2016, chất liệu sơn dầu.

Tranh "Sơn nữ" của họa sĩ Đào Xuân Tình có giá khởi điểm 1.500 USD (hơn 33 triệu đồng), được sáng tác năm 2016, chất liệu sơn dầu. 

Phiên đấu Thiện Nhân và những người bạn nhằm tìm kiếm kinh phí cho Quỹ Thiện Nhân trong việc phẫu thuật dị tật đường tiểu cho trẻ em Việt Nam. Sự kiện tổ chức vào tối 22/10, theo hai hình thức: đấu giá trực tiếp (live auction) - người tham gia lên tiếng về số tiền mình bỏ ra, và đấu giá thầm lặng (silent auction) - người tham gia viết số tiền mình bỏ ra và danh tính vào một tờ giấy.

Tượng Phật Dược Sư được tạo tác từ chất liệu lưu ly và vàng 24K có giá khởi điểm 5.000 USD (hơn 111 triệu đồng).

Buổi đấu giá diễn ra vào tối 22/10 tại TP HCM, theo hai hình thức: đấu giá trực tiếp (live auction) - người tham gia lên tiếng về số tiền mình bỏ ra - và đấu giá thầm lặng (tạm dịch từ thuật ngữ silent auction) - người tham gia viết số tiền mình bỏ ra và danh tính vào một tờ giấy.

Mai Nhật


Việt Nam yên bình qua cọ vẽ của các họa sĩ Cổ Đô
Đến với Bảo tàng Mĩ thuật Cổ Đô (xã Cổ Đô, huyện Ba Vì, TP Hà Nội) dịp này, du khách sẽ được thưởng lãm một Việt Nam yên bình với phòng trưng bày “Sắc màu quê hương” quy tụ hơn 300 tác phẩm sơn dầu, khắc gỗ, bột màu… của 32 hội viên Câu lạc bộ (CLB) Mĩ thuật Cổ Đô.
Tin liên quan
 Trong bối cảnh phong trào mỹ thuật dường như đang đi xuống cùng với nền mỹ thuật đương đại, các họa sỹ Cổ Đô gồm: Trần Hòa, Duy Khôi, Đỗ Sự, Phan Tùng, Trường Yên, Giang Khích, Ngô Bình, Thiểm Huỳnh Mai đã quyết định thành lập CLB Mĩ thuật Cổ Đô vào ngày 16/1 năm nay.
 Đây là lần đầu tiên, mỳ thuật Cổ đô đã qui tụ được 30 hội viên sinh ra và lớn lên ở xã Cổ Đô, trong đó có gần 20 hội viên là thành viên hội Mĩ thuật Việt Nam và TP Hà Nội.
 Sự ra đời của CLB đã chấm dứt thời kỳ mĩ thuật tự phát manh mún ở xã Cổ Đô.
 Ngay sau khi thành lập, CLB đã ra mắt phòng tranh chào xuân Bính Thân 2016 với gần 200 tác phẩm đa dạng về kích thước, thể loại bảo tàng.
 Tiếp đó, tháng 6 năm nay, CLB đã mở lớp học vẽ miễn phí cho các cháu bậc tiểu học với hơn 50 học sinh.
 Điều đáng mừng là các bé vẽ rất đẹp, nhiều bức đã được chọn tham gia cuộc thi vẽ tranh quốc tế tại Nhật Bản.
 Ngày 22/9, CLB cùng UBND xã Cổ Đô tiếp tục khai mạc triển lãm “Sắc màu quê hương” qui tụ gần 300 tác phẩm của 32 tác giả với nội dung phong phú về thể loại, đa dạng về kích thước chất liệu như: Sơn mài, sơn dầu, màu nước, giấy dó, khắc gỗ, tượng đá, tổng hợp…
 Bút pháp được thể hiện sinh động từ những họa sỹ gạo cội “cây đa, cây đề” như họa sĩ Sỹ Tốt, Trần Hòa, đến các họa sĩ nhí vừa được CLB đào tạo dịp hè 2016 vừa qua nhưng đã toát lên vẻ đẹp Việt Nam yên bình với đủ sắc màu quê hương.
 Triển lãm “Sắc màu quê hương” cùng các sự kiện mĩ thuật được tổ chức liên tiếp có qui mô hoành tráng ở làng quê thuần nông với số lượng họa sĩ chuyên và không chuyên tham gia đông đảo không nơi nào có được.
 Họa sĩ Đỗ Sự - Chủ nhiệm CLB Mĩ thuật Cổ Đô cho hay, đã có hàng trăm du khách đến tham quan triển lãm. Trong đó có nhiều đoàn khách người nước ngoài đến tham quan, sưu tầm và mua tranh.
 Cũng theo họa sĩ Đỗ Sự, mục tiêu của CLB là đẩy mạnh sáng tác các thể loại chất liệu, tìm tòi, sáng tạo ngôn ngữ hội họa mới để tạo nên nét độc đáo của làng họa sĩ. Từ đó, đưa mĩ thuật Cổ Đô trở thành thương hiệu khác biệt.
 Cổ Đô là một làng quê thuần nông, xuất hiện cùng thời vua Hùng dựng nước, mang những nét rất đặc trưng của các làng quê vùng trung du Bắc bộ.
 Thuở mới khai sinh, dân làng bám theo phía trong đê để sinh sống. Sau con sông Hồng đổi dòng, nhiều gia đình cư ngụ cả ngoài bãi bồi lâu dần thành xóm đồng, xóm bãi như hiện nay. 
 Bên cạnh những nghề truyền thống như dệt lụa, làm bún... nửa thế kỷ qua, Cổ Đô còn được biết đến là làng hội họa sĩ “độc nhất vô nhị” của Việt Nam và thế giới - làng của những người nông dân cầm cọ vẽ tranh.
 Trong lịch sử, Cổ Đô có nhiều tên khác nhau. 
 Trước đây, làng tên là Cổ Cẩm thuộc huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây; sau đó đổi là Yên Đô (An Đô); những năm kháng chiến chống Pháp, Cổ Đô có tên là Cổ Sắt... 
 Theo nhiều nhà nghiên cứu, Cổ Đô là vùng tụ cư của các cộng đồng người Việt cổ, có nhiều dấu tích văn hóa - lịch sử và hiện vật khảo cổ được chôn cất trong các khu mộ táng có niên đại từ thế kỷ III (TCN) đến thế kỷ I (SCN) như thạp gốm, rìu đồng, các viên gạch có hoa văn hình ô trám...
 Làng Cổ Đô được tôn là đất học, đất khoa bảng với 2 vị thượng thư nổi tiếng thời Lê là Nguyễn Sư Mạnh, Nguyễn Bá Lân.Nguyễn Sư Mạnh là một vị quan thanh liêm, cương trực và là nhà ngoại giao đại tài. Ông được phong là “Lưỡng quốc thượng thư”. Nguyễn Bá Lân là vị quan văn võ song toàn, có công dẹp loạn ở trấn Sơn Tây, Cao Bằng. 
 Hai vị học giả này đã thành tấm gương cho biết bao thế hệ con cháu noi theo, biến cái làng nhỏ bé ven sông thành đất học, đất khoa bảng, đất nghệ thuật. 
 Ngay từ thời bị tạm chiếm, làng đã có người theo học trường Mỹ thuật Đông Dương, nhưng đặc biệt là sau kháng chiến chống Pháp, một lớp đông đảo đã theo học các trường Mỹ thuật Công nghiệp, Mỹ thuật Yết Kiêu và có những cống hiến, trở thành các họa sĩ tên tuổi như Sĩ Tốt, Sĩ Thiết, Trần Hòa, Quang Trung, Giang Khích...
 Các thế hệ họa sĩ của làng đã đóng góp cho nền hội họa Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị và có một số hiện được lưu giữ ở các bảo tàng lớn của Pháp, Đức, Thụy Điển... 
 Không thể giải thích được tại sao ngôi làng nhỏ bé nằm ven sông ấy lại có nhiều họa sĩ đến thế, gần 30 họa sĩ trong đó có hơn 10 người đã được kết nạp là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam.
 Đặc biệt vào năm 1994, khi triển lãm tranh đại qui mô mang tên “Tranh làng Cổ Đô” do Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức thì làng được khắp nơi biết đến với cái tên “Làng họa sĩ”. 
 Họa sĩ làng Cổ Đô phần lớn đều rất thành công với tác phẩm về mảng đề tài vẽ những người lao động bình dị, làng chài, phong cảnh sơn thủy hữu tình của mảnh đất giàu huyền thoại gắn chặt với truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh, sông Đà, núi Tản... Trẻ nhỏ trong làng cũng đặc biệt tỏ ra có năng khiếu hội họa.
 Những họa sĩ có tâm huyết đang dồn công sức dạy dỗ thế hệ trẻ nối tiếp truyền thống nghệ thuật của làng. Những lớp học vẽ trên triền đê, trên bãi sông trong các buổi chiều hè, ở một xưởng tranh lúc sáng ánh đèn dầu... là hình ảnh khá quen thuộc của làng.



Triển lãm đầu tiên của họa sĩ Phạm Lực tại Nha Trang: “Tình biển - tình người” đánh thức nghệ thuật thị giác

LĐO Bảo Chân

HS Phạm Lực tại triển lãm tranh đầu tiên pử TP biển Nha Trangảnh: B.C

Đó là ấu ấn mạnh mẽ và vô cùng thi vị của ngôn ngữ tranh Phạm Lực sau cuộc triển lãm dành riêng cho Nha Trang vào dịp cuối Thu này. Triển lãm mang tên “Tình biển” không chỉ là món quà nghệ thuật tôn vinh tình yêu biển của người miền biển mà còn là một nghi lễ tôn vinh cuộc đời của họa sĩ bậc thầy. Vâng, 74 bức tranh vẽ tại Nha Trang trong vòng hơn 20 ngày, kịp dâng tặng cuộc đời đúng vào thời khắc Phạm Lực bước sang tuổi 74 là món quà vô giá mà người nghệ sĩ mong muốn góp phần đánh thức cảm xúc thẩm mỹ trong lòng thành phố biển.

“Tôi vẽ bằng…chính tôi!”

Họa sĩ Phạm Lực kể lại 20 ngày ở Nha Trang, sáng tác không ngừng nghỉ: “Có lúc vẽ từng tranh, vẽ bằng cảm xúc bất chợt, vẽ lại những gì vừa nhìn thấy…, nhưng nhiều lúc tôi căng toan lên vài chục giá vẽ, cứ thế miệt mài  trút hết cảm xúc xuống…cây cọ! Tôi đã thức suốt đêm, hào hứng vẽ. Nhưng cũng có lúc bí, lặng ngắm những bức tranh dang dở, cảm xúc bỗng trào dâng; đó là lúc lại xuất hiện nhưungx hình ảnh, bố cục mới; tôi tạm dừng vẽ tranh này để vẽ tiếp tranh khác….” 

Phạm Lực đã làm việc kiểu như vậy, cho nên  tranh của ông dâng đầy cảm xúc và căng tràn sức sống. Dù thể hiện đề tài nào, tinh thần sáng tạo của Phạm Lực cũng rất mạnh mẽ và trực diện. Từng là người lính, xông pha trên chiến trường chỉ với cái bao bố và giá vẽ, Phạm Lực tự bạch:  “Nghệ sĩ-chiến sĩ là phẩm chất con người tôi.Tôi có thể sáng tác ở bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, không phác thảo, không trau chuốt, mọi thứ hiện lên trong tranh y như cuộc đời vốn thế, rất cụ thể mà đầy ẩn dụ”.

Giới nghiên cứu phê bình và báo chí nhận xét Phạm Lực là một trong những tài năng có cá tính hội họa ấn tượng bậc nhất Việt Nam. Ở tuổi 74, ông đã “đi qua” gần 30 cuộc triển lãm lớn trong nước và quốc tế. HS Phạm Lực vẽ rất nhiều tranh và thể hiện nhiều phong cách, nhưng dù là ấn tượng, hậu ấn tượng, trừu tượng, hiện thực hay siêu thực; dù vẽ tranh mầu nước, sơn dầu, khắc gỗ, tranh lụa hay sơn mài…; chủ đề trong tranh của ông gắn liền với những sinh hoạt dung dị của con người và thẫm đẫm tình người. Đặc biệt, ông vẽ rất nhiều tranh phụ nữ và phụ nữ trong tranh Phạm Lực ở bất cứ lứa tuổi nào, làm bất cứ việc gì, nhất là ảnh nude, luôn luôn hiển hiện vẻ đẹp nữ tính, cao quí và đầy mê hoặc.      

Tình biển, tình người…

Chủ đề cuộc triển lãm lần này là “Tình biển”, hẳn nhiên tất thảy những đứa con tinh thần của HS Phạm Lực đều được “thai nghén và chào đời” dựa trên cảm xúc về biển mà trước hết đó là tình yêu của ông dành cho biển và người miền biển.

Một chiếc thuyền câu vững chãi, một phiên chợ cá ồn ào, những chuyến ra khơi đầy giông bão, một mái ấm gia đình lung linh hạnh phúc…hay những buổi chiều trên bãi biển ngập tràn tiếng cười, dịu dàng vòng tay, rộn ràng tiếng sóng và  mênh mang hải âu tung cánh giữa lưng trời…; đó là hình tượng biển trong cuộc triển lãm đầu tiên HS Phạm Lực tại TP biển Nha Trang. 

Phần lớn tranh trong số 74 tác phẩm thể hiện những chấm phá nổi bật về cuộc sống lao động, sinh hoạt  đời thường của cư dân vùng biển và du khách ở thành phố biển. Dù số lượng không nhiều, nhưng  công bằng mà nói, mảng tranh  ông vẽ hoa và phụ nữ thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng, bởi đó là những tác phẩm khá hoàn hảo từ màu sắc đến bố cục, nội dung…, toát lên tinh thần và tấm lòng người nghệ sĩ.

Cuộc sống muôn màu, muôn vẻ. Dường như họa sĩ Phạm Lực không bỏ qua điều gì và tất cả những gì đọng lại trong tâm trí ông đều có thể hóa thành tác phẩm nghệ thuật. Bằng trực giác, người xem có thể đọc và hiểu ngôn ngữ thị giác của Phạm Lực. Kể cả khi đứng trước những bức tranh đầy ẩn dụ như “Cá nằm trên thớt”, “Bạch tuộc đỏ”, “Mẹ biển”, “Hải âu bay lên”…mọi người đều đều cảm nhận được những triết lý sâu xa về nhân sinh. Và, đó chính là nỗi ám ảnh luôn đau đáu trong lòng Phạm Lực và cũng là bút pháp mạnh mẽ và tinh tế của họa sĩ.

 Ở Việt Nam, đến thời điểm này, Phạm Lực là họa sĩ duy nhất có câu lạc bộ fan. Nhiều năm qua, khoảng hơn 100 người thường xuyên sưu tập tranh Phạm Lực đã đồng hành cùng họa sĩ trong nhiều cuộc triển lãm tranh. Lần này, doanh nhân Phạm Hà ( người sáng lập Emperor Cruises Nha Trang và Hạ Long) đã hợp tác với họa sĩ Phạm Lực để đáp lại sự mong đợi của du khách – triển lãm tranh của HS Phạm Lực tại KS Sunrise Nha Trang là bước khởi đầu, chuẩn bị mở gallery ở thành phố du lịch, giới thiệu tranh của các nghệ sĩ nổi tiếng, thu hút sự quan tâm của công chúng, cùng tôn vinh cái đẹp.

Họa sĩ Phạm Lực sinh ở Huế vào năm 1943 và lớn lên ở Hà Nội. Ông là một trong những họa sĩ chính thức của quân đội Việt Nam và nhận được giải thưởng nghệ thuật do Bộ Quốc Phòng trao tặng năm 1990. Hiện ông vẫn sống ở Hà Nội và là một trong những họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam. Các tác phẩm của ông được trưng bày ở nhiều nơi trên thế giới như Pháp, Đức, Mỹ, Úc, Singapore, Nhật và Nga. Tranh Phạm Lực được lưu trữ trong nhiều bộ sưu tập của Viện bảo tàng mỹ thuật Việt Nam và Bảo tàng mỹ thuật của một số nước trên thế giới.


ảnh 1
HS Phạm Lực tại triển lãm tranh đầu tiên pử TP biển Nha Trang ảnh: B.C
ảnh 2
HS Phạm Lực vẽ ký họa chân dung để đáp lại sự hâm mộ của du khách ảnh: B.C
ảnh 3
Ông Năm Yersin trong tranh Phạm Lực ảnh: B.C



Phạm Lực - người họa sĩ “sở hữu” riêng một Fan Club


Đối với họa sĩ Phạm Lực, cảm hứng và chủ đề hội họa xuất hiện khắp mọi nơi, trong mỗi khoảnh khắc của cuộc sống.

Trong quan niệm của họa sĩ Phạm Lực, vẽ tranh giống như một hình thức vận động. Một ngày không vẽ tranh khiến ông cảm thấy mình trở nên ốm yếu, điều đó cũng phần nào lý giải cho kho tàng tác phẩm phong phú của ông. Và cũng vì lẽ đó, ông được những người hâm mộ ưu ái gọi là Fablo Picasso của Việt Nam. Đối với nền mỹ thuật học Việt Nam, lần đầu tiên một họa sĩ Việt Nam đương đại có hẳn một câu lạc bộ sưu tập tranh Phạm Lực.

Họa sĩ Phạm Lực bên những tác phẩm của mình. Ảnh: T.LT.L

Tính đến nay, Phạm Lực đã có hơn 70 năm cầm chổi vẽ. Từ khi mới lên ba, ông đã bắt đầu hứng thú với việc sử dụng mọi thứ thành bút vẽ. Đó có thể là một mẩu than hay một cành cây, một hòn đá và bất kỳ đâu cũng có thể là bảng vẽ. Rất nhiều lần ông bị hàng xóm phàn nàn khi những bức tường nhà họ trở thành giá vẽ. May mắn thay, sau đó ông tìm thấy một bãi cát rộng bên bờ sông gần nhà nơi ông có thể thỏa thích vẽ bằng những cành cây.

Vừa cầm súng, vừa cầm bút vẽ

Lớn lên trong thời kỳ đất nước trải qua chiến tranh, Phạm Lực tham gia quân ngũ sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội (nay là Đại học Mỹ thuật Việt Nam). Người bạn đồng hành của Phạm Lực là giấy, bút và màu vẽ. Họa sĩ tâm sự: “Sứ mệnh của người họa sĩ là ghi chép lại những gì mình quan sát thấy. Cuộc sống muôn màu, tôi không muốn bỏ lỡ bất cứ điều gì”.

Quá chuyên tâm vào quan sát những khoảnh khắc của cuộc sống, Phạm Lực thường xuyên lỡ tàu hay bị mất cắp. Ngày ấy, đánh mất “dụng cụ” là một thảm họa vì dụng cụ vẽ là đồ hiếm trong chiến tranh. Dù vậy “cái khó ló cái khôn”, một lần nữa, ông lại cố gắng tận dụng mọi thứ để biến chúng thành bảng vẽ, đó có thể là một miếng vải thô, tờ bìa cứng, bao bố hay thậm chí là... một cái võng.

Phạm Lực vốn xuất thân là dõng dõi thế gia. Mẹ anh là bà Nguyễn Thị Chương, người Hà Tĩnh và là chắt ruột của đại thi hào Nguyễn Du. Bà theo chồng vào Huế, nơi ông đang giữ một chức quan của Nam triều. Cách mạng tháng Tám nổ ra, cha của Phạm Lực khuyên vợ đưa 3 đứa con (Phạm Lực lúc đó mới 2 tuổi) trở về Hà Tĩnh sống nhờ bên ngoại, còn ông ở lại Huế để nghe ngóng tình hình thời cuộc.

Trong khi người cha ở lại Huế “xênh xang áo mão cân đai” thì vợ con ông ở quê ngoại lại phải sống trong tủi nhục oan nghiệt, bị những người xung quanh dè bỉu, xa lánh vì có cha, có chồng làm “Việt gian”. Đó là cái vết khiến cho cuộc sống sau này của ông nhiều chông gai. Đam mê lớn nhất của Phạm Lực là được vẽ, nhưng cái “phốt” lý lịch hầu như đã đóng sập những cánh cửa dẫn vào trường vẽ. Nhưng bằng những phấn đấu không ngừng, cuối cùng Phạm Lực cũng đã được vào học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (khóa 1960-1965).

Vừa ra trường, Phạm Lực trở thành bộ đội chiến đấu. Người chiến sĩ ấy “tay súng, tay cọ” rong ruổi khắp các chiến trường Tây Nguyên, Nam Lào, Tây Nam Bộ... Phạm Lực ở trong quân ngũ 35 năm. Người họa sĩ bằng tài năng, sự kiên trì và nỗ lực đã trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Trong thời gian này, Phạm Lực đã đoạt được nhiều giải thưởng về nghệ thuật của Bộ Quốc phòng. Năm 1977, Phạm Lực tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam.

Hơn 70 năm theo nghiệp vẽ

Cọ. Màu. Bảng vẽ. Những bức tranh ngổn ngang. Ngôi nhà của Phạm Lực là một phòng vẽ. Khi đang vẽ một bức tranh sơn mài và bị hết màu vẽ, ông chuyển nó thành tranh sơn dầu và tiếp tục hoàn thành nó theo một phong cách hoàn toàn khác. “Chỉ cần để tôi một mình trong phòng với chiếc đài cũ kỹ phát những bài hát tiền chiến, bút và màu vẽ, tôi có thể làm việc một cách tự nhiên, chỉ bằng cảm giác mà không cần bản phác thảo”, Phạm Lực cười khà khà. Đối tượng trong những bức tranh của Phạm Lực cũng hết sức đa dạng, như chợ quê, những bức tranh Tết, nghệ sĩ ca trù và những cô A Đào, anh hùng Thánh Gióng, hay nhà thơ Nguyễn Du.

Hình ảnh người phụ nữ mang lại cho ông nhiều cảm hứng hơn. Đó có thể là một người phụ nữ trong một chiếc áo cũ chở con đi trên chiếc xe đạp trong thời kỳ chiến tranh, một người phụ nữ tìm kiếm con thời hiện đại, hay cụ bà bán hoa quả. Cuộc chiến tranh Việt Nam, ông tin, đó là cuộc chiến tranh toàn dân. Khác với những cuộc chiến tranh khác, khắp nơi trên đất nước Việt Nam bị dội bom và đâu cũng là hình ảnh của chiến trường. Trong bối cảnh đó, những người phụ nữ Việt Nam là những người phải qua tang thương nhiều nhất. “Trong chiến tranh, họ yếu đuối và có thể bị tấn công bất cứ lúc nào. Khi hòa bình lập lại, họ mong ngóng chồng, con trai, anh em của mình trở về nhưng họ không bao giờ trở lại”, Phạm Lực trầm tư.

Sự cảm thông và tình yêu của ông đối với những người phụ nữ trong những tác phẩm của ông mang đến cho ông những tình yêu đích thực. Một người phụ nữ Pháp yêu mến tranh của ông và sưu tầm rất nhiều tác phẩm của ông. Ba năm sau, bà mời ông tới một khu biệt thự mà bà nói rằng đó là khoản thanh toán cho những bức tranh trước đó và cầu hôn ông. Với sự hỗ trợ của vợ mình, những bức tranh của ông được triển lãm tại châu Âu và vì thế, người hâm mộ ông cũng tăng lên.

Trong số rất nhiều họa sĩ Việt Nam đương đại, Phạm Lực là người duy nhất có một câu lạc bộ những người sưu tập tranh của mình. Câu lạc bộ với hơn 100 thành viên và hơn 6.000 tác phẩm thường xuyên tổ chức những buổi triển lãm.

Một người yêu tranh Phạm Lực - thành viên trong câu lạc bộ Thomas J.Vallely, Giám đốc chương trình Havard Vietnam chia sẻ, nơi yêu thích của ông ở Việt Nam không phải là thành phố nào cả mà đó chính là phòng vẽ của họa sĩ Phạm Lực. Bất cứ khi nào đến thăm Phạm Lực, nói chuyện về hội họa, ông được biết thêm được rất nhiều về Việt Nam, cả quá khứ và hiện tại. Ông được ngắm nhìn những tác phẩm với những chủ đề đa dạng, được thể hiện bằng ngôn ngữ mỹ thuật về sự gian khổ của chiến tranh và những đau thương của cuộc sống, những tác phẩm chứa đựng những giá trị văn hóa, lịch sử, di sản mang giá trị không chỉ của Việt Nam mà còn của thế giới.
Kiều Hà






Họa sĩ Văn Giáo, cả đời cầm cọ lên núi

Thứ Năm, 06/10/2016 07:15
Sinh thời, họa sĩ Văn Giáo từng mơ ước: khi 100 tuổi, tôi sẽ làm một triển lãm thật hoành tráng. Tròn 20 năm ông mất, hôm nay, 6/10, gia đình và bạn hữu đã giúp ông toại nguyện bằng một triển lãm kỷ niệm 100 năm sinh tại Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam, 66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội.

Tôi còn nhớ, vào những năm sáu mươi thế kỉ trước, chào mừng Đại hội văn nghệ toàn quốc, trên trang cuối cùng của tờ Văn nghệ, họa sĩ Nguyễn Bích có chùm tranh vui vẽ các gương mặt văn nghệ sĩ tiêu biểu. Trong đó có hình ảnh họa sĩ Văn Giáo, đầu đội mũ lá, vai đeo cặp vẽ, quần xắn móng lợn, tay nắm đuôi ngựa của bộ đội biên phòng níu lại…

Nguyễn Bích rất hóm, ông nắm đặc điểm làm việc của mỗi nghệ sĩ để thể hiện. Hình ảnh Văn Giáo trong tranh cho thấy ông là người trực họa, đôi chân băm bổ trên khắp nẻo đường đất nước. Lúc ấy đi lên biên giới đâu có như ngày nay, gian khổ vì đường xá, về phương tiện thô sơ, xe cộ quá hiếm hoi. Chỉ đôi chân trần cuốc bộ, thế hệ cha anh trong đó có Văn Giáo đã làm nên những trang nghệ thuật thực sự có sức nặng tình cảm, để bạn bè năm châu phải nể phục.

Hộp bột màu theo chân ông lên Đồng Văn, vượt Mã Pì Lèng, sang Lai Châu, Sơn La... Ông là người đi khỏe, vẽ khỏe, gần như không ngưng nghỉ và không ai có thể có đủ sức khỏe để theo kịp chân ông. Những năm ấy miền núi hoang sơ, miếng ăn đói kém. Vậy mà động lực nào để ông có thể sải bước đến những nơi xa xăm gian khổ nghĩ đến đã thấy rùng mình. Chỉ có tình yêu thiên nhiên đất nước đến tầm say đắm mới làm được như ông.


Chân dung họa sĩ Văn Giáo

Ông là họa sĩ đầu tiên đi miền núi nhiều nhất và cũng sử dụng duy nhất một chất liệu bột màu. Sau này ông có dự định vẽ 100 tranh về Hồ Chủ tịch để bày khi ông trăm tuổi. Nhưng dự định đó không thành, ông ra đi năm 1996, đến nay vừa tròn 20 năm. Và năm 2016 này cũng là năm kỉ niệm 100 năm sinh của ông.

Có người đánh giá họa sĩ Văn Giáo nổi bật ở đề tài vẽ Bác Hồ. Và thực tế gần cuối đời, ông đã miệt mài theo đuổi đề tài đó. Có thể khi ấy sức khỏe không cho phép ông đi xa. Có khá nhiều tranh về Hồ Chủ tịch ông vẽ theo ảnh, kĩ càng và gắng sức.

Những tranh phong cảnh của ông cũng gây được sự lắng đọng sâu xa trong lòng người xem. Ông sử dụng chất liệu màu bột giỏi như người quen vẽ thủy mặc. Màu bột trông đơn giản thôi, nhưng vẽ độ đậm vừa mắt thì thế nào khi khô tranh cũng bạc. Vẽ bột màu xử lý không giỏi trắng tranh dễ bị vôi. Chỉ người làm nghề mới thấy điều này. Ông vẽ những hàng bạch đàn mà nhìn thấy lá lao xao trong nắng. Phải tinh tế lắm mới làm bức tranh "tĩnh" thành "động"...

Triển lãm mở cửa từ ngày 6/10 đến 14/10/2016.

Những bức tranh được trưng bày trong triển lãm:

Đỗ Đức (họa sĩ)
Thể thao & Văn hóa







“Mở cửa” - Mỹ thuật 30 năm thời kỳ Đổi mới (1986 - 2016):

Triển lãm với nhiều cái mới

Một sự kiện đang được giới mỹ thuật và những người yêu nghệ thuật mong đợi - đó là triển lãm “Mở cửa” - Mỹ thuật 30 năm thời kỳ Đổi mới (1986 - 2016), do Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm (Bộ VHTTDL) tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội, từ ngày 21.9. Mong đợi, vì hoạt động này mang nhiều nét mới.


Đổi mới, mở cửa và hội nhập - đó là tính chất đặc biệt của giai đoạn 1986 - 2016 trong lịch sử phát triển đất nước, khi mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa của đất nước được “cởi trói” khỏi cơ chế quan liêu, bao cấp.

Cùng với sự phát triển của đất nước, diện mạo của mỹ thuật VN cũng đã có nhiều thay đổi với sự hình thành một thế hệ tác giả mà tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân. Trong đó, rõ nét nhất trong giai đoạn 1990 - 2010 là sự đổi mới tư duy sáng tạo trong mỗi cá nhân nghệ sĩ tạo hình cũng như trong cách nhìn của các nhà quản lý văn hóa nói chung, mỹ thuật nói riêng.

tin nhap 20160920094539
Hà Nội nắng. Tranh sơn dầu của Phạm Luận.

Nét mới đầu tiên là triển lãm mang tính tổng kết hoạt động mỹ thuật Việt Nam trong 30 năm Đổi mới - điều mà trong 3 thập kỷ qua, chưa có hoạt động mỹ thuật nào tiến hành như vậy. Đây cũng là dịp để vinh danh một thế hệ nghệ sĩ đổi mới của mỹ thuật VN đương đại.

Trong thực tế ở 30 năm qua, đã có nhiều triển lãm mỹ thuật tầm quốc gia như: Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc; Triển lãm “10 năm Điêu khắc toàn quốc”; Festival Mỹ thuật Trẻ, cùng nhiều triển lãm chuyên đề về đề tài hoặc chất liệu đã được tổ chức định kỳ. Thông thường, ở các triển lãm đó, các tác giả tự gửi tác phẩm đến và hội đồng nghệ thuật “bí ẩn” lựa chọn. Điều đó cũng dẫn tới tình trạng sau đó, tác giả không tin, không phục hội đồng nghệ thuật.

Với “Mở cửa”, BTC lại có cách làm khác, mới hơn: Công bố tiêu chí chọn tác giả tham gia triển lãm (Tư duy sáng tạo mới; dấu ấn và bản sắc cá nhân) và ban giám tuyển (gồm 3 cán bộ Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm: Họa sĩ Vi Kiến Thành - Cục trưởng, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Bình và họa sĩ Phạm Hà Hải); công khai danh sách tác giả được mời. Sự công khai này giúp cho các tác giả tự tin hưởng ứng triển lãm.

Để tiến tới việc “Mở cửa” ra mắt, ban giám tuyển cũng phải thừa nhận là “khá vất vả”. Bởi lẽ, đội ngũ nghệ sĩ tạo hình khá đông, lượng tác phẩm trong “30 năm Đổi mới” rất nhiều. Trong đó, có một điều khó, là nhiều tác giả “ẩn mình”, bấy lâu không tham gia các kỳ triển lãm chung, dù rất nỗ lực tự thân đổi mới tư duy trong sáng tạo nghệ thuật. Cũng có điều đáng tiếc trong hoạt động này, theo họa sĩ Vi Kiến Thành, là có vài tác giả dù được mời, nhưng đã từ chối tham gia với lý do cá nhân.

Do vậy, trong nhiều tháng qua, các thành viên ban giám tuyển đã phải nỗ lực liên hệ, trao đổi với các tác giả và gia đình tác giả (những người đã mất). Qua đó, tác giả tự chọn tác phẩm tiêu biểu tham gia. Chung cuộc, “Mở cửa” ra mắt từ ngày 21 - 28.9 sẽ là cuộc “diễu binh” của 50 nghệ sĩ tạo hình trong toàn quốc.

Ở những triển lãm trước đây, sách về triển lãm thường được phát hành khi khai mạc. Còn ở lần triển lãm “Mở cửa” này, có một nét mới: Sách sẽ được hoàn thành sau khi triển lãm kết thúc, dự kiến phát hành vào quý 4/2016. Trong ấn phẩm nói trên, ngoài một số bài viết, hình ảnh giới thiệu về mỹ thuật VN thời kỳ Đổi mới, sách in chân dung tác giả, lý lịch tác giả, tự bạch, in 3 tác phẩm của nghệ sĩ, giới thiệu các hoạt động diễn ra ở triển lãm “Mở cửa”.

Trong đó, số tác giả ở Hà Nội chiếm nhiều nhất (35 người), tiếp đó: TP.Hồ Chí Minh với 12 tác giả và Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng và Hải Phòng - mỗi nơi 1 nghệ sĩ. Tác giả cao tuổi nhất: Trần Lưu Hậu (SN 1928) và trẻ tuổi nhất: Thái Nhật Minh (SN 1984). Có 4 nữ tác giả: Đinh Ý Nhi, Đinh Thị Thắm Poong, Ly Hoàng Ly và Lý Trần Quỳnh Giang. 2 tác giả đang sống tại Pháp: Trần Trọng Vũ và Trương Tân. Có 3 tác giả đã mất: Vũ Dân Tân, Hoàng Hồng Cẩm và Nguyễn Quốc Hội.

Triển lãm sẽ trưng bày 50 tác phẩm với đa dạng đề tài, ngôn ngữ và chất liệu thể hiện, phản ánh đa chiều đời sống xã hội VN đương đại (trong đó nhiều nhất là loại hình hội họa, chủ yếu chất liệu sơn dầu). 48/50 tác phẩm được sáng tác trong 16 năm trở lại đây (2000 - 2016), trong đó có 50% số tác phẩm sáng tác ở năm 2016. Đặc biệt, triển lãm có 1 tác phẩm trình diễn kết hợp với sắp đặt của họa sĩ Nguyễn Bảo Toàn.

Một điểm mới nữa, so với các kỳ triển lãm mỹ thuật toàn quốc trước đây, là trong 2 ngày 22 và 23.9, các nghệ sĩ tham gia triển lãm sẽ có chuyến thăm quan dã ngoại và giao lưu nghề nghiệp tại đình làng Hòa Hiệp (huyện Phúc Thọ - Hà Nội), chùa Thầy (huyện Quốc Oai - Hà Nội) và Bảo tàng Không gian Văn hóa Mường (TP.Hòa Bình).

Theo nhà điêu khắc Vương Duy Biên - Thứ trưởng Bộ VHTTDL, “Triển lãm giúp công chúng có một cái nhìn khái quát về đời sống mỹ thuật VN 30 năm Đổi mới của đất nước”. BTC triển lãm cũng cho biết, TP.Hồ Chí Minh đã có ý định đăng cai trưng bày tiếp triển lãm này vào thời gian tới.

Lê Quang Vinh






[Photo] Cái nhìn toàn cảnh về mỹ thuật Việt 30 năm Đổi mới

An Ngọc (Vietnam+) Bản in

‘Phong cảnh nông thôn’ qua góc nhìn của Trần Lưu Hậu. (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

Sáng tác trên chất liệu acrylic của nghệ sỹ Nguyễn Trung. (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

Góc ‘Trừu tượng’ của nghệ sỹ Hồ Hữu Thủ. (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

Tranh sơn dầu ‘IPO đen’ của họa sỹ Nguyễn Quân. (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm).

Họa sỹ Thành Chương kể về ‘Tuổi thơ tôi.’ (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

Nghệ sỹ Phạm Luận vẽ ‘Hà Nội nắng.’ (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)
‘Hà Nội 1972’ của Nguyễn Trung Tín gợi lại ký ức về Thủ đô một thời đã xa. ’ (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

Họa sỹ Phan Cẩm Thượng và câu chuyện trên ‘Đường đi lấy kinh.’  (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

Tác phẩm ‘Rằm tháng Bảy’ của họa sỹ Đặng Xuân Hòa. ’ (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

Lê Thiết Cương vẫn giữ phong cách vẽ tối giản trong ‘Hạt gạo.’ (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

Tác phẩm ‘Ngày xanh’ của Phạm An Hải. Họa sỹ chia sẻ, anh đã, đang và sẽ tiếp tục xây dựng một định dạng trừu tượng mới của hội họa Á Đông. (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

Họa sỹ Đinh Ý Nhi vẽ về ‘Hai người đàn bà.’ (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)

‘Đô thị ảo 1’ của Đào Quốc Huy kể câu chuyện về đời sống đương đại. (Ảnh: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm)







Lễ hội hoa vinh danh Van Gogh

Hằng năm khi đón thu về, chia tay mùa hè rực lửa, làng Zundert thuộc Hà Lan giáp Bỉ, cách Amsterdam khoảng 180 cây số, vào Chủ nhật đầu tiên của tháng 9 tổ chức lễ hội kết xe hoa, còn gọi là lễ Corso nở hoa (Corso gốc tiếng Ý là đường nhỏ hay đường dạo chơi chung). Nôm na tên gọi rất dễ thương “Đường dạo chơi chung nở hoa”.
Một số tác phẩm hoa trong lễ hội vinh danh Van Gogh. Một số tác phẩm hoa trong lễ hội vinh danh Van Gogh.

Lễ hội có nguồn gốc từ năm 1936, do dân các làng, trong đó có cả làng giáp biên giới thuộc Bỉ cùng tình nguyện tham gia kết xe hoa từ nhiều loài hoa đa sắc, thơm ngát. Lễ hội thu hút hàng nghìn người đến dự. Lễ hội cũng trở thành sân chơi của các nghệ nhân, nghệ sĩ chuyên nghiệp và nghiệp dư. Các nghệ sĩ thổi kèn, chơi violon, hát, múa hòa cùng đoàn diễn hành làm không khí thêm sôi động. Âm nhạc, lời ca bay bổng hòa quyện hương thơm của hoa làm không gian nhỏ hẹp của thị trấn nhỏ bỗng trở nên đáng yêu và quyến rũ.

Những tác phẩm độc đáo

Ai đến một lần cũng không thể quên và thán phục trước sự khéo tay của các nghệ nhân Hà Lan, Bỉ. Hà Lan vốn nổi tiếng về hoa. Hoa không chỉ để cắm trong lọ, mà trở thành những tác phẩm nghệ thuật hoành tráng dưới bàn tay vàng của các nghệ nhân truyền từ đời này qua đời khác. Khoảng 20 tác phẩm độc đáo khổng lồ đặt trên chiếc xe do các nông trại hoa tham gia. Chủ đề chính dựa trên các tác phẩm của họa sĩ nổi tiếng Vincent Van Gogh sinh ra từ làng Zundert năm 1853. Chân dung Van Gogh với gam vàng cam sẫm là nét chủ đạo trong tranh của họa sĩ được các nghệ nhân thể hiện bằng hoa kết.

Đồng hoa bát ngát, cánh đồng tulip mênh mông, làng quê khao khát của Hà Lan đã được họa sĩ Van Gogh đưa vào những bức tranh đầy ấn tượng. Ông từng phải sống nghèo khổ vì không ai biết giá trị tranh của ông khi ông còn sống. Màu đỏ, màu da cam như mặt trời mùa hè thẳng đứng thể hiện cái bức bối, cái nóng hừng hực thèm bứt phá, thèm tự do cháy bỏng trong tâm hồn người nghệ sĩ. Tranh Van Gogh đã diễn tả quá sớm cái tù túng ẩn náu trong cơ thể nhỏ bé của mỗi cá nhân khi thế giới còn bình yên quẩn quanh bên làng nhỏ. Tranh của ông báo trước vũ trụ và quả đất sẽ nóng đỏ lên vì thế giới công nghiệp, vì chiến tranh luôn hủy diệt môi trường.

Do ít người hiểu được trường phái ấn tượng của họa sĩ, khủng hoảng tinh thần, Van Gogh đau khổ tự cắt tai để không nghe, muốn tìm cảm giác xa lánh hoàn toàn thế gian. Chiếc xe hoa diễn tả sự đau khổ vì cái tai phải nghe lời đàm tiếu; những điều nhức nhối đã được diễn tả một cách tuyệt vời  bằng sắc hoa da cam đau đớn. Ngoài ra, lễ hội còn giới thiệu những sản phẩm nông trại quê hương như bò sữa, gà, lúa mạch… kết bằng hoa. Ví dụ, cô bò sữa cao hơn 8m được làm từ hoa cẩm chướng tím, đen, hồng. Ngoài ra, các nghệ nhân diễn tả cuộc sống hiện tại với những cuộc đua xe, kỹ thuật không gian, vũ trụ và cả những cô gái nằm trông rất gợi tình.

Mỗi một xe cần 15-20 nghìn bông hoa để kết và 20 người điều khiển. Mỗi đoàn xe đi qua là những tràng pháo tay lại vang lên. Đến lễ hội, người xem còn được thưởng thức những món ăn truyền thống của Hà Lan, Bỉ, đặc biệt là bia mang tên thị trấn Zundert dùng với xúc xích khô ướp hạt tiêu hay phô mai.

Lễ hội hoa vinh danh Van Gogh - ảnh 1

Sức mạnh của hội họa

Đến Zundert, người xem không chỉ có dịp đi du lịch quanh mấy làng be bé xinh xinh ở biên giới Bỉ-Hà Lan mà còn hiểu thêm lịch sử văn hóa và hội họa vùng Flamande, đặc biệt là về Van Gogh. Ngôi nhà xưa nơi ông sinh ra ở ngay khu chợ đã bị phá hồi năm 1903; thay vào đó là một trung tâm nghệ thuật mang tên Vincent Van Gogh để tưởng niệm và vinh danh ông. Tài năng của ông đã vượt qua biên giới, vượt khỏi ao làng ra thế giới. Bảo tàng Louvre ở Paris treo tranh ông. Ông là hình ảnh tiêu biểu cho người nghệ sĩ miệt mài hy sinh vì nghệ thuật, vì đam mê cây cọ trong nghèo túng. Nghệ thuật, văn hóa, tính nhân văn cao luôn luôn không biên giới. Hội họa đã giúp cho làng quê Van Gogh trở nên thân quen với những người yêu hội họa. Vinh quang muộn mằn đã dành cho làng quê và đất nước ông. Để cảm ơn ông, hằng năm, thị trấn nhỏ bé phối hợp 20 hội đoàn cùng các làng lân cận tổ chức lễ hội xe hoa.

Thật kỳ thú, hội họa trở thành sức mạnh huyền diệu gắn kết tình người, tình làng xóm dù xa xôi. Làng nơi ông sinh ra (Zundert-Hà Lan) và làng nơi ông mất (Auvers-sur-Oise - Pháp) đã kết nghĩa anh em trong hợp tác văn hóa và giáo dục. Sức mạnh của văn hóa không cân đo được, không tính được bằng tiền vì luôn mang tính nhân văn vô giá. Hội họa, hoa đã biến làng quê nghèo thành làng du lịch với sự kỳ công khéo léo của các nghệ nhân đam mê nghệ thuật và hoa.

Giải mã bí ẩn cái tai của danh họa Van Gogh

Sự việc kinh hoàng danh họa Hà Lan Vincent Van Gogh cắt tai chính mình năm 1888 là một trong số những sự cố nổi tiếng và bí ẩn nhất lịch sử nghệ thuật. Đến nay, những bí ẩn đó đã có lời giải đáp thuyết phục.
Bức chân dung tự họa của Van Gogh. Bức chân dung tự họa của Van Gogh.

Cắt toàn bộ tai

Các chuyên gia từ lâu đã đồn đoán về việc Van Gogh cắt bao nhiêu phần tai. Họ cũng tranh cãi về Rachel - cô gái mại dâm bí ẩn mà Van Gogh đã trao cho cái tai vừa cắt đứt kèm theo lời dặn dò "hãy giữ thứ này cẩn thận".

Vụ cái tai của Van Gogh nay có thêm nhiều chi tiết quan trọng, rọi ánh sáng mới vào câu chuyện thực sự đã diễn ra. Người ta đã tìm được một bức thư trong đó có các hình vẽ tai trái của Van Gogh trước và sau khi ông tự cắt tai mình. Người vẽ chính là bác sĩ Felix Rey, người đã điều trị vết thương cho danh họa trong bệnh viện.

Hình vẽ là mấy đường nét phác họa hình dạng tai của Van Gogh trên tờ giấy kê đơn thuốc. Hình thứ nhất vẽ cái tai còn nguyên vẹn. Hình thứ hai cho thấy cái tai chỉ còn lại một mẩu nhỏ phía dưới. Trước đây, người xem cứ phải đoán già đoán non xem ông còn bao nhiêu phần tai khi xem hai bức chân dung tự họa của danh họa, trong đó phía tai bị cắt đã được băng kín. Vậy là danh họa đã xẻo gần như toàn bộ tai, chứ không chỉ một mẩu như một số nhân chứng đương thời tuyên bố.

Ông Louis van Tilborgh, nhà nghiên cứu cấp cao kiêm giáo sư lịch sử nghệ thuật tại Đại học Amsterdam, nói: "Các nét vẽ đã giải đáp một câu hỏi từ lâu là liệu ông ấy cắt hết tai hay chỉ một phần tai. Giờ chúng ta biết chắc là ông ấy đã cắt toàn bộ tai. Đây là một tài liệu quan trọng với nhiều giá trị cảm xúc".

Bí ẩn cái tai nói trên do bà Bernadette Murphy 58 tuổi giải mã. Bà đã chuyển từ Anh tới Pháp cách đây 30 năm, làm nhiều nghề khác nhau, trong đó có nghề hướng dẫn viên du lịch. Sau khi lấy xong bằng lịch sử nghệ thuật, bà Murphy quyết định điều tra về Van Gogh sau khi tới thăm Arles, nơi danh họa ở trong cuối những năm 1880.

Quá trình nghiên cứu về Van Gogh kéo dài tới 7 năm. Khi bà trình bày nghiên cứu với các chuyên gia tại Bảo tàng Van Gogh ở Amsterdam, bà đã làm họ rất ngạc nhiên. Họ phấn khích tới mức đã thông báo chính thức về việc mở một cuộc triển lãm đầu tiên về cuộc đấu tranh của Van Gogh với chứng bệnh tâm thần.

Trong suốt 7 năm điều tra, bà Murphy đã tìm ra bức vẽ của bác sĩ Felix Rey trong một kho lưu trữ ở California. Nó nằm trong đống giấy tờ của tiểu thuyết gia người Mỹ Irving Stone - người đã trao đổi thư từ với bác sĩ Rey năm 1930. Bốn năm sau, tác giả Stone đã xuất bản cuốn tự truyện hưu cấu Lust for Life, trong đó diễn viên Kirk Douglas vào vai Van Gogh.

Trong thực tế, Van Gogh bị suy sụp tinh thần nghiêm trọng tháng 12/1888 khi ông cầm lưỡi dao lam cắt tai. Cảnh sát tìm thấy ông tại nhà vào ngày sau đó và ông đã nhập viện. Em trai của Van Gogh đã viết cho vợ mình sau khi thăm Van Gogh: "Buồn khủng khiếp khi có mặt ở đây vì nỗi đau của anh ấy liên tục trào lên trong lòng và anh ấy cố khóc nhưng không thể. Chiến binh tội nghiệp và một người đau khổ tội nghiệp".

Bác sĩ Rey cho rằng Van Gogh bị chứng động kinh một phần do uống quá nhiều cà phê và rượu, lại ăn ít thức ăn. Ông đã kê thuốc an thần giảm đau và khuyên Van Gogh uống rượu cinchona có chứa chiết xuất ký ninh.

Sự cố cái tai là một trong số những câu hỏi mà du khách hay hỏi nhất khi tới thăm Bảo tàng Van Gogh. Triển lãm mới nhất trưng bày cả một đơn kiến nghị do 30 người dân ở Arles ký, kêu gọi giam Van Gogh trong bệnh viện tâm thần. Nghiên cứu của bà Murphy cũng cho thấy bà hoài nghi về số người trong thực tế đã ủng hộ đưa Van Gogh vào bệnh viện tâm thần vì bà phát hiện có bốn người không biết chữ và không thể tự ký tên. Triển lãm còn giới thiệu bức chân dung bác sĩ Rey mà Van Gogh vẽ. Kiệt tác này được mượn từ Bảo tàng Puskin ở Moscow.

Giải mã bí ẩn cái tai của danh họa Van Gogh - ảnh 1 Bức thư có hình vẽ tai của Van Gogh trước và sau khi bị cắt.

Bí ẩn mang tên Rachel

Một chi tiết mới nữa được bà Murphy phát hiện cho thấy Rachel không phải là một gái điếm mặc dù cô này có làm việc tại khu vực đèn đỏ ở thành phố Arles, miền nam nước Pháp. Rachel thực ra là một người hầu làm việc ca đêm tại các nhà chứa, còn ban ngày làm nghề lau chùi các cơ sở kinh doanh gần đó.

Rachel tên thật là Gabrielle Berlatier, 18 tuổi. Gabrielle sống ở Moules, một làng cách Arles vài km về phía đông. Tháng 1/1888, cô bị chó dại cắn vào tay. Vết thương đã được đốt bằng sắt nung đỏ. Sau đó, cô thoát chết nhờ may mắn được đưa tới Paris tiêm vaccine phòng dại.

Tháng 12/1888, cô trở lại Arles và làm nghề thay ga giường, rửa chén ly trong một nhà thổ để kiếm tiền trả chi phí tiêm vaccine. Tại đây, Van Gogh đã đưa tai bị cắt cho Gabrielle. Bà Murphy nói: "Van Gogh là người rất dễ mủi lòng trước những người gặp khó khăn. Tôi cảm thấy ông ấy muốn trao cho cô gái món quà là cái tai bị cắt".

Bà Murphy đã tìm ra được danh tính thực của Rachel khi tìm hiểu các tài liệu đương đại, trong đó có hồ sơ các vụ bắt giữ và hồ sơ về những phụ nữ được trị bệnh lây truyền qua đường tình dục. Khi bà xem danh sách những người được tiêm vaccine dại ở Viện Pasteur tại Paris, bà đã thấy cái tên Gabrielle.

Van Gogh đã sống một năm tại bệnh viện tâm thần Saint Paul de Mausole ở Saint Remy. Ông chết sau khi tự tử bằng súng vào tháng 7-1890, ngay sau khi viết thư cho em trai nói về cảm giác thất bại. Ông đã chật vật trong việc bán tác phẩm khi còn sống. Còn ngày nay, giá kỷ lục một tác phẩm của ông là 49,1 triệu bảng Anh. Trong khi đó, Gabrielle sống đến năm 1952. Hậu duệ của bà hiện nay vẫn sống ở đó.

Chuyện quanh cái tai của Van Gogh đã được bà Murphy kể lại trong cuốn sách "Van Gogh's War: The True Story" (Cuộc chiến của Van Gogh: Câu chuyện thật).

Theo An Ninh Thế Giới



Danh họa Van Gogh tự xẻo tai để tặng cho hầu gái

Danh tính người nhận chiếc tai của họa sĩ Hà Lan nổi tiếng Vincent Van Gogh được tiết lộ gần 130 năm sau khi danh họa tự tay xẻo tai mình ở Paris, Pháp.
Chân dung tự họa của Van Gogh sau khi xẻo tai. Ảnh: Wikimedia. Chân dung tự họa của Van Gogh sau khi xẻo tai. Ảnh: Wikimedia.

Guardian mới đây đưa tin, danh họa Van Gogh đã tự tay xẻo một bên tai của mình vào hôm 23/12/1888 và tặng cho Gabrielle Berlatier, hầu gái làm việc tại một nhà thổ ở Paris, chứ không phải cô gái điếm Rachel như nhiều người lầm tưởng suốt 130 năm qua. 

Cô gái trẻ tên Berlatier được nhắc tới trong cuốn sách "Chiếc tai của Van Gogh: Câu chuyện thực sự" của nhà văn Bernadette Murphy xuất bản đầu tháng 7. Nữ nhà văn cho biết con cháu của Berlatier đã đồng ý tiết lộ sự thật với điều kiện bà phải giữ kín tên của Berlatier.

Tuy nhiên, phóng viên The Art Newspaper xác định được danh tính của người hầu gái này khi nghiên cứu ghi chép của Viện Pasteur ở Paris. Cuốn sách do Murphy viết có mô tả chi tiết quá trình chữa trị bệnh dại của Berlatier ở Viện Pasteur đầu tháng 1/1888 sau khi bị một con chó cắn.

Berlatier, cô con gái 18 tuổi của một người nông dân sống gần Arles, Provence, sống sót nhờ được đưa tới Paris và tiêm vắc-xin phòng bệnh dại mới. Tuy nhiên, chi phí chữa trị khiến gia đình cô mắc nợ và cô phải làm hầu gái ở nhà thổ trên đường Rue du Bout d’Arles. Cô gái còn quá trẻ để trở thành gái điếm, theo Murphy.

Bàn tay của Berlatier bị biến dạng do vết thương được sát khuẩn bằng bàn là nóng. "Gabrielle Berlatier có một vết sẹo khủng khiếp trên tay. Van Gogh vẫn thường thương cảm cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn. Nhiều khả năng ông muốn tặng cho cô món quà là một phần da thịt của mình", Murphy nói. Berlatier đã kết hôn sau đó và sống rất lâu, đồng thời giữ kín về cuộc gặp với Van Gogh và sự giúp đỡ âm thầm của ông.

Trước đó, lá thư của Felix Rey, bác sĩ của Van Gogh, cũng được công bố, cho thấy họa sĩ đã cắt cả tai chứ không phải một phần tai. Van Gogh phải sống trong viện tâm thần Saint Paul de Mausole ở Saint Rémy, Pháp, suốt một năm sau đó và tự sát vào tháng 7/1890.

Theo Vnexpress


Giả thuyết mới về cái chết bí ẩn của danh họa Van Gogh

Vào lúc đỉnh cao tài năng (thường trùng khớp với giai đoạn trầm uất nặng nề), Van Gogh đã nghĩ đến chuyện lắp đặt đường ống dẫn khí đốt vào căn nhà ông thuê ở Arles, miền Nam nước Pháp, năm 1888. Từ đây, một số giả thuyết mới liên quan đến vụ tự sát của Van Gogh bắt đầu xuất hiện.

Vào thập niên 70 và 80 của thế kỷ XIX, danh họa Vincent Van Gogh sống trên bờ vực nghèo túng khủng khiếp cùng với chứng trầm uất nặng. Và trong cả núi thư từ để lại, Van Gogh thỉnh thoảng viết về ngọn đèn thắp sáng bằng khí thường được ông sử dụng để làm việc trong đêm tối. Ông không thích ngọn đèn nến vì ánh sáng quá lờ mờ mà vào thời buổi đó đèn điện còn chưa được phổ biến rộng rãi như ngày nay. Tuy nhiên, khí thắp sáng được sản xuất từ than đá và chứa rất nhiều tạp chất, kim loại nặng và sinh ra carbon monoxide nên vô cùng độc hại cho sức khỏe con người.

Giả thuyết mới về cái chết bí ẩn của danh họa Van Gogh - ảnh 1 Bức họa "Café de Nuit" của Van Gogh, tháng 9-1888.
Một số tác phẩm nổi tiếng của Van Gogh như bức “Café de Nuit”, được hoàn thành dưới ánh sáng đèn khí. Vào lúc đỉnh cao tài năng (thường trùng khớp với giai đoạn trầm uất nặng nề), Van Gogh đã nghĩ đến chuyện lắp đặt đường ống dẫn khí đốt vào căn nhà ông thuê ở Arles, miền Nam nước Pháp, năm 1888. Từ đây,  một số giả thuyết mới liên quan đến vụ tự sát của Van Gogh bắt đầu xuất hiện.

Giả thuyết mới về cái chết bí ẩn của danh họa Van Gogh - ảnh 2 Bức thư của Van Gogh gửi cho em trai Theo Van Gogh, ngày 9-4-1885.
Đầu năm 2015, kỹ sư hóa học Hà Lan Rene van Slooten đã đưa ra một số giả thuyết mới sau khi xem một phim tài liệu về Van Gogh trên truyền hình. Trong phim, một nghệ sĩ Hà Lan đề cập đến một bức họa về căn nhà của Van Gogh ở Arles và lưu ý đến con đường bị đập vụn ra khi danh họa tiến hành lắp đặt đường ống dẫn khí đốt. Sau đó, Van Slooten nghĩ đến một kịch bản mới có thể giải thích tình trạng bệnh tật của Van Gogh và thậm chí dẫn đến quyết định kết liễu đời mình vào năm 37 tuổi.

Là kỹ sư hóa học, Van Slooten hiểu rõ về việc sử dụng khí đốt cũng như phòng ngừa độc tố của nó trong công nghiệp. Slooten giải thích: "Khi đèn khí được thắp sáng, các chất độc và kim loại như là carbon monoxide, chì và arsenic phát sinh. Chúng ta biết rằng chúng là thủ phạm gây ra nhiều chứng bệnh như choáng, tính khí nóng nảy, trầm uất, rối loạn tâm thần và có xu hướng tự sát".

Giả thuyết mới về cái chết bí ẩn của danh họa Van Gogh - ảnh 3 Bài báo về cái chết của Van Gogh trên tờ L'Echo Pontoisien, ngày 7-8-1890.
Van Gogh bắt đầu có biểu hiện bệnh tâm thần nặng lần đầu tiên ở Arles vào năm 1888, tức khoảng thời gian danh họa lắp đường ống dẫn khí đốt vào căn nhà thuê. Bệnh tình ông càng nặng thêm do thói quen uống cây ngải đắng và rượu cognac. Trong bức thư Van Gogh gửi cho em trai Theo van Gogh có đoạn: "Nếu bão tố trong tâm can quá dữ dội, anh sẽ uống nhiều đến choáng váng".

Theo một nghiên cứu đăng tải trên Tạp chí The American Journal of Psychiatry của Mỹ năm 2002, tâm thần Van Gogh ngày càng trở nên thất thường: "Hoạt động sáng tạo hừng hực xen kẽ với trạng thái bơ phờ mệt mỏi đến mức kiệt sức. Tâm tính bất an lộ ra khó dự đoán xen kẽ với trạng thái phấn khích hay khổ não mơ hồ ngày càng trở nên thường xuyên hơn". Những bức thư mà Van Gogh viết từ Arles về sau càng thấy được sự tỉnh táo song lộ vẻ hoảng sợ khi đề cập đến những gì diễn ra trong đầu ông.

Giả thuyết mới về cái chết bí ẩn của danh họa Van Gogh - ảnh 4 Bức "Tự họa" (năm 1889) của Van Gogh, với một bên tai được băng bó.
Danh họa viết trong một bức thư: "Tôi không thể mô tả chính xác vấn đề gì đang xảy ra với tôi. Bây giờ và về sau có những đợt lo âu không rõ nguyên cớ, hay cảm thấy trống rỗng và mệt mỏi trong đầu. Những lúc đó, lòng tôi trĩu nặng u sầu và hối tiếc ghê gớm". Tháng 12-1888, sau một trận cãi vã dữ dội với danh họa Gauguin và cũng là lúc nghe thấy những giọng nói trong tai, Van Gogh quyết định cắt đứt phần tai trái của mình và gửi nó cho một gái mại dâm yêu quý nhất của ông để bảo quản hộ. Theo Van Slooten, trong thời gian chữa bệnh tại Bệnh viện tâm thần Saint Rémy, Van Gogh tiếp tục nhiễm độc carbon monoxde từ đèn khí và paraffin. Năm 1890, Van Gogh đến Auvers-sur-Oise và tự sát trên một cánh đồng lúa mì, trong nỗi thất vọng.

Giả thuyết mới về cái chết bí ẩn của danh họa Van Gogh - ảnh 5 Chiếc giường của Van Gogh tại Bệnh viện St. Paul de Mausole ở St. Rémy (Pháp).
Van Slooten lập luận rằng hậu quả tích lũy từ nhiễm độc khí đốt của Van Gogh tương tự như trường hợp của nhà thơ kiêm nhà văn chuyên viết thể loại kinh dị người Mỹ Edgar Allen Poe và người vợ là Virginia vào vài thập niên trước đó. Poe mất năm 1849, còn Virginia qua đời vì bệnh lao trước đó hai năm. Báo cáo nghiên cứu sau đó tiết lộ: "Mức độ uranium trong tóc của Virginia khi bà sống trong thành phố New York sử dụng đèn khí là rất cao, tương tự mức độ tìm thấy nơi các thợ mỏ khai thác uranium và cao xấp xỉ hơn 15 lần mức bình thường hiện nay".

Van Slooten công bố các giả thuyết của ông về Van Gogh và Edgar Poe trên tờ Baltimore Post-Examiner. Tuy nhiên, giả thuyết của Van Slooten về Van Gogh đã không thuyết phục được mọi người. Ví dụ, Piet Voskuil - nhà thần kinh học và là chuyên gia về Van Gogh - nhận xét giả thuyết hoàn toàn không đáng tin cậy: "Van Slooten đưa ra kết luận dựa vào những điều giả định. Những gì Van Slooten làm là thu thập sự kiện và lập luận để đi đến kết luận. Như thế là không khoa học. Còn những bệnh nhân khác ở đâu? Tại sao những người cùng phòng với ông - Paul Gauguin nằm trong số đó - lại không bị những triệu chứng tương tự?".

Voskuil cho biết không có bằng chứng về sự gia tăng những bệnh nhân tâm thần ở Arles liên quan đến đèn khí vào thời gian đó. Voskuil nói: "Có quá nhiều cách khác để giải thích các triệu chứng của Van Gogh".

Giả thuyết mới về cái chết bí ẩn của danh họa Van Gogh - ảnh 6 Hậu duệ của Van Gogh chăm sóc mộ phần của danh họa ở Auvers-sur-Oise (miền bắc nước Pháp) vào ngày 29-7-2015.
Tuy nhiên, không thể loại trừ khả năng nhiễm độc carbon monoxide và thậm chí có thể đó là yếu tố làm trầm trọng thêm bệnh tình. Ngày nay, carbon monoxide vẫn tiếp tục là sát thủ lặng lẽ. Chỉ riêng ở Hà Lan, từ 10 đến 20 người chết mỗi năm và khoảng 80 người phải nằm viện do nhiễm độc khí đốt, cho dù đó là khí tự nhiên sạch hơn khí than đá. Van Slooten cũng cho rằng nhiễm độc khí carbon monoxide gây ra những hiệu quả tâm lý như là: trầm uất và rối loạn tâm thần, gặp ác mộng và lo âu; trong khi các bác sĩ lại quy cho các nguyên nhân khác gây ra những vấn đề như thế.

Theo An Ninh Thế Giới




Vén màn bí mật về cái chết của danh họa Vincent Van Gogh

Carbon monoxide và các kim loại nặng – hay thậm chí cả uranium – có thể là nguyên nhân gây ngộ độc cho nhà đại danh họa Vincent Van Gogh. Nguồn cơn từ đâu ra? Van Gogh đã sử dụng khí đốt để thắp sáng các căn phòng nơi ông làm việc vào buổi đêm, và chúng đã đầu độc nhà danh họa đến chết.

Thủ phạm là khí chiếu sáng

Tin từ Amsterdam (Hà Lan), trong khối lượng đồ sộ các thư tịch của Vincent Van Gogh, người đã từng sống bên bờ vực không đáy của sự nghèo đói cùng cực và lặn sâu vào trầm cảm vào các thập niên năm 1870 và 1880, nhà danh họa đã viết ngày này sang tháng khác bằng thứ ánh sáng khí đốt và nó giúp ông đủ thấy rõ việc cần làm vào buổi đêm. Ánh sáng từ các ngọn nến khá mờ mà ánh đèn điện lại không có sẵn vào thời đó. Nhưng khí chiếu sáng – được sản xuất từ than đá cũng như chứa lẫn nhiều tạp chất – có giá rẻ bèo. Chúng ta có thể nhận thấy sự thật đó từ một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của đại danh họa Van Gogh gồm bức “Café de nuit” chính là được vẽ dưới ánh sáng của khí chiếu sáng. 

Vào thời hoàng kim của sáng tác Van Gogh – thường trùng hợp với những hố sâu trầm cảm của ông – thi sĩ nghĩ rằng nó là một thành tựu vĩ đại nếu dẫn khí vào thẳng ngôi nhà thuê của ông ở Arles (Nam nước Pháp) vào năm 1888. Hành động đó có thể là sai lầm của Van Gogh khi mà một giả thuyết mới nói về những tình trạng tâm lý của ông.

Vén màn bí mật về cái chết của danh họa Vincent Van Gogh - ảnh 1 Chân dung đại danh họa Vincent Van Gogh.
Kỹ sư hóa học người Hà Lan, Rene Van Slooten, đã đưa ra giả thuyết của mình vào năm 2015 này sau khi ông xem một bộ phim tài liệu truyền hình nói về nhà danh họa Vincent Van Gogh. Đoạn phim kể về việc một nam diễn viên người Hà Lan nói về một bức tranh ở nhà Van Gogh tại Arles và ghi chú rằng con đường nơi đó bị hỏng khi nhà hội họa lắp đặt đường ống dẫn khí chiếu sáng. Ông Rene Van Slooten nhớ lại: “Đó là một tiếng chuông gióng cảnh báo với tôi”. Bộ phim tài liệu đã làm bật dậy trong Van Slooten về một kịch bản mới mà từ đó có thể giải thích căn bệnh bí ẩn của Van Gogh, và có lẽ quyết định của nhà hội họa đã tước đi mạng sống ngắn ngủi của ông vừa chớm 37 tuổi. 

Trong suốt sự nghiệp làm kỹ sư hóa học của mình, ông Van Slooten thường làm việc với khí đốt cũng như phòng ngừa sự ngộ độc khí trong ngành công nghiệp, và khá rành rẽ một sự nhận biết những hiểm nguy đại loại như: “Với khí chiếu sáng ở giai đoạn đầu, chất độc và kim loại sẽ tỏa ra như khí carbon monoxide, chì và thạch tín cũng như các kim loại mà ngày nay chúng ta biết chúng là căn nguyên gây ra nhiều căn bệnh khác nhau, gồm ngất xỉu, nóng tính, chán nản, trầm cảm, rối loạn tâm thần và có khuynh hướng tự vẫn”.

Bệnh bùng phát ra sao?

Van Gogh bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu của bệnh thần kinh nguy cấp ở Arles vào năm 1888, cùng thời điểm nhà hội họa mang khí vào các phòng làm việc của mình, mặc dù có thể việc uống rượu thảo mộc absinthe và cognac chắc chắn đã làm đẩy nhanh tình trạng bệnh tật của ông. Trong lá thư mà Van Gogh viết cho người em trai và cũng là nhà bảo trợ cho các tác phẩm của mình – Theo Van Gogh, nhà hội họa nói: “Nếu các cơn bão quá ầm ào, anh sẽ uống thêm 1 ly để lấy bình tĩnh”. 

Một cuộc nghiên cứu đăng trên Thời báo Tâm thần học Mỹ vào năm 2002, nói rằng Vincent ngày càng trở nên bối rối: “Hoạt động sáng tạo đầy sốt sắng đã đi kèm với những giai đoạn phát bệnh đã là mấu chốt của tình trạng kiệt sức. Những thay đổi cảm xúc từ chứng buồn bực thất thường xen kẽ với sự hưng phấn hoặc nỗi thống khổ ngày càng trở nên thường xuyên hơn”.

Trái ngược với sự thiếu khôn ngoan trong quá trình sáng tác của Van Gogh, vẫn không hề có chữ điên trong các nét cọ hay màu sắc của nhà danh họa, ông vẫn tác động tình cảm trong các vật thể chủ đạo – đó là kỹ năng chính xác một cách tài tình – và dẫn đến sự công nhận rộng rãi của người yêu tranh về sự vĩ đại trong sáng tác của Vincent Van Gogh. 

Còn các bức thư mà Vincent viết từ Arles gửi cho người em trai Theo Van Gogh lại chứa đựng sự tỉnh táo nhưng vẫn khỏa lấp ám ảnh sợ hãi như cách mà họa sĩ nói về những thứ gì đó đang diễn ra trong đầu ông: “Anh không thể mô tả chính xác về thứ đang xảy ra với anh; giờ đây và sau đó là những cơn kinh hoàng lo lắng, xuất hiện mà không có nguyên cớ, hoặc cái gì đó về sự trống rỗng và mệt mỏi trong đầu”, hay “có những thời điểm, anh bị tấn công bởi nỗi u sầu và hối hận thê thiết”. 

Vào tháng 12/1888, sau một trận cãi nhau với Gauguin và có lúc Van Gogh nghe những giọng nói mơ hồ từ đâu đó, ông đã xẻo một phần tai mình và tặng nó cho một trong những gái điếm yêu thích, đề nghị người này giữ “của quý” cho ông.

Sau một khoảng thời gian “làm bạn” với bệnh viện, cuối cùng Vincent Van Gogh thú nhận ông sống trong một dưỡng trí viện tâm thần tại Saint Rémy (Nam nước Pháp), cái nơi mà ông Rene Van Slooten lưu ý rằng, Van Gogh đã tiếp xúc với khói độc carbon monoxide từ khí chiếu sáng và dầu paraffin. 

Năm 1890, Van Gogh rời đến thị xã Auvers-sur-Oise, gần kề thủ đô Paris, tại đây ông dành vài tuần đầu tiên để vẽ nên những bức tranh điên cuồng và rực rỡ của mùa hè, rồi cuối cùng tự giam mình và chết trong ảm đạm tại căn phòng gần như tối thui nằm bên trên quảng trường của thị xã. 

Giả thuyết khí chiếu sáng của ông Rene Van Slooten đã được loan báo trên hầu khắp các mặt báo ở châu Âu, ông lập luận rằng tác động tích lũy của ngộ độc khí có thể tương tự như nó đã từng ảnh hưởng cách đó hàng thập kỷ với thi sĩ kiêm nhà văn chuyên viết truyện kinh dị người Mỹ, Edgar Allen Poe và bà xã Virginia. Nghiên cứu đã được hoàn tất trên tóc của E.A Poe (tạ thế năm 1849) và bà vợ của ông Virginia (qua đời vì bệnh lao vào năm 1847), cho thấy rằng ít nhất bà Virginia đã bị ngộ độc nặng.  

Tranh cãi nảy lửa

Một báo cáo kết luận về cuộc xét nghiệm này đã viết rằng: “Mức độ uranium trong tóc của bà Virginia trong thời gian bà sống trong môi trường khí chiếu sáng ở New York City là rất cao, nó tương tự như những gì được tìm thấy tại các thợ mỏ uranium và xấp xỉ 15 lần so với mức tiêu chuẩn an toàn ngày hôm nay”. 

Ông Rene Van Slooten đã cho công bố những giả thuyết của mình về E.A Poe và Vincent Van Gogh vào mùa hè 2014 trên báo Baltimore Post-Examiner (Baltimore là quê nhà của E.A Poe). Nhưng giả thuyết của Slooten về nhà danh họa Van Gogh vẫn không nhận được sự tán thành của số đông. Nhà thần kinh học đã nghỉ hưu kiêm chuyên gia về Vincent Van Gogh, ông Piet Voskuil, cho rằng giả thuyết của Van Slooten không đáng tin cậy.

Vén màn bí mật về cái chết của danh họa Vincent Van Gogh - ảnh 2 Rene Van Slooten, kỹ sư hóa học, tác giả của những giả thuyết mới về cái chết bí ẩn của danh họa Vincent Van Gogh.
Ông Voskuil phát biểu: “Kết luận của ông Van Slooten đã được rút tỉa từ nhiều giả định. Là một chuyên gia y khoa, tôi cần biết làm thế nào và khi nào tôi có thể tiếp cận được các chẩn đoán. Những gì mà ông Slooten đang làm là lắp ráp các dữ kiện và tranh cãi nghiêng về một phía (kết luận), Van Gogh được sử dụng như một bù nhìn. Đó là sự phi khoa học, không phải là tư tưởng lâm sàng. Bạn cần biết nhiều hơn về đề tài này trước khi có thể rút ra một kết luận. Còn các bệnh nhân khác thì sao? Paul Gauguin là một trong số họ - “phải chăng ông ấy mắc chung các triệu chứng?”. 

Về phía lập luận của ông Voskuil, ông Van Slooten vẫn điềm tĩnh khẳng định: “Tôi nghĩ rằng anh ấy (Voskuil) không phô bày hết các dữ liệu y học trong giả thuyết này. Anh ta là nhà thần kinh học – người đã nghiên cứu về Vincent Van Gogh trong suốt nhiều năm và anh ấy không hề đơn độc. Thời báo Tâm thần học Mỹ đã công bố toàn bộ một bài viết cách đây vài năm về căn bệnh của Van Gogh, và đính kèm hơn 30 chẩn đoán. Đó là thứ mà Voskuil nhắm tới. Còn bản thân tôi, một kẻ ngoài cuộc, đến từ một câu chuyện hoàn toàn mới. Chắc là Voskuil không thích nó nhiều”. 

Voskuil cũng đáp trả: “Không có bằng chứng nào về một sự đột biến ở những bệnh nhân tâm thần tại Arles có liên quan đến khí chiếu sáng trong suốt thời gian đó. Có nhiều cách khác nhau để giải thích các triệu chứng bệnh của Van Gogh”. Tuy nhiên vẫn có những thứ chân thật và đáng lưu ý, nó có thể là một tình tiết tăng nặng. Ở thời điểm này, ngộ độc carbon monoxide là một “tên sát nhân thầm lặng”. Chỉ riêng tại Hà Lan, có từ 10 đến 20 người qua đời mỗi năm và khoảng 80 trường hợp khác phải nhập viện vì ngộ độc khí ngay cả khi nó là khí đốt tự nhiên, sạch hơn khí than đá, và sử dụng phổ biến trong các hộ gia đình Hà Lan để nấu nướng, nước nóng và lò nung. 

Ông Van Slooten dẫn giải: “Việc tiếp xúc thýờng xuyên, hít một lýợng nhỏ khí trong một thời gian dài, ví nhý lò hơi của bạn không được điều chỉnh đúng cách có thể hình thành các dạng tác động tâm lý học như trầm cảm và buồn bực, ác mộng và lo âu. Các bác sĩ sẽ không cho rằng những triệu chứng này là bị ngộ độc mà họ cho rằng chúng hình thành bởi các nguyên nhân khác”.

Ông Voskuil vẫn tỏ ý hoài nghi: “Vincent Van Gogh đã có những triệu chứng đặc thù trong cuộc đời ông ấy. Ai cũng có quan điểm riêng về chuyện này. Nhưng nghiên cứu nên được tiến hành với một giá trị khoa học nhất định. Nguyên nhân do đâu? Những gì đã kích hoạt cho tình huống xấu? Có phải do uống nhiều rượu absinthe? Giả thuyết về tiếp xúc khí chiếu sáng đã được đề xuất từ trước đó, nhưng nó không khả thi”. 

Ông Van Slooten lập luận: “Họa sĩ có đời sống nhạy cảm hơn người bình thường. Trước đó, Van Gogh đã trầm cảm, nhưng tôi nghĩ một sự trùng hợp rằng chứng trầm cảm đã có trước khi tiếp xúc với khí chiếu sáng. Vào thời gian họa sĩ sống ở Paris, cùng với người em trai, ông ấy đã sống dưới khí chiếu sáng hoặc trong lúc ở Antwerp, Van Gogh đã sống và làm việc ban đêm tại học viện nghệ thuật và cũng tiếp xúc với khí chiếu sáng”. 

Dù có những ý kiến hoài nghi, bàn ra tán vào, nhưng có một sự thật rằng Vincent Van Gogh đã có các vấn đề tâm lý. Suốt đời mình, nhà danh họa chẳng bán được bức tranh nào và ông cảm thấy mình là “của nợ” với em trai. Mặc dù vậy, bất kể nguồn gốc chứng gàn rỡ của Van Gogh ra sao, thì “cơn bão bên trong” là một câu hỏi bí ẩn mà nhà danh họa đã phải chịu đựng.

Theo Cảnh Sát Toàn Cầu




Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh

Top 5 Hoa hậu Việt Nam 2016 diện các mẫu áo dài được làm bằng lụa tơ tằm của nhà thiết kế Lan Hương.

Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh Trong bộ ảnh mới, Đào Thị Hà hóa thân thành thiếu nữ xưa với các thiết kế nằm trong bộ sưu tập Hương sắc Việt của Lan Hương.

">  

Trong bộ ảnh mới, Đào Thị Hà hóa thân thành thiếu nữ xưa với các thiết kế nằm trong bộ sưu tập Hương sắc Việt của Lan Hương.

 
Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh "Bản sao Tăng Thanh Hà" từng tâm sự cô thích làm người mẫu hơn thi hoa hậu. Sau cuộc thi, người đẹp trở thành nàng thơ của Đỗ Mạnh Cường, làm mẫu ảnh ngoài giờ học ở trường.

">  

"Bản sao Tăng Thanh Hà" từng tâm sự cô thích làm người mẫu hơn thi hoa hậu. Sau cuộc thi, người đẹp trở thành nàng thơ của Đỗ Mạnh Cường, làm mẫu ảnh ngoài giờ học ở trường.

 
Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh Các mẫu áo dài trình diễn trong sự kiện đều đi theo phom dáng cách tân thêu họa tiết thiên nhiên như hoa, chim muông, cây cỏ...

">  

Các mẫu áo dài trình diễn trong sự kiện đều đi theo phom dáng cách tân thêu họa tiết thiên nhiên như hoa, chim muông, cây cỏ...

 
Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh  

Đào Thị Hà lạnh lùng khi tạo dáng với người mẫu Lan Hương (trái). 

 
Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh Với chất liệu tơ tằm truyền thống, các mẫu áo được làm hoàn toàn bằng tay, mang các gam trầm như đen, đỏ.

">  

Với chất liệu tơ tằm truyền thống, các mẫu áo được làm hoàn toàn bằng tay, mang các gam trầm như đen, đỏ.

 
Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh Một mẫu áo đính hoa 3D trên ngực và tay áo.

">  

Một mẫu áo đính hoa 3D trên ngực và tay áo.

 
Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh Những thiết kế áo dài của Lan Hương từ trước tới nay đều trung thành với cách thêu thủ công, họa tiết nhấn nhá ở cổ hay phần dưới tà áo. Đôi khi, mẫu thêu hoa được trải dài trên thân áo, tạo thành bức tranh đầy màu sắc.

">  

Những thiết kế áo dài của Lan Hương từ trước tới nay đều trung thành với cách thêu thủ công, họa tiết nhấn nhá ở cổ hay phần dưới tà áo. Đôi khi, mẫu thêu hoa được trải dài trên thân áo, tạo thành bức tranh đầy màu sắc.

 
Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh  

Vẻ nữ tính, thuần Việt của Đào Thị Hà trong một bức hình với áo dài ghép nhiều loại vải, thêu hoa sen.

 
Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh Với áo dài truyền thống, nhà thiết kế tạo nên hơi thở hiện đại bằng chi tiết xẻ ống tay.

">  

Với áo dài truyền thống, nhà thiết kế tạo nên hơi thở hiện đại bằng chi tiết xẻ ống tay.

 
Đào Thị Hà hóa thiếu nữ trong tranh Ảnh: Đàm Long Xây.

">  

Ảnh: Đàm Long Xây.

 
Ý Ly




Bát nháo tình trạng xâm phạm bản quyền tranh

Tình trạng xâm phạm bản quyền hay sao chép, làm tranh giả ở Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp, đã làm tổn hại không nhỏ đến thanh danh của những người làm nghệ thuật nước nhà. Và điều đáng nói là hiện nay vẫn chưa có hướng giải quyết tận gốc vấn đề này.
Tràn lan tranh chép, tranh giả

Việc 17 bức tranh trong triển lãm “Những bức tranh từ châu Âu về” (tháng 7/2016) đều là tranh giả, đã trở thành một scandal về tranh giả lớn nhất những năm gần đây, khiến giới mỹ thuật và công chúng bức xúc. Điều đáng nói là 17 bức tranh này đã “qua mặt” được Hội đồng thẩm định một cách ngoạn mục, rồi lại được đưa vào trưng bày triển lãm ngay giữa Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, mà không bị phát hiện. Chỉ đến khi triển lãm mở cửa, một số họa sỹ, nhà nghiên cứu đến xem, rồi khi họa sỹ Thành Chương đưa ra bằng chứng về một bức tranh do chính ông vẽ, lại bị ký tên họa sỹ Tạ Tỵ… thì mọi chuyện mới vỡ lở, cơ quan quản lý mới vào cuộc…

Bức tranh của họa sỹ Thành Chương bị ghi thành tranh của họa sỹ Tạ Tỵ

Vụ việc trên có lẽ chỉ là “giọt nước” làm “tràn ly”, bởi tình trạng xâm phạm bản quyền tranh, sao chép tranh vô tội vạ đã diễn ra ở Việt Nam từ rất lâu, và đến nay vẫn không kiểm soát được.

Trên đường Nguyễn Thái Học (Hà Nội), có tới vài chục cửa hàng bán tranh. Đủ các loại tranh, đủ các chất liệu, phong cách. Từ tranh của những họa sỹ không mấy tên tuổi, đến tranh của những họa sỹ nổi tiếng trong nước, rồi tranh của các danh họa thế giới như Van Gogh, Picasso, đến cả nàng “Mona Lisa” của Leonardo Da Vinci, hay “Người đàn bà xa lạ” của Ivan Nikolaevich Kramskoi cũng có thể tìm thấy. Chủ một cửa hàng tranh trên đường Nguyễn Thái Học cho biết, chỉ cần khách hàng có nhu cầu, có thể tự chọn từ catalogue hoặc khách tự đưa ảnh mẫu, sau vài ngày là có thể có được một bức tranh sao chép với mức giá rất “phải chăng”, mà người chép không cần biết đó là tranh của tác giả nào, ở đâu...

Theo nhà nghiên cứu, phê bình Phan Cẩm Thượng, vào khoảng những năm 1988 - 1990, thị trường tranh giả của Việt Nam đã rất “sôi động”. Khi đó, thấy tranh của các họa sỹ lớn được nhiều người tìm mua, nhiều người buôn tranh đã thuê các họa sỹ khác sao chép lại những bức tranh lớn để đem bán sinh lời… Có những bức tranh do họa sỹ khác sao chép, cũng có bức tranh do chính họa sỹ chép lại tranh của mình để đem bán, hoặc chép theo yêu cầu... Và hầu hết mọi người chưa từng có khái niệm gì về bản quyền tranh, không có khái niệm về việc tranh đấy là duy nhất, mà họ chỉ quan tâm tới chuyện tranh bán được thì lại chép tiếp…

Thậm chí, cách thức chép tranh của các họa sỹ cũng trở thành “công nghệ”. Ai giỏi phần nào vẽ phần đấy. Ví dụ, tranh của họa sỹ Bùi Xuân Phái, các họa sỹ chia ra mỗi người một mảng, người vẽ nền trời, người vẽ phố cổ, người vẽ mái nhà cây cối… Việc tranh của các họa sỹ nổi tiếng, nhất là các họa sỹ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ngày trước như tranh của Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Phan Chánh… bị sao chép nhiều đến mức, một nhà phê bình nghệ thuật phương Tây đã phải thốt lên rằng: “Khi còn sống, ông Phái vẽ nhiều bao nhiêu, thì khi mất đi ông ấy còn vẽ nhiều hơn thế”. Từ câu nói vui này, chúng ta cũng có thể thấy rằng việc sao chép hay làm giả tranh của các họa sỹ lớn từ đó đến bây giờ rất đáng báo động.

Khó kiểm soát

Từ những câu chuyện kể trên, có thể thấy, hiện tượng tranh giả hay sao chép tranh ở nước ta đang diễn ra vô cùng phổ biến. Nhà nghiên cứu, phê bình Phan Cẩm Thượng thừa nhận, việc vi phạm bản quyền hay tranh giả ở Việt Nam đã trở nên hết sức phức tạp, gần như không thể kiếm soát nổi. Cách thức chép hay làm giả những bức tranh cũng vô cùng phong phú và đa dạng.

Có thể từ một bức tranh thật người ta có thể chép ra nhiều bức khác nhau; có thể họ chép từ ảnh ra thành tranh; cũng có nhiều trường hợp dùng ký họa của những họa sỹ nổi tiếng để vẽ ra nhiều bức tranh khác nhau. Trường hợp này ông Dương Bích Liên, và ông Nguyễn Văn Chánh… bị nhiều, hay gần đây nhất là trường hợp của họa sỹ Thành Chương. Cũng có nhiều bức tranh từ bản vẽ màu bình thường nguyên bản, sẽ được chuyển sang tranh sơn mài, tranh vẽ lụa, hay có khi là ngay trên ảnh chụp lại… “Chính những điều đó làm cho uy tín của những họa sỹ Việt Nam bị ảnh hưởng, thậm chí rất khó đánh giá tài năng của các họa sỹ khi tranh giả tranh thật lẫn lộn. Không biết bao nhiêu lần, các nhà văn định viết sách về các họa sỹ lớn của Việt Nam nhưng không thể, vì không biết tranh thật của các họa sỹ như thế nào, và những bức tranh ấy đang ở đâu nữa”, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng chia sẻ.

Trước tình trạng hỗn loạn của việc xâm phạm bản quyền các tác phẩm mỹ thuật Việt, một số họa sỹ đã phải tự tìm cách bảo vệ mình, một số họa sỹ đánh dấu ký hiệu riêng, có người cấp cho người mua giấy chứng nhận về tên bức tranh, kích cỡ, chất liệu… để người mua yên tâm.

Tuy nhiên, nhiều họa sỹ, nhà nghiên cứu mỹ thuật lo ngại, nếu cơ quan chức năng không sớm tìm biện pháp quản lý, và nếu tình trạng xâm phạm bản quyền tranh vẫn tiếp tục diễn ra tràn lan, không kiểm soát được như hiện nay, không chỉ giá trị của các họa sỹ Việt Nam bị giảm, thị trường tranh Việt bị ảnh hưởng, bởi người nước ngoài không còn tin tưởng vào các giá trị thật của tranh Việt do độ giả quá lớn… mà nó còn làm giảm sức sáng tạo của các thế hệ họa sỹ trẻ đương đại Việt Nam. Bởi không mấy ai không nản lòng thoái chí, khi thấy những tác phẩm nghệ thuật - đứa con tinh thần do mình vất vả sáng tạo ra, ngang nhiên bị sao chép với chất lượng kém, rồi được bày bán tràn lan mà không hề có cơ quan chức năng nào kiểm tra, xử phạt. Còn bản thân các họa sỹ, người nhà họa sỹ thì nếu có biết cũng chỉ có thể “kêu trời” như hiện nay.
Phương Hà







Gia đình họa sĩ Tạ Tỵ chính thức khởi kiện vụ tranh bị mạo danh

 Đơn khởi kiện đã được con gái họa sĩ Tạ Tỵ, bà Tạ Thùy Châu gửi đến tòa án nhân dân TPHCM vào ngày 3/8 vừa qua.

Sau sự việc triển lãm tranh giả khá ồn ào vừa qua, gia đình họa sĩ Tạ Tỵ - một trong 2 họa sĩ bị mạo danh trong vụ triển lãm “Những bức tranh trở về từ Châu Âu” đã chính thức làm đơn khởi kiện gửi lên tòa án thành phố.

PV Dân trí đã gặp luật sư – thạc sĩ Nguyễn Hữu Đức – con rể của họa sĩ, cũng là người đại diện cho gia đình lên tiếng trong sự việc lần này.

Luật sư Nguyễn Hữu Đức tại phòng làm việc và những tác phẩm của họa sĩ Tạ Tỵ vẫn còn treo tại nhà riêng.
Luật sư Nguyễn Hữu Đức tại phòng làm việc và những tác phẩm của họa sĩ Tạ Tỵ vẫn còn treo tại nhà riêng.

Được biết, phía gia đình của họa sĩ Tạ Tỵ đã quyết định khởi kiện vì tên của họa sĩ Tạ Tỵ bị lợi dụng, xin ông cho biết, vì sao gia đình quyết định khởi kiện?

Chúng tôi làm rõ sự việc lần này để bảo danh, lưu danh được các họa sĩ đời đầu của trường Mỹ thuật Đông Dương của Việt Nam. Sự việc tranh giả cứ như một “vết thương rỉ máu” hoài, nếu không làm rõ ràng, thì “vết thương” này không thể chấm dứt.

Ông có nghe thông tin họa sĩ Thành Chương cũng đã gửi đơn tố cáo, cùng bức tranh với gia đình ông đang muốn kiện?

Tôi có nhận thông tin từ phía ông Thành Chương đã gửi đơn tố cáo sự việc này. Hai bên đều là nạn nhân, một người bị mạo danh, một người bị xóa danh nên chúng tôi sẽ hỗ trợ nhau khi có yêu cầu. Nếu tôi cần thông tin gì ông Chương sẽ cung cấp, và ngược lại. Tôi mong rằng khi 2 gia đình khởi kiện, giới văn nghệ sĩ và nhất là các họa sĩ tiền bối của trường Mỹ thuật Đông Dương còn lại thế sẽ hỗ trợ một tay.

Nếu khởi kiện, ông sẽ khởi kiện ai?

Trong vụ kiện này sẽ có 3 chủ thể liên quan. Một trong 3 chủ thể sẽ là nhà sưu tập Vũ Xuân Chung, người đang là chủ của những bức tranh giả mạo.

Phía ông Chung có giấy tờ có chữ kí của Lãnh sự quán Pháp về ông Hubert?

Tôi có chuẩn bị giấy tờ đầy đủ đây, giấy giám định tranh thật do ông Hubert ký. Nhưng theo tôi được biết, danh tính của ông Hubert được xác nhận theo 3 kiểu khác nhau từ phía công ty Christie’s HongKong.

Khi thì khẳng định Hubert là chuyên viên cao cấp, khi khác nói đã nghỉ làm, và cũng từng xác nhận không là gì cả. Vậy cuối cùng ông Hubert là ai mà dám khẳng định tranh này là thật - một việc mà chính những tác giả, họa sĩ người Việt Nam khi quyết định còn phải suy nghĩ và phải giám định từ sinh hoạt, nét vẽ, tư duy, đặc tính của từng họa sĩ.

Giấy giám định do ông Hubert khẳng định tranh thật để đưa tranh vào bảo tàng triển lãm.
Giấy giám định do ông Hubert khẳng định tranh thật để đưa tranh vào bảo tàng triển lãm.
Bức tranh Trừu tượng chính xác do họa sĩ Tạ Tỵ vẽ vào năm 1951
Bức tranh Trừu tượng chính xác do họa sĩ Tạ Tỵ vẽ vào năm 1951
Những thông tin về cuộc triễn lãm của bức tranh Trừu tượng đã được gia đình lưu giữ sẽ là một chứng cứ cụ thể trong vụ khởi kiện lần này.
Những thông tin về cuộc triễn lãm của bức tranh "Trừu tượng" đã được gia đình lưu giữ sẽ là một chứng cứ cụ thể trong vụ khởi kiện lần này.

Với tư cách làm một luật sư, ông cũng có tham gia vào ngày họp hội đồng thẩm định. Theo ông, vì sao hội đồng thẩm định đã xác định là tranh giả nhưng vẫn được phép mang ra khỏi bảo tàng?

Ngoài nghị định 158/2013, NĐ-CP ban hành ngày 12/11, chúng ta còn nghị định 131/NĐ-CP ban hành ngày 16/10 về quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan. Với những quy định này, ngày họp hội đồng thẩm định, tôi có đề xuất có thể mời thanh tra văn hóa vào cuộc. Nhưng cơ quan nhà nước nói bảo tàng không yêu cầu và ngược lại.

Về quyền tài sản của bức tranh này, tất cả mọi người ở đây không ai có. Bức tranh là quyền tài sản của họ, mình không có quyền giữ nhưng mình có quyền yêu cầu giữ nguyên hiện trạng để thực hiện quyền nhân thân. Họ không được dịch chuyển, mua bán cho đến khi vụ việc sáng rõ. Tuy nhiên, không ai làm và mọi người đều nghĩ phải có công an mới giải quyết được.

Đây là một vụ việc dân sự, thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ, vấn đề ở đây là mạo danh, cần phải giải quyết vấn đề này trước. Công an là một vấn đề sâu hơn.

Khi tác phẩm ra khỏi Viện bảo tàng rồi thì viện còn chịu trách nhiệm không?

Một tác phẩm có 2 quyền: Quyền nhân thân và quyền tài sản. Một bảo tàng nghệ thuật phải là một người làm nghệ thuật, am hiểu nghệ thuật, phải hiểu cấu trúc bức tranh, tập quán, sinh hoạt, cá tính của họa sĩ để xác định được tranh thật hay giả. Ví dụ như họa sĩ Bùi Xuân Phái vẽ trên vải, giấy, bảng gỗ, thậm chí cả trên vỏ bao thuốc lá, giấy báo khi không có đủ nguyên liệu; Những bức tranh của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, có nét đằm thắm của tâm hồn Việt Nam vẽ theo lối rất sâu sắc, những nét gọn, nhanh vừa đồng thời hiện đại, lại vừa rất cổ điển... Nếu là nhà nghiên cứu làm việc tại bảo tàng sẽ hiểu đặc tính, phải hiểu từ chân tơ, kẽ tóc của từng họa sĩ. Nhưng bảo tàng đã quên đi điều đó.

Hội đồng thành lập chỉ để xác định tranh giả, có cả những nhà lãnh đạo cấp cao của quản lý văn hóa, tuy nhiên ngoài việc xác định tranh giả, hội đồng không có quyền gì khác? Điều này là đúng hay sai thưa ông?

Trong cuộc họp hội đồng thẩm định, ý kiến của ông Vi Kiến Thành, Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm có nói, buổi họp và biên bản của buổi họp là văn bản chính thức để triển khai các bước tiếp theo. Ông ủng hộ việc phải xử lý triệt để vấn đề này. Tuy nhiên, theo ý kiến cá nhân của ông Vi Kiến Thành, không thành lập hội đồng, mục đích tổ chức buổi họp là nhờ những nhà chuyên môn tham vấn về chuyên môn, cũng như hướng xử lý vụ việc. Biên bản cuộc họp về mặt pháp lý chưa đảm bảo.

Tuy nhiên, trong kết luận của buổi họp cũng đã khẳng định được 15 bức tranh là giả, và 02 bức tranh bị mạo danh, đây chính là cơ sở để khởi kiện việc này ra tòa án.

Theo tôi, hội đồng là cơ sở để người khác tiếp tục làm. Hội đồng phải có tính pháp lí, sau đó những giấy tờ xác nhận sẽ đưa qua cơ quan thanh tra, tòa án để họ tiếp tục xử lí. Còn bây giờ, vấn đề pháp lí của hội đồng không có.

Là một luật sư, ông nghĩ luật pháp Việt Nam hiện tại có thể bảo vệ được quyền lợi của những họa sĩ không khi vấn nạn tranh giả đã có từ nhiều năm qua nhưng chưa có biện pháp xử lý?

Theo tôi, bất kỳ đơn vị nào hoạt động cũng có một đội ngũ kỹ thuật, tạo ra một phòng tổ chức kiểm định, giám định chất lượng sản phẩm mà mình đang chịu trách nhiệm và quản lý. Không cần trả tiền lương, khi nào có giám định thì triệu tập, trả lương theo công việc. Phía bảo tàng hoàn toàn có thể thành lập hội đồng này, những người giám định sẽ là những họa sĩ, những nhà chuyên môn có uy tín được cơ quan có thẩm quyền công nhận và có được thẩm quyền về việc quyết định tranh giả hay thật.

Quyết định của hội đồng này sẽ có cơ sở pháp lý. Đây sẽ là một trong những biện pháp cần phải làm để xử lý vấn nạn tranh giả đang ngang nhiên tồn tại mà không ai có thể có thẩm quyền xử lý vì thiếu tính quyết liệt.

Như vậy, trong sự việc lần này phía gia đình không kiện vì quyền lợi, chỉ muốn làm rõ sự việc tranh giả?

Đúng, ở đây, chúng tôi yêu cầu ông Vũ Xuân Chung phải xóa tên họa sĩ Tạ Tỵ ra khỏi bức tranh mà ông ta (hay ông Hubert) đặt tên “Trừu tượng” vì bức tranh này không phải do họa sĩ Tạ Tỵ vẽ. Công khai xin lỗi gia đình tôi và vong linh họa sĩ Tạ Tỵ.

Xin cảm ơn ông đã chia sẻ những thông tin này.

Bài & ảnh: Băng Châu







126 năm Van Gogh tự sát: Giải mã bí ẩn cơn điên của danh họa

Ngày 27/7/1890, danh họa Hà Lan Vincent Van Gogh đã tới cánh đồng lúa mì đằng sau lâu đài ở ngôi làng Auvers-sur-Oise, cách thủ đô Paris, Pháp vài dặm về phía Bắc và dùng súng bắn vào ngực. Kể từ khi tự cắt tai bằng dao cạo vào một đêm tháng 12/1888 ở Arles, trong suốt 18 tháng sau đó, ông đã vật lộn với căn bệnh thần kinh.

Bảo tàng Van Gogh ởAmsterdam (Hà Lan) đang tổ chức triển lãm On the Verge of Insanity, trong đó trưng bày nhiều bức tranh, kỷ vật nhằm giải mã căn bệnh của danh họa trước khi ông tự vẫn.

Ngày càng cảm thấy cô đơn

Sau khi xảy ra tai nạn "khét tiếng", tự hành hạ mình bằng việc cắt tai, Van Gogh tiếp tục bị suy nhược thần kinh khiến ông hay bị lẫn lộn, không tỉnh táo. Tình trạng bệnh đó của ông có thể kéo dài vài tuần mỗi đợt.

Tuy nhiên khi tỉnh táo trở lại, Van Gogh lại điềm tĩnh vẽ tranh. Thời kỳ ở Auvers là giai đoạn sáng tác "mắn" nhất của ông trong sự nghiệp, trong 70 ngày, ông hoàn thành 75 bức tranh và hơn 100 bản vẽ và phác họa. Van Gogh tới Auvers hồi tháng 5/1890, sau khi rời khỏi một bệnh viện tâm thần ở ngoại ô Saint-Remy-de-Provence.


 Bức chân dung tự họa Van Gogh vẽ sau khi tự cắt tai

Dù sáng tác được nhiều như vậy, nhưng Van Gogh vẫn luôn cảm thấy ngày càng cô đơn và lo âu. Ông luôn nghĩ rằng mình thất bại trong cuộc đời. Cuối cùng, ông đã lấy khẩu súng nhỏ của chủ căn nhà trọ ở Auvers và chiều muộn ngày thứ Bảy cuối tháng 7/1890. Họa sĩ cầm khẩu súng tới cánh đồng lúa mì và tự bắn vào mình.

Tuy nhiên, đây chỉ là một khẩu súng lục bỏ túi với hỏa lực hạn chế, nên khi bóp cò viên đạn chỉ bắn vào xương sườn chứ không xuyên được vào tim. Van Gogh bị ngã gục.

Tối đến, ông nhìn quanh tìm khẩu súng để bắn phát nữa nhằm kết liễu đời mình, song không tìm thấy. Van Gogh trở về nhà trọ và bác sĩ đã được mời đến để chữa trị cho ông. Ngày hôm sau, em trai ông là nhà buôn nghệ thuật tới và tin rằng sẽ họa sĩ sẽ hồi phục. Song hy vọng đó đã tiêu tan. Đêm đó, Van Gogh qua đời, ở tuổi 37.

Tới triển lãm On the Verge of Insanity tại Bảo tàng Van Gogh ở Amsterdam, khách tham quan có thể hiểu được thêm về một năm rưỡi cuối đời của nghệ sĩ. Ở đây trưng bày khẩu súng (đã bị ăn mòn nhiều) được tìm thấy ở cánh đồng đằng sau lâu đài ở Auvers vào khoảng năm 1960. Giới phân tích cho rằng, khẩu súng này đã nằm dưới đất khoảng 50-80 năm và đây rất có thể là khẩu súng mà Van Gogh đã sử dụng.

Triển lãm còn trưng bày bức thư được tìm thấy trong thời gian gần đây và đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bức thư này do bác sĩ điều trị cho Van Gogh sau khi ông cắt tai ở Arles viết. Thư gồm cả hình vẽ minh họa phần tai nghệ sĩ đã cắt.

Trong nhiều năm liền các nhà viết tiểu sử không ngừng tranh cãi liệu Van Gogh cắt cả tai hay chỉ một phần. Qua bức thư này, người ta biết được họa sĩ đã cắt cả chiếc tai trái của mình.


“Tree Roots” - bức tranh cuối cùng của Van Gogh được ông vẽ vài giờ trước khi tự vẫn

Giải mã tâm trạng qua bức tranh cuối cùng

Triển lãm còn trưng bày cả bức tranh chưa được hoàn thành, mang tên Tree Roots (1890) của danh họa. Van Gogh vẽ bức tranh này vào sáng ngày 27/7, vài giờ trước khi ông cố gắng tự sát. Đây là bức tranh cuối cùng của ông.

Tree Roots là một hình ảnh khác thường, bố cục trong tranh không có một điểm nhấn nào. Hình ảnh trong bức tranh này có thể nói gì với chúng ta về tình trạng thần kinh của ông?

Bức tranh cho thấy Van Gogh rất bị kích động trong quá trình vẽ, đầy những biến động về tình cảm. "Đây là một trong những bức tranh mà khi xem bạn có thể cảm nhận được tình trạng tinh thần bị tra tấn của Van Gogh" - sử gia nghệ thuật Martin Bailey nói.

Hơn nữa, đề tài trong tranh rất có ý nghĩa. Nhiều năm trước đó, Van Gogh đã nghiên cứu rễ cây để tìm hiểu xem nó có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện cảm xúc. Trong một lá thư gửi cho em trai một thời gian ngắn trước khi qua đời, Van Gogh viết "cuộc đời ông đã bị ăn mòn từ tận gốc". Phải chăng, Van Gogh vẽ bức tranh Tree Roots để coi đây như một lời từ biệt?

Theo Nienke Bakker, giám tuyển tranh tại Bảo tàng Van Gogh: "Những tác phẩm được Van Gogh vẽ trong những tuần cuối đời chứa đựng rất nhiều bối rối về cảm xúc, như bức Wheatfield with CrowsWheatfield under Thunderclouds. Rõ ràng, Van Gogh cố gắng bộc lộ trạng thái cảm xúc của mình. Bức tranh Tree Roots cũng rất mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Thật khó tin rằng ông đã vẽ bức tranh vào buổi sáng và đến cuối ngày thì kết liễu đời mình. Đối với tôi, thật khó có thể nói rằng Van Gogh đã chủ định vẽ bức tranh và coi đây là một lời giã biệt, bởi như vậy quá lý trí".

Bakker vẫn bám theo ý tưởng cho rằng, căn bệnh của Van Gogh nảy sinh từ tính vĩ đại trong con người nghệ sĩ. "Những rễ cây bị tra tấn, xương xẩu trong Tree Roots khiến cho bức tranh trông rất cuồng nhiệt và đầy cảm xúc. Song đây không phải là tác phẩm được tạo nên bởi một tâm trí điên loạn. Van Gogh biết rất rõ mình đang làm gì. Ông vẽ nó trong lúc bệnh tật, nhưng không phải do bệnh tật, hãy nhớ điều đó".

Việt Lâm (lược dịch)
Thể thao & Văn hóa


Những bức tranh chân dung độc nhất vô nhị trong lịch sử hội họa

Chiêm ngưỡng những bức tranh chân dung này, người yêu hội họa có thể nhận ra ngay một phong cách riêng biệt, trứ danh, đi tiên phong và không thể lặp lại.

Sinh ra ở Milan, Ý, trong một gia đình có truyền thống hội họa, Giuseppe Arcimboldo (1527-1593) sớm theo đuổi con đường mỹ thuật và trở thành một họa sĩ vẽ tranh chân dung có tiếng trong giới thượng lưu Milan thời bấy giờ. Thời này chưa có nhiếp ảnh nên giới nhà giàu lưu giữ chân dung của mình qua từng giai đoạn bằng cách đặt họa sĩ vẽ tranh chân dung.

Giuseppe là một họa sĩ trẻ rất được yêu thích trong giới thượng lưu Milan, ông thành danh từ năm ngoài 30 tuổi. Thời này, họa sĩ nào càng vẽ khéo, biết che bớt cái xấu, tô đậm cái đẹp trong ngoại hình người đặt tranh sẽ càng được ưa chuộng và đặt vẽ nhiều. Không ít họa sĩ có được đời sống vương giả nhờ việc thường xuyên qua lại phục vụ nhu cầu vẽ chân dung của giới nhà giàu.

Riêng Giuseppe, sau khi đã có được danh tiếng, ông bắt đầu “chơi ngông”, chuyển sang một dạng tranh chân dung kỳ lạ chưa từng thấy, đem lại cho những nhà bảo trợ giàu có của ông một niềm vui thích đặc biệt, khi họ vốn đã quá quen thuộc với những bức chân dung “xu nịnh”.

Giuseppe đã sáng tạo ra một dòng tranh chân dung kỳ lạ, trong đó, các nhân vật xuất hiện trong tranh được tạo nên hoàn toàn từ các loại rau củ quả. Ở đó, người xem tranh có thể nhìn thấy rõ từng món nông sản nếu “soi” kỹ, nhưng khi nhìn toàn thể bức tranh, lại thấy hiện lên một chân dung có những nét nhận dạng với biểu cảm, cá tính riêng rõ rệt.

Những bức chân dung đầu tiên được Giuseppe thực hiện theo phong cách này là vào năm 1569 với hai bộ tranh tứ bình. Một bộ có tên “Bốn mùa” với những bức chân dung được tạo nên từ các thức nông sản phổ biến trong mỗi mùa. Bộ còn lại có tên “Bốn nguyên tố” (gồm đất, nước, lửa, khí) được tạo nên từ các loài sinh vật.

Những bức chân dung của Giuseppe đã ngay lập tức được yêu thích không chỉ bởi tính độc đáo, sự chính xác, tỉ mỉ, mà còn bởi trí tuệ và sự hài hước được vị danh họa thể hiện qua từng tác phẩm.

Những bức chân dung này còn được Giuseppe diễn giải theo một hướng rất được lòng những nhân vật thượng lưu, quý tộc, đó là sự thống trị của các gia đình mang dòng dõi hoàng gia đối với tất cả đất đai, sông ngòi, biển cả mà họ cai quản.

Sau khi Giuseppe Arcimboldo qua đời, những tác phẩm của ông bị phân tán và lưu lạc suốt hàng thế kỷ, mãi cho đến đầu thế kỷ 20, khi những tác phẩm này được phát hiện trở lại và nhận được những đánh giá xứng tầm, tên tuổi vị danh họa mới có được vị trí xứng đáng trong nền hội họa Ý.

Lúc này, hậu thế xem Giuseppe Arcimboldo là một nhân vật truyền cảm hứng cho trường phái Siêu thực trong hội họa đầu thế kỷ 20.

Chiêm ngưỡng những bức chân dung có một không hai của danh họa Ý Giuseppe Arcimboldo:

Bức “Vertumnus - Rudolf II”, vẽ năm 1590, khắc họa vua Rudolf II của Đế quốc La Mã Thần thánh (1552-1612). Tác phẩm lấy cảm hứng từ vị thần La Mã cổ đại Vertumnus cai quản các mùa và các khu vườn.
Bức “Vertumnus - Rudolf II”, vẽ năm 1590, khắc họa vua Rudolf II của Đế quốc La Mã Thần thánh (1552-1612). Tác phẩm lấy cảm hứng từ vị thần La Mã cổ đại Vertumnus cai quản các mùa và các khu vườn.

Bức “Mùa xuân”, vẽ năm 1573, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn mùa”.
Bức “Mùa xuân”, vẽ năm 1573, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn mùa”.

Bức “Mùa hè”, vẽ năm 1563, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn mùa”.
Bức “Mùa hè”, vẽ năm 1563, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn mùa”.

Bức “Mùa thu”, vẽ năm 1573, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn mùa”.
Bức “Mùa thu”, vẽ năm 1573, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn mùa”.

Bức “Mùa đông”, vẽ năm 1563, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn mùa”.
Bức “Mùa đông”, vẽ năm 1563, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn mùa”.

Bức “Đất”, vẽ năm 1570, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn nguyên tố”.
Bức “Đất”, vẽ năm 1570, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn nguyên tố”.

Bức “Lửa”, vẽ năm 1566, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn nguyên tố”.
Bức “Lửa”, vẽ năm 1566, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn nguyên tố”.

Bức “Nước”, vẽ năm 1566, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn nguyên tố”.
Bức “Nước”, vẽ năm 1566, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn nguyên tố”.

Bức “Khí”, vẽ năm 1566, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn nguyên tố”.
Bức “Khí”, vẽ năm 1566, nằm trong bộ tranh tứ bình “Bốn nguyên tố”.

Bức “Người làm vườn”, vẽ năm 1590.
Bức “Người làm vườn”, vẽ năm 1590.

Bức “Người đầu bếp”, vẽ năm 1570. Bức chân dung được tạo nên từ những chú lợn sữa đặt trong đĩa, khi xoay ngược bức tranh, người ta sẽ nhìn ra chân dung “Người đầu bếp”.
Bức “Người đầu bếp”, vẽ năm 1570. Bức chân dung được tạo nên từ những chú lợn sữa đặt trong đĩa, khi xoay ngược bức tranh, người ta sẽ nhìn ra chân dung “Người đầu bếp”.

Bức “Hoa cỏ”, vẽ năm 1591.
Bức “Hoa cỏ”, vẽ năm 1591.

Bức “Hình đầu đảo ngược với rổ hoa quả”, vẽ năm 1590, đòi hỏi người xem phải xoay ngược tác phẩm 180o để có thể nhìn ra hình đầu nhân vật.
Bức “Hình đầu đảo ngược với rổ hoa quả”, vẽ năm 1590, đòi hỏi người xem phải xoay ngược tác phẩm 180o để có thể nhìn ra hình đầu nhân vật.

Bức “Người quản lý thư viện”, vẽ năm 1566.
Bức “Người quản lý thư viện”, vẽ năm 1566.

Bức “Bốn mùa trong một hình đầu”, vẽ năm 1590.
Bức “Bốn mùa trong một hình đầu”, vẽ năm 1590.

Bích Ngọc
Theo Mashable


Con gái họa sĩ Tạ Tỵ: 'Tôi sẽ khởi kiện vì tên của bố tôi bị giả mạo'

Bà Tạ Thùy Châu, con gái cố họa sĩ Tạ Tỵ
  Bà Tạ Thùy Châu, con gái của cố họa sĩ Tạ Tỵ tuyên bố sẽ kiện những người có liên quan ra trước pháp luật vì đã mạo danh và giả chữ ký của bố mình trên bức tranh có tên “Trừu tượng”.

Vụ 17 bức tranh được cho là giả trong triển lãm “Những bức tranh trở về từ châu Âu” của nhà sưu tập Vũ Xuân Chung gây xôn xao dư luận vẫn chưa có hồi kết khi các bên liên quan chưa thỏa mãn với kết luận của Hội đồng thẩm định. Phía nhà sưu tập Vũ Xuân Chung vẫn khư khư khẳng định tranh của mình là tranh thật. Trong khi đó, họa sĩ Thành Chương đã có đơn tố cáo gửi đến các cơ quan chức năng, trong đó có cơ quan điều tra của Bộ Công an.

Liên quan đến bức tranh có tên Trừu tượng mà họa sĩ Thành Chương phát hiện là tranh do chính ông vẽ đã bị giả chữ ký thành tranh của Tạ Tỵ vẽ vào năm 1952,  đại diện gia đình của cố họa sĩ Tạ Tỵ tỏ ra khá bức xúc trước hành vi được cho là xúc phạm đến danh dự của họa sĩ Tạ Tỵ.

Bà Tạ Thùy Châu, con gái thứ tư của họa sĩ Tạ Tỵ đã dành riêng cho báo điện tử Một Thế Giới cuộc trao đổi về việc gia đình bà sẽ tiến hành khởi kiện những người có liên quan ra trước pháp luật vì đã mạo danh và giả chữ ký của bố mình trên bức tranh có tên Trừu tượng.

Bà Tạ Thùy Châu bên một bức tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ trong phòng làm việc

Bà nhận được thông tin về việc tên của bố mình bị giả ký trên bức tranh có tên Trừu tượng từ đâu?

- Bà Tạ Thùy Châu: Tuy là con của một họa sĩ, nhưng bản thân tôi không theo đuổi con đường nghệ thuật. Vợ chồng tôi hoạt động trong ngành kinh doanh và ngành luật, chính vì vậy tôi ít quan tâm đến các vấn đề có liên quan đến nghệ thuật. Cho đến một hôm tôi được một người hàng xóm báo tin là báo chí có phản ảnh về việc tên của bố tôi bị ký giả trên một bức tranh đang triển lãm ở Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM. Thời điểm đó tôi vẫn chưa khẳng định được tên của bố tôi có thật bị giả danh hay không. Nhưng sau khi xem xét kỹ bức tranh và chữ ký trên đó, tôi đã khẳng định là tên tuổi của bố tôi chắc chắn bị giả danh.

- Sau đó Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM có liên hệ với gia đình bà để thông báo và kiểm chứng thông tin mà báo chí đã phản ảnh về việc chữ ký “Tạ Tỵ” có thể bị giả không, thưa bà?

- Bà Tạ Thùy Châu: Gia đình tôi không nhận được bất cứ thông báo nào từ phía Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, thông tin tôi có được chỉ nhờ qua báo chí. Có lẽ họ không biết được gia đình họa sĩ Tạ Tỵ vẫn còn có người ở Việt Nam. Vợ chồng tôi phải tự liên hệ với phía Bảo tàng để tìm hiểu sự thật. Hôm 19.7, được biết có một hội đồng gồm nhiều họa sĩ danh tiếng thẩm định lại toàn bộ 17 bức tranh, trong đó có tranh giả danh tên bố tôi, vợ chồng tôi đã chạy lên bảo tàng, không ai biết chúng tôi là ai. Tôi tự giới thiệu tôi là con họa sĩ Tạ Tỵ với ông Trịnh Xuân Yên Phó giám đốc bảo tàng và xin phép được dự cuộc họp thẩm định, họ đã đồng ý cho chúng tôi vào dự.

- Bà dựa vào đâu để nói rằng bức tranh có tên Trừu tượng và chữ ký trên đó là giả  danh của họa sĩ Tạ Tỵ?

- Bà Tạ Thùy Châu: Bố tôi là họa sĩ, hơn nữa ông là một người nghệ sĩ suốt đời dấn thân vào con đường nghệ thuật, điều đó ít nhiều cũng đã ảnh hưởng đến đời sống của anh em tôi về tư tưởng đó. Từ lúc bé cho đến khi trưởng thành, tôi đã sống trong thế giới hội họa của ông. Những nét vẽ của bố đã in sâu vào trong ký ức của tôi. Từng mảng màu, từng đường cọ của ông chỉ cần nhìn qua tôi cũng biết ngay là của bố.  Bức tranh Trừu tượng mà tôi nhìn thấy, nó hoàn toàn xa lạ, không mang phong cách vẽ của bố tôi từ màu sắc cho đến bố cục và cách thể hiện. Chữ ký “Tạ Tỵ 52” trên đó là hoàn toàn giả mạo, bố tôi không bao giờ ký kiểu đó. Nếu đem so sánh với những bức tranh của bố mà tôi đang lưu giữ sẽ thấy có một sự khác biệt rất lớn. Chữ ký của bố tôi vuông vức, thẳng đứng đường nét dứt khoát và hơi nhỏ, dấu chấm được đặt đúng vị trí của nó, năm vẽ cũng được viết rất rõ ràng ở một vị trí cố định. Chưa kể có những ký hiệu rất đặc biệt khác mà chỉ những người thân trong gia đình như anh em tôi mới có thể nhận ra được. Bên cạnh đó, bức tranh này cũng đã được anh Thành Chương nhận là tranh của mình vẽ với đầy đủ chứng cứ thuyết phục. Vì vậy tôi khẳng định bức tranh Trừu tượng của ông Vũ Xuân Chung là giả mạo chữ ký của bố tôi.

- Bà có nhớ, hoặc còn lưu giữ bức tranh nào của họa sĩ Tạ Tỵ có cùng chủ đề hoặc có tên là Trừu tượng nào không?

- Bà Tạ Thùy Châu: Tôi còn lưu giữ một số cuốn sách về tranh của bố tôi, trong đó có in lại toàn bộ những bức tranh của ông tại cuộc triển lãm vào thời điểm đó. Bố tôi từng vẽ một bức tranh tên là Trừu tượng  vào năm 1951, nhưng bức tranh này được thể hiện bằng một phong cách hoàn toàn khác biệt với bức tranh Trừu tượng do ông Vũ Xuân Chung đang sở hữu. Bức tranh Trừu tượng của bố tôi và bức Trừu tượng của ông Chung không có bất cứ sự liên quan nào. Để chắc chắn điều này, tôi đã liên lạc với những người anh tôi đang định cư ở Mỹ để hỏi lại kỹ là bố tôi có vẽ bức tranh có tên Trừu tượng nào nữa không. Các anh tôi đều khẳng định bức tranh mà tôi đang giữ là bức duy nhất mà bố tôi vẽ. Còn bức tranh Trừu tượng trong triển lãm “Những bức tranh trở về từ châu Âu” rất xa lạ và không hề tồn tại trong ký ức của các anh tôi.

Ấn phẩm in lại những tác phẩm của họa sĩ Tạ Tỵ trong giai đoạn 1950 - 1956
Bức vẽ có tên là Trừu tượng của họa sĩ Tạ Tỵ, thực hiện năm 1951

- Theo bà thì bức tranh Trừu tượng ký tên Tạ Tỵ vẽ vào năm 1952 trong triển lãm "Những bức tranh trở về từ châu Âu" vừa qua tại sao lại trùng tên bức bức Trừu tượng do chính họa sĩ Tạ Tỵ vẽ năm 1951? Sự trùng hợp này có ý nghĩa gì?

- Bà Tạ Thùy Châu: Tôi nghĩ việc này có mục đích, có thể những người làm tranh giả nghe loáng thoáng bố tôi có một bức tranh tên là Trừu tượng vẽ vào năm 1951 nhưng họ chưa từng thấy nó bao giờ. Việc đặt lại tên cho bức tranh của anh Thành Chương thành Trừu tượng của Tạ Tỵ vẽ vào năm 1952 là có ý đồ và có thể nhằm đánh lừa công chúng ngưỡng mộ tranh của bố tôi.

Chữ ký tranh của họa sĩ Tạ Tỵ qua một số giai đoạn sáng tác

- Bà có nghĩ rằng liệu ông Vũ Xuân Chung là “nạn nhân” của việc giả mạo tranh này không?

- Bà Tạ Thùy Châu: Tôi rất thông cảm với ông Vũ Xuân Chung về sự cố này, có thể ông là nạn nhân của một phi vụ làm tranh giả do ông ấy quá tin vào chứng thực của ông Jean-François Hubert. Tôi lấy làm tiếc khi ông Chung cho đến thời điểm này sau khi mọi việc đã quá rõ ràng, nhưng ông Chung vẫn không chịu đứng ra phối hợp với các bên liên quan để buộc ông Hubert, người chứng thực và bán những bức tranh giả ấy, trả lại những quyền lợi chính đáng cho mình. Nếu ông Chung đứng ra kiện về việc ông Jean-François Hubert, người đã ký tên đóng dấu chứng thực những bức tranh giả thành tranh thật, tôi sẽ sẵn sàng đứng ra làm nhân chứng cho ông ấy.

- Cảm xúc của bà và người thân trong gia đình như thế nào trước việc tên của bố mình bị lợi dụng để ghi vào một bức tranh do người khác vẽ?

- Bà Tạ Thùy Châu: Bản thân tôi nói riêng, gia đình tôi nói chung, rất bức xúc về việc này. Tôi cho rằng đây là một việc làm xúc phạm đến danh tiếng của bố tôi. Người ta cố tình đưa tên bố tôi vào một bức tranh không phải là do ông vẽ là đã xâm phạm đến quyền tác giả mà pháp luật đã quy định rồi. Chưa kể đến những hệ lụy xung quanh việc đó nữa, chẳng hạn sau này những thông tin đó dần dần sai lệch dẫn đến sự hiểu lầm bố tôi đi đạo tranh của họa sĩ Thành Chương thì sao? Đây là việc làm mà bản thân tôi cùng người thân trong gia đình không bao giờ chấp nhận.

Bà Tạ Thùy Châu bên một tác phẩm của bố

- Vậy bà có yêu cầu gì với người chứng thực là ông Jean-François Hubert và nhà sưu tập Vũ Xuân Chung về việc bà cho là họ đã giả mạo tên tuổi của họa sĩ Tạ Tỵ?

- Bà Tạ Thùy Châu: Tôi yêu cầu người đang sở hữu bức tranh cũng như người đã chứng thực bức tranh đó là tranh của bố tôi phải xóa tên Tạ Tỵ ra khỏi bức tranh Trừu tượng sau đó công khai xin lỗi trước công chúng.       

- Nếu những yêu cầu của bà và gia đình không được đáp ứng?

- Bà Tạ Thùy Châu: Tôi sẽ khởi kiện những người có liên quan ra tòa theo những điều khoản đã được quy định rõ ràng trong Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam với các tội danh giả mạo tên, chữ ký của tác giả, mạo danh, hoặc chiếm đoạt quyền tác giả.

- Câu hỏi cuối, bà không bằng lòng điều gì về cuộc triển lãm “Những bức tranh trở về từ châu Âu”  vừa qua? 

- Bà Tạ Thùy Châu: Tôi thấy phía bảo tàng rất yếu kém về công tác thẩm định giá trị của tranh, lẽ ra một triển lãm toàn tranh của các danh họa thuộc Trường Mỹ thuật Đông Dương như thế thì việc kiểm định phải đặt lên hàng đầu. Để lọt một số lượng tranh giả lớn vào một bảo tàng cấp quốc gia như thế là trách nhiệm rất lớn của bảo tàng. Hơn nữa những giấy tờ thẩm định của ông Jean-François Hubert hoàn toàn không có tính pháp lý để chứng nhận đó là tranh thật mà cũng không ai phát hiện ra, quả là điều đáng tiếc cần rút kinh nghiệm sâu sắc. Việc thẩm định tranh của các danh họa không phải hoàn toàn phụ thuộc vào khoa học kỹ thuật. Có một kênh tin cậy khác, đó là phía gia đình của các họa sĩ. Bảo tàng có thể liên hệ với họ để làm rõ thêm nguồn gốc của các bức tranh.

- Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện này!

Tiểu Vũ (thực hiện)







Vụ tranh giả, tranh nhái: 'Đêm trường tăm tối' của mỹ thuật Việt

Thứ Ba, 26/07/2016 07:01
“Ở vị trí tôi, nếu chỉ tìm lại tên một bức tranh và tên tác giả thì câu chuyện đã xong. Nhưng vụ việc liên quan tới những điều lớn hơn: vấn nạn tranh giả, điều đang đưa mỹ thuật Việt về  cảnh đêm trường tăm tối và trở nên xấu xí trước con mắt của quốc tế” – họa sĩ Thành Chương cho biết.
Trước đó, tranh của họa sĩ Thành Chương từng được phát hiện bị “đổi tên” thành của tác giả Tạ Tỵ trong Những bức tranh từ châu Âu về - cuộc “triển lãm tranh giả” tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM

* Một chút đánh giá nhanh của ông về thực trạng tranh giả tại VN, cũng như những hệ lụy của nó?

- Đây không còn là chuyện một sớm một chiều nữa mà là vấn nạn đằng đẵng đeo đuổi chúng ta 30 năm nay. Và chúng ta cũng bất lực trong nhiều năm tháng. Ảnh hưởng của nó tất nhiên là tồi tệ vô cùng. Tôi cũng vừa ngồi với mấy anh em trong nghề và bảo nhau: hiện trạng mỹ thuật Việt là một bức tranh đen tối, mờ mịt, không lối thoát. Cả một nền mỹ thuật quốc gia bị dìm xuống tận đáy bùn xấu xí, bẩn thỉu vì câu chuyện này.


Họa sĩ Thành Chương trao đổi với Thể thao & Văn hóa

* Đó là lý do ông lên tiếng mạnh mẽ khi tranh của mình bị “tẩy tên” thành tranh Tạ Tỵ?

- Với vụ việc của tôi, đây là một tai nạn không mong muốn. Bức tranh của tôi bị xâm phạm trắng trợn. Theo tôi, lý do chỉ bởi lợi nhuận. Vì, tranh của họa sĩ Tạ Tỵ đắt giá hơn tranh của tôi.

Nhưng sự không may của tôi lại là cơ may của cả nền mỹ thuật. Anh em nói đó là cơ hội nghìn năm có một. Vì, đây là một vụ việc cụ thể với nhân chứng, vật chứng rất đầy đủ chính xác để các cơ quan chức năng vào cuộc. Từ đó, chúng ta có thể lật ngược lại những vụ việc để lấy lại sự trong sạch, giá trị đích thực và hình ảnh của hội họa Việt.

Ở vị trí của tôi, nếu chỉ tìm lại tên một bức tranh và tên tác giả thì vụ việc đến đây là xong. Nhưng việc này liên quan tới những điều lớn hơn: vấn nạn tranh giả. Và tôi tự thấy trọng trách đặt trên vai mình để cần phải hành động. Tôi sẵn sàng làm nhân chứng trong các động thái tiếp theo của các cơ quan chức năng để hạn chế nạn tranh giả, tranh nhái.


Bức tranh của Thành Chương bị sửa thành của tác giả Tạ Tỵ

* Ông đánh giá sao về động thái của các cơ quan chức năng trước vận hội này?

- Theo tôi, về pháp lý, Bảo tàng Mỹ thuật TP. HCM có thể giữ lại tranh. Một cuộc triển lãm nói rõ là tranh của Những bức tranh từ châu Âu về mà 100% Hội đồng thẩm định cấp quốc gia đánh giá là tranh giả, tranh nhái và yêu cầu giữ lại để cơ quan chức năng vào cuộc thì không lý gì nhà sưu tập lại có thể mang tranh về. Song, Bảo tàng Mỹ thuật TP. HCM lại để tuột mất bằng chứng khi để chủ nhân những bức tranh trên mang tranh đi.

* Vụ việc này đã ảnh hưởng tới cuộc sống ông ra sao?

- Nó cực kỳ kinh khủng tới gia đình tôi. Tôi đặt cả sự nghiệp, danh tiếng, cuộc sống gia đình lên cán cân công lý với ông Hubert (người bán các tác phẩm tranh trong triển lãm cho nhà sưu tập Việt và ký giấy xác nhận những bức tranh trong cuộc triển lãm là tranh thật- PV). Là người giám định tranh, nếu ông ấy thua, ông ấy mất hết. Ngược lại tôi thua, tôi cũng mất hết.

Tôi được gì trong chuyện này? Đòi lại tên tranh? Đòi lại tên mình trong một bức tranh tôi vẽ nửa thế kỷ? Không, tôi không phải “đặt cược” cả cuộc sống của mình vì những điều như thế. Tôi làm việc này không vì cá nhân. Tôi làm vì công việc chung, vì nền mỹ thuật nước nhà.  

* Cảm ơn ông vì cuộc trao đổi!

Mỹ Mỹ
Thể thao & Văn hóa


Thấy gì sau triển lãm tranh giả?

 Với một nền khoa học hình sự như ngày nay chúng ta có, việc giám định bằng các phương pháp lí, hóa, cơ học trên các bức tranh giả là điều không còn khó khăn nữa. Nhưng có lẽ cái vướng ở đây là những qui chế đặc thù cho riêng mĩ thuật.
Chữ ký giả còn rất mới trên nền tranh cũ.
Chữ ký giả còn rất mới trên nền tranh cũ.

Suốt hơn tuần lễ vừa rồi báo chí đã tốn khá nhiều giấy mực vào một triển lãm được tổ chức ở Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh. Với tên gọi “Những tác phẩm từ châu Âu về”, triển lãm bày 17 bức tranh của các danh họa gạo cội Việt Nam từ Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng cho đến Nguyễn Tiến Chung, Sĩ Ngọc, Tạ Tỵ.

Chuyện một nhà sưu tập chọn nơi danh giá như Bảo tàng Mỹ thuật để trưng bày bộ sưu tập của mình dường như đã là một thông lệ khắp trong Nam ngoài Bắc. Ngoài việc ở đấy an ninh hoàn hảo ra nó còn ngầm cho ta biết một chuyện khác. Cái nơi trưng bày oai vệ ấy như một lần nữa chứng minh cho người xem về độ tin cậy của tác phẩm nguyên bản. Tất nhiên chỉ với những người xem bình thường. Dân nhà nghề biết quá rõ ngay cả chính tác phẩm bảo tàng treo trong phòng trưng bày của mình cũng khá nhiều phiên bản. Tương đối đáng tin là do chính các tác giả tự sao chép lại tranh tượng của mình. Chẳng đáng tin lắm khi những tranh tượng ấy được thuê thợ chép lại kể cả thợ thuyền ấy được đào tạo bài bản. Tuyệt đối nghi ngờ khi những tác phẩm treo trong bảo tàng ấy chưa bao giờ có một dòng chú thích nào nói về việc nguyên bản hay phiên bản.

Tranh tượng giả mang theo nó cả danh dự một nền văn hóa và những quan hệ xã hội hết sức phức tạp. 

Giờ đây, khi đã có thông cáo ngày 19/7 của Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh với nội dung “… - 15 bức tranh thuộc Bộ sưu tập của ông Vũ Xuân Chung đang triển lãm tại Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM là không phải bản vẽ do tác giả đứng tên thực hiện. - 02 bức tranh trong Bộ sưu tập này là mạo danh chữ ký tác giả (HS. Tạ Tỵ và HS. Sỹ Ngọc)”. Giới mỹ thuật tạm thời có thể an tâm khi đã có kết luận bước đầu.

Triển lãm đầy tai tiếng này đã gây không ít bức xúc cho các họa sĩ, gia đình họ và toàn thể công chúng yêu mỹ thuật Việt Nam. Chỉ cần nhìn qua ảnh thôi, người cầm bút các thế hệ học trò của những bậc thày này đã có thể kết luận đó là những bức tranh giả được sao chép kém cỏi đến mức khó tin. Đặc biệt hơn, trong số ấy có vài tác phẩm đã in đậm trong trí nhớ nhiều thế hệ cũng được làm giả. Điều này chứng tỏ người tổ chức làm đồ giả đã quá coi thường trình độ của các họa sĩ đương đại. Họa sĩ Lương Xuân Đoàn còn gay gắt cho rằng “…tôi cảm thấy bị xỉ nhục”. Khủng khiếp hơn nữa, người ta đã trắng trợn tẩy xóa tên của họa sĩ Thành Chương để thay vào đó một chữ kí Tạ Tỵ hết sức nghuều ngoào không giống ngay cả chỉ một chữ kí mà thôi.

Đã có kết luận sơ bộ bằng cảm quan rất đáng tin cậy của những họa sĩ, nhà nghiên cứu uy tín Việt Nam, công việc còn lại cũng không hề ít nếu như chúng ta quyết tâm làm trong sạch thị trường mỹ thuật hôm nay. Những lùm xùm tranh giả đã nảy sinh khá lâu và có nguy cơ phát triển mạnh rất có thể là một đòn chí tử với những cây bút lương thiện nước nhà. Nó nhanh chóng làm mất đi một thị trường còn non trẻ. Nó nhanh chóng tiêu diệt nốt những cảm xúc cuối cùng của người cầm bút. Nguy hiểm nhất, nó làm mất niềm tin của công chúng yêu mỹ thuật vào những giá trị bản nguyên.

Nhà chức trách đang lúng túng với tranh giả, dù đã phát hiện được nhãn tiền. Nó có được coi như sản xuất hàng giả để mà áp dụng luật hình sự cho tội danh này? Bởi vì hàng giả chỉ mang ý nghĩa tài chính là chủ yếu. Tranh tượng giả mang theo nó cả danh dự một nền văn hóa và những quan hệ xã hội hết sức phức tạp. Mặt khác, tranh trong bộ sưu tập cá nhân này là để trưng bày mà không bán tại đây nên chưa thể coi nó là “hàng hóa”. Việc thu hồi tranh giả và tiêu hủy liệu có áp dụng như với hàng giả được hay không? Chúng ta đều chưa có qui định. Bởi vì ta vẫn cấp đăng kí cho các cửa hàng chép tranh và thu thuế hẳn hoi. Và cửa hàng chép tranh trên phố mở tràn lan cũng chưa bao giờ có qui định nào về một hợp đồng bản quyền với tác giả.

Đọc lại bản “Quy chế hoạt động triển lãm mỹ thuật và gallery” dài tha thướt của Cục Bản quyền tác giả-Bộ VH – TT – DL ta cũng thấy thiếu vắng một đề mục hết sức quan trọng. Quy chế này chủ yếu tập trung vào vấn đề nội dung tư tưởng có chống lại Nhà nước hay không; Tác phẩm mang trưng bày có suy đồi trái thuần phong hay không; Có tuyên truyền bạo lực hoặc gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc hay không”; Vân vân… Không có một chữ nào nói đến việc giám định thật giả cho tác phẩm mỹ thuật. Vì vậy khi có chuyện xảy ra, các hội đồng giám định cũng được thành lập một cách tùy hứng. Nghĩa là lúc lập, lúc không mà không phải là chuyện bắt buộc.

Từ trước đến nay những vụ làm tranh giả của các họa sĩ Đào Hải Phong, Lê Thiết Cương, Văn Thơ, Bùi Xuân Phái, Đỗ Phấn, Lê Thanh Sơn v.v… mới chỉ dừng ở mức độ cá nhân lẻ tẻ. Giờ đây có hẳn một triển lãm toàn tranh giả chứng tỏ công nghệ làm giả đã có nhiều biến chuyển theo chiều hướng gia tăng về cấp độ và qui mô. Công chúng có quyền đặt nghi vấn về cả một đường dây làm tranh giả có móc nối với ngoại quốc. Không biết những người quản lí văn hóa đã đặt thành vấn đề nghiêm trọng hay chưa và giải quyết khủng hoảng này như thế nào?

Việc bảo tàng đứng ra tổ chức các sưu tập cá nhân được thực hiện theo cách thức như cho thuê mặt bằng bán bún vịt liệu có đáp ứng được tiêu chí chuyên môn hay không? Dù rằng đội ngũ cán bộ bảo tàng có không ít họa sĩ nhưng họ chưa bao giờ được giao nhiệm vụ phải chịu trách nhiệm về sự thật giả của tác phẩm được trưng bày. Hoặc nếu giao thì họ có dám nhận không?

Câu chuyện chắc chắn sẽ còn rất dài.      



Thị trường mỹ thuật: Mong ngày hết vàng thau lẫn lộn

Thứ Hai, 25/07/2016 09:05:00


Triển lãm “Những bức tranh trở về từ châu Âu” đã khép lại, nhưng dư âm về câu chuyện tranh thật- tranh giả vẫn khiến dư luận không khỏi nghi ngại. Tuy nhiên, theo nhiều họa sĩ và giới quản lý mỹ thuật… thì sự việc trên cũng chỉ là “giọt nước tràn ly” bởi vấn nạn “tranh thật, tranh giả” vốn đã tồn tại nhiều năm qua.

Thị trường Mỹ thuật Việt Nam đang rơi vào nghịch cảnh
“vàng thau lẫn lộn”. (Ảnh minh họa).

Năng lực thẩm định còn hạn chế 

Họa sĩ Vi Kiến Thành đã bày tỏ quan điểm: Sau vụ việc triển lãm “Những bức tranh trở về từ châu Âu” có rất nhiều vấn đề phải rút kinh nghiệm, sửa đổi và xem xét lại. Trước mắt, để điều chỉnh sao cho phù hợp chúng ta cần phải đưa ra được những giải pháp. Ở đây, vấn đề cấp phép cho một triển lãm tổ chức tại các bảo tàng thực ra từ lâu nay về quy định của pháp luật thì chúng ta đã làm rất chặt chẽ. Trong đó, cấp phép mỹ thuật và cấp phép nhiếp ảnh là giống nhau. Mọi người phải hiểu cấp phép là một hình thức bảo vệ quyền lợi của các tác giả, bảo vệ sự hợp pháp của chính tác phẩm đã được sáng tác ra. Tuy nhiên, đám đông hiện nay mắc cái tư duy nhắc đến cấp phép là nghĩ ngay đến việc làm khó nhau, do đó chúng ta nên hiểu cho đúng bản chất của vấn đề. 

Thế nhưng, nhìn ở góc này độ cũng có thể thấy về mặt quản lí cấp phép hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Ở đây có thể có sự lúng túng, chưa đủ năng lực của những nhà kiểm định đã vô tình mang các tác phẩm “giả” công khai ra toàn xã hội. Trước đây chỉ nghe có nạn tranh thật tranh giả thế kia, hãng này hãng kia vấp phải... giờ thì nó diễn ra ngay trong đất nước chúng ta.

Theo ông Vi Kiến Thành, sau vụ việc trên trước mắt chúng ta cần phải triển khai hai việc. Thứ nhất là cần phải tiến hành việc thu thuế đối với các họa sĩ, nhà sưu tập, những người tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán tác phẩm. Họa sĩ nào không trực tiếp tham gia việc mua bạn sẽ thông qua gallery tiêu thụ để lo vấn đề về thuế. Còn họa sĩ nào trực tiếp bán tranh sẽ phải nộp thuế và có hóa đơn đỏ. Hóa đơn đỏ không phải là vấn đề đã nộp thuế hay chưa mà còn là bằng chứng minh bạch, công khai chứng minh giao dịch này sẽ diễn ra. Từ đó, giao dịch cũng sẽ minh bạch về giá tiền và sau này những người mua tác phẩm của họa sĩ đó họ coi hóa đơn đỏ như dấu tích, chứng cứ... Có thể xem hóa đơn đó như giấy tờ gốc cho lịch sử tác phẩm. Và với những vụ việc như vừa qua, thì việc thu thuế sẽ là đầu mối để tìm ra người đầu tiên có tranh này, bán tranh. Cách làm này hoàn toàn đúng pháp luật...

Việc thứ hai cần phải làm nhanh là thành lập ngay các trung tâm giám định và đấu giá mỹ thuật ở 3 miền. Hiện nay Việt Nam đã có 3 bảo tàng Mỹ thuật tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh. Những bảo tàng này nên có 3 trung tâm đấu giá và giám định mỹ thuật để minh bạch và công khai hóa các tác phẩm mỹ thuật mua bán giao dịch về mỹ thuật. 

Phát hiện tranh giả không khó

Theo họa sĩ Trần Khánh Chương, hiện thị trường mỹ thuật Việt Nam vấn nạn chép tranh, nhái tranh, mạo danh (vẽ xong ký tên vào) không còn là chuyện mới. Thậm chí,  có tình trạng nhiều họa sĩ còn nói vui  là “nhiều tác giả chết rồi tác phẩm nhiều hơn cả lúc đang còn sống”.

Vấn đề, mạo danh thế giới cũng đã xảy ra nhiều. Thậm chí việc mạo danh tranh của các danh họa thế giới với cách sáng tác theo cùng phong cách, nội dung hiện cũng không dễ để phát hiện ra. Ở nước ta hiện nay, phát hiện mạo danh là không khó. Bởi thế hệ chúng tôi quen biết và có nhiều các tác giả chỉ nhìn nhận biết ở phong cách bút pháp chữ ký đã nhận ra rồi. Bên cạnh đó, chúng ta còn có sự hỗ trợ của khoa học, công nghệ. Chúng tôi dám khẳng định điều này bởi nhiều tác phẩm mạo danh thường rất ngô nghê ngay cả trong việc chép. Bản thân nghệ sĩ lớn thì các mảng màu, nét bút bình thường nhìn tưởng đơn giản nhưng chép lại rất khó. Nhưng thực tế hiện nay điều mà những người làm mỹ thuật lo lắng nhất là với những bất cập này đang làm giảm uy tín tranh Việt Nam và những người mua phải tranh giả ngại tranh Việt Nam, đó là điều nguy hiểm nhất.     

Minh Quân


 Mỹ thuật Việt Nam: Hé lộ những 'phần nổi của tảng băng'


Đây có lẽ là thực trạng đã tồn tại khá lâu trong nền mỹ thuật Việt và những lùm xùm xảy ra tại triển lãm Những bức tranh trở về từ châu Âu chỉ giống như một tiếng chuông thức tỉnh muộn mằn.

Những lùm xùm kéo dài liên quan tới vụ tranh giả được trưng bày tại triển lãm Những bức tranh trở về từ châu Âu của nhà sưu tập Vũ Xuân Chung thời qua đã chỉ ra rất nhiều điều của nền mỹ thuật Việt Nam. Tình trạng tranh thật, tranh giả lẫn lộn, một bức tranh có tới hai bản gốc ... không chỉ làm giảm giá trị tác phẩm của họa sỹ Việt trên thị trường tranh quốc tế mà còn làm bản thân nền mỹ thuật của chúng ta bị "mất giá". Và điều quan trọng hơn nó khiến nền hội họa mãi loay hoay trong hành trình "cất cánh" của mình.

Sự việc lần này, thực chất giống như một tiếng chuông thức tỉnh muộn mằn. Họa sỹ Trần Khánh Chương, Chủ tịch hội Mỹ thuật Việt Nam khi đề cập vấn đề này với PV báo Người đưa tin phải thốt lên rằng: “Chuyện tranh thật, tranh giả hiện nay vô cùng phức tạp”. Bởi theo họa sỹ này, có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng hỗn độn, rối rắm trên.

Thứ nhất thuộc về bản thân người họa sỹ. “Với những họa sỹ lớn, thường thì họ chỉ vẽ duy nhất một tác phẩm. Nhưng thời kỳ trước đây, đôi khi chính họ cũng làm bản phiên (tức sao chép lại một tác phẩm của chính mình – PV). Thành ra mới có chuyện có tới hai, ba bức tranh gốc của cùng một tác giả", Trần Khánh Chương cho biết.

Mỹ thuật Việt Nam: Hé lộ những 'phần nổi của tảng băng' - Ảnh 1
   

Bức tranh Ba cô gái của họa sỹ Dương Bích Liên được kết luận là tranh giả tại triển lãm Những bức tranh trở về từ châu Âu.

Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất, theo họa sỹ Trần Khánh Chương chính là trình trạng làm nhái tranh. “Chúng tôi hay nói vui rằng, với những họa sỹ lớn tuy đã qua đời nhưng số lượng tranh của họ lại không ngừng tăng lên. Nói vậy để thấy hiện có nhiều người bắt chước phong cách vẽ của một họa sỹ để làm tranh giả. Bằng các thủ đoạn và phương pháp, họ khiến cho dư luận lầm tưởng đấy là những bức tranh chưa từng công bố trước đó. Tất nhiên, việc bắt chước xưa nay là chỉ học theo cách tạo hình, mảng màu chứ làm sao bắt chước được cái thần của tác giả. Với người trong nghề, có kinh nghiệm họ phát hiện ra ngay. Nhưng đa phần những người bị lừa lại không am hiểu hoặc quá tin tưởng vào uy tín và lời giới thiệu của ai đó”, Trần Khánh Chương cho biết thêm.

Trong khi đó việc sao chép, bán tranh nhái hiện diễn ra quá phổ biến ở Việt Nam, từ những cửa hàng bình dân cho tới những gallery uy tín. Thế nhưng, mặc nhiên không có ai đứng ra chịu trách nhiệm về các sản phẩm giả đó và cũng không có cơ quan đại diện nào đứng ra giúp phân biệt thật giả của bức tranh.

Nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Đỗ Bảo, nguyên Chủ tịch hội mỹ thuật Hà Nội cho biết: “Trước kia bảo tàng mỹ thuật định lập ra một bộ phận để cho những người có tranh đến xin đăng ký để đánh giá bức tranh. Nhưng, bộ phận này không có người nghiên cứu chuyên sâu về hóa chuyên nghiệp, vật lý chuyên nghiệp, máy móc để nghiên cứu, đánh giá bức tranh .... nên nó tự chết. Thành ra không có ai bảo lãnh về chất lượng tranh cả.

Tôi còn biết có nhiều gallery uy tín, vì muốn kiếm lợi nên dùng tranh thật làm mồi nhử, sau đó sao chép và bán tranh nhái. Nhưng chưa cần nói vấn đề đó vội. Tôi lấy ví dụ ngay tranh gốc của cụ Nguyễn Phan Chánh cũng luôn ở trong tình trạng phục chế đi phục chế lại. Vậy cái nào là bản gốc, cái nào không phải là bản gốc? Rất lộn xộn”.

  Mỹ thuật Việt Nam: Hé lộ những 'phần nổi của tảng băng' - Ảnh 2

Khách xem triển lãm Những bức tranh trở về từ châu Âu

Họa sỹ Quách Phong, nguyên Tổng thư ký hội mỹ thuật Tp.HCM phân tích: "Chúng ta nên có định chế thế nào là tranh thật, thế nào là tranh giả. Sinh viên chuyên ngành hội họa ở nước ngoài được phép chép tranh thoải mái. Nhưng bên đó, họ phân biệt rất rõ thế nào là tranh chép, thế nào là tranh thật để hạn chế tối đa những tranh chấp. Chúng ta nên nghiên cứu học hỏi và xem xét tới khía cạnh này".

Cũng liên quan tới câu chuyện nêu trên, trước đó họa sỹ Vi Kiến Thành, Cục trưởng cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh & Triển lãm (bộ VH,TT&DL) từng cho biết: “Việc giao dịch, mua bán tác phẩm nghệ thuật hiện nay thường không có sự tham gia của cơ quan quản lý về thuế. Cộng với đó là tâm lý tránh đăng ký bản quyền tác phẩm nên khi xảy ra tranh chấp (nhất là khi tác giả đã qua đời) việc phân xử trở nên rất khó khăn”.

Qua những ý kiến nêu trên có thể thấy, con đường để hướng tới một nền hội họa hiện đại, minh bạch, tiệm cận với thế giới còn rất dài. Biết đâu trong tương lai, những vụ tương tự triển lãm Những bức tranh trở về từ châu Âu sẽ còn tiếp tục xảy ra?

P. Thiệu


Nhà sưu tập Nguyễn Quang Cường: Thương hiệu nhà sưu tập làm tăng giá trị tranh

Thứ Ba, 26/07/2016 11:28
Sau triển lãm bộ sưu tập Những bức tranh từ châu Âu về với 15/17 bức bị cho là tranh giả khiến dư luận tổn hao giấy mực. Mới đây, tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM (97A Phó Đức Chính, Q.1, TP.HCM) tiếp tục triển lãm Giấc mơ xanh với 49 tác phẩm do nhà sưu tập Nguyễn Quang Cường tích lũy trong hơn 10 năm “chơi tranh”.
Ông Nguyễn Quang Cường được biết đến là chủ Gallery Phương Mai từng tọa lạc trên đường Lê Thánh Tôn và Phan Châu Trinh ngay trung tâm TP.HCM. Hiện phòng tranh Phương Mai dời về trong khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Nhà sưu tập Nguyễn Quang Cường cho biết lý do ông trưng bày bộ sưu tập của mình vào thời gian “nhạy cảm” này:

- Tôi có ý định trưng bày bộ sưu tập của mình vào trước Tết 2016. Tôi đăng ký với Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM và phụ thuộc vào sự xếp lịch của bảo tàng. Lý do tôi muốn bày tranh ở nơi đây vì cơ sở vật chất đầy đủ và tòa nhà của "chú Hỏa" cũ có kiến trúc rất đẹp.

Tuy nhiên, trước khi đến lượt tôi triển lãm, thì diễn ra cuộc trưng bày 17 họa phẩm “trở về từ châu Âu”. Do phòng tranh Phương Mai cũng nằm trong khuôn viên bảo tàng, tôi có qua xem tranh trước đó. Xem xong tôi thấy tranh của các danh họa không như tôi kỳ vọng nên ra về mà không dự khai mạc.


Nhà sưu tập tranh Nguyễn Quang Cường

* Ông làm chủ gallery Phương Mai và có hơn 10 năm “chơi tranh”, không lẽ ông chỉ sưu tập có 49 bức tranh cho triển lãm “Giấc mơ xanh”?

- Phương Mai tổ chức rất nhiều cuộc triển lãm cho các họa sĩ trên toàn quốc, thậm chí có cả họa sĩ người nước ngoài tìm đến hợp tác với tôi để trưng bày tranh. Qua các lần triển lãm, tôi giữ lại khoảng 60 tác phẩm của các họa sĩ.

 Lý do tôi sưu tầm các tác phẩm này vì thích và vì các bức tranh đó rất khác so với tranh thường thấy của các họa sĩ. Chẳng hạn, họa sĩ Đỗ Duy Tuấn chuyên vẽ thiếu nữ, phong cảnh… nhưng anh Tuấn chỉ có một tranh vẽ phong cảnh ở lăng Gia Long trên sông Hương (Huế). Còn việc chỉ treo 49 bức vì không gian tôi thuê để triển lãm lần này chỉ đủ chỗ cho bao nhiêu tranh đó thôi.

* Trước vấn nạn tranh giả hiện nay, làm cách nào để anh không mua phải tranh giả, tranh kém giá trị nghệ thuật?

- Tôi chỉ sưu tập tranh của những họa sĩ đương đại, tôi quen biết họ và theo dõi quá trình sáng tạo của họ trong một thời gian rồi mới quyết định mua.

Để tôi sưu tập một bức tranh, tôi phải tin tưởng họa sĩ và có đầy đủ thông tin về họa sĩ và tác phẩm. Không tin và không đủ thông tin tôi không mua. Tất cả 49 tác phẩm trưng bày lần này, phía dưới mỗi tác phẩm đều đính kèm câu chuyện về bức tranh từ khi được họa sĩ vẽ cho đến khi về bộ sưu tập của tôi.


Tác phẩm "Nắng Sài Gòn" (sơn dầu 2007) của họa sĩ Lê Thanh (sinh 1942) khiến Nguyễn Quang Cường sưu tập vì gợi đến bài hát "Một thoáng quê hương"

* Vậy theo ông, vấn nạn tranh giả ầm ĩ thời gian qua là từ đâu?

- Theo tôi biết, tranh giả có từ Âu sang Á, bất kỳ đâu cũng có tranh giả hết chứ không riêng gì Việt Nam. Ở ta trong một thời gian dài, các vụ tranh giả thường gắn với tranh của các danh họa học Mỹ thuật Đông Dương. Còn các nhà sưu tập mua phải tranh giả thường là mua ở các tiệm bán đồ cổ hay giả cổ, các tiệm sách cũ; và phần lớn những người mua phải tranh giả này không có hiểu biết về lịch sử mỹ thuật.

Hiện, tranh của các danh họa hay bị làm giả nhất là tranh sơn mài.

* Sưu tập tranh cũng là một “nghề chơi công phu” cần kiến thức chứ không  phải chỉ có tiền?

- Tôi đi học các lớp về giám tuyển nghệ thuật và học trong sách báo. Để có một tác phẩm tốt nhất cho bộ sưu tập, cần hiểu 6 nguyên tắc sau đây của “hệ sinh thái nghệ thuật”: chất lượng nghệ thuật; tình trạng tác phẩm; độ hiếm (không lặp lại bút pháp của họa sĩ); nguồn gốc (bức tranh đó đang ở nhà của họa sĩ, ở gallery hay ở nhà sưu tập); hoạt động của họa sĩ (có học chính quy về mỹ thuật hay không, học thầy nào, có bao nhiêu triểu lãm; sự đón nhận của công chúng).

Trong 6 nguyên tắc này, nguồn gốc của bức tranh sẽ làm tăng giá trị của tác phẩm. Ví dụ bức tranh được một nhà sưu tập có thương hiệu cỡ như tỷ phú Donald Trump sở hữu, thì giá trị bức tranh sẽ rất khác với giá khởi điểm từ họa sĩ hay của gallery.

Hoàng Nhân (thực hiện)
Thể thao & Văn hóa




Vẻ đẹp của những bức họa vẽ nỗi cô đơn nơi phố thị

Nói về những bức tranh khắc họa nỗi cô đơn nơi phố thị, không ai có thể vượt qua vị danh họa này.

Bức “Sunlights In Cafeteria” (Ánh nắng trong quán cà phê)
Bức “Sunlights In Cafeteria” (Ánh nắng trong quán cà phê)

Họa sĩ người Mỹ Edward Hopper (1882-1967) là một tên tuổi nổi danh, ông theo đuổi trường phái hiện thực. Trong những bức tranh của ông, người ta luôn nhận thấy sự thanh đạm, sơ sài được tính toán kỹ lưỡng đến mức trở thành đẹp đẽ, tinh tế, phản ánh cách nhìn của Hopper đối với đời sống hiện đại bên trong thành phố.

Người ta thường gắn sự cô đơn vào những bức tranh Hopper vẽ về thành phố, họ cho rằng đây là một chủ đề quan trọng xuất hiện trong hàng loạt tác phẩm của ông, dù vậy, Hopper chưa bao giờ thích thú với nhận định đó, có lần ông đã chia sẻ với người bạn lâu năm cũng là một nhà phê bình hội họa, rằng: “Sự cô đơn đang bị làm quá lên rồi”.

Bức “Summer Interior” (Bên trong mùa hè)
Bức “Summer Interior” (Bên trong mùa hè)

Trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình, Hopper không đưa ra nhiều tuyên ngôn, ông hạn chế nhận trả lời phỏng vấn, người ta thích nhận xét gì về tranh ông “thì tùy”, ông không phản ứng lại, chỉ có điều, khi thấy người ta nói quá nhiều về chủ điểm “nỗi cô đơn” trong tranh mình, khi ấy, Hopper mới nói lên đôi chút suy nghĩ cá nhân.

Vậy, tại sao người ta luôn gắn nỗi cô đơn vào những tác phẩm hội họa của Edward Hopper?

Thứ nhất, vì tranh ông luôn có xu hướng khắc họa những con người đang ở một mình, hoặc đang được đặt ở trong một nhóm 2-3 người, nhưng bầu không khí giữa họ không lấy gì làm dễ chịu và họ có thể còn chẳng buồn giao tiếp với nhau hoặc nhìn vào mặt nhau. Những nhân vật xuất hiện trong tranh của Hopper thường mang dáng diệu cho thấy họ đang chán nản, uể oải.

Bức “Chop Suey” (Món ăn thập cẩm)
Bức “Chop Suey” (Món ăn thập cẩm)

Thứ hai, cách Hopper khắc họa đường phố cũng rất đặc biệt, người ta thấy các nhân vật bị tách biệt, cô lập bởi những bức tường được dựng lên, không chỉ vậy, họ còn bị phơi bày tất cả sự riêng tư qua những ô kính trong suốt, khiến bất cứ người xa lạ nào cũng có thể vô tình để ánh mắt của mình lướt vào săm soi, nhìn ngó.

Bức “Office in a Small City” (Văn phòng trong thành phố nhỏ)
Bức “Office in a Small City” (Văn phòng trong thành phố nhỏ)

Đời sống thành thị trong tranh Hopper muôn màu muôn vẻ, nhưng luôn có chung một kiểu bố cục và ý tưởng: sự cô đơn dựng lên bởi những bức tường bê-tông và sự phơi bày không thể nào ngăn nổi bởi những ô kính trong suốt.

Bức “Morning in a City” (Buổi sáng trong thành phố)
Bức “Morning in a City” (Buổi sáng trong thành phố)

Sự ngột ngạt của không gian thành phố cũng là điều Hopper khắc họa tinh tế. Chẳng hạn như trong bức “Morning in a City” (Buổi sáng trong thành phố), sự ngột ngạt ấy được khắc họa một cách rất nhẹ nhàng.

Thoạt tiên, người ta thấy trạng thái cô độc dễ chịu và bình thản của nhân vật nữ chính - một phụ nữ khỏa thân đứng trước ô cửa sổ, trên tay cầm một chiếc khăn tắm, hoàn toàn thư giãn, thoải mái trong dáng điệu.

Có thể thấy ở người phụ nữ cảm nhận về sự bình yên, thế nhưng vẫn có một cơn rùng mình, dù nhẹ nhàng thôi, nó nằm ở góc trái của bức tranh, nơi ô cửa sổ để ngỏ cho thấy những tòa nhà cao tầng vây xung quanh. Những tòa nhà như đang quan sát ngược lại người phụ nữ.

Hình ảnh những căn hộ đối diện hiện ra ở góc tranh, nơi người ta thấy những ô cửa sổ mành xanh được kéo xuống nửa chừng, không thể nhìn sâu vào những căn hộ đối diện ấy bởi bóng tối vẫn còn bao phủ bên trong.

Nếu cửa sổ gợi nhắc tới những đôi mắt của đô thị, vậy thì tồn tại đằng sau những ô cửa kéo rèm hững hờ kia một sự không chắc chắn, liệu có ai đó đang đứng sau ô cửa âm thầm quan sát người phụ nữ hay không…

Điều quan trọng hơn thế, người ta nhìn thấy ở nhân vật nữ chính sự “thây kệ”, bởi giữa vô số những ô cửa giống hệt nhau, người ta có thể sẽ chỉ nhìn rất thoáng qua thôi và bỏ qua ô cửa sổ phòng cô, chẳng ai buồn để ý. Những ô cửa sổ nhàm tẻ bị lãng quên vì đơn điệu, dù chúng mở vào những góc đời riêng của những con người sinh sống nơi phố thị.

Bức “Night Windows” (Những ô cửa đêm)
Bức “Night Windows” (Những ô cửa đêm)

Trong bức “Night Windows” (Những ô cửa đêm), những nỗi lo lắng, bồn chồn lại được thổi vào tranh một cách đầy tinh tế. Bức tranh dựng lên bối cảnh của một căn hộ trên tầng cao, với 3 ô cửa, cho phép ánh nhìn từ bên ngoài soi rọi vào trong.

Với ô cửa thứ nhất, tấm rèm đang bị gió cuốn thổi ra ngoài, khiến người xem như rùng mình trước cái lạnh của đêm.

Với ô cửa thứ hai, người ta nhìn thấy một người phụ nữ đang mặc chiếc váy ngủ màu hồng, cô đang cúi xuống làm gì đó, vòng hông làm chiếc váy nhỏ căng ra, một dáng điệu mềm mại và gợi cảm.

Với ô cửa thứ ba, ánh sáng ngọn đèn bàn hắt ra ngoài bậu cửa qua tấm rèm đỏ, để lại vệt sáng đỏ như ngọn lửa.

Trong bức tranh này, Hopper đã khéo léo cho thấy sự riêng tư của người phụ nữ bị phá vỡ như thế nào. Cô đang ở trong căn phòng riêng, nhưng những ô cửa đã phơi bày tất cả trước ánh nhìn của ai đó bên ngoài, cũng chính là góc nhìn mà bức tranh mở ra.

Bức “Girl at Sewing Machine” (Cô gái ngồi bên máy khâu)
Bức “Girl at Sewing Machine” (Cô gái ngồi bên máy khâu)

Trong tranh Hopper, ông nhấn mạnh vào sự đơn độc của con người trong không gian đô thị, nhưng ngay cả trong sự đơn độc ấy, họ cũng không được phép ở một mình, bởi một sự can thiệp thô bạo vô hình được khắc họa rất tế nhị và gần như ám ảnh vị danh họa.

Hopper sinh ra và qua đời ở New York, sở thích của ông lúc sinh thời, đó là ngồi tàu điện trên cao lúc đêm xuống, ông luôn mang theo tập giấy để phác họa nhanh những khung cảnh mà ông nhìn thấy qua những ô kính cửa sổ để ngỏ, từ trong khoang tàu điện trên cao.

Sự đông đúc và cấu trúc của thành phố khiến Hopper bị ám ảnh rằng ngay cả khi người ta ở một mình trong căn hộ của riêng mình, người ta vẫn luôn có thể bị rơi vào tầm quan sát của một người xa lạ nào đó.

Bức “Nighthawks” (Những người đi chơi đêm)
Bức “Nighthawks” (Những người đi chơi đêm)

Bức “Nighthawks” (Những người đi chơi đêm) là một tác phẩm rất nổi tiếng của Hopper, tác phẩm được nhiều nhà phê bình hội họa đánh giá là “bức tranh sâu sắc, thấm thía nhất, và được chép lại nhiều nhất, kể về sự cô đơn lãng mạn đầy chất Mỹ”.

Tông xanh buồn thống trị trong tác phẩm hòa quyện vào màn đêm mà bối cảnh giăng ra. Trong bức tranh không có lối thoát (lối cửa ra - vào không thấy đâu). Nhìn từ bên ngoài, căn phòng như bị khóa kín bởi tường và kính.

Bên trong phòng có một cặp đôi, một anh nhân viên quầy bar, một người đàn ông ngồi một mình. Dường như không ai nói chuyện với ai, không ai nhìn vào ai, một sự thiếu kết nối, đứt gãy.

Ngay cả nhân vật người phục vụ quầy bar cũng đem lại cảm nhận về sự bó buộc, cậu ta không chỉ bị bó buộc trong căn phòng mà còn trong ô vuông quầy bar. Sự hiện diện của những bậu cửa, của bệ quầy bar làm hẹp thêm không gian tranh, không để chừa lại nhiều khoảng trống cho “lối thoát”.

Hopper đã khéo léo sử dụng hình học tạo nên sự ức chế thị giác và tác động tới cảm giác của người xem tranh, khiến họ cảm thấy sự ngột ngạt, khó chịu.

Bức “Automat” (Quán ăn tự phục vụ)
Bức “Automat” (Quán ăn tự phục vụ)
Bức “New York Office” (Văn phòng ở New York)
Bức “New York Office” (Văn phòng ở New York)

Trong tranh của Hopper, kiến trúc đô thị đặc trưng với tường và kính. Đặc biệt, những tấm kính mang tính hai mặt: vừa khoanh vùng, bó hẹp không gian, vừa phơi bày không gian mà nó đang khoanh vùng.

Bích Ngọc
Tổng hợp





Tinh thần và vẻ đẹp Pháp khắc họa ngoạn mục trong siêu phẩm hội họa

Nước Pháp có thể đau buồn, nhưng tinh thần Pháp không khuất phục. Trong lúc nước Pháp đang trải qua sự tang thương, hãy cùng nhìn lại một họa phẩm nổi tiếng của nền mỹ thuật Pháp, để thấy trong đó trọn vẹn cả tinh thần và vẻ đẹp Pháp.

Vẻ đẹp của “Nữ thần Tự do dẫn dắt người dân”

Trong lịch sử các tác phẩm hội họa kinh điển của nền mỹ thuật Pháp, bức “La Liberté guidant le peuple” (Nữ thần Tự do dẫn dắt người dân) của danh họa Pháp Eugène Delacroix luôn được xem là tác phẩm đắt giá, ghi lại được tinh thần của Cách mạng Pháp.

Bức tranh có kích thước lớn (260 cm × 325 cm) được treo tại bảo tàng Louvre. “Nữ thần Tự do dẫn dắt người dân” là một tác phẩm đầy sức nặng, khắc họa lại một trang sử của nước Pháp.

Trong khi đa phần các tác phẩm hội họa khắc họa lại một câu chuyện lịch sử thường đi theo hướng cụ thể hóa sự kiện, diễn biến, thì bức tranh này lại mang tính khái quát, biểu tượng, trong đó, người ta thấy được tinh thần Pháp, vẻ đẹp Pháp và bà mẹ Pháp - Nữ thần Tự do của người Pháp, nhân vật biểu tượng mà họ gọi bà bằng một cái tên cụ thể - Marianne.

Khi nước Pháp hôm nay phải đối diện với những cuộc khủng bố đẫm máu xảy ra liên tiếp, khiến cả thế giới bàng hoàng, sửng sốt, có thể đâu đó chúng ta bắt gặp sự xuất hiện trở lại của bức tranh mang ý nghĩa biểu tượng này, một bức tranh chứa đựng nhiều thông điệp về nước Pháp.

Bức “Nữ thần Tự do dẫn dắt người dân” khắc họa lại sự kiện Cách mạng Tháng 7 (1830) của nước Pháp, nhưng khi bình luận về bức tranh này, người ta thường nhìn nhận sự kiện như một cái cớ để danh họa Delacroix sáng tác, còn bản thân bức tranh đã vượt ra khỏi ý nghĩa của một sự kiện cụ thể, để vươn lên tầm vóc của một bức tranh khái quát nên những biểu tượng lớn lao của nước Pháp.

Bức tranh của Delacroix khắc họa một bối cảnh hỗn loạn xảy ra trong Cách mạng tháng 7 (1830), cho tới nay, đây vẫn được xem là tác phẩm hội họa thâu tóm tốt nhất tinh thần và cảm nhận về Cách mạng Pháp.

Tinh thần và vẻ đẹp Pháp gói ghém trong hình ảnh người phụ nữ

Trong bức tranh, ấn tượng nhất chính là hình ảnh người phụ nữ - hiện thân của Nữ thần Tự do. Chiếc váy của nàng rơi xuống, để lộ bầu ngực đẹp. Trên một tay, nàng cầm lá cờ tự do ba màu (nay là quốc kỳ Pháp), động tác đầy sức mạnh, nàng như lãng quên tất cả những hỗn loạn xung quanh, sẵn sàng dấn bước. Một tay còn lại, nàng cầm khẩu súng trường sẵn sàng chiến đấu với những kẻ thù của sự tự do.

Cái tài của Delacroix chính là pha trộn được chất thực và ảo trong cùng một bức tranh, để vừa khắc họa lại sự kiện cụ thể vừa khái quát một câu chuyện lớn lao. Delacroix vốn theo trường phái lãng mạn, và ngay cả trong một bức họa dữ dội về đề tài lịch sử, ông vẫn không thể bỏ quên sự lãng mạn đầy chất Pháp. Bằng nét cọ điêu luyện của mình, Delacroix đã không chỉ khắc họa lịch sử mà còn khiến người xem “thưởng thức” lịch sử.

Sự say mê, tính thẩm mỹ, sự lãng mạn được đưa vào một khoảnh khắc lịch sử. Trong tác phẩm của Delacroix, vị Nữ thần Tự do mà người Pháp tôn thờ được khắc họa thật sống động, uy nghi và gợi cảm.

Vì vậy, bức họa của Delacroix đã trở thành tác phẩm đáng kể nhất trong những bức họa sáng tác về đề tài Cách mạng Pháp, cũng là bức họa đáng kể nhất khắc họa nàng Marianne - Nữ thần Tự do của người Pháp.

Delacroix bắt đầu vẽ bức tranh này vào mùa thu năm 1830. Trong một lá thư gửi tới cho người anh trai, khi đang trong quá trình thực hiện bức tranh, Delacroix đã viết: “Tâm trạng ủ dột của em đã tan biến nhờ việc say mê sáng tác. Em đang bắt tay vào một đề tài đương đại - một chướng ngại đấy. Nếu em đã không thể tham gia chiến đấu cho đất nước này, vậy thì ít nhất, em sẽ dùng cây cọ của mình để khắc họa bà ấy”.

Trong lá thư, có thể thấy Delacroix dùng danh xưng “bà ấy”, chính để chỉ nữ nhân vật xuất hiện trong bức họa của ông. Trong tranh, ông khắc họa Nữ thần Tự do của nước Pháp như một biểu tượng thần thánh, nhưng người ta cũng có thể nhìn thấy ở đó một phụ nữ mạnh mẽ của cuộc sống đời thường bình dị, với chân trần và cả… ngực trần, nàng quả quyết bước lên phía trước, như thể sắp bước ra khỏi bức họa để bước vào thế giới của người xem tranh.

Nàng uy nghi, dữ dội, quyết liệt và… nàng đẹp.
Nàng uy nghi, dữ dội, quyết liệt và… nàng đẹp.

Sau này, bức tranh còn được cho là đã gây được tầm ảnh hưởng tới quá trình sáng tác cuốn tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của đại văn hào Victor Hugo. Trong đó, hình ảnh cậu bé ở bên góc phải bức tranh khiến người ta tin rằng đã truyền cảm hứng cho Victor Hugo sáng tạo nên nhân vật cậu bé lang thang Gavroche (Ga-vơ-rốt).

Nước Pháp có thể đau buồn, nhưng tinh thần Pháp không khuất phục. Ngay cả trong những cuộc chuyển mình trọng đại của lịch sử, người Pháp vẫn không bỏ quên sự lãng mạn và cái Đẹp, tinh thần ấy chỉ có thể gọi là… tinh thần Pháp - đất nước của tình yêu, ánh sáng và nghệ thuật.

Bích Ngọc
Tổng hợp





Họa sĩ thiếu ý thức về tính độc bản - hậu quả khó lường

Thứ Hai, 11/07/2016 07:35
 1. Trong quá trình tìm hiểu về công việc sáng tạo và tái tạo của các họa sĩ Việt Nam thời Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thấy nhiều người khá xuề xòa trong quan niệm về độc bản hoặc phiên bản. Gần như tất cả các họa sĩ thời kỳ đầu ở miền Bắc đều có làm các phiên bản cho một vài tác phẩm mà bản thân ưng ý, hoặc do bạn bè, giới sưu tập, thưởng lãm yêu cầu.

Các họa sĩ thuộc thế hệ Ngô Minh Cầu, Mai Long… từng cho biết thời trước tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh thường được bảo tàng thuê mấy ông chép tinh xảo, sau đó đem đến cho Nguyễn Phan Chánh thẩm định lại và ký để tặng trong các dịp ngoại giao. Hay như TS Phan Thanh Bình (Hiệu trưởng Đại học Nghệ thuật Huế) từng cho biết một phái đoàn của Cộng hòa Czech đã đề nghị Đại học Nghệ thuật Huế thay mặt Việt Nam nhận lại một số bức vẽ Ngọ Môn được ký tên Tôn Thất Đào. Họ nói rằng chỉ cần giữ tượng trưng vài bức thôi, vì cùng một tác giả, một đề tài, một bố cục mà giữ nhiều bức quá, khó đủ chỗ lưu trữ.

Trên đây là vài ví dụ mang tính lịch sử, vì có vẻ như trước khi mỹ thuật Việt Nam thật sự bước ra thị trường quốc tế (đầu thập niên 1990), thì việc làm phiên bản để tặng khá phổ biến. Thế nhưng, hậu quả của việc này thì thật khó lường, vì nhiều người lợi dụng điều đó để làm tranh giả, tranh nhái. Mặt khác, một tác phẩm có phiên bản và một tác phẩm độc bản có sự định giá rất khác nhau.

2. Một ví dụ gần đây. Ngày 29/5/2016, nhà đấu giá Christie's tại Hong Kong đưa bức “Thuyền trên sông Hương” (sơn dầu trên bố, 50 x 65 cm, 1935) của Tô Ngọc Vân lên sàn với giá dự kiến từ 51.728 đến 71.126 USD. Trong lúc đó, có một phiên bản khác của bức này rất nổi tiếng tại Việt Nam, được in trong nhiều sách. Nếu bức này mà độc bản, nhiều dự đoán nói rằng giá dự kiến của nó sẽ cao hơn 120 ngàn USD.


Tác phẩm Thuyền trên sông Hương. Bức trên in trong các sách tại Việt Nam. Bức dưới xuất hiện tại nhà đấu giá Christie's Hong Kong ngày 29/5/2016.

Một ví dụ khác. Tại phiên đấu của nhà Christie’s vào cuối tháng 5/2013 ở Hong Kong, bức “Người bán gạo” bị thẩm định nhầm thành tranh phiên bản của Trung Quốc nên có giá dự kiến chỉ hơn 70 USD. Nhưng vào phiên đấu, có mấy người phát hiện tranh này là bản gốc của Nguyễn Phan Chánh, nó nhanh chóng tăng giá, bán tương đương 392.200 USD, trở thành tác phẩm đắt giá nhất của Việt Nam thời bấy giờ.

Chính tình hình phức tạp như vậy mà khi xuất hiện một tác phẩm, giữa người mua và người bán khó xác định đâu là độc bản, đâu là phiên bản do chính tác giả làm, đâu là giả, là nhái. Sự làm giả làm nhái lại ngày một tinh vi, họ không chỉ tạo ra một tác phẩm càng gần với nguyên bản càng tốt, mà còn tạo ra một lý lịch tác phẩm thật ly kỳ để thu hút. Nếu xác định được tính độc bản của một tác phẩm nào đó thì khi xuất hiện một phiên bản khác, có thể khẳng định ngay bản kia là tranh giả.

Sống ở Pháp nhiều thập niên nhưng Vũ Cao Đàm cũng làm phiên bản và cả tranh in, nhưng có đánh số cùng chứng nhận rõ ràng. Hôm 12/5/2016 tại Paris, bức “Thiếu nữ uống trà” được cho là của Vũ Cao Đàm lên phiên đấu tại nhà Auction.fr và được bán thành công. Sau khi Thể thao & Văn hóa chứng minh bức này giả, bài được dịch sang tiếng Anh, rồi đại diện của gia đình Vũ Cao Đàm xác định đó là giả, nhà đấu giá Auction.fr buộc phải trả tiền lại cho người mua. Theo luật pháp nước này, nếu người mua kiện, nhà đấu giá kia phải hầu tòa và đền bù rất nhiều tiền.

Hiền Hòa
Thể thao & Văn hóa







Chuyện tình của danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm với ái nữ nhà văn Nguyễn Tuân


Danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm nên duyên với bà Thu Giang, ái nữ của nhà văn Nguyễn Tuân khi ông đã 78 tuổi còn bà đã ngoại lục tuần. Ông chưa hề lập gia đình còn bà thì đã từng lập gia đình nhưng hôn nhân không trọn vẹn.

Chuyện tình “chú - cháu” ở tuổi xế chiều

Trong đám tang của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, người ta thấy bà Thu Giang, vợ của danh họa mặc một bộ áo dài màu đen. Dáng người bà nhỏ nhắn, nước da trắng hồng và đôi mắt khá u buồn. Lúc người ta gọi tên bà vào viếng ông, gương mặt bà buồn đến sâu thẳm. Khi đi vòng quanh linh cữu của ông, nước mắt bà giàn giụa, bà nấc lên từng tiếng nghẹn ngào…

Đám tang hôm đó, cũng có một người phụ nữ đã luống tuổi, cứ quanh quẩn bên bà Thu Giang. Thỉnh thoảng người phụ nữ này lại lấy cho bà chai nước lọc, miếng khăn ướt hoặc hỏi han rất thân tình. Người đó chính là họa sĩ Trần Thị Bích Trâm (62 tuổi) vừa mới ở TP. Hồ Chí Minh bay ra. Bà Thu Giang hơn bà Trâm mấy tuổi nhưng họ là bạn của nhau từ thuở thiếu thời. Cả hai từng học chung một trường phổ thông và bà Giang là mẹ đỡ đầu của con gái bà Trâm. Trong cuộc sống, cả hai thân nhau như chị em một nhà, có chuyện gì bà Thu Giang với bà Trâm cũng tâm sự với nhau hết nhẽ.

Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm và bà Thu Giang lúc sinh thời. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.
Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm và bà Thu Giang lúc sinh thời. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Trước ngày danh họa Nguyễn Tư Nghiêm qua đời, bà Trâm nhận được điện thoại của “bà chị ngoài Hà Nội” (tức bà Thu Giang) lập tức bay ra Hà Nội ngay. Bà Trâm đã thay bà Thu Giang túc trực và chăm sóc danh họa Nguyễn Tư Nghiêm được 3 ngày thì ông trút hơi thở cuối cùng. Chính tay bà Trâm là người đã lau người, thay quần áo… và làm các thủ tục cần thiết cho danh họa Nguyễn Tư Nghiêm trước khi ông được chuyển xuống nhà lạnh.

Bà Trâm kể, sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân là người quảng giao nên có rất nhiều bạn bè là văn nghệ sĩ. Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm thời đó cũng là một người bạn mà nhà văn Nguyễn Tuân rất quý. Cứ mỗi lần có sự kiện gì trọng đại trong gia đình, nhà văn Nguyễn Tuân đều mời danh họa họ Nguyễn đến vui cùng.

Thời đó, vì bà Thu Giang còn nhỏ nên gọi danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là “chú”, xưng “cháu”. Bà Thu Giang là con út trong gia đình (nhà văn Nguyễn Tuân có 7 người con, 3 trai, 4 gái) nhưng lại rất được vợ chồng nhà văn Nguyễn Tuân yêu quý. Những năm tháng bao cấp, thương “chú Nghiêm” không vợ con, ở một mình… nên thỉnh thoảng vợ chồng nhà văn Nguyễn Tuân lại bảo con gái qua giúp chú dọn dẹp nhà cửa, chợ búa, nấu ăn, giặt giũ…

Bẵng đi một thời gian, bà Thu Giang lấy chồng. Cuộc hôn nhân đó đã không trọn vẹn. Duyên số đã “tác thành” cho bà Thu Giang gặp lại ông chú năm xưa sau một lần đến nhờ chú vẽ chân dung. Và tình cảm của họ cứ dần nảy nở.

Năm 1990, họ đã quyết định đến với nhau khi ông đã 78 tuổi còn bà cũng đã ngoại lục tuần. Khi quyết định gắn kết cuộc đời với nhau mà không tổ chức đám cưới, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm nói với bà Thu Giang: “Sinh lực tôi đã cạn kiệt, chỉ có tình cảm dành cho em".

Bà Thi Giang trong đám tang danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: Hữu Nghị.
Bà Thi Giang trong đám tang danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: Hữu Nghị.

Theo bà Trâm, sinh thời danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là người rất tài năng, nho nhã, nghiêm cẩn, kỹ tính và bản lĩnh. Ông rất yêu nghệ thuật nhưng không phải ai ông cũng giao du. Mối quan tâm lớn nhất của ông hàng ngày chẳng có gì khác ngoài sáng tạo nghệ thuật. Bà Giang đến với ông ngoài sự yêu thương, trân trọng, cảm mến… còn là một sự thương cảm. Vì lẽ đó, bà chăm sóc ông rất tận tình và chiều ông từng chút một. Ấy thế nhưng khi hai người đến với nhau cũng không tránh được khỏi những lời gièm pha ác ý.

Đến chết vẫn nghĩ tới vợ hiền

Trước khi trở thành người đàn ông có vợ, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm đã có hơn nửa thế kỷ sống độc thân thân tại gác 3 khu nhà nghệ thuật 65 Nguyễn Thái Học (Hà Nội).

Cuối 1991, Thủ tướng Võ Văn Kiệt cấp thêm cho vợ chồng danh họa nửa căn hộ tầng trệt nhà A1 khu tập thể Trung Tự (vốn là căn hộ của nhạc sĩ Trần Hoàn từng ở) để danh họa có không gian vẽ. Năm 2003, vợ chồng danh họa quyết định bán hai căn nhà nhỏ ở Nguyễn Thái Học và Trung Tự để mua một ngôi nhà nhỏ ngõ phố Phan Bội Châu.

“Chị Giang là con gái út của cụ Nguyễn Tuân, trên chị Giang còn mấy người anh – người chị nhưng lúc sinh thời cụ Tuân lại thương yêu cô út nhất trong đám con cái. Tôi cứ đùa là con gái rượu. Khi cụ Tuân qua đời, bao nhiêu bút tích, di cảo, bản thảo… đều giao hết cho chị Giang quản lí. Cho đến khi về sống với cụ Nghiêm, chị Giang cũng rất được cụ tin tưởng.

Bình sinh, cụ Nghiêm không thích giao du với ai cả, chỉ thích đắm mình trong nghệ thuật thôi. Tất cả mọi việc hay dở, cao thấp, đối nội đối ngoại… cụ đều giao hết cho chị Giang. Nhiều khi thiên hạ không biết lại vu tiếng ác cho chị Giang, bảo chị ấy khó tính nọ kia nhưng nếu không có chị Giang chắc chắn không có một bảo tàng đẹp và quý như bảo tàng Nguyễn Tuân – Nguyễn Tư Nghiêm ở 90 B2 Trần Hưng Đạo như bây giờ.

Chị Giang trông liễu yếu đào tơ, tưởng nấu nồi cơm không nổi nhưng lại chăm sóc cụ Tuân rồi cụ Nghiêm rất vừa lòng. Cụ Tuân là người rất sành ăn còn cụ Nghiêm lại rất kỹ tính. Những ngày ốm, cứ hễ mở mắt ra là cụ Nghiêm lại gọi tên chị Giang. Chị Giang mà nấu ăn thì món nào cụ cũng ăn rất ngon miệng.

Chân dung bà Thu Giang do danh họa Nguyễn Tư Nghiêm vẽ. Ảnh: chụp lại.
Chân dung bà Thu Giang do danh họa Nguyễn Tư Nghiêm vẽ. Ảnh: chụp lại.

Tình cảm của chị Giang dành cho cụ Nghiêm là vừa yêu, vừa kính trọng, vừa thương cảm.. nhiều thứ cộng vào. Tôi hay đùa với chị, cách chị chăm cụ Nghiêm như là vừa chăm chồng, vừa chăm bố, vừa chăm con”, bà Trâm nói.

Trong quãng thời gian sống chung với nhau, bà Thu Giang là cảm hứng cho danh họa Nguyễn Tư Nghiêm trong rất nhiều bức tranh. Ông vẽ nhiều chân dung về bà, kể cả tranh nude. Những bức tranh này đến nay bà Thu Giang vẫn còn giữ rất kỹ.

20 ngày trước khi danh họa Nguyễn Tư Nghiêm trút hơi thở cuối cùng, ông có biểu hiện đau đầu. Khi đưa ông vào bệnh viện, các bác sỹ kết luận ông có một khối u nhỏ chèn vào não. Các bác sỹ khuyên nên phẫu thuật để giải quyết khối u nhưng vì thấy ông đã quá yếu nên bà Thu Giang không đồng ý. Bệnh viện buộc lòng phải giúp ông duy trì sự sống bằng bình ôxy và ống xông. Trước đó, khi tiên lượng sức khỏe của mình đang yếu dần, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm cũng đã viết di chúc nhờ Hội Mỹ thuật Việt Nam làm chứng là giao mọi việc tang lễ khi ông nằm xuống cho bà Thu Giang quyết định. Kể cả việc thờ cũng sau này và quản lý những bức tranh của ông.

Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm sinh ngày 20/10/1922 trong một gia đình có truyền thống Nho học của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Thân sinh của danh họa là cụ Phó bảng Nguyễn Tư Tái, làm quan rồi từ nhiệm về quê khai hoang, lập nên ấp Lạc Lâm và được dân làng tôn làm thành hoàng. Mẹ Trần thị Luật, là người chữ nghĩa, đã khuyến khích con trai nặn tượng đất thó, từ tấm bé, khởi điểm cho con đường nghệ thuật của danh họa về sau. Gia đình của danh họa có tất cả 7 anh chị em, đều thành đạt.

Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm được xem là “cây đại thụ” cuối cùng của nền Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, người cuối cùng trong bộ tứ "Phái- Sáng- Liên- Nghiêm" đã trút hơi thở cuối cùng vào hồi 10h27 phút, ngày 15/6 tại Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi.

Phần mộ của ông được an táng tại Nghĩa trang Văn Điển, cạnh phần mộ của cố nhà văn Nguyễn Tuân.



Danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm: “Người có cuộc đời mỹ thuật không giống ai”

Trong nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại, danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm được xếp vào hàng “tứ trụ” bên cạnh tên tuổi của các danh hoạ Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái. Cũng có nhiều người gọi “bộ tứ” danh hoạ này là “tứ linh” bởi các tác phẩm hội hoạ của họ đã đạt đến đỉnh cao của những giá trị nghệ thuật đặc sắc.


Từ nhỏ đã bộc lộ năng khiếu hội họa "trời ban"

Trong bộ tứ này, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là người cuộc đời mỹ thuật không giống ai. Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm sinh ngày 20/10/1922 trong một gia đình có truyền thống Nho học của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Theo họa sĩ Đặng Tiến, thân sinh của danh họa là cụ Phó bảng Nguyễn Tư Tái, làm quan rồi từ nhiệm về quê khai hoang, lập nên ấp Lạc Lâm và được dân làng tôn làm thành hoàng. Mẹ Trần thị Luật, là người chữ nghĩa, đã khuyến khích con trai nặn tượng đất thó, từ tấm bé, khởi điểm cho con đường nghệ thuật của danh họa về sau. Gia đình của danh họa có tất cả 7 anh chị em, đều thành đạt.

Vợ chồng danh họa Nguyễn Tư Nghiêm - Thu Giang tại nhà riêng năm 2013. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.
Vợ chồng danh họa Nguyễn Tư Nghiêm - Thu Giang tại nhà riêng năm 2013. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Hoạ sĩ Trần Khánh Chương - Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam cho biết, từ nhỏ danh họa đã ham học và rất thích vẽ. Khi học xong bậc tiểu học ở Vinh, ông đã theo người anh trai ra Hà Nội tìm đến họa sĩ Lê Phổ, người tốt nghiệp khóa I trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925 - 1930) để học vẽ. Ông đã học vẽ say sưa và sớm bộc lộ những năng khiếu hội họa “trời ban”. Năm 19 tuổi, Nguyễn Tư Nghiêm thi đỗ vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 15 (1941 - 1946), học cùng với ông có các họa sĩ Bùi Xuân Phái, Huỳnh Văn Gấm, Tạ Thúc Bình…

Tháng 6/1945, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm rời trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương trở về quê tham gia Việt Minh, và làm Uỷ viên Uỷ ban Hành chính Kháng chiến huyện Nam Đàn (Nghệ An) cho đến cuối năm 1946.

Có một giai thoại rất vui đó là thời đi học danh họa rất thân thiết với Bùi xuân Phái. Khóa học của các danh họa tốt nghiệp cuối năm 1946 nhưng vì cuộc Toàn quốc kháng chiến nên không kịp nhận kết quả. Do đó có tư liệu nói danh họa Nguyễn Tư Nghiêm tốt nghiệp 1952, trường Mỹ Thuật kháng chiến.

Tác phẩm đầu tay của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là bức sơn dầu “Người gác Văn Miếu”, ông vẽ năm 1944 và chỉ có một mảng màu. Thời đó, tác phẩm này được đánh giá rất cao, là tranh hiện đại và được giải nhất cuộc Triển lãm Duy nhất (Salon Unique) thời đó. Đồng thời ông còn hai bức “Cổng làng Mía” và “Cánh đồng quê” cũng rất nổi tiếng.

Cũng theo họa sĩ Đặng Tiến, thời kỳ đầu Cách Mạng tháng 8, danh họa về quê, tham gia cướp chính quyền, rồi tham dự chính quyền ở huyện. Trước đây, từng có tài liệu nói danh họa làm chủ tịch UBND huyện Nam Đàn nhưng thực ra là ông bị nhầm với một người tên Hoàng Nghiêm.

Năm 1947, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm lên chiến khu Việt Bắc, công tác tại Đoàn Văn hóa kháng chiến, làm họa sĩ Báo Toàn dân kháng chiến, Báo Sông Lô, vẽ nhiều tranh tuyên truyền về các chủ trương, chính sách.... Năm 1948, ông công tác ở cơ quan Hội Văn nghệ tại xã Xuân Áng, Phú Thọ. Tại đây ông điều khiển xưởng vẽ Xuân Áng, bắt đầu vẽ sơn mài rồi chuyên về kỹ thuật này. Tại Triển lãm Hội họa năm 1948, chào mừng Đại hội Văn nghệ Việt Nam tại Đào Giã - Phú Thọ, tác phẩm khắc gỗ màu “Dân quân Phù Lưu” đã được tặng giải Nhất.

Năm 1951, khi trường Mỹ thuật kháng chiến được thành lập do họa sĩ Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm cùng một số sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương chưa hoàn thành khóa học đã được mời về trường làm bài tốt nghiệp.

Một tác phẩm của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: Trần Khánh Chương.
Một tác phẩm của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: Trần Khánh Chương.

Vào thời gian đó, ông cũng làm giảng viên của nhà trường. Đến năm 1952, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm được phân công phụ trách Xưởng họa của Hội Văn Nghệ Việt Nam. Tại đây, ông đã cùng với một số họa sĩ thể nghiệm, tìm tòi chất liệu sơn mài, đặc biệt ông đã đưa được màu màu lạnh, xanh lam, xanh lá cây vào tranh sơn mài tạo nên một thay đổi quan trọng cho sự phát triển sơn mài truyền thống Việt Nam... Danh họa từng kể rằng, ông không tài giỏi gì mà chỉ dùng màu lam phổ (bleu de Prusse) phủ lên vàng thếp, thành màu xanh lục, theo yêu cầu vẽ tranh bộ đội vào thời điểm ấy.

Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội và công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông được cấp một phòng ở tại số nhà 65 Nguyễn Thái Học, Hà Nội cùng với nhiều văn nghệ sĩ khác như họa sĩ Nguyễn Sáng, Nguyễn Phan Chánh, Mai Văn Hiến, Trần Đông Lương, nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Căn nhà này được mệnh danh là Nhà nghệ sĩ.

Hơn nửa thế kỷ sống độc thân tại gác 3 khu “Nhà nghệ sĩ” này, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm đã gây xúc động cho nhiều người khi hàng ngày lọ mọ xách nước, chợ búa, bếp núc trong không gian chật chội nhưng vẫn luôn đắm mình trong hội hoạ

Cuối 1991, Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho cấp thêm nửa căn hộ tầng trệt nhà A1 khu tập thể Trung Tự (vốn là căn hộ của nhạc sĩ Trần Hoàn từng ở) để danh họa có không gian vẽ. Năm 2003, cộng tiền bán hai căn nhà nhỏ ở Nguyễn Thái Học và Trung Tự, vợ chồng danh họa Nguyễn Tư Nghiêm mua nhà ở số 8 Phan Bội Châu để có không gian rộng hơn trong sinh hoạt và vẽ.

“Chất dân tộc và tầm thế giới”

Từ năm 1954, danh họa tiếp tục sáng tác đủ thể loại: phấn tiên, màu nước, sơn dầu, sơn mài. Năm 1957, ông sáng tác bức sơn mài “Con Nghé quả thực” theo đường lối, đề cao việc phân chia tài sản sau cuộc cải cách ruộng đất, được dư luận đề cao và được giải thưởng Mỹ thuật toàn quốc. Tác phẩm này sau đó được lưu trữ tại viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Về sau, ông vẽ lại nhiều lần đề tài “Con Nghé” và gây tiếng vang lớn trong giới hội họa đương thời.

Tranh vẽ 12 con giáp của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.
Tranh vẽ 12 con giáp của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.

Theo họa sĩ Đặng Tiến, danh họa từng trải qua một thời gian khó khăn và ông phải mưu sinh bằng cách vẽ tranh thương mại với các đề tài: Gióng, Kiều, Múa Cổ… và tùy đơn đặt hàng. Đặc biệt là tranh “con giống” theo mười hai con giáp trong âm lịch. Từ cuộc triển lãm “Năm Rồng” (1988), tranh “con giống” mới được sắp xếp thành hệ thống “lục thập hoa giáp” theo quan niệm Âm Dương Ngũ Hành.

Giới phê bình nghệ thuật thời bấy giờ từng nhìn nhận, tranh của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm phối hợp bút pháp hiện đại với tư duy cổ truyền, địa phương, tạo nên bản sắc riêng. Đường nét, màu sắc, nhịp điệu, không khí luôn luôn được phong cách hóa, dựa theo họa tiết trống đồng Đông Sơn, hoa văn đồ gốm Lý Trần, tranh tượng dân gian, kiến trúc đình chùa, nhịp điệu chèo tuồng, múa hát truyền thống. Kỹ thuật tạo hình, cho dù hiện đại và cách điệu, vẫn gợi lên được khí hậu tín ngưỡng dân tộc - và các nền văn hóa lân cận Đông nam Á.

Một trong những bức tranh vẽ về chủ đề Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.
Một trong những bức tranh vẽ về chủ đề "Kiều" của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.

“Những yếu tố tâm linh trong tranh của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm có khuynh hướng thần bí, rung cảm như bị cuốn hút vào cõi u linh. Do đó nhìn toàn bộ, nghệ thuật ông hướng theo thi pháp huyền nhiệm poétique mystique. Và từng tác phẩm một thỉnh thoảng truyền đạt một cảm xúc thần bí. Người không nắm bắt được xúc cảm này, cho rằng ông cầu kỳ hay lập dị nhưng ta có thể hiểu chất dân tộc trong nghệ thuật Nguyễn Tư Nghiêm không phải là một dụng tâm bảo vệ truyền thống, trong ý chí bảo thủ, mà là một nhu cầu siêu linh, từ tiềm thức chuyển lên ý thức và thể hiện, hóa thân, thành nghệ thuật. Chất dân tộc không phải là hoài niệm, mà là khai phóng và dự phóng, là siêu hình hiển linh thành hình khối, một “truyền kỳ họa lục”. Có vậy mới hóa giải được mâu thuẫn trong tranh ông: chất cổ truyền trong nét hiện đại, chất dân tộc và tầm thế giới”, họa sĩ Đặng Tiến nói.

Tranh ông mang tính cách bản địa nhưng không phải là “sắc màu viễn xứ” (exotisme), ngược lại khá gần trường phái Siêu thực Âu Châu và tác phẩm lừng danh của Chagall, Miro... Thậm chí một số tranh Picasso mà ông hằng ưa thích. Tranh “lục thập hoa giáp” của Nguyễn Tư Nghiêm không giống tranh Tết hiện hành mà lại gần với những “thú vật đồ” (bestiaire) trong truyền thống phương Tây, mà các họa sĩ hiện đại trên thế giới thường vẽ lại. Sự trùng hợp là do niềm đồng cảm thẩm mỹ chung cho một thời đại chứ không phải là sao chép lẫn nhau.


Những tác phẩm hội hoạ tiêu biểu của danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm

“Cây đại thụ” của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại Nguyễn Tư Nghiêm ra đi ở tuổi 94, đã để lại cả một gia tài nghệ thuật. Trong đó, tác phẩm của ông được thể hiện rất đa dạng và phong phú với nhiều chủ đề, nhiều chất liệu khác nhau.

Trong đó, tiêu biểu nhất của danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm chính là những tác phẩm về đề tài: Gióng, điệu múa cổ, Kiều và 12 con giáp. Ông là người am hiểu về văn hoá phương Đông và phong thuỷ nên tranh ông luôn mang phong cách riêng.

Theo giới mỹ thuật, danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm lấy vợ rất muộn. Vợ ông là bà Nguyễn Thu Giang, ái nữ của nhà văn Nguyễn Tuân. Bà là Thu Giang là nguồn cảm hứng cũng nhưng người mẫu cho nhiều tác phẩm hội hoạ của danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm. Sau khi quá cố, gia tài nghệ thuật của danh hoạ sẽ do vợ ông là bà Thu Giang quản lí.

Chúng tôi xin giới thiệu một số bức hoạ tiêu biểu của danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm do hoạ sĩ Trần Khánh Chương và hoạ sĩ Đặng Tiến cung cấp:

Bức tranh sơn mài Con nghé quả thực được Nguyễn Tư Nghiêm sáng tác năm 1957.
Bức tranh sơn mài "Con nghé quả thực" được Nguyễn Tư Nghiêm sáng tác năm 1957.
Bức Gióng năm 1990. Tác phẩm được trao giải nhất Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc cùng năm.
Bức "Gióng" năm 1990. Tác phẩm được trao giải nhất Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc cùng năm.
Bức vẽ 12 con giáp được thực hiện năm Quý Mùi 2003.
Bức vẽ 12 con giáp được thực hiện năm Quý Mùi 2003.
Bức vẽ Thuý Kiều - Kim Trọng.
Bức vẽ Thuý Kiều - Kim Trọng.
Điệu múa cổ - tranh sơn mài vẽ năm 1970.
"Điệu múa cổ" - tranh sơn mài vẽ năm 1970.
Tranh Dê vẽ năm 1991 - Tân Mùi.
Tranh Dê vẽ năm 1991 - Tân Mùi.
Tranh vẽ chân dung bà Nguyễn Thu Giang - vợ của danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm năm 1993.
Tranh vẽ chân dung bà Nguyễn Thu Giang - vợ của danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm năm 1993.
Tranh vẽ theo tích Thạch Sanh chém đầu chằn tinh.
Tranh vẽ theo tích "Thạch Sanh chém đầu chằn tinh".
Một bức tranh khác nằm trong serie điệu múa cổ.
Một bức tranh khác nằm trong serie "điệu múa cổ".
Bức tranh Chân dung chất liệu sơn mài.
Bức tranh "Chân dung" chất liệu sơn mài.
Một phiên bác khác của chủ đề Gióng.
Một phiên bác khác của chủ đề "Gióng".
Bức Rồng - Mậu Thìn (1988) vẽ trên chất liệu giấy gió.
Bức "Rồng - Mậu Thìn" (1988) vẽ trên chất liệu giấy gió.
Rồng - Canh Thìn (2000).
"Rồng - Canh Thìn" (2000).
Cọp - Canh Dần (2010).
"Cọp - Canh Dần" (2010).

Danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm: “Người có cuộc đời mỹ thuật không giống ai”

Trong nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại, danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm được xếp vào hàng “tứ trụ” bên cạnh tên tuổi của các danh hoạ Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên, Bùi Xuân Phái. Cũng có nhiều người gọi “bộ tứ” danh hoạ này là “tứ linh” bởi các tác phẩm hội hoạ của họ đã đạt đến đỉnh cao của những giá trị nghệ thuật đặc sắc.


Từ nhỏ đã bộc lộ năng khiếu hội họa "trời ban"

Trong bộ tứ này, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là người cuộc đời mỹ thuật không giống ai. Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm sinh ngày 20/10/1922 trong một gia đình có truyền thống Nho học của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Theo họa sĩ Đặng Tiến, thân sinh của danh họa là cụ Phó bảng Nguyễn Tư Tái, làm quan rồi từ nhiệm về quê khai hoang, lập nên ấp Lạc Lâm và được dân làng tôn làm thành hoàng. Mẹ Trần thị Luật, là người chữ nghĩa, đã khuyến khích con trai nặn tượng đất thó, từ tấm bé, khởi điểm cho con đường nghệ thuật của danh họa về sau. Gia đình của danh họa có tất cả 7 anh chị em, đều thành đạt.

Vợ chồng danh họa Nguyễn Tư Nghiêm - Thu Giang tại nhà riêng năm 2013. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.
Vợ chồng danh họa Nguyễn Tư Nghiêm - Thu Giang tại nhà riêng năm 2013. Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Hoạ sĩ Trần Khánh Chương - Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam cho biết, từ nhỏ danh họa đã ham học và rất thích vẽ. Khi học xong bậc tiểu học ở Vinh, ông đã theo người anh trai ra Hà Nội tìm đến họa sĩ Lê Phổ, người tốt nghiệp khóa I trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925 - 1930) để học vẽ. Ông đã học vẽ say sưa và sớm bộc lộ những năng khiếu hội họa “trời ban”. Năm 19 tuổi, Nguyễn Tư Nghiêm thi đỗ vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 15 (1941 - 1946), học cùng với ông có các họa sĩ Bùi Xuân Phái, Huỳnh Văn Gấm, Tạ Thúc Bình…

Tháng 6/1945, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm rời trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương trở về quê tham gia Việt Minh, và làm Uỷ viên Uỷ ban Hành chính Kháng chiến huyện Nam Đàn (Nghệ An) cho đến cuối năm 1946.

Có một giai thoại rất vui đó là thời đi học danh họa rất thân thiết với Bùi xuân Phái. Khóa học của các danh họa tốt nghiệp cuối năm 1946 nhưng vì cuộc Toàn quốc kháng chiến nên không kịp nhận kết quả. Do đó có tư liệu nói danh họa Nguyễn Tư Nghiêm tốt nghiệp 1952, trường Mỹ Thuật kháng chiến.

Tác phẩm đầu tay của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là bức sơn dầu “Người gác Văn Miếu”, ông vẽ năm 1944 và chỉ có một mảng màu. Thời đó, tác phẩm này được đánh giá rất cao, là tranh hiện đại và được giải nhất cuộc Triển lãm Duy nhất (Salon Unique) thời đó. Đồng thời ông còn hai bức “Cổng làng Mía” và “Cánh đồng quê” cũng rất nổi tiếng.

Cũng theo họa sĩ Đặng Tiến, thời kỳ đầu Cách Mạng tháng 8, danh họa về quê, tham gia cướp chính quyền, rồi tham dự chính quyền ở huyện. Trước đây, từng có tài liệu nói danh họa làm chủ tịch UBND huyện Nam Đàn nhưng thực ra là ông bị nhầm với một người tên Hoàng Nghiêm.

Năm 1947, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm lên chiến khu Việt Bắc, công tác tại Đoàn Văn hóa kháng chiến, làm họa sĩ Báo Toàn dân kháng chiến, Báo Sông Lô, vẽ nhiều tranh tuyên truyền về các chủ trương, chính sách.... Năm 1948, ông công tác ở cơ quan Hội Văn nghệ tại xã Xuân Áng, Phú Thọ. Tại đây ông điều khiển xưởng vẽ Xuân Áng, bắt đầu vẽ sơn mài rồi chuyên về kỹ thuật này. Tại Triển lãm Hội họa năm 1948, chào mừng Đại hội Văn nghệ Việt Nam tại Đào Giã - Phú Thọ, tác phẩm khắc gỗ màu “Dân quân Phù Lưu” đã được tặng giải Nhất.

Năm 1951, khi trường Mỹ thuật kháng chiến được thành lập do họa sĩ Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm cùng một số sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương chưa hoàn thành khóa học đã được mời về trường làm bài tốt nghiệp.

Một tác phẩm của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: Trần Khánh Chương.
Một tác phẩm của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: Trần Khánh Chương.

Vào thời gian đó, ông cũng làm giảng viên của nhà trường. Đến năm 1952, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm được phân công phụ trách Xưởng họa của Hội Văn Nghệ Việt Nam. Tại đây, ông đã cùng với một số họa sĩ thể nghiệm, tìm tòi chất liệu sơn mài, đặc biệt ông đã đưa được màu màu lạnh, xanh lam, xanh lá cây vào tranh sơn mài tạo nên một thay đổi quan trọng cho sự phát triển sơn mài truyền thống Việt Nam... Danh họa từng kể rằng, ông không tài giỏi gì mà chỉ dùng màu lam phổ (bleu de Prusse) phủ lên vàng thếp, thành màu xanh lục, theo yêu cầu vẽ tranh bộ đội vào thời điểm ấy.

Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội và công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông được cấp một phòng ở tại số nhà 65 Nguyễn Thái Học, Hà Nội cùng với nhiều văn nghệ sĩ khác như họa sĩ Nguyễn Sáng, Nguyễn Phan Chánh, Mai Văn Hiến, Trần Đông Lương, nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Căn nhà này được mệnh danh là Nhà nghệ sĩ.

Hơn nửa thế kỷ sống độc thân tại gác 3 khu “Nhà nghệ sĩ” này, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm đã gây xúc động cho nhiều người khi hàng ngày lọ mọ xách nước, chợ búa, bếp núc trong không gian chật chội nhưng vẫn luôn đắm mình trong hội hoạ

Cuối 1991, Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho cấp thêm nửa căn hộ tầng trệt nhà A1 khu tập thể Trung Tự (vốn là căn hộ của nhạc sĩ Trần Hoàn từng ở) để danh họa có không gian vẽ. Năm 2003, cộng tiền bán hai căn nhà nhỏ ở Nguyễn Thái Học và Trung Tự, vợ chồng danh họa Nguyễn Tư Nghiêm mua nhà ở số 8 Phan Bội Châu để có không gian rộng hơn trong sinh hoạt và vẽ.

“Chất dân tộc và tầm thế giới”

Từ năm 1954, danh họa tiếp tục sáng tác đủ thể loại: phấn tiên, màu nước, sơn dầu, sơn mài. Năm 1957, ông sáng tác bức sơn mài “Con Nghé quả thực” theo đường lối, đề cao việc phân chia tài sản sau cuộc cải cách ruộng đất, được dư luận đề cao và được giải thưởng Mỹ thuật toàn quốc. Tác phẩm này sau đó được lưu trữ tại viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Về sau, ông vẽ lại nhiều lần đề tài “Con Nghé” và gây tiếng vang lớn trong giới hội họa đương thời.

Tranh vẽ 12 con giáp của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.
Tranh vẽ 12 con giáp của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.

Theo họa sĩ Đặng Tiến, danh họa từng trải qua một thời gian khó khăn và ông phải mưu sinh bằng cách vẽ tranh thương mại với các đề tài: Gióng, Kiều, Múa Cổ… và tùy đơn đặt hàng. Đặc biệt là tranh “con giống” theo mười hai con giáp trong âm lịch. Từ cuộc triển lãm “Năm Rồng” (1988), tranh “con giống” mới được sắp xếp thành hệ thống “lục thập hoa giáp” theo quan niệm Âm Dương Ngũ Hành.

Giới phê bình nghệ thuật thời bấy giờ từng nhìn nhận, tranh của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm phối hợp bút pháp hiện đại với tư duy cổ truyền, địa phương, tạo nên bản sắc riêng. Đường nét, màu sắc, nhịp điệu, không khí luôn luôn được phong cách hóa, dựa theo họa tiết trống đồng Đông Sơn, hoa văn đồ gốm Lý Trần, tranh tượng dân gian, kiến trúc đình chùa, nhịp điệu chèo tuồng, múa hát truyền thống. Kỹ thuật tạo hình, cho dù hiện đại và cách điệu, vẫn gợi lên được khí hậu tín ngưỡng dân tộc - và các nền văn hóa lân cận Đông nam Á.

Một trong những bức tranh vẽ về chủ đề Kiều của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.
Một trong những bức tranh vẽ về chủ đề "Kiều" của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.

“Những yếu tố tâm linh trong tranh của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm có khuynh hướng thần bí, rung cảm như bị cuốn hút vào cõi u linh. Do đó nhìn toàn bộ, nghệ thuật ông hướng theo thi pháp huyền nhiệm poétique mystique. Và từng tác phẩm một thỉnh thoảng truyền đạt một cảm xúc thần bí. Người không nắm bắt được xúc cảm này, cho rằng ông cầu kỳ hay lập dị nhưng ta có thể hiểu chất dân tộc trong nghệ thuật Nguyễn Tư Nghiêm không phải là một dụng tâm bảo vệ truyền thống, trong ý chí bảo thủ, mà là một nhu cầu siêu linh, từ tiềm thức chuyển lên ý thức và thể hiện, hóa thân, thành nghệ thuật. Chất dân tộc không phải là hoài niệm, mà là khai phóng và dự phóng, là siêu hình hiển linh thành hình khối, một “truyền kỳ họa lục”. Có vậy mới hóa giải được mâu thuẫn trong tranh ông: chất cổ truyền trong nét hiện đại, chất dân tộc và tầm thế giới”, họa sĩ Đặng Tiến nói.

Tranh ông mang tính cách bản địa nhưng không phải là “sắc màu viễn xứ” (exotisme), ngược lại khá gần trường phái Siêu thực Âu Châu và tác phẩm lừng danh của Chagall, Miro... Thậm chí một số tranh Picasso mà ông hằng ưa thích. Tranh “lục thập hoa giáp” của Nguyễn Tư Nghiêm không giống tranh Tết hiện hành mà lại gần với những “thú vật đồ” (bestiaire) trong truyền thống phương Tây, mà các họa sĩ hiện đại trên thế giới thường vẽ lại. Sự trùng hợp là do niềm đồng cảm thẩm mỹ chung cho một thời đại chứ không phải là sao chép lẫn nhau.


“Cây đại thụ” cuối cùng làng Mỹ thuật Việt Nam hiện đại trong mắt hậu thế

Nhiều hoạ sỹ, giới phê bình mỹ thuật và cả những người yêu hội hoạ đều hết lời ca ngợi khi chia sẻ những cảm nhận về tác phẩm, cuộc đời sự nghiệp lẫn nhân cách của danh hoạ Nguyễn Tư Nghiêm, cây đại thụ cuối cùng của làng Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, danh hoạ tài ba trong “tứ linh”.

Hoạ sĩ Vi Kiến Thành - Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm chia sẻ: “Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là Họa sĩ đặc biệt xuất sắc của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông đi đến tận cùng của truyền thống văn hóa kết hợp với hiện đại. Quan điểm sáng tác của ông được thể hiện rõ nét nhất qua các tác phẩm: Gióng, Điệu múa cổ và 12 con giáp. Ông là một cá tính sáng tạo rất độc đáo, rất xuất sắc trong ngôn ngữ tạo hình.

Hình và nét của ông đã đạt đến đỉnh cao của sáng tạo, kết hợp giữ truyền thống và hiện đại. Tác phẩm tranh sơn mài của ông là những kiệt tác của mỹ thuật Việt Nam. Ông là một cá tính sáng tạo có ảnh hưởng lớn đến nền mỹ thuật Việt Nam. Ông đã rất xứng đáng khi được Đảng và Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt đầu tiên.

Cục trưởng Vi Kiến Thành. Anhe: Cinet.
Cục trưởng Vi Kiến Thành. Anhe: Cinet.

Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm có nhiều tác phẩm xuất sắc lắm. Thời kỳ trước có các tranh về đề tài: Con nghé quả thực, đấu tranh chống thuế, đêm Hồ Gươm… Sau này là một loạt tác phẩm gây tiếng vang. Danh họa vẽ theo kiểu, mỗi đề tài là một serie tác phẩm. Một serie về Gióng, một serie về điệu múa cổ… Tác phẩm của danh họa rất nhiều. Cái điển hình và xuất sắc nhất của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là đưa ra một giải pháp tạo hình độc đáo. Các tác phẩm đều phản ánh đúng quan điểm sáng tác xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động mỹ thuật đó là người nghệ sĩ khi đi đến tận cùng văn hóa truyền thống thì sẽ gặp hiện đại. Ông đã triển khai quan điểm đó trong tất cả các tác phẩm của mình và người ta xem tác phẩm đã thấy được những điều ông nói.

Ngoài đời, ông là người hiền hoà, khiêm nhường và sống ẩn dật. Ông đã dành hết cuộc đời, tâm trí và sức khỏe để sáng tạo nghệ thuật. Ông dành hết mọi sự quan tâm cho nghệ thuật”.

Hoạ sĩ Trần Khánh Chương - Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam cho biết: “Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm là một danh họa lớn, cây đại thụ của nền Mỹ thuật Cách mạng, hiện đại Việt Nam. Tác phẩm của Nguyễn Tư Nghiêm có nguồn cảm hứng từ nghệ thuật truyền thống, nghệ thuật dân gian Việt Nam đồng thời có nhiều sáng tạo tìm tòi mới có cá tính độc đáo với phong cách nghệ thuật hiện đại. Nhiều tác phẩm sơn mài của ông có giá trị nghệ thuật cao, ông là nghệ sĩ có tên tuổi trong nước và nhiều nước trên thế giới.

Hoạ sĩ Trần Khánh Chương. Ảnh: TKC.
Hoạ sĩ Trần Khánh Chương. Ảnh: TKC.

Ông đã kế thừa được nghệ thuật Việt Nam cổ kết hợp với hiện đại để tạo ra được ngôn ngữ riêng, phong cách riêng. Trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật, các tác phẩm của danh họa tập trung chính vào hai chất liệu là sơn mài và giấy gió. Ông có hai giai đoạn sáng tác để lại nhiều dấu ấn. Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông sáng tác nhiều tranh sơn mài, những đề tài về cải cách ruộng đất, về đấu tranh chống thuế… Sau đó ông lại chuyển sang đề tài có tính chất truyền thống như: Gióng, Kiều, điệu múa cổ. Cuộc đời ông dành hết cho nghệ thuật.

Nổi tiếng nhất trong gia tài hội họa của ông là: Gióng, Kiều, điệu múa cổ… và các tranh về đề tài: Con nghé quả thực, chống thuế, thời chống Pháp thì khắc gỗ.

Ông là người sống khiêm tốn, bình dị nhưng lại rất thông thái, hiểu biết nhiều về văn hóa phương Đông, hiểu biết nhiều về phong thuỷ. Tranh ông sử dụng màu sắc rất khác biệt. Màu sắc trong tranh ông không chỉ là màu sắc mà còn mang ý nghĩa phong thuỷ. Màu đỏ phối với màu xanh là để mang ý nghĩa gì, màu trắng với màu đen mang ý nghĩa gì. Ông rất sâu sắc về điều này vì sinh trưởng trong gia đình nhà Nho truyền thống của xứ Nghệ. Những điều về học thuật phương Đông ông nắm rất vững.

Ông cũng là người sống giản dị, kiệm lời, được anh em yêu quý vì ông luôn tôn trọng mọi người. Ông tôn trọng những người cùng khoá, cùng lứa cho đến tôn trọng những người đi sau mình. Tóm lại, ông không những tài năng mà còn là người đức độ”.

Hoạ sĩ Đặng Tiến (Pháp) cho rằng: “Tranh của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm phối hợp bút pháp hiện đại với tư duy cổ truyền, địa phương, tạo nên bản sắc riêng. Đường nét, màu sắc, nhịp điệu, không khí luôn luôn được phong cách hóa, dựa theo họa tiết trống đồng Đông Sơn, hoa văn đồ gốm Lý Trần, tranh tượng dân gian, kiến trúc đình chùa, nhịp điệu chèo tuồng, múa hát truyền thống. Kỹ thuật tạo hình, cho dù hiện đại và cách điệu, vẫn gợi lên được khí hậu tín ngưỡng dân tộc - và các nền văn hóa lân cận Đông nam Á.

Tác phẩm Điệu múa cổ của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.
Tác phẩm "Điệu múa cổ" của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh: TKC.

Tôi cảm nhận thấy ở danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, tâm linh có khuynh hướng thần bí, rung cảm như bị cuốn hút vào cõi u linh. Do đó nhìn toàn bộ, nghệ thuật ông hướng theo thi pháp huyền nhiệm (poétique mystique). Và từng tác phẩm một thỉnh thoảng truyền đạt một cảm xúc thần bí. Người không nắm bắt được xúc cảm này, cho rằng ông cầu kỳ hay lập dị. Nhưng ta có thể hiểu chất dân tộc trong nghệ thuật Nguyễn Tư Nghiêm không phải là một dụng tâm bảo vệ truyền thống trong ý chí bảo thủ mà là một nhu cầu siêu linh, từ tiềm thức chuyển lên ý thức và thể hiện, hóa thân, thành nghệ thuật. Chất dân tộc không phải là hoài niệm, mà là khai phóng và dự phóng, là siêu hình hiển linh thành hình khối, một “truyền kỳ họa lục”; có vậy mới hóa giải được mâu thuẫn trong tranh ông: chất cổ truyền trong nét hiện đại, chất dân tộc và tầm thế giới.

Tranh ông mang tính cách bản địa nhưng không phải là “sắc màu viễn xứ” (exotisme), ngược lại khá gần trường phái Siêu thực Âu Châu, và tác phẩm lừng danh của Chagall, Miro, thậm chí một số tranh Picasso mà ông hằng ưa thích. Tranh “Lục thập hoa giáp” của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm không giống tranh Tết hiện hành của nhiều đồng nghiệp Việt Nam mà lại gần với những “thú vật đồ” (bestiaire) trong truyền thống phương Tây mà các họa sĩ hiện đại trên thế giới thường vẽ lại. Sự trùng hợp là do niềm đồng cảm thẩm mỹ chung cho một thời đại chứ không phải là sao chép lẫn nhau”.



Hà Tùng Long






Tranh Việt - giấc mơ triệu đô

Nghệ thuật đương đại Việt: Đã vượt được ngưỡng 100.000 USD?

Thứ Sáu, 01/07/2016 07:21
Không hề có ý phân biệt về giới, nhưng nếu nhìn vào kết quả các phiên giao dịch công khai và chuyên nghiệp, thì nghệ thuật Việt đương đại (theo nghĩa tác giả còn sống) chưa có “công chúa” nào vượt ngưỡng 100.000 USD.


Nhưng các “hoàng tử” về giá thì cũng đã có vài người được cho là đã vượt được ngưỡng này như Dinh Q.Lê, Lê Kinh Tài, Bùi Công Khánh, Bùi Hữu Hùng, Lê Quảng Hà…

Vào lúc 18h30 ngày 23/6 tại The Factory Contemporary Art Centre (15 Nguyễn Ư Dĩ, quận 2, TP.HCM) khai mạc triển lãm Lạc chốn của Bùi Công Khánh.

Đây là bộ tác phẩm được chạm khắc từ gỗ mít, diễn tả sự tinh tế, xa hoa đầy mỉa mai, một thời của văn minh cung đình với các quan niệm về tâm linh, chiến tranh. Bộ tác phẩm này sẽ tham gia Singapore Biennale 2016, và nghe nói được Bảo tàng Mỹ thuật Singapore ngắm để mua trưng bày với giá tương đương 100 ngàn USD.


Một góc tác phẩm "Lạc chốn" của Bùi Công Khánh. Ảnh: Đại Ngô

Năm 2014 Bùi Công Khánh (sinh 1972 tại Hội An) được đồn là bán cho bảo tàng này bộ tác phẩm đa phương tiện về cơm gà Hội An (tên tiếng Anh là Chicken Rice In The Border) với giá cũng rất tương xứng với công sức bỏ ra, trên 100 ngàn USD. Rất tiếc, đến nay thì phía bảo tàng và Bùi Công Khánh vẫn chưa muốn công bố con số chính thức, vì vẫn trong giai đoạn đàm phán để chốt hợp đồng.

Năm 2005, nghệ sĩ Mỹ gốc Việt Dinh Q.Lê (sinh 1968 tại Hà Tiên) đọc báo thấy hai anh Trần Quốc Hải và Lê Văn Danh chế tạo trực thăng, anh liền làm phim tài liệu về họ.

Phim này được trình chiếu tại Úc năm 2006, tại Singapore năm 2008 và nhiều nơi khác, sau đó Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại (MoMA, New York) đã bay sang xin mua với giá hơn trăm ngàn USD. Hiện cả phim và chiếc máy bay đều trong bộ sưu tập vĩnh viễn của bảo tàng này.

Gần đây, Lê Kinh Tài (sinh 1967 tại Đà Nẵng) đã bán một vài tác phẩm trên 150 ngàn USD (theo hợp đồng mua bán). Nhìn lại 10 năm qua, với phong cách “nguệch họa”, mà nói như chính họa sĩ này là “vẽ tầm xàm, vẽ tào lao mía lao” có sức tăng trưởng mạnh mẽ nhất, cao hơn 10 lần.

Tác phẩm của Lê Kinh Tài cũng đang được vài giám tuyển, nhà môi giới hướng đến các sự kiện thị trường lớn như Art Basel, nên chắc chắn giá bán còn leo thang chóng mặt.


Tác phẩm "Giấc mộng ban ngày" (sơn dầu - sơn thỏi và acrylic trên bố, 155 x 300 cm, 2009) của Lê Kinh Tài được một nhà sưu tập Việt Nam mua với giá 158.000 USD

Các họa sĩ như Bùi Hữu Hùng (sinh 1957 tại Hà Nội), Lê Quảng Hà (sinh 1963 tại Hà Nội), Đặng Xuân Hòa (sinh năm 1959 tại Hà Nội)… cũng đã có một vài tác phẩm được bán lại với giá tròm trèm 100 ngàn USD. Những tác phẩm phê phán hiện thực của Lê Quảng Hà, sơn mài cảm hứng từ triều đình Huế của Bùi Hữu Hùng… sẽ còn tăng giá trong tương lai không xa.

Dù trên các thị trường nghệ thuật thế giới giá tác phẩm của Việt Nam chưa cao, tên tuổi chưa nhiều, nhưng nếu thời kỳ đầu có Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Lương Xuân Nhị, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Bùi Xuân Phái, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Hoàng Tích Chù, Alix Aymé, Joseph Inguimberty, Than Trần Phềnh, Tạ Tỵ, Lê Văn Đệ… thì thời sau này có Đỗ Quang Em, Dinh Q.Lê, Đặng Xuân Hòa, Hồng Việt Dũng, Lê Kinh Tài, Lê Quảng Hà, Bùi Công Khánh, Bùi Hữu Hùng…

Nói chung cũng có hơn 50 cái tên được quốc tế dòm ngó, nhiều người trong số họ sẽ có tác phẩm vượt ngưỡng 100 ngàn USD. Như từ cuối năm 1999, tờ The Wall Street Journal đã dự báo tác phẩm của Đỗ Quang Em sẽ vượt 100 ngàn USD, dù đến nay chưa thành hiện thực, nhưng sức tăng trưởng là có thể nhìn thấy.

Hiền Hòa
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần


Ông Lương Xuân Đoàn: Tranh Việt đương đại bị 'dìm giá'

Thứ Tư, 29/06/2016 20:45
Tranh của thế hệ vàng của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cũng không được trả giá tương xứng. Bởi vậy, tranh của các nghệ sĩ đương đại bị trả giá rất rẻ là dễ hiểu. Nhất là khi thị trường tranh của chúng ta không trong sạch và lành mạnh.


Đó là quan điểm của ông Lương Xuân Đoàn, Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam về vấn đề giá tranh của các họa sĩ đương đại.

Theo ông Lương Xuân Đoàn, nhìn lại lịch sử giá tranh Việt, các bộ tứ lớp đầu Đông Dương như: Trí - Lân - Vân - Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân và Trần Văn Cẩn ); Phổ - Thứ - Lựu - Đàm (Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Vũ Cao Đàm) là có giá hơn cả.

Đặc biệt, những nghệ sĩ sống và sáng tác ở nước ngoài, có tác phẩm được tiêu thụ bởi thị trường quốc tế được trả giá xứng đáng hơn so với các nghệ sĩ trong nước.


Họa sĩ Lương Xuân Đoàn

“Bởi thị trường quốc tế dù vẫn tồn tại chuyện này, chuyện khác song uy tín và tính liêm chính của các sàn đấu giá khá cao. Điều này khiến tranh của các họa sĩ Việt ở nước ngoài dù sao vẫn được giá. Nó trái ngược với thị trường tranh Việt”- ông Lương Xuân Đoàn chia sẻ - “Sự ra đi của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm khiến nhiều người lo ngại về tương lai “những đứa con tinh thần” của ông sẽ bị nhái dẫn tới mất giá. Song tôi thấy Bảo tàng Nguyễn Tư Nghiêm vẫn là địa chỉ đáng tin tưởng. Còn tranh của những người cùng thời ông như Bùi Xuân Phái đang bị mất giá bởi “đại nạn” tranh giả”.

Những gì diễn ra trong quá khứ cũng đang là câu chuyện hiện tại. Tranh đương đại Việt cũng đang bị “dìm giá” thảm hại do thị trường nội thiếu lành mạnh.

Đơn cử như buổi đấu giá tranh đầu tiên của Việt Nam vừa diễn ra, thông tin về giá tranh cũng gợi nhiều trăn trở: bức tranh Hạnh phúc của tác giả Hoàng Phượng Vĩ đã được mua với giá 65 triệu đồng; bức Tiên nữ vùng cao của họa sĩ Quách Đông Phương được mua với giá 95 triệu; bức tranh Bên dòng sông đỏ của họa sĩ Đào Hải Phong được bán với mức giá 150 triệu.


Tác phẩm Bên dòng sông đỏ của Đào Hải Phong đạt giá 150 triệu VNĐ tại cuộc đấu giá nghệ thuật đầu tiên tại Việt Nam hôm 28/5

Ông Đoàn chia sẻ tiếp: Cuộc này Hội có được mời tham gia ở góc độ chuyên môn. Các tác giả và tác phẩm không phải là xuất sắc nhất của mỹ thuật đương đại Việt. Song, tác giả và tác phẩm cũng thể hiện được góc độ nào đó của hội họa Việt đương thời. Thoạt nghe giá chục triệu, trăm triệu đồng có vẻ được. Nhưng, khi tính ra đô la Mỹ (đơn vị tiền tệ quốc tế định giá tranh), con số chỉ dao động chừng vài ngàn đô, một con số rất rất khiêm tốn trong mỹ thuật.

Cũng theo ông Đoàn, cuộc đấu giá tranh đầu tiên này cũng mang theo nhiều kỳ vọng về việc các đại gia vào cuộc “cứu” thị trường tranh Việt. Và tất nhiên, những con số hạn chế trong buổi đầu cũng phần nào là hàn thử biểu để đo “độ mặn mà” của các doanh nghiệp với mỹ thuật.

Nguyễn Tư Nghiêm: 'Phóng dật thượng thừa' với bột màu giấy dó

Khi tới gian nhà sưu tập này trưng bày tác phẩm của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, tôi vẫn nhớ vị giám đốc bảo tàng nghệ thuật Hàn Quốc, người trước đây chưa bao giờ biết đến nghệ thuật Việt Nam, đã rúng động đến mức như đờ ra.

“Những bức tranh tuy không quá tốt, song giá của các bức tranh vẫn chưa xứng tầm. Đây không phải là câu chuyện riêng của cuộc đấu giá, nó là tình cảnh chung của tranh Việt đương đại”- ông Đoàn nói.

Theo ông Đoàn, giá tranh là thước đo quan trọng để đánh giá mức độ phát triển của một nền mỹ thuật. Nên việc tìm những hướng đi bài bản để “đẩy” giá tranh đương đại Việt là điều bức thiết. “Khi và chỉ khi người nghệ sĩ được trả xứng đáng với những thành tựu nghệ thuật, họ mới có động lực để mở rộng chiều kích sáng tạo, làm nên một diện mạo mới của nền mỹ thuật vốn đang ở giai đoạn bản lề quan trọng này”- Ông Đoàn chia sẻ.

“Giao thương” kém

Thuộc số ít các họa sĩ Việt Nam đương đại có tranh vào các nhà đấu giá lừng danh Christie’s, Sotheby’s, đồng thời cũng là giám khảo một số cuộc thi tranh quốc tế, họa sĩ Đặng Xuân Hòa thẳng thắn: “Hội họa Việt Nam, do khả năng giao thương kém trên thị trường nên bị loanh quanh, dù trình độ đứng đầu khu vực ASEAN. Cá nhân tôi không tự rao bán tác phẩm, như thế thật vô duyên”.

Mỹ Mỹ
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần






Giấc mơ 'triệu đô' của tranh Việt : Lê Phổ vẫn là 'vua' giá tranh

Thứ Hai, 27/06/2016 14:30
Khi danh họa Nguyễn Tư Nghiêm qua đời hôm 15/6, một câu hỏi hết sức thực tế cần thiết phải đặt ra: Di sản mỹ thuật của ông đang ở đâu, có mặt trên thị trường hay không và giá cả là bao nhiêu? Nhưng xem ra câu hỏi này không dễ trả lời và chúng ta cũng không có thói quen trả lời các câu hỏi đầy tính “thương mại” như thế.Chuyên đề “Tranh Việt - giấc mơ triệu đô” của Thể thao & Văn hóa Cuối tuần tìm cách trả lời về giá cả tranh Việt.

Nhìn vào giá bán tác phẩm (chủ yếu là tranh) của các bộ tứ thời kỳ đầu và của mỹ thuật Việt Nam nói chung, “vua” giá tranh trên thị trường quốc tế chính là danh họa Lê Phổ (1907-2001). Bức sơn dầu Nhìn từ đỉnh đồi (113 x 192 cm, 1937) của ông từng được nhà Christie’s bán tại Hong Kong hôm 22/11/2014 với giá tương đương 844.697 USD.

Vì sao tranh Lê Phổ đắt nhất?

Kỷ lục giá tranh Việt trước Lê Phổ từng thuộc về danh họa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984), người có nhiều tranh lụa vẽ trước năm 1945 đạt mức giá trên 150.00 USD. Nhà Christie’s từng bán bức lụa La Marchande De Riz (Người bán gạo, 64,5 x 50,5 cm, 1932) của Nguyễn Phan Chánh tại Hong Kong hồi tháng 5/2013 với giá tương đương 390.657 USD.

Bức Nhìn từ đỉnh đồi của Lê Phổ có hành trình từ Hà Nội (năm 1937) đến Paris (sau 1945), Oslo (Na Uy, sau 1954), rồi Hong Kong. Sở hữu trước khi bán là Patrick Lorenzi (Pháp), người được thừa kế tác phẩm này từ ông nội của mình, vốn là một Thống sứ Bắc Kỳ thời Pháp thuộc.


Họa sĩ Lê Phổ

Giá bán bức này cũng đã phá vỡ một kỷ lục mà Nguyễn Phan Chánh vừa lập ra ít phút trước đó, khi bức lụa La Vendeuse De Bétel (Người bán trầu cau, 67 x 55 cm, 1931), vốn thuộc sở hữu của đại gia đình Tholance-Lorenzi, đạt giá tương đương 409.393 USD.

Nhận định về vị trí vua giá bán của Lê Phổ, nhà phê bình mỹ thuật Nguyên Hưng thẳng thắn: “Đứng ở góc độ người làm phê bình, tôi không đánh giá cao đóng góp của Lê Phổ trong nghệ thuật. Còn việc tranh Lê Phổ đang dẫn đầu bảng trên thị trường nghệ thuật lâu nay, theo tôi, cơ bản, vì chúng đang ở trên một kênh thương mại được điều hành tốt”.

Nói cách khác, nếu thẳng thắn so sánh về sức tác động sáng tạo, tác phẩm của Lê Phổ được đánh giá thấp hơn nhiều tên tuổi còn lại trong 3 bộ tứ, ví dụ như Nghiêm - Liên - Sáng - Phái. Thế nhưng trên thị trường thì “bộ tứ” này còn lâu mới theo kịp về giá của Lê Phổ, một phần người mua có lý lẽ riêng, một phần do xuất hiện quá ít (ví dụ Nguyễn Sáng), hoặc không thường xuyên, một phần do nạn tranh giả tranh nhái lộng hành (ví dụ như Bùi Xuân Phái).

Khi rời Việt Nam để định cư tại Pháp từ năm 1937, bên cạnh chất liệu lụa, Lê Phổ còn dành nhiều thời gian cho sơn dầu, ông vẽ theo trường phái hậu ấn tượng (post-impressionism). Nhìn ở góc độ thị trường, những tác phẩm đẹp của trường phái này thường có giá rất cao.

Bên cạnh đó, để một họa sĩ có nhiều tác phẩm cao giá cũng cần một số yếu tố rất căn bản, như là thói quen xuất hiện tại các phiên đấu giá xa xỉ; như là việc có nhiều tác phẩm đã bán giá cao trên thị trường.


Tính đến tháng 6/2016 tại các phiên giao dịch công khai, tác phẩm "Nhìn từ đỉnh đồi" của Lê Phổ là “vua” giá tranh của mỹ thuật Việt Nam

Nhìn ở các khía cạnh này thì không họa sĩ Việt nào qua mặt được Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí (1908 - 1993), Lương Xuân Nhị (1914 - 2006)… đặc biệt Lê Phổ, ông là tên tuổi ổn định (ít bị tranh giả, tranh nhái) trên thị trường từ nửa thế kỷ nay, đã có trên 20 tác phẩm vượt ngưỡng 150.000 USD.

Một số tranh giá đỉnh của Lê Phổ như Giáng sinh (mực và bột màu trên lụa, 69 x 54,5 cm, năm 1941, bán được 549.636 USD), Sắp Tết (mực và bột trên màu lụa, 60 x 47 cm, 1937, bán hơn 208.000 USD), Hoài cố hương (mực và bột màu trên lụa, 60,5 x 46 cm, 1938, bán hơn 303.000 USD), Thiếu nữ với hoa sen (mực và bột màu trên lụa bọc ván, 44,5 x 35,5 cm, 1939, bán hơn 159.000 USD), Bức màn tía (mực và bột trên màu lụa, 59 x 37 cm, khoảng 1942 - 1945, bán hơn 374.000 USD)…

Tại phiên đấu giá của nhà Christie’s tại Hong Kong cuối tháng 11/2015, nếu tác phẩm của Lương Xuân Nhị có giá khởi điểm trung bình từ 129.588 đến 181.424 USD, Joseph Inguimberty (từ 58.338 đến 77.784 USD), Nguyễn Gia Trí (từ 38.892 đến 51.856 USD), Vũ Cao Đàm (từ 19.446 đến 32.410 USD), thì Lê Phổ đã trung bình từ 259.177 đến 362.847 USD.


Tác phẩm "Người bán gạo" khi xuất hiện tại nhà đấu giá chỉ được định giá dự kiến là 75 USD, nhưng nhanh chóng đạt giá 390.657 USD vì nhiều người nhận ra tác phẩm này của danh họa Nguyễn Phan Chánh, thay vì một họa sĩ vô danh của Trung Quốc như lời giới thiệu

Chỉ là “Hữu xạ tự nhiên hương”

Tất nhiên, một họa sĩ muốn bán được tranh giá rất cao thì không thể trông chờ vào sự hào phóng của thị trường quốc tế, mà phải cần đến sự vững mạnh của thị trường nội địa.

Trong các niên giám về thị trường nghệ thuật do Artprice và AMMA phát hành, các nhà phân tích đã cho thấy trong khoảng 5 năm trở lại đây Trung Quốc đang là nước chiếm đến hơn 40% thị phần toàn cầu. Cụ thể như năm 2012, họ chiếm đến 41% doanh thu trên toàn thế giới, các nước khác như Mỹ chiếm 27%, Anh 18%, Pháp 4%, Đức 2%, Thụy Sĩ 1%, và 7% chia đều cho các thị trường còn lại.

Nếu Lê Phổ thuộc về thị trường nội địa Thụy Sĩ chẳng hạn (đất nước của gần 7,5 triệu người), thì đương nhiên với thanh thế sẵn có, tác phẩm của ông đã đạt giá 1 triệu USD từ lâu rồi.

Một điều quan trọng nữa, trên thế giới hiện có khoảng 4.500 nhà đấu giá quốc tế, với khoảng 108 triệu tác phẩm được mua bán (dẫn theo Artprice), nhưng Việt Nam (với dân số xếp thứ 13 trên thế giới) thì chưa có nhà đấu giá chuyên nghiệp nào để kết nối, bảo chứng, bảo vệ và làm giá cho nghệ thuật Việt.

Nhìn như vậy để thấy những trường hợp đơn lẻ như Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh là rất đáng vui, vì có gì đó giống như hữa xạ tự nhiên hương, nhưng cũng rất đáng buồn, vì cơ hội “để làm mưa làm gió” về giá cả trên thị trường vẫn thiếu tiếng nói đồng hành từ nội địa.

(Còn nữa)

Văn Bảy
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần


ranh Việt - giấc mơ triệu đô

Nguyễn Tư Nghiêm: 'Phóng dật thượng thừa' với bột màu giấy dó

Thứ Ba, 28/06/2016 12:45
Mới đây, tôi có dẫn một vị giám đốc bảo tàng nghệ thuật Hàn Quốc đến thăm một nhà sưu tập nổi tiếng ở TP.HCM. Khi tới gian nhà sưu tập này trưng bày tác phẩm của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, tôi vẫn nhớ vị giám đốc bảo tàng này, người trước đây chưa bao giờ biết đến nghệ thuật Việt Nam, đã rúng động đến mức như đờ ra.

1. Ổng ngẩn người ngắm nghía từ bức nhỏ bằng bột màu đến bức lớn bằng sơn mài. Ông chạy đi chạy lại hưng phấn khắp gian phòng. Ông thụp xuống kéo bức này ra, đứng lên với tay nhấc bức kia xuống để xem thật kỹ. Sau hết ông toát mồ hôi gật gù nói với nhà sưu tập, “I think he is the best one in here” (tôi cho rằng hoạ sĩ này tốt nhất ở đây).

Dĩ nhiên, ai chẳng biết “gu” xem tranh mỗi người mỗi khác (tôi cũng biết có người không chịu nổi Nghiêm), song với một vị giám đốc bảo tàng, người từng học nghệ thuật tại Pháp, khi xem các tác phẩm của Nguyễn Tư Nghiêm, mà phải rúng động đến thế, thì chắc chắn, tác phẩm của bậc thầy này đã có một sức mạnh đáng nể. Cần lưu ý rằng các tác phẩm của Nguyễn Tư Nghiêm hầu hết đều là bột màu giấy dó.

2. Trong hội họa, sơn dầu là chất liệu tốt thượng ở chỗ nó có đủ cả hai tính chất, 1/ đủ sức mô tả đến chân tơ kẽ tóc các chất liệu khác nhau từ da thịt đến sắt thép (sau này, nó phải cạnh tranh với acrylic, song đây là câu chuyện khác), và 2/ nó duy trì được độ bền vững hàng trăm năm.

Chính hai tính chất này làm nó trở nên một công cụ tuyệt vời cho hoạ sĩ từ Tây đến ta.  


Tranh "Con giáp" của Nguyễn Tư Nghiêm

Tuy thế, dù là một đệ tử chân truyền sơn dầu (tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương), theo thời gian, Nguyễn Tư Nghiêm lại tìm ra chỗ đứng của mình trong các chất liệu khác, giấy dó và sơn mài. Ở đây tôi muốn đặc biệt bàn tới giấy dó.

Các đặc tính nhất thời của bột màu như  khô nhanh, khó làm chủ (nhòe loang theo độ ẩm của giấy hay của dầu cọ), không nhất quán (khó có thể đặt chính xác hai màu cạnh nhau, bởi chúng phải tương tác với giấy ẩm, độ nhuyễn hay độ khô của bột màu, cũng như các chấm cọ quệt bất chợt của màu này loang sang màu khác), khi tương tác với giấy dó, và đặc biệt dưới khả năng siêu phàm của Nguyễn Tư Nghiêm, chợt trở nên điều gì đó vô cùng đắc địa.

Với Nghiêm, nghệ thuật, cùng giấy dó và bột màu đã dần hết trở thành khu vực của hoành tráng, của chính xác, của phép viễn cận của tả thực, tức của các tính  chất cốt tử trong nghệ thuật phương Tây, để trở thành một trò chơi con trẻ, ngẫu nhiên, nguệch ngoạc. Ở đây, Nghiêm như thể một bậc thầy võ “vô chiêu loạng choạng” như say như tỉnh mà đường nét nào ra đường nét đó làm kinh sợ “quần hùng”.

Điều kinh hãi nhất ở Nguyễn Tư Nghiêm là, dẫu sử dung chiêu thức đầy biến ảo như vụng về như tinh xác cùng lúc, song (hãy tin tôi, tôi biết và chịu hoàn toàn trách nhiệm điều tôi nói) - mọi tác phẩm của ông đều tuân theo tất cả các quy luật khắc kỷ nhất về bố cục phương Tây, hay các nguyên tắc cao nhất của hội họa phương Đông, từ Lục pháp luận của Tạ Hách đến Sadanga của Ấn Độ.  

3. Theo tôi cần phải nhìn nhận không gian bột màu giấy dó của Nguyễn Tư Nghiêm như một “hệ sinh thái” mà ông cố tình kiến tạo ra. Chính trong hệ sinh thái này, Nguyễn Tư Nghiêm không chỉ còn là một họa sĩ giỏi, một nghệ sĩ bậc thầy.


Hơn thế, ở đây, ông đã thoát thai trở thành một bậc đạo sĩ. Một người hiền minh. Có nghĩa là, trong không gian này, ông đã trở thành được chính nguồn cội  Á Đông của mình theo cách sáng tạo nhất. Nói khác đi, trong hệ sinh thái bột màu giấy dó này, ông đã có thể diễn giải chính nguồn cội của mình vào hiện tại của mình  

Các tác phẩm bột màu giấy dó của Nguyễn Tư Nghiêm, theo đó, cũng vượt thoát khói thân phận hữu hạn về vật chất (ít tính bền vững như sơn dầu), thân phận thứ yếu về vật liệu tạo hình (không sở hữu khả năng tả thực như sơn dầu), để trở nên một chất liệu “phóng dật thượng thừa” đặc biệt, mà chỉ Nghiêm mới có thể sử dụng theo cách viên mãn nhất, tức làm nó nhập một với tư duy tình cảm nguồn mạch của ông để rồi không chỉ kể các câu chuyện về thế giới, mà còn đã trở nên chính một thế giới: thế giới Nguyễn Tư Nghiêm.

Theo tôi, đây chính là nguyên nhân làm cho vị giám đốc bảo tàng kia rúng động khi xem tranh Nghiêm. Dù với các bậc thầy Việt Nam khác ông cũng ngả mũ kính nể, song chỉ riêng với Nghiêm ông mới toát mồ hôi khó thở - một phản ứng sinh lý bình thường của con người khi đối diện với điều gì vượt quá sức cảm và hiểu của mình, ở đây là một thế giới hoàn toàn mới mẻ với ông. 

Có thể nói, với tôi, hội họa Việt Nam, nếu Nguyễn Phan Chánh có lụa, Nguyễn Gia Trí có sơn mài, thì Nguyễn Tư Nghiêm có bột màu giấy dó.

Nguyễn Như Huy
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần



Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm - Giá của bậc thầy

Thứ Hai, 27/06/2016 19:00
Nguyễn Tư Nghiêm, suốt cuộc đời đã sống xứng đáng với sự tôn vinh về một danh họa. Không chỉ ở tài năng khác biệt với những thành công sáng giá trong và ngoài nước, mà sức bền sáng và ảnh hưởng của ông đã vượt thế kỷ, vượt quỹ sống của mình để thành bất tử trong sự nể phục, thống nhất của các thế hệ nghệ sĩ.
Ẩn mình để hết mình

Như nhiều người thời trước đi theo kháng chiến, phần vì sự lạc hậu của các cụ thân sinh, phần vì loạn lạc chiến tranh, lý lịch công tác cách mạng nhiều khi phải khai chệch với năm sinh thật. Nguyễn Tư Nghiêm, trên mọi giấy tờ đều ghi sinh năm 1922, nhưng ông khẳng định với tôi cuối năm 2013, khi tôi đến thăm nhà ông, được trò chuyện và xem ông vẽ, thì ông mang tuổi Bính Ngọ 1918. Cầm tinh con ngựa, thảo nào ông hay vẽ ngựa và vẽ hay, lạ, kỳ khôi như thế.

Người ta thấy, với danh họa này, vẽ luôn là hành trình, là cuộc chơi đầy thích thú cho đến lúc mắt mờ, tay run, tóc trắng vẫn bận bịu mỗi chiều trong phòng vẽ. Ông không quảng giao, tránh đám đông, “trốn các hội thảo, hội nghị, hội hè, sự kiện, không đi xem các triển lãm, dự liên hoan, yến tiệc, không phải bởi khó tính, cao ngạo.

Nhưng ông ân cần với những người đến thăm mình. Ông cư xử ấm áp với mọi người, bình dị với  lớp trẻ, chưa bao giờ Nguyễn Tư Nghiêm tỏ ra kênh kiệu, tỏ ra mình là danh họa mà đòi mọi người phải thế này thế khác với mình.


Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm. Ảnh Nguyễn Đình Toán

 Họa sĩ Vi Kiến Thành, Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, nhớ lại: “Tôi từng đến thăm ông từ lúc mới ra trường đi làm, tại căn phòng thuộc tầng trệt nhà A1, tập thể Trung Tự, vốn là một nửa căn hộ cũ của nhạc sĩ Trần Hoàn mà Nhà nước phân lại cho ông. Rồi thăm ông ở căn phòng nhỏ tầng 3, số 65 Nguyễn Thái Học. Ông luôn gần gũi trong cư xử. Là danh họa, ông chỉ chuyên chú vẽ, không màng chức tước, bổng lộc.

Ông không tỏ ra kiêu chảnh, vẫn gửi tác phẩm tham gia các triển lãm chung cùng anh em các thế hệ. Năm 1990, ông gửi tác phẩm Thánh Gióng. BTC treo, trưng bày, ông không đến xem triển lãm mỹ thuật toàn quốc, giải Nhất cũng không đến nhận, chúng tôi phải mang tiền, giải thưởng đến tận nhà cho ông”.

Ngay với những nghệ sĩ lớn của thế giới, không phải ai cũng nhận được sự tâm phục khẩu phục thống nhất của các thế hệ, các đồng nghiệp cùng thời và lớp hậu bối. Nhưng Nguyễn Tư Nghiêm có được sự kính trọng toàn vẹn của mọi người về nhân cách nghệ thuật. Ông đã vẽ bền bỉ đến tháng 5/2016, khi phải vào cấp cứu tại Bệnh viện Việt - Xô.

HS Đặng Xuân Hòa đầy cảm phục khi nhắc đến Nguyễn Tư Nghiêm: “Với tôi, ông thực vĩ đại về sức lao động. Với nghệ sĩ, sáng tạo, làm nhiều mới thấy được khả năng, người đó thấy chính mình và mọi người thấy rõ người đó. Vẽ 10 bức khác với 100 bức càng khác vẽ 1.000 bức. Văn chương cũng thế. Vẽ viết nhiều mà đa dạng, đạt dấu ấn thì mới tài. Vẽ nhiều là một khả năng đặc biệt đáng quý, vẽ nhiều mà lại đẹp, có phương cách thì là tài năng lớn.

Nguyễn Tư Nghiêm với bút pháp chủ nghĩa biểu hiện đã tạo nên con đường nghệ thuật lớn lao đích thực, ai nói về già ông vẽ lặp lại là nhận xét hời hợt. Ông càng vẽ càng phong phú, thanh thoát hơn, Nguyễn Tư Nghiêm  đã vẽ chăm chỉ phong độ trong nhiều bối cảnh xã hội, chỉ có nghệ sĩ lớn mới có phong độ như thế”.

Nguyễn Tư Nghiêm sống ẩn để dốc trọn thời gian, sức lực cho nghệ thuật, ông ẩn mình giữa trung tâm Hà thành mà vẫn thức nhạy mọi chuyển biến thời cuộc, nhân sinh.

Nguyễn Tư Nghiêm ít nói, ít tuyên ngôn chỉ có một lần ông phát biểu trong một hội nghị về quan điểm nghệ thuật của mình: “Khai thác, đi đến tận cùng truyền thống, sẽ gặp hiện đại”.

Nguyễn Tư Nghiêm suốt đời mình đã làm việc, sáng tạo trên tinh thần này. Tranh của ông đóng góp đột phá cho ngôn ngữ tạo hình Việt Nam. HS Vi Kiến Thành nhận định: “Một số họa sĩ lớn, phong cách chỉ là phát triển kiến thức được học từ mỹ thuật Pháp. Sòng phẳng nhất mà nói, chỉ có hai người có đóng góp đặc biệt cho ngôn ngữ tạo hình Việt Nam bằng cách tân nổi trội là Nguyễn Sáng và Nguyễn Tư Nghiêm.

Nét của Nguyễn Tư Nghiêm độc đáo ở cấu trúc hình và độ rung cảm, làm nên một cấu trúc khác thường, tôi không muốn nhắc tên cụ thể những họa sĩ chịu ảnh hưởng motiv phong cách của ông, nhưng tư tưởng nghệ thuật của ông là ảnh hưởng lớn tới vài thế hệ và sẽ tiếp tục, bởi nó đúng với tinh thần nhận diện bản sắc văn hóa và nhu cầu bức thiết của đổi mới. Chính bởi những rung cảm khi đi nét, tranh Nguyễn Tư Nghiêm rất khó bắt chước. Nếu là tranh đi đạo, người có nghề nhìn biết ngay”.


"Thánh Gióng" (1990) của Nguyễn Tư Nghiêm

Giá của sự khác biệt, độc đáo

Sự ẩn mình làm Nguyễn Tư Nghiêm có vẻ thiệt thòi, có những người trong giới còn mù mờ không biết ông còn sống hay đã mất, ông không thỏa mãn hay gặm nhấm hào quang, danh tiếng.

Họa sĩ Phạm An Hải - một trong những HS đình đám nhất thế hệ 6X lại cho biết, anh đã từng biết có bức giấy dó 60 x 90cm của Nguyễn Tư Nghiêm được trả tới 70.000 USD!

Nhiều người khẳng định, tranh Nguyễn Tư Nghiêm hiện vào loại cao giá nhất trong các họa sĩ đương đại Việt Nam. Hiện Bảo tàng Nguyễn Tư Nghiêm (chung với Bảo tàng Nguyễn Tuân) ở số 90B Trần Hưng Đạo (Hà Nội) hiện đang lưu giữ khoảng 1.000 bức thuộc quản lý của bà Thu Giang, vợ danh họa.

Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm: Sống để vẽ và yêu

Họa sĩ Mai Anh, cho biết vì quá yêu tranh mà chị đã bán ngôi nhà ở Thành Công để thuê nhà và mở gallery Ngàn Phố tại 82 Hàng Gai, hiện đang giữ khoảng 30 bức tranh của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm. Chị Mai Anh từng tổ chức triển lãm về Nguyễn Tư Nghiêm tại gallery năm 2015.

Đã có nhiều lo lắng về những tác phẩm hội họa Việt Nam “chảy máu” ra nước ngoài, vậy Nhà nước sẽ giữ lại chúng như thế nào?

Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm Vi Kiến Thành cho biết: “Cơ quan tôi sát gần Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, và tôi đã làm giám đốc bảo tàng này 1 năm (2009). Hằng năm, bảo tàng đều có ngân sách khoảng 1 tỷ đồng, để mua tranh. Tranh được mua theo chất lượng, nhu cầu của bảo tàng, có một hội đồng  thẩm định, kinh phí Nhà nước eo hẹp, nhưng không vì thế các họa sĩ thông cảm bán rẻ cho đâu, họ bớt so với giá thị trường một chút thôi. Bảo tàng mua theo hình thức thương lượng, thỏa thuận”.

Có tranh lưu giữ trong bảo tàng mỹ thuật của quốc gia là vinh dự không thể phủ nhận, song bảo tàng với năng lực ngân khoản ít, khó có thể sở hữu nhiều tác phẩm đỉnh cao, khi dòng chảy thị trường tranh vẫn tác động không nhỏ đến đời sống hội họa và tâm lý sáng tác của không ít họa sĩ.

Sinh thời, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm rất muốn có nơi chốn lưu giữ, trưng bày tác phẩm cho người xem trong và ngoài nước tại Hà Nội. Cả đời ông đau đáu việc này, ông ít làm triển lãm cá nhân, mà triển lãm cũng chỉ có thời hạn; trong khi nếu có phòng trưng bày lâu dài, thì sự "giao lưu" giữa họa sĩ và công chúng thật lý tưởng, vô thời hạn.

Họa sĩ Nguyễn Thu Giang coi việc thực hiện lời hứa với chồng là trách nhiệm không chỉ của tình chồng vợ, mà còn với di sản nghệ thuật mà ông tin tưởng gửi gắm bà gìn giữ, bảo vệ. Những bức tranh đề dòng chữ "Sưu tập Thu Giang" đều được bà giữ, ngoài vài tác phẩm rất hãn hữu dành cho người thân.

Bảo tàng Nguyễn Tư Nghiêm được lập ra để bảo tồn, giới thiệu tác phẩm của danh họa với công chúng (vào xem miễn phí), không phải là gallery, cũng không phải để giao dịch mua bán tranh của Nguyễn Tư Nghiêm. Lời hứa với danh họa cũng là tâm nguyện bà đau đáu. Dù lớn tuổi có bệnh, bà vẫn ngày ngày miệt mài công việc bảo tàng và tính xa cho tương lai sau này. Hai ông bà không có con chung, vì vậy, bà đã sắp xếp để có thể trao truyền lại công việc của bảo tàng sau này cho người sẽ thay mình, tiếp tục thực hiện khát vọng của ông: Giữ những bức họa để đời tại bảo tàng Nguyễn Tư Nghiêm..

Giá tranh Nguyễn Tư Nghiêm là giá của thời gian, bởi ông đã tích hợp những tinh hoa mỹ thuật Việt và văn minh Á Đông, đưa các thế kỷ trước vào hiện đại để đạt đến độ đỉnh cao độc đáo hiếm biệt.

Vi Vi
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần


Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm: Sống để vẽ và yêu


Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm: Sống để vẽ và yêu

Thứ Tư, 15/06/2016 17:21
Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, danh họa cuối cùng trong bộ tứ “Phái - Sáng - Liên - Nghiêm” qua đời lúc 10g27 ngày 15/6 tại bệnh viện Hữu nghị (Việt Xô). Ông là cựu sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, sinh năm Bính Ngọ 1918, cho đến những năm cuối đời khi đã ngoài 90, họa sĩ vẫn vẽ hàng ngày.

Thể thao & Văn hóa xin giới thiệu lại bài viết về ông của nhà thơ Vi Thùy Linh trên giai phẩm Thể thao & Văn hóa Xuân Giáp Ngọ như một lời tưởng nhớ tới họa sĩ tài danh của nền mỹ thuật Việt Nam:

Nguyễn Tư Nghiêm cũng là hoạ sĩ hiếm hoi của nền mỹ thuật Việt Nam có bảo tàng riêng. Ông may mắn không chỉ vì sống thọ, minh mẫn khi tuổi gần thế kỷ, mà còn bởi 23 năm qua, Nguyễn Tư Nghiêm sống có đôi trong tình yêu bên bạn đời trẻ hơn gần 30 tuổi, đẹp và tận tâm. Chính nhờ bà mà ông duy trì được phong độ sáng tác bền bỉ.

Mối tình lớn của Nguyễn Tư Nghiêm

Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân (1910 - 1987) - bậc thầy tiếng Việt chơi với nhiều anh tài các lĩnh vực. Nguyễn Tư Nghiêm thường hay qua lại, chia sẻ tác phẩm mới, bà Vũ Thị Tuệ (1908 - 1996), phu nhân nhà văn, nấu món ngon lại mời "chú Nghiêm" đến.

Những năm bao cấp ấy, danh hoạ không có vợ, chẳng chú ý gì khác hơn quan hệ chú - cháu với Thu Giang. Ông bà Nguyễn Tuân sinh 8 con, 1 con trai mất lúc nhỏ, còn lại 3 trai, 4 gái. Cô út Thu Giang đẹp nhất, lại gắn bó bố mẹ nhất. Duyên mệnh nghệ thuật thật kỳ lạ. Bao thăng trầm, cuối cùng họ vẫn "tìm thấy nhau" tại Hà Nội - nơi họ đã gặp lần đầu, nơi bà Giang được sinh ra, là quê gốc.



Vợ chồng họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Thu Giang tại nhà riêng cuối tháng 12/2013. - Ảnh: Nguyễn Đình Toán  

Đó là mùa Thu 1991, Thu Giang trở ra Hà Nội, mùa đẹp nhất đất này là mùa có sinh nhật Nguyễn Tư Nghiêm. Thu Giang đến thăm, nhờ chú vẽ cho một bức chân dung. Và rồi nhiều chân dung ra đời, cả tranh nude.

Nguyễn Tư Nghiêm tỏ tình với Thu Giang: "Sinh lực tôi đã cạn kiệt, chỉ có tình cảm dành cho em".

Ông trao niềm tin khi thấy bà chăm chút tỉ mẩn cho bố mẹ, bố mất thì lại hầu mẹ già. Trong sự chịu thương chịu khó ấy, ông nhìn ra cả tính cách mạnh mẽ, quyết liệt. "Quanh tôi lúc nào cũng có nhiều phụ nữ, nhưng tôi chưa từng cưới và công nhận ai là vợ. Chỉ Thu Giang là vợ tôi". Hơn nửa thế kỷ sống độc thân tại gác 3 khu nhà nghệ thuật 65 Nguyễn Thái Học, Nguyễn Tư Nghiêm lọ mọ xách nước, tự mình bếp núc, ở và vẽ chật chội.

Cuối 1991, Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho cấp thêm nửa căn hộ tầng trệt nhà A1 khu tập thể Trung Tự (vốn là căn hộ của nhạc sĩ Trần Hoàn từng ở) để họa sĩ có không gian vẽ. Thu Giang bước sang quãng đời mới, là vợ danh hoạ, với trách nhiệm nặng mà chỉ ai rất can đảm mới dám dấn thân. Thu Giang thích hoa hồng, bà lãng mạn chải chuốt từ bé. "Thú chơi, ăn diện là do bố Tuân dạy tôi". Song Nguyễn Tư Nghiêm không tỏ tình bằng hoa hồng thường trực. Ông dồn tình cảm vào những bức tranh.

Năm 2003, cộng tiền bán hai căn nhà nhỏ ở Nguyễn Thái Học và Trung Tự, họ mua nhà ngõ phố Phan Bội Châu. Đây là nơi danh hoạ sống và vẽ.

Bảo tàng tranh Nguyễn Tư Nghiêm

Ngôi nhà 4 tầng kiến trúc Pháp ở 90 B2 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm là nơi gia đình nhà văn Nguyễn Tuân đã sống. Vợ chồng nhà văn đều từ trần mùa Hè, bà sau ông 9 năm. Con cháu trưởng thành đều có nhà riêng. Ngôi nhà gốc được gìn giữ làm nhà lưu niệm. Nguyễn Tuân biệt tài, kiêu bạc, khái tính, tinh sành, chết đi vẫn được nhắc nhớ bằng tác phẩm tinh hoa để lại. Ông "oách" cả khi "về cõi", bởi con rể là Nguyễn Tư Nghiêm. Họ cùng được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 1 (1996).

Theo quyết định thành lập do Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc ký, bảo tàng nhà văn Nguyễn Tuân ra đời ngày 29/12/2011, bảo tàng tranh Nguyễn Tư Nghiêm từ 18/1/2012 và họa sĩ Nguyễn Thu Giang là người phụ nữ duy nhất ở Việt Nam hiện nay là giám đốc 2 bảo tàng tư nhân.

Bước qua 22 bậc thang gỗ sạm đen qua gần thế kỷ, người xem sẽ lên tầng 2. BT nhà văn Nguyễn Tuân gồm 2 phòng. Tường lối lên các tầng đều treo kín tranh Nguyễn Tư Nghiêm. Đối diện, gian nhỏ xíu bên trái, diện tích 6x9 ô gạch là phòng tranh mini như "bước đệm" để khách "trấn tĩnh" trước khi lên tầng 3 - BT tranh của danh họa. Gian nhỏ này vốn là... nhà tắm, bà Giang cho sửa lại. Nào hổ, ngựa, dê, chó, mèo, rắn... tranh con giáp là nét đặc sắc của hoạ tài Nguyễn Tư Nghiêm.


Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm tặng báo Thể thao & Văn hóa tranh ngựa bột màu trên giấy dó - giấy thủ công cổ truyền của Việt Nam. Trên tranh có dòng chữ: "Kì tư thiên thiếu âm quân hỏa sinh vận thái âm thấp thổ. Thuận hóa". Ông giải thích: Thấp thổ là màu vàng, ngựa là hỏa màu đỏ, hỏa thắng thổ, sinh thổ. Năm 2014 khí sinh vận là năm thuận hoá tốt lành.

Tại gian nhỏ này, hai bức tranh xác định được dấu mốc của đời ông. Bức vẽ Thu Giang với dòng đề "Kỷ niệm chỗ ở mới 1992" đánh dấu thời điểm ông có vợ và bìa cuốn Nghệ thuật vẽ tranh con giống cho Xưởng tranh nghệ thuật Việt Nam năm 1975 (trước đây đóng ở Tô Hiến Thành), đơn vị đặt ông vẽ 12 con giáp. Đây là dấu mốc của thể tài mà ông vẫy vùng, bung tỏa sáng tạo gần 40 năm nay.

Loạt tranh nude vẽ từ 1992 mang sắc thái mới đầy sức sống khoáng đạt. Người đàn bà một mình hay bầy thiếu nữ nude ở đầm sen - loài hoa ông thích - đều gây ấn tượng.

Từ tầng 2 lên, qua 10 bậc thang là "chiếu nghỉ", khách có thể dừng lại ngắm tranh. Lượng tranh nhiều đủ để quy mô BT rộng thêm 10 lần nữa.

Năm Ngọ, xin tranh Ngựa của Nguyễn Tư Nghiêm

Đến bảo tàng tranh Nguyễn Tư Nghiêm thì chỉ có tranh, không gặp được tác giả.

Ngôi nhà trong ngõ Phan Bội Châu bao bọc bằng những chậu cây xanh khuôn lại khoảng sân. Lạnh một chút thôi, vào phòng khách sẽ thấy ấm vì tình cảm của ông bà. Khoảng cách 28 năm giữa họ chưa khi nào là vấn đề. Vì bà sống với ông bằng sự trọng tài, tự nguyện gánh sứ mệnh bảo dưỡng tài năng lớn.

"Tôi không cho mình được phép ốm" - bà Giang cho biết... Nhà có cô giúp việc, bà vẫn trực tiếp nấu ăn, pha đồ uống cho ông. Hàng ngày, bà sang BT đến trưa về cho chồng ăn và dành buổi chiều ở nhà. Có sự kiện cần thiết, hay đặc biệt, bà mới đi, còn ông thì không.

Ông tránh đám đông, khách khứa, ẩn mình đến mức ngay trong giới mỹ thuật, không ít người nghe tên ông cứ tưởng “người muôn năm cũ”. Ông hạn chế tiếp khách tại nhà, ít ra ngoài, tuổi cao chỉ là một lý do "thông thường" như những lão niên hay đưa ra nhằm biện minh cho mọi sự. Cái chính là ông tiếc thời gian. Sự nghiệp đồ sộ danh tiếng thế mà ông vẫn "tham". Tham sống để có thêm thời gian vẽ. Sự tham ấy, ở tuổi 96, chất tụ cái ham sáng tạo và đam mê cống hiến. 



Người ta thường ví tuổi già là buổi chiều của cuộc đời. Tuổi của ông thì đã sang "buổi tối" lâu rồi, vậy mà ông vẫn vẽ mỗi chiều. Nếu có gì làm gián đoạn, mất hứng, không vẽ được thì ông sẽ cáu gắt.

Lên - xuống gác là chuyện thường với Nguyễn Tư Nghiêm. Ông bước đi dứt khoát, dù lưng hơi cong, không cần gậy. Da trắng hồng, tóc bạc trắng, hơi nặng tai song ông rất minh mẫn, hóm. Ông xưng "anh - em" dịu dàng với vợ và luôn tỏ rõ sự tin cậy, phó thác cho Thu Giang, tham vấn ý bà khi quyết việc gì.

Những bức tranh ông vẽ tặng hoặc đặc biệt thích, danh hoạ đề rõ góc trái, mặt chính tác phẩm, bằng bút vẽ: "Sưu tập Thu Giang". Đó vừa là khẳng định tình cảm sở hữu, vừa là "nhắc nhở" bà phải giữ, không được bán, dù ai trả giá nào.

12 con giáp của Nguyễn Tư Nghiêm

Nguyễn Tư Nghiêm vẽ con giáp theo năm và cảm hứng. Nhưng năm nào ông cũng có tranh "nghênh Xuân" từ đầu Đông trước. Lúc vẽ đơn, lúc vẽ nhóm, khi lại hoạ cả 12 con giáp, nên dù chuyên sâu thể tài, ông vẫn làm nên sự đa dạng, sinh động. Ưu ái tuổi cầm tinh, ông hay cho con ngựa đứng giữa tranh, các con khác quây quanh. Những bức vẽ ngựa năm 1966, Bính Ngọ, năm Nhâm Ngọ 2002 vẫn được giữ gìn ở Bảo tàng Nguyễn Tư Nghiêm.

Đất Nam Đàn tự hào sinh ra Nguyễn Tư Nghiêm. Chàng trai xứ Nghệ ra Hà Nội học và gắn với "đất thành" 80 năm. Ông không có con. Là con thứ 4 trong số 6 anh em, Tư Nghiêm là người duy nhất theo nghệ thuật trong dòng họ. Chị gái ông, bà Nguyễn Thị Thế (107 tuổi), đang sống cùng con cháu ở phố Đoàn Nhữ Hài. Giờ chỉ còn 2 chị em, chị vẫn thi thoảng qua thăm em Nghiêm. Còn em thì mong sẽ sống đến tuổi của chị.

Trên chiếc ghế mây có lưng tựa được kê gối, đệm, danh hoạ thường ngồi, mơ màng ngắm vườn hoặc vợ, hay xem ti vi lúc uống cà phê pha sữa Ensure. Bà cũng đích thân làm việc nhỏ nhất cho ông. Xưa cắt tóc tỉa râu cho bố (Nguyễn Tuân), thì sau này làm cho chồng. Lại thêm việc cắt móng, gội đầu, tắm, thay đồ. Cường độ lao động cao, bà vẫn mềm mỏng, ân cần. Mỗi chiều ông vẽ, bà đều chuẩn bị màu, giấy bút.

Người đầu tiên xem tranh ông là bà, từ khi họ chung sống. Chính bà bảo quản, lưu trữ, phân bố tác phẩm của chồng. Bà cho lắp máy hút ẩm, điều hoà nhiệt độ, camera ở tất cả các phòng tại nhà và bảo tàng. Tiền điện mỗi nơi luôn từ 4 triệu/tháng trở lên.

Hoạ phẩm ông dùng đều là hàng Pháp do bà Giang mua về. Danh hoạ ưa dùng màu mạnh, sử dụng nguyên bản. Ông điêu luyện vẽ nhưng "thơ ngây" với cuộc đời. Ví như cầm 100 USD ra đầu phố, gặp cô bánh mì, ông mua vài cái rồi... đi về, không lấy tiền trả lại.

Nguyễn Tư Nghiêm, bằng những gì tôi thấy, là người đàn ông yêu và được yêu. Ông đã có được điều quý giá như đại văn hào Victor Hugo quả quyết "Hạnh phúc lớn nhất trên đời là niềm tin vững chắc rằng chúng ta được yêu, được yêu vì chính bản thân ta, hay đúng hơn là bất chấp bản thân ta".

Bất chấp thời gian và thử thách, họ vẫn bên nhau. Nguyễn Tư Nghiêm có đùa là ông còn muốn vẽ tranh ngựa năm 2026.

Vi Thùy Linh



Chuyện chưa biết về tranh Việt chớm ngưỡng triệu đô

Chủ Nhật, 25/10/2015 06:34
Sau nhiều năm ròng rã đấu giá ở các sàn đấu giá lớn trên thế giới, nhà sưu tập Nguyễn Minh đã “hồi hương” thành công gần 30 bức tranh Việt của các họa sĩ Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu…

Ngày “châu về Hợp Phố” này cũng là ngày những người yêu hội họa nhìn lại những đóng góp của các họa sĩ sinh sống và lao động ở nước ngoài đồng thời tìm những hướng đi mới để mong mỏi “tranh Việt triệu đô” không còn là giấc mơ hoang.

Triển lãm Hội họa Việt Nam - Một diện mạo khác trưng bày các tác phẩm của nhà sưu tập Nguyễn Minh tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam vừa kết thúc với nhiều dư vị.

Nâng giá tranh Việt

Nhiều người băn khoăn Nguyễn Minh “hồi hương” tranh “vị thương mại” hay “vị nghệ thuật”. Câu trả lời là cả hai. Trao đổi với người viết, nhà sưu tập Nguyễn Minh chia sẻ:  Động cơ đầu tiên của việc “hồi hương” tranh phải là tình yêu. Nếu chỉ tính toán lời lãi thì không thể “liều” trong các phiên đấu giá.

Nguyễn Minh say mê tranh của các danh họa thuộc “thế hệ vàng” của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Đặc biệt là các danh họa Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm. Nên, khi tham gia đấu giá các bức tranh của các danh họa này, anh thường quyết liệt hơn bình thường. “Tất nhiên, tôi là nhà sưu tập nên tôi cũng có tính toán tới các yếu tố liên quan tới thương mại để cân đối thu chi” – anh nói.


Nhà sưu tập Nguyễn Minh

Thành quả của lòng say mê và khả năng tính toán ấy của Nguyễn Minh là 12 bức tranh của danh họa Lê Phổ, 9 bức tranh của danh họa Vũ Cao Đàm, 6 bức của họa sĩ Mai Trung Thứ và 1 bức tranh của họa sĩ Lê Thị Lựu có mặt trong triển lãm “Hội họa Việt Nam- Một diện mạo khác”.

Ngoài việc “hồi hương” tranh, nhà sưu tập Nguyễn Minh còn đóng góp cho hội họa Việt ở một góc độ khác: nâng giá tranh Việt trên các sàn đấu giá quốc tế. “Thời điểm tôi âm thầm hồi hương tranh, giá tranh Việt lúc đó không thật cao.

Ở góc độ thương mại, đó là điều thuận lợi cho tôi, song ở khía cạnh mỹ thuật nước nhà, đó là một điều thiệt thòi. Từ khi tôi đấu giá  thành công 4 bức tranh của danh họa Vũ Cao Đàm được báo Thể thao & Văn hóa đưa tin. Kế đó là hàng loạt tranh Lê Phổ “hồi hương” cũng được quý báo cập nhật, những người yêu tranh Việt tìm thêm được một “kênh” để đưa tranh về đất mẹ: đấu giá”.

Cũng theo nhà sưu tập Nguyễn Minh, trong các phiên đấu giá online tranh Việt của các sàn đấu giá nổi tiếng thế giới như  Sotheby’s (Hong Kong - Trung Quốc), Christie’s (Hong Kong - Trung Quốc), thời gian gần đây, những tài khoản “from Vietnam” trả giá ngày một nhiều.

“Cũng vì thế, giá tranh Việt ngày càng cao. Đặc biệt, “độ nóng” của tranh Việt còn được các nhà sưu tập thế giới chú ý. Cụ thể, ngày 22/11 /2014 bức tranh “Nhìn từ trên đỉnh đồi” của danh họa Lê Phổ đạt giá kỷ lục của tranh Việt: 840.000 USD. Bức tranh được sàn Christie’s bán ra đã vượt xa kỷ lục năm 2013 là bức “Người bán gạo” của Nguyễn Phan Chánh (đạt giá 340.000 USD). Cứ đà này, tranh Việt triệu đô không còn là giấc mơ xa xỉ”- Nhà sưu tập Nguyễn Minh chia sẻ.


Bức tranh “Mẹ và con” của danh họa Lê Phổ

Cần nhìn nhận lại đóng góp của các họa sĩ nước ngoài

Sự xuất hiện của các bức tranh quý ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sau nhiều thập kỷ lênh đênh ở các sàn đấu giá nước ngoài như một bước chuyển với việc nhìn nhận lại những đóng góp quý báu của các danh họa sinh sống và vẽ ở nước ngoài.

 “Các họa sĩ Lê Phổ, Lê Thị Lựu, Mai Trung Thứ, Vũ Cao Đàm… tuy sinh sống ở nước ngoài song các bức tranh của những danh họa này đều mang cảnh sắc Việt, hồn cốt Việt. Và, những đóng góp của các họa sĩ này trong việc quảng bá mỹ thuật Việt với giới hội họa quốc tế là rất lớn.”- Họa sĩ Lương Xuân Đoàn, PCT Hội Mỹ thuật Việt Nam chia sẻ.

“Tuy nhiên, cả bốn họa sĩ trên đều chưa được tưởng thưởng ở các giải thưởng hàng đầu quốc gia là Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh” - Ông Lương Xuân Đoàn nói tiếp- “Trước kia, nhiều ý kiến cho rằng, chúng ta thiếu tư liệu để đánh giá chân xác về tranh của các nghệ sĩ này. Nay, triển lãm “Hội họa Việt Nam- Một diện mạo khác” đã cung cấp tới những người làm chuyên môn những bức tranh gốc làm cơ sở để đánh giá và ghi nhận những sự đóng góp của các danh họa xa xứ.”

Còn theo nhà sưu tập Nguyễn Minh, cái “danh” của các họa sĩ Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Lê Phổ đã được cả thế giới ghi nhận. Bản thân tên tuổi và tác phẩm của các họa sĩ này từ lâu cũng được giới mỹ thuật coi là một phần không thể thiếu của diện mạo hội họa Việt. Nên, việc ghi nhận những đóng góp của các danh họa Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu ở thời điểm này đã là muộn. Song, muộn còn hơn không.

Phạm Mỹ
Thể thao & Văn hóa



Tranh Việt lập "kỷ lục" giá khởi điểm 90.000 USD

Thứ Hai, 29/06/2015 16:03
Tại phiên đấu có tên Nghệ thuật hiện đại và đương đại của nhà đấu giá Larasati sẽ diễn ra tại Singapore ngày 5/7/2015, Trong vườn (In The Garden) của danh họa Nguyễn Gia Trí, đạt giá khởi điểm "kỷ lục": 90.000 USD.

Đây là một tin tức vui vì nạn tranh giả, tranh gian tràn lan đã gần như “làm tê liệt” một bậc thầy về phố phường Hà Nội, khiến các nhà đấu giá dù mong muốn lên sàn, vẫn rất e ngại.


Tác phẩm Chèo của Bùi Xuân Phái tại phiên đấu giá

Phiên đấu này gồm 50 tác phẩm, phía Việt Nam có hai, đó là Chèo (Opera Player), sơn dầu trên bảng gỗ, 19 x 28 cm của Bùi Xuân Phái, với giá khởi điểm rẻ bất ngờ, từ 4.000 đến 5.000 USD. Rẻ vì với giá này thì “đỏ con mắt” cũng không tìm được tại thị trường nội địa, nhất là khi nhiều phòng tranh, nhiều nhà sưu tập, chủ sở hữu… cứ Bùi Xuân Phái (có cơ sở để khẳng định tranh thật) là “nổ vô tội vạ”, giá rất cao.

Tác phẩm thứ 2 là Trong vườn (In The Garden) của danh họa Nguyễn Gia Trí, sơn mài, 121,5 x 171 cm (3 tấm), với giá khởi điểm xếp quán quân là 70.000 đến 90.000 USD; xếp trước giá khởi điểm của danh họa Chen Wen Hsi khá đáng kể, bởi tác phẩm “á quân” Nine Gibbons At Play, mực màu trên giấy, 137 x 68 cm, có giá từ 51.800 đến 66.600 USD. Tác phẩm này từng sưu tập của Đức Minh, gần đây nhất là sưu tập tư nhân tại Singapore.


Quán quân về giá khởi điểm, bộ ba sơn mài Trong vườn của Nguyễn Gia Trí

Trở lại Bùi Xuân Phái, giá khởi điểm của ông thuộc dạng rẻ, vì nó xếp sau nhiều họa sĩ như Widayat, Gerard Pieter Adolfs, Arie Smit, Roland Strasser, Chusin Setiadikara, Dede Eri Supria, Mangu Putra, Chuah Thean Teng, Mochtar Apin, Johan Rudolf Bonnet, Richard Winkler, Anton Huang, Jeremias Elizalde Navarro…, mà nhiều người trong số này không nổi tiếng quốc tế, không có vị thế quan trọng trong nền hội họa quốc gia giống như ông.

VĂN BẢY




Tranh thật, tranh giả - Vàng thau lẫn lộn

Chuyên gia phân tích hai tranh giả mạo

Thứ Tư, 18/05/2016 12:02
Hãy nghe chuyên gia phân tích hai bức tranh lụa Thiếu nữ uống trà và Ra chơi bị gán ép cho hai danh họa Việt Nam là Vũ Cao Đàm và Mai Trung Thứ tại phiên đấu Nghệ thuật ấn tượng, hiện đại và đương đại của nhà Auction.fr ngày 12/5.
Việc thẩm định phẩm chất một bức tranh, hoặc nhận dạng tranh thật hay tranh giả, tất nhiên cần tới sự tiếp cận và xem xét trực tiếp.

Tuy nhiên, đó là với những trường hợp ở mức độ tinh vi, đáng ngờ, chứ những trường hợp quá lộ rõ nhược điểm, ta có thể nhận thấy bằng kinh nghiệm thẩm mỹ tương đối và sự nhạy bén vừa phải.

Bức thứ nhất: Jeunes femmes prenant le thé (Thiếu nữ uống trà)

Bức này sớm được nhà nghiên cứu nghệ thuật Ngô Kim Khôi (Pháp) phát hoảng và lập tức đưa lên trang Facebook của anh bạn bè biết sự thể. Anh hoài nghi nhà đấu giá có thể không có chuyên gia thẩm định hoặc chỉ cốt yếu vì lợi nhuận mà nhắm mắt đưa chân.

Nguyên bản của tác phẩm này từng xuất hiện tại triển lãm quy mô Du fleuve Rouge au Mékong: Visions du Viêt Nam (Từ Hồng Hà đến Cửu Long: Tầm nhìn Việt Nam) ở Bảo tàng Cernuschi, Pháp, khai mạc ngày 20/9/2012, kéo dài đến ngày 27/1/2013. Bức tranh gốc có kích thước 78 x 114 cm, trong khi bức đấu giá ngày 12/5 là 59 x 80 cm.


Theo nhiều phân tích cho thấy bức ở trên là “Thiếu nữ uống trà”, tranh nguyên bản của Vũ Cao Đàm, bức ở dưới là tranh giả, xuất hiện tại phiên đấu giá vào ngày 12/5 tại Paris, Pháp 

Bức tranh gốc vốn có phối cảnh hài hòa, với bốn cô quây quần bên nhau, ánh mắt và tâm lý của họ tập trung vào giây phút cô chủ nhà đang rót trà mời khách.

Trong bức tranh giả, nó bị biến đổi vụng về thành một bố cục lệch lạc giữa các nhân vật, phối cảnh xiên xiên và đổ dồn xuống góc trái, rất sai lệch.

Hậu quả của việc biến tướng này: thay vì 4 cô ngồi quây quần bốn góc như tất yếu trong buổi thưởng trà, thì một cô áo lục dời chỗ chen ngang vào giữa mấy cô kia như muốn giành ngồi sát cửa sổ. Trong khi cô áo vàng theo phối cảnh đáng lẽ ngồi cách xa nhất thì cánh tay lại với ra, hoặc khuỳnh ra xa tựa vào cửa sổ một cách không hợp lý.

Điều sơ hở nhất: trong khi cô chủ nhà áo đỏ bắt đầu rót trà vào 4 cái tách chưa kịp mời khách uống, thì cô áo lục đã ngang nhiên cầm sẵn tách trà từ hồi nào, bâng quơ nhìn ra ngoài cửa sổ! Phong cảnh đường làng ngoài ô cửa sổ và bụi trúc được vẽ rất chiếu lệ, so với bức nguyên bản ta có thể thấy độ đậm nhạt thủy mặc của núi đồi xa xa, của những màu mạ non và những đường mòn uốn lượn rất tinh tế.

So với sự tiết giản màu sắc của bức nguyên bản, bức tranh giả phung phí và quệt chủ yếu một loại bột màu (gouache) vừa đục vừa quá đậm, vừa dày và đặc kín bề mặt thớ lụa, đây là sự vi phạm bề mặt tranh lụa phương Đông với sự óng ả, thẩm thấu, có cấu trúc đan dệt của tơ sợi.

Màu sắc bức tranh giả thiếu hẳn những sắc độ tương phản cần thiết như ta thấy trong các mảng màu ở tranh nguyên bản, lưu ý màu áo mỗi nhân vật, mảng tường, màu sàn nhà.

Tất cả đều quá thô vụng và cứng ngắc, nhất là nếp nhăn tà áo của cô áo vàng, chứng tỏ người vẽ tranh giả không nắm vững được những biểu hiện đặc trưng của danh họa Vũ Cao Đàm, cũng như thiếu sót cơ bản về hội họa.


Bức tranh “La récréation” (Ra chơi) bị cho là làm giả tranh Mai Trung Thứ

Bức thứ hai: La récréation (Ra chơi)

Những ai quen xem tranh của Mai Trung Thứ với phong cách tao nhã và tinh tế với bảng màu đông Phương đặc biệt, sẽ không thể lầm lẫn được. Đặc biệt với đề tài sinh hoạt gia đình, phụ nữ và nhất là thế giới trẻ con, hẳn sẽ phải ngạc nhiên vì bức này quá thô sơ, giống như ở dạng một phác thảo, hoặc chép vội vàng kiểu tranh bờ hồ.

Giả sử nếu đây là phác thảo của Mai Trung Thứ thì cũng không thể thô thiển và đại khái như thế, vì danh họa này khó có thể vẽ thô vụng được như vậy, chưa nói ông sẽ không bao giờ dám ký tên và đóng trên lên một bức vẽ như thế.

Có thể nhận ra ngay đây chỉ là một bức sao chép lỏng lẻo và lắp ghép những mô-típ đã có trong các tranh điển hình của Mai Trung Thứ, chẳng hạn như cụm 3 cậu bé bên trái, cô bé đang khâu vá, mẹ dẫn con, cậu bé nằm đọc sách…

Thử nhìn các khuỷu tay và dáng người thì đã thấy sự ngây ngô, nếu vẽ như vậy thì chẳng thể thành họa sĩ thực thụ, chứ đừng nói danh họa nổi tiếng khắp thế giới. Còn nhìn màu sắc vừa nhợt nhạt vừa mơi mới, trông giống như vừa nhuộm cẩu thả gần đây. Việc giặt lụa và bồi tranh cũng rất rất cẩu thả, nham nhở.

Hà Vũ Trọng (nhà nghiên cứu)
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần








Tranh thật, tranh giả - Vàng thau lẫn lộn

Buồn trông tranh giả Việt Nam

Chủ Nhật, 15/05/2016 10:29
Ngày 12/5 tại Paris, Pháp, hai tranh bị nghi ngờ làm giả của danh họa Mai Trung Thứ (1906-1980) và Vũ Cao Đàm (1908-2000) lên phiên đấu Nghệ thuật ấn tượng, hiện đại và đương đại của nhà Auction.fr.

Đây là nhà đấu giá có tiếng tăm, với chi nhánh và văn phòng ở nhiều nơi, hiển nhiên đội ngũ thẩm định - cố vấn sẽ không ít, chắc chắn họ vẫn có tồn nghi với hai bức tranh kém phẩm chất này, nhưng tại sao vẫn đưa ra đấu giá là một câu hỏi khó.

Hai bức tranh đó là Jeunes femmes prenant le thé (Thiếu nữ uống trà, gouache và mực trên lụa, 59 x 80 cm, không rõ năm sáng tác) được gán cho Vũ Cao Đàm, và La récréation (Ra chơi, mực và bột màu trên lụa bồi, 36 x 24 cm, không rõ năm sáng tác), được gán cho Mai Trung Thứ.

Như Thể thao & Văn hóa (TTXVN) từng đề cập, nếu so với mặt bằng mỹ thuật hiện đại thời kỳ đầu trong khu vực Đông Nam Á, ít nước nào có được 2 bộ tứ, chứ đừng nói 3 bộ tứ như Việt Nam.

Các bộ tứ đó là Trí - Lân - Vân - Cẩn (tức: Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn), Nghiêm - Liên - Sáng - Phái (tức: Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái) và Phổ - Thứ - Lựu - Đàm (tức: Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Vũ Cao Đàm).


 Bức “Giáng sinh” bên trái của Lê Phổ có giá khởi điểm cao hơn 10 lần bức bên phải. Độc giả có thể tự cảm nhận xem bức nào là giả, bức nào là thật?

Riêng bộ tứ thứ 3 (Phổ - Thứ - Lựu – Đàm), trước 1945 họ sống tại Hà Nội, sau 1945 định cư tại Paris cho đến ngày qua đời.

Thế nhưng, cũng hiếm nước nào trong khu vực lại gặp đại nạn tranh giả - tranh nhái như Việt Nam. Nếu hai bức tranh giả vừa đề cập ở trên được bán thành công, thì đau đớn thay, gần 100% danh họa Việt Nam (khoảng 20 gương mặt) đã có tác phẩm bị làm giả, làm nhái.

Đây cũng là lý do chính khiến tác phẩm Việt chưa thể vượt ngưỡng 1 triệu USD tại các phiên đấu giá, dù lịch sử và phẩm chất nghệ thuật hoàn toàn đủ cho điều đó.

Vài trường hợp đặc biệt như Bùi Xuân Phái, vốn đã có tiếng tăm trên sàn đấu giá từ 30 năm qua, nhưng hiếm tác phẩm nào của ông vượt ngưỡng 100 ngàn USD. Các nhà phân tích quốc tế cũng lấy làm lạ về trường hợp này, khi mà những tên tuổi cùng đẳng cấp với ông trong khu vực đã có giá leo thang chóng mặt.

Lý do giả & nhái

Nếu nói vì kiếm tiền mà phổ biến nạn tranh giả - tranh nhái thì chẳng cần phải đề cập nữa, nó rõ như ban ngày rồi. Nguyên nhân sâu xa hơn là do thiếu thị trường nội địa để kiểm định và cọ xát công khai. Tình trạng mua bán chuyền tay một cách dấm dúi đã tràn lan khắp nơi, trong và ngoài nước đều có.

Tại nhà đấu giá, một tác phẩm đẹp của Bùi Xuân Phái khó đạt mức khởi điểm 30-40 ngàn USD, nhưng đến một phòng tranh, một nhà sưu tập nào đó thì giá này khó giao dịch được.

Bởi họ luôn cho rằng tác phẩm của mình có là tranh thật, trong khi nhà đấu giá công khai thì chưa chắc tin và khó chứng minh cho điều đó. Với trường hợp này, ông bà ta nói chí phải: “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”.

Cách đây gần 15 năm, nhà sưu tập Trần Hậu Tuấn chia sẻ trên báo: “Việc nhân bản, lặp lại chính mình, nhái theo người khác đang là hiện tượng phổ biến. Cũng là hiện tượng bình thường,  bởi vì, xét đến cùng, vẽ như thế nào vẫn nằm trong khả năng, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cá nhân nghệ sĩ. Dĩ nhiên, người ta có thể căn cứ vào đó để định vị họa sĩ trong thế giới nghệ thuật. Nhưng định vị xong là xong. Điều này không chạm đến phạm trù đạo đức. Với tư cách người sưu tập nghệ thuật, tôi không quan tâm đến những họa sĩ đó. Họ có thể đã và đang được các chủ phòng tranh đầu tư rất mạnh”.


Lời chia sẻ này nếu được phân tích cặn kẽ sẽ thấy được diện mạo chân thật của cái gọi là thị trường mỹ thuật Việt Nam (rất tạm bợ) lúc đó, và dường như, nó cũng đúng với hiện trạng bây giờ.

Do thiếu thị trường mỹ thuật nội địa (nơi người Việt phải mua bán, trao đổi, nghiên cứu, kiểm định… công khai về mỹ thuật Việt) nên thiếu các tổ chức thẩm định, định giá, đấu giá, bảo hiểm và cả ngân hàng.

Giả dụ chúng ta sở hữu hoặc mua một tác phẩm sơn mài của Nguyễn Gia Trí giá 2 tỷ đồng (nay tất cả sơn mài của ông đã là bảo vật quốc gia), nếu gặp biến cố về tài chính thì ngân hàng nào tại Việt Nam chịu cầm cố tác phẩm này với 30-50% giá đã mua?!

Vài nước trong khu vực, tác phẩm không chỉ dừng lại ở giá trị nghệ thuật và tinh thần, mà nó đã thật sự là tài sản có thể định giá, thế chấp, nên ngân hàng hoàn toàn có thể cầm cố, bảo chứng.

Những năm cuối của thập niên 1990, khi mỹ thuật Việt đang có sức hút trên thương trường quốc tế, nhà đấu giá danh tiếng Sotheby’s đã cử chuyên gia đến TP.HCM để tìm hiểu việc lập văn phòng tại đây. Nhưng sau một thời gian ngắn họ đã rút lui, chỉ vì Việt Nam còn thiếu nhiều cơ sở đời sống và pháp lý để mở một phiên đấu giá đúng bài bản. Thiếu các phiên đấu giá nội địa là thiếu công cụ hữu hiệu để làm giá, nâng giá.

Nội địa phải chịu trách nhiệm?

Trước đây, Thể thao & Văn hóa từng có một phân tích chi tiết về tình trạng “gậy ông đập lưng cháu ông”, theo nghĩa, cuối cùng thị trường nội địa (những nhà sưu tập, nhà giàu, người yêu tranh… trong nước) phải chịu trách nhiệm chính về nạn tranh giả - tranh nhái.

Trách nhiệm gián tiếp là khó làm giá, nâng giá cho những tác phẩm giá trị đích thực khác, do quốc tế đang mất niềm tin. Trách nhiệm trực tiếp, do là tình trạng dấm dúi và do các nhà đấu giá có sẵn tiếng tăm chủ động tạo động tác giả để “câu” nhiều người Việt nội địa mua tác phẩm kém chất lượng mang về nước.

Chưa đủ cơ sở để khẳng định nhà Auction.fr đang tạo môi trường giả, với giá khởi điểm thấp, để hai tác phẩm kém chất lượng có đường về Việt Nam. Thế nhưng trong quá khứ điều này đã nhiều lần xảy ra, ngay với các nhà đấu giá danh tiếng nhất, như trường hợp nhà sưu tập Hà Thúc Cần đã từng gặp phải.

Hay như 5-6 năm trước, một nữ diễn viên khá nổi tiếng của Việt Nam đã cùng chồng sắp cưới đến Hong Kong (Trung Quốc) mua tác phẩm được gán cho danh họa Lê Phổ với giá hơn 210 ngàn USD, mang về treo tại Thảo Điền (quận 2, TP.HCM). Nhiều người đến xem chỉ biết e ngại lắc đầu, nhưng chẳng biết nói gì, vì đường đi nước bước của nó có vẻ rõ ràng rồi, đã qua vài phiên đấu giá. Đây cũng là mặt trái của “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”.

Hay như mới đây, tại phiên đấu Nghệ thuật hiện đại và đương đại Đông Nam Á ngày 4/4/2016 của nhà Sotheby's ở Hong Kong, họa giới thất kinh với một tác phẩm được cho là của Lê Phổ. Trong đó với ghi chú và lời giới thiệu có cánh, riêng giá bán là khá rẻ, từ 16 đến gần 24 ngàn USD. Tác phẩm này có tên Nativité (Giáng sinh, gouache trên lụa, 44,5 x 29,5 cm, 1943).

Nguồn gốc được chú thích: mua lại từ một sĩ quan cao cấp của chế độ cũ tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Với lời nhận xét đại ý: Phần lớn nghệ sĩ Đông Nam Á thời kỳ đầu, khi giao lưu phương Tây, đều chịu ảnh hưởng bởi tính thẩm mỹ và các nguyên tắc thể hiện của nước ngoài.

Lê Phổ là một trong những nghệ sĩ có cách sáng tạo, thể hiện và phân tích riêng, chẳng hạn như các nguyên tắc tôn giáo và văn hóa châu Âu, dù cuốn hút ông, nhưng ông đã tìm thấy một tiếng nói mới, mang dấu ấn văn hóa và bối cảnh sống của xứ sở mình.

Tuy nhiên, nếu ai từng theo dõi thị trường thì sẽ thấy một tác phẩm Giáng sinh (mực và gouche trên lụa, 58 x 44 cm, 1941) khác của Lê Phổ đã từng xuất hiện tại nhà đấu giá Borobudur (Singapore) hồi 16/5/2010 với giá khởi điểm từ 214.286 đến 285.714 USD.

Sau đó, tại phiếu đấu ngày 30/5/2011 của nhà Christie’s (Hong Kong), tác phẩm có giá khởi điểm từ 192.300 - 256.400 USD. Vì sao 5-6 năm sau lại xuất hiện một Giáng sinh khác chỉ có giá khởi điểm chưa bằng 1/10 của hai phiên trước đây? Không cần trả lời thì chắc độc giả cũng hình dung được lý do.

còn tiếp

Văn Bảy
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần


Kỳ lạ làm giả tranh để trộm... tranh giả

Thứ Sáu, 24/07/2015 12:15
Xiao Yuan (57 tuổi), giám tuyển một phòng trưng bày tại Học viện Mỹ thuật Quảng Châu (Trung Quốc) vừa bị cáo buộc đánh cắp 143 bức tranh của các bậc thầy hội họa và thay bằng tranh giả tự vẽ. Tuy nhiên vụ việc còn có nhiều tình tiết kỳ lạ hơn thế.

Trong số các kiệt tác hội họa bị Xiao Yuan đánh cắp có nhiều bức tranh phong cảnh và thư họa của các nghệ sĩ nổi tiếng nhất Trung Quốc, trong đó có bức Những tảng đá và những con chim của Bát Đại Sơn Nhân (1626-1705), ước tính trị giá khoảng 45 triệu NDT (7,3 triệu USD).

Trộm tranh để mua tranh

Tại Tòa án Nhân dân Quảng Châu, Xiao Yuan biện hộ rằng hành vi trộm cắp và vẽ tranh giả của ông Xiao xuất phát từ thực tế việc vẽ tranh giả và trộm tranh này đã có từ trước tại phòng trưng bày và nó vẫn diễn ra ngay cả sau khi tranh thật đã bị đánh tráo.

Xiao cho biết ông ta phát hiện nhiều bức tranh giả của mình bị thay thế bằng những bức tranh khác vẽ vô cùng cẩu thả. “Tôi nhận ra ai đó đã thay tranh của tôi bằng tranh của họ, vì tôi thấy những bức vẽ của họ rất xấu” – Xiao nói.

Tại tòa, Xiao nhận tội, xin lỗi Học viện Mỹ thuật Quảng Châu, các đồng nghiệp và gia đình, đồng thời cảm thấy rất ân hận về hành vi tội ác của mình. Xiao cho biết, ông ta chấm dứt hành vi đánh cắp tranh khi chúng được chuyển tới một phòng trưng bày khác.


Trong số hơn 140 bức tranh bị Xiao Yuan đánh cắp, có tranh của các bậc thầy Trung Quốc Bát Đại Sơn Nhân và Tề Bạch Thạch

Xiao khai rằng, từ năm 2004 đến năm 2011, ông ta đã bán 125 bức tranh lấy cắp được. với giá hơn 34 triệu NDT (5,4 triệu USD) cho chi nhánh của hãng đấu giá China Guardian. Đây là một trong những hãng đấu giá hàng đầu Trung Quốc, tại Quảng Châu. Xiao đã sử dụng số tiền đó để mua bất động sản và nhiều bức tranh khác.

18 bức tranh bị đánh cắp còn lại hiện nằm trong bộ sưu tập của Xiao, ước tính trị giá hơn 70 triệu NDT (12 triệu USD). Những tác phẩm này chưa bán được bởi hãng đấu giá coi chúng là hàng “rởm”.

Xiao bắt đầu làm việc tại thư viện của Học viện Mỹ thuật Quảng Châu từ năm 2003. Lúc đó, ông ta được thuê số hóa bộ sưu tập tranh và thư họa của phòng trưng bày tranh thuộc Học viện. Khi lên làm trưởng phòng thư viện, Xiao đã bí mật đánh riêng một bộ chìa khóa để có thể vào phòng trưng bày trong dịp cuối tuần.

Qua đó, Xiao có thể lấy được các bức tranh thật và thay vào đó tranh giả mà không ai biết. Tuy nhiên “cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra”, hành vi của Xiao đã bị phát giác khi một cựu sinh viên của Học viện nhận ra các dấu hiệu của trường trên các tác phẩm nghệ thuật đang được bán ở Hong Kong. Xiao đã bị bắt hồi tháng 5/2014.

Các bức tranh khác bị Xiao đánh cắp còn gồm tác phẩm của Tề Bạch Thạch - họa sĩ có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ 20, nổi tiếng với những bức tranh màu nước mô tả thiên nhiên. Ngoài ra còn phải kể tới tác phẩm của Trương Đại Thiên (1899-1983), người nổi tiếng với các bức tranh phong cảnh. Trương Đại Thiên từng coi mình là một bậc thầy chép tranh và vẽ theo phong cách của nhiều bậc tiền bối trứ danh, gồm có Bát Đại Sơn Nhân.

“Truyền thống” làm giả

Vụ việc của Xiao một lần nữa nhắc nhở người ta về hoạt động làm giả tác phẩm nghệ thuật ở Trung Quốc, vốn không phải chuyện hiếm.

Vài năm trở lại đây, Trung Quốc đã phanh phui rất nhiều vụ trưng bày tác phẩm nghệ thuật rởm.  Cụ thể, hồi năm 2013, Bảo tàng Jibaozhai với chi phí xây dựng 60 triệu NDT (9,9 triệu USD) ở tỉnh Hà Bắc, đã buộc phải đóng cửa sau khi bộ sưu tập trong bảo tàng này, gồm khoảng 40.000 cổ vật, bị phát hiện hầu hết là đồ giả.

Năm ngoái, Pei Shen Qian, họa sĩ người Mỹ gốc Hoa 75 tuổi, bị cáo buộc làm giả các tác phẩm của nghệ sĩ Mỹ Jackson Pollock và Mark Rothko. Đây được xem là một trong những bê bối nghệ thuật lớn nhất trong lịch sử Mỹ.

Qian đã “chế” hàng chục bức tranh rởm và 2 nhà buôn Tây Ban Nha đã bán chúng cho các phòng trưng bày danh tiếng, với giá hàng chục triệu USD. Trước khi phải hầu tòa, Qian đã trốn về Trung Quốc, ẩn náu ở đây do Mỹ và Trung Quốc không ký kết hiệp ước dẫn độ.

Năm 2014, Bảo tàng Lucheng ở tỉnh Liêu Ninh, Đông Bắc Trung Quốc, đã phải đóng cửa sau khi gần 1/3 trong số 8.000 hiện vật trưng bày bị phát hiện là đồ rởm. Hồi năm 2013, một bảo tàng ở tỉnh Hà Nam bị phát hiện trưng bày rất nhiều đồ giả, trong đó có một chiếc bình được trang trí bằng nhiều nhân vật hoạt hình hiện đại, song lại được mô tả là cổ vật có niên đại từ đời Thanh?!

Việt Lâm (tổng hợp)
Thể thao & Văn hóa







“Xuân”- cuộc hội ngộ của 4 họa sỹ tên tuổi

Chiều ngày 14/3 tại Trung tâm giao lưu văn hóa phố cổ Hà Nội (số 50,Đào Duy Từ, Hà Nội) sẽ diễn ra lễ khai mạc triển lãm mang tên “Xuân”.

Triển lãm giới thiệu 40 bức tranh của 4 họa sĩ Phan Thị Thanh Mai, Đặng Đình Ngỡ, Bùi Trọng Dư và Vũ Tuyên với sự phong phú về nội dung và chất liệu sáng tác.

Đại diện BTC cho biết, các tác phẩm đều dựa trên tiêu chí chung là đóng góp công sức lao động sáng tạo vào nền nghệ thuật nước nhà và đem đến cho công chúng yêu nghệ thuật những giá trị mới về văn hóa thẩm mỹ nghệ thuật.

Mỗi tác giả là một phong cách thể hiện, một bút pháp sáng tạo riêng biệt để biểu hiện ý tưởng độc lập của mình. Người thì dịu dàng,tinh tế với gam mầu nhẹ nhàng,tình cảm; người lại đắm say cuồng nhiệt đến si mê trước cung bậc của sắc mầu; cũng có người lại ưa sự dung dị với những mảng,nét cô đọng gợi cho người xem một không gian ước lệ mơ hồ…

Nhưng dù vẽ theo phong cách nào, hiện thực, hiện đại hay biểu hiện, dù bút pháp mạnh mẽ hay nhẹ nhàng đều để lại những ấn tượng tốt đẹp cho người thưởng thức. Bởi đề tài của họ đều bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống xã hội, phong cảnh của Việt Nam.

Là một trong những họa sĩ có tác phẩm triển lãm, họa sỹ Bùi Trọng Dư cho biết: “Những giai điệu và chất nhạc của ca trù là nguồn cảm hứng trong tranh. Ở ca trù, tôi cảm được sự sâu sắc về văn hóa, tôi tìm thấy sự đồng điệu với người chơi đàn. Tranh tôi thể hiện bằng chất liệu sơn mài, vì đây là chất liệu đặc biệt, phù hợp với kỹ thuật vẽ để tôi thể hiện hết những ý tưởng của mình”.

Còn họa sỹ Vũ Tuyên, người vốn được biết đến với rất nhiều triển lãm thành công về Sen như: Triển lãm cá nhân “Nhân duyên”, “Vô thường”, “Buông”, “Thiền”… “Đối với tôi hai năm nay là một dòng chảy với sen về nghệ thuật. Cứ vẽ như chúng ta đang hát, múa, chúng ta ăn và được vẽ là cuộc sống. Tôi mong rằng tranh của mình có thể làm được một điều gì đó tốt hơn cho cuộc đời, cho ai đó”, anh chia sẻ.

Triển lãm diễn ra từ nay đến hết ngày 26/3/2016.

Một số tác phẩm trưng bày trong triển lãm:

“Sen thiền”, tranh sơn dầu, Vũ Tuyên
“Sen thiền”, tranh sơn dầu, Vũ Tuyên
“Lời ru mặt trời”, tranh sơn dầu, Vũ Tuyên
“Lời ru mặt trời”, tranh sơn dầu, Vũ Tuyên
“Ao quê”, tranh sơn dầu, Đặng Đình Ngỡ
“Ao quê”, tranh sơn dầu, Đặng Đình Ngỡ
“Làng tôi”, tranh sơn dầu, Đặng Đình Ngỡ
“Làng tôi”, tranh sơn dầu, Đặng Đình Ngỡ
“Trò chuyện”, tranh sơn mài, Bùi Trọng Dư
“Trò chuyện”, tranh sơn mài, Bùi Trọng Dư
“Sen hồng’, tranh sơn mài, Bùi Trọng Dư
“Sen hồng’, tranh sơn mài, Bùi Trọng Dư
“Chiều Đà Lạt”, tranh sơn dầu, Phan Thanh Mai
“Chiều Đà Lạt”, tranh sơn dầu, Phan Thanh Mai
Rực rỡ mùa xuân, tranh sơn Dầu, Phan Thanh Mai
"Rực rỡ mùa xuân", tranh sơn Dầu, Phan Thanh Mai

Quỳnh Nguyên




Họa sĩ Việt - Nga 'bắt tay' triển lãm hơn 80 tác phẩm



Triển lãm Mỹ thuật "Handshake" quy tụ hơn 80 tác phẩm của 16 họa sĩ, trong đó có sáu tác giả người Nga.

Chiều 3/3, sự kiện công bố Triển lãm Mỹ thuật Việt - Nga Handshake (Bắt tay) lần thứ năm được tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM. Năm nay, ban tổ chức mời họa sĩ từ các tỉnh Nam Trung bộ, Tây Nguyên, TP HCM và các họa sĩ Nga ở thành phố Magadan, Khabarovsk, Vladivostok cùng tham gia.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm

Bức "Thiếu nữ đội nón Việt Nam" của họa sĩ Gorbachev.  Ảnh: M.N.

Đây là hoạt động giao lưu hàng năm giữa họa sĩ hai nước, khởi xướng bởi Phó giáo sư, tiến sĩ Olga Zotova - khoa Báo chí và Xuất bản, Đại học Far Eastern Federal ở Nga và họa sĩ Bùi Văn Quang - chi hội trưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam ở Khánh Hòa.

Theo họa sĩ Bùi Văn Quang, đây là đợt triển lãm có lượng tác giả tham gia đông nhất. Ông Quang cho biết đề tài của họa sĩ Nga trong triển lãm lần này chủ yếu là tranh phong cảnh, theo phong cách chủ nghĩa hiện thực. Những tên tuổi tham dự đều có nhiều tác phẩm tốt và đã thành danh.

Các họa sĩ đã giao lưu, trao đổi về văn hóa nghệ thuật của hai quốc gia bằng những buổi vẽ ngoài trời tại các làng chài, vùng đảo nhỏ của hai thành phố biển Nha Trang và Vladivostok. Họ được giới thiệu món ăn truyền thống, chương trình ca nhạc vùng quê và một số phong tục tập quán ở địa phương. 

Các họa sĩ và giáo sư Việt - Nga chụp ảnh thân mật tại buổi công bố triển lãm.

Các họa sĩ và giáo sư Việt - Nga chụp ảnh tại buổi công bố triển lãm. Ảnh: M.N.

Tổng lãnh sự quán Liên bang Nga - ông Alexey V Popov - sẽ tổ chức một buổi giới thiệu về triển lãm và gặp mặt các họa sĩ ở nhà riêng của ông. Triển lãm cũng được sự hỗ trợ của hội cựu du học sinh Việt tại Nga MGIMO.

Triển lãm diễn ra tại Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM (số 97 Phó Đức Chính, quận 1) từ ngày 4-12/3.

Họa sĩ Việt - Nga 'bắt tay' triển lãm hơn 80 tác phẩm

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2

Bức "Men rừng" (tranh sơn mài) của họa sĩ Hồ Thị Xuân Thu.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2-1

Bức "Tuyết đầu mùa" của họa sĩ Kuzmimykh.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2-2

Bức "Thần thời gian" của họa sĩ Nguyễn Thượng Hỷ.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2-3

Bức "Chân dung" (tranh sơn dầu) của họa sĩ Lê Hùng.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2-4

Bức "Sen" (tranh sơn dầu) của họa sĩ Trần Quyết Thắng.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2-5

Bức "Cá" của họa sĩ Butusov.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2-6

Bức "Mùa tam giác mạch" của họa sĩ Nguyễn Hữu Bài.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2-7

Bức "Tunguska" (Nước lớn) của họa sĩ Khrutov.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2-8

Bức "Cậu bé bán dạo" của họa sĩ Bùi Văn Quang.

hoa-si-viet-nga-bat-tay-trien-lam-hon-80-tac-phm-page-2-9

Bức "Lời ru trên đá" của họa sĩ Nguyễn Trọng Dũng.

Bức

Bức "Rừng U Minh" của họa sĩ Hồ Minh Quân.

Mai Nhật


Vẻ đẹp thiếu nữ Việt xưa trong các bức họa nổi tiếng

Dưới nét cọ của nhiều danh họa, phụ nữ Việt đầu thế kỷ 20 mang vẻ đẹp kín đáo, thanh lịch, tao nhã.
ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng

"Thiếu nữ bên hoa huệ" là bức tranh đi liền với tên tuổi danh họa Tô Ngọc Vân. Đây cũng là tác phẩm tiêu biểu của mỹ thuật Việt Nam. Tranh thể hiện chân dung thiếu nữ mặc áo dài trắng nghiêng mình về phía bình huệ tây trắng (hoa loa kèn). Hình dáng cô gái cùng không gian toát lên nét dung dị, buồn vương nhẹ nhàng. Bên cạnh giá trị nghệ thuật, tranh thể hiện thú chơi hoa loa kèn tao nhã của người Hà Nội. 

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-1

Tranh "Hai thiếu nữ và em bé" của Tô Ngọc Vân được hoàn thành năm 1944. Tác phẩm vẽ một không gian thanh bình, hai phụ nữ mặc áo dài hàn huyên bên hiên nhà. Bên cạnh họ là bé trai ngồi chơi. Tranh có bố cục của hội họa phương Tây nhưng không gian và trang phục nhân vật nữ gợi không khí Việt Nam đầu thế kỷ 20. Tác phẩm có chất liệu sơn dầu trên toan, được xếp vào hạng bảo vật quốc gia. 

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-2

"Thiếu nữ bên sen" được họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ năm 1944. Người mẫu cho bức tranh là cô Sáu - một người làm mẫu tranh nổi tiếng tại Hà Nội những năm 1940. Cô từng xuất hiện trong tranh nhiều họa sĩ nổi tiếng như: Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Lương Xuân Nhị.

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-3

Bức "Thiếu nữ bên hoa cúc trắng" của Dương Bích Liên họa vẻ đẹp cô gái với đôi mắt mở to, trong sáng. Họa sĩ đã khắc họa chiều sâu nội tâm nhân vật qua đôi mắt. Những bông cúc trắng và không gian làm toát lên vẻ đẹp dịu nhẹ, kín đáo của người đẹp trong tranh.

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-4

Tranh lụa "Thiếu nữ dâng trà" của Lê Phổ vẽ cô gái trong tà áo dài, tái hiện giai đoạn lịch sử Việt Nam những năm 1930 - 1945. Thiếu phụ trẻ đẹp đang thể hiện cách pha trà tinh tế. Nàng ngồi với dáng vẻ an nhàn, thanh nhã, tay cầm bình trà rót cẩn thận vào từng tách cho bằng nhau. Năm 2013, bức tranh được nhà bán đấu giá nghệ thuật Sotheby's mang đấu giá với mức 1,1 - 1,6 triệu HKD (khoảng 3,1 - 4,5 tỷ đồng).

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-5

"Thiếu nữ bên hoa phù dung" là tranh sơn mài hoàn thành năm 1944 của Nguyễn Gia Trí. Tác phẩm thể hiện vẻ đẹp thiếu nữ như hiện thân của khát vọng tự do, mộng mơ. Tác giả dùng chất liệu của sơn mài truyền thống như then, son, vàng quỳ, bạc quỳ cùng vỏ trứng tạo nên những sắc vàng óng ánh, đen thăm thẳm chảy tràn trên tranh.

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-6

Tranh "Đôi bạn" của Nguyễn Tường Lân. 

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-7

"Hai thiếu nữ trước bình phong" (1944) là tranh lụa nổi tiếng của Trần Văn Cẩn. Tác phẩm họa vẻ đẹp của thiếu nữ quyền quý ở Hà Nội đầu thế kỷ 20.

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-8

Sơn mài "Hai thiếu nữ đi trên đồng lúa" của Nguyễn Tiến Chung hoàn thành năm 1943. Tác phẩm vẽ thiếu nữ với tà áo dài bay trên cánh đồng, thể hiện niềm vui, lạc quan, yêu đời.

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-9

Bức "Chuyện trò" là một tác phẩm nổi bật của Mai Trung Thứ. 

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-10

"Người phụ nữ nhìn qua ban công" - tác phẩm của Mai Trung Thứ vẽ năm 1940, từng được bán đấu giá với mức 600.000 HKD (hơn 1,7 tỷ đồng)

ve-dep-thieu-nu-viet-xua-trong-cac-buc-hoa-noi-tieng-11

Bức họa sơn dầu "Thiếu nữ đọc sách" của Trần Văn Cẩn.

Lam Thu


Tư liệu lịch sử trong các bức ký họa của Tô Ngọc Vân

Gần 400 ký họa được tập hợp, nghiên cứu và phân tích trong cuốn sách "Tô Ngọc Vân, tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906 - 1954".

Tira Vanictheeramont là một nhà sưu tầm tranh người Thái. Chính tranh của Tô Ngọc Vân đã khiến Tira nung nấu ý định sưu tầm tranh Việt Nam. Ông kể: "Tôi từng xuất bản cuốn Những tác phẩm quan trọng và vô giá của hội họa Việt Nam hiện đại, trong sách có giới thiệu 3 tác phẩm của Tô Ngọc Vân từ sưu tập của họa sĩ Phan Kế An. Khi tôi hỏi mua thì ông Phan Kế An trả lời: 'Cả ba bức tranh đó đều là bảo vật quốc gia, không tìm thấy ở nơi nào'. Từ đó tôi nung nấu ý định sở hữu được bất cứ tác phẩm nào của Tô Ngọc Vân". 

Phải đến cuối năm 2012 ông Tira mới được biết đến những ký họa của Tô Ngọc Vân và mất gần 4 tháng thương thảo và thuyết phục ông Tô Ngọc Thành (con trai họa sĩ Tô Ngọc Vân) để sở hữu các tác phẩm đó, với cam kết sẽ bảo tồn và giới thiệu tới các thế hệ mai sau. 

2-9130-1386389354.jpg

Sách về các ký họa của Tô Ngọc Vân.

Nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng được ông Tira nhờ thực hiện một cuốn sách về các bức ký của danh họa Việt Nam. Được tiếp xúc với khối tác phẩm quý đó, Phan Cẩm Thượng bị lôi cuốn vào những bức tranh nhỏ vẽ bằng bút sắt và bút chì. Ông bắt tay vào thực hiện một cuốn sách về các ký họa này, và mất một năm để cho ra đời Tô Ngọc Vân, tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam 1906 - 1954.

Cuốn sách tập hợp các bức ký họa của Tô Ngọc Vân, kèm theo mỗi câu chuyện là những thông tin quý giá. Với sự giúp sức thu thập tư liệu của Phan Tường Linh và Nguyễn Hoàng Yến, nhà phê bình Phan Cẩm Thượng đã phân tích kỹ các bức ký họa của Tô Ngọc Vân. Đằng sau mỗi bức vẽ không chỉ là nét vẽ, là phong cách nghệ thuật, mà còn là những câu chuyện lịch sử. Nhà phê bình Phan Cẩm Thượng chia sẻ về quá trình làm sách: "Khi bắt tay vào công việc, trước tiên tôi nghiên cứu kỹ 380 bức tranh trong bộ sưu tập, cùng với các tài liệu, ghi chép, thư từ của Tô Ngọc Vân để lại. Tiếp xúc với các tư liệu đó, tôi thấy phải mất 10 năm để nghiên cứu kỹ càng để sau này không phải ân hận. Nhưng tôi chỉ có một năm, vì thế, cái gì đã được, cái gì còn chưa xong thì tôi cứ để tồn nghi ở đấy". 

Các bức tranh được xuất hiện trong sách theo trình tự thời gian ra đời. Lật giở các trang sách có thể thấy được từng bước chân nghệ thuật của Tô Ngọc Vân. Trong cuốn sách có cả những bức tranh vẽ ở buổi đầu đến với hội họa, khi Tô Ngọc Vân còn là sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, những ký họa về các cô người mẫu, phụ nữ thị thành cũng xuất hiện. Rồi theo bước chân Tô Ngọc Vân - cũng là bước chân của các văn nghệ sĩ kháng chiến, các bức ký họa được ra đời, chia theo các thời kỳ: Sơ tán ở Sơn Tây, Chạy tản cư, Trước chiến dịch Điện Biên Phủ, Tù binh Pháp, Cải cách ruộng đất ở Thái Nguyên...

1-7633-1386389312.jpg

Họa sĩ Tô Ngọc Vân thời trẻ.

Là người nghiên cứu kỹ các ký họa của Tô Ngọc Vân, ông Phan Cẩm Thượng nhận định: 'Trong rất nhiều văn nghệ sĩ đi kháng chiến, thì người phản ánh được rõ số phận của dân tộc lại là một họa sĩ, và phản ánh một cách toàn diện, cho đến chi tiết nhất về xã hội, cảnh vật, thời sự và con người trong cuộc kháng chiến chống Pháp... Tiếc là ông Tô Ngọc Vân không sống dài hơn, để xây dựng những bức tranh ấy thành những tác phẩm về cuộc kháng chiến của dân tộc. Sự trưởng thành của một người nghệ sĩ đối với dân tộc mình không cần quá nhiều phương tiện, cái chính là suy nghĩ về dân tộc như thế nào, sự gắn bó với dân tộc ra sao".

Giáo sư Nora A.Taylor từ Học viện Nghệ thuật Chicago, Mỹ nhận định về nghệ thuật trong những bức ký họa của Tô Ngọc Vân: "Là một nghệ sĩ tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương, Tô Ngọc Vân luôn khuyến khích các đồng nghiệp sử dụng kỹ năng để làm nên cuộc cách tân thị giác trong nước. Các bức ký họa của Tô Ngọc Vân cho thấy khía cạnh con người trong cuộc cách tân đó. Những đường nét tao nhã, tinh tế nhưng không quá bóng bẩy. Phong cách hội họa của ông tạo ra chuẩn mực màu sắc cho các thế hệ sau noi theo".

Bà Nora cũng đánh giá cao về công trình nghiên cứu của Phan Cẩm Thượng, bà cho rằng đây là một biên soạn đóng góp nhiều thông tin giá trị, và góp phần khẳng định vị trí của Tô Ngọc Vân trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.

Hiền Đỗ


'Ấn tượng Sapa' qua nét vẽ con trai Tô Ngọc Vân

Tô Ngọc Thành, con trai cố danh họa Tô Ngọc Vân, giới thiệu đến công chúng TP HCM 34 bức sơn dầu miêu tả phong cảnh Sapa. Phảng phất trong tranh ông là tình yêu đặc biệt dành cho thiên nhiên, con người phố núi.

Họa sĩ Tô Ngọc Thành sinh năm 1940 tại Hà Nội. Năm 1946, ông theo gia đình tản cư, và sau đó cùng trường Cao đẳng mỹ thuật chuyển về chiến khu Việt Bắc. Cố danh họa Tô Ngọc Vân, cha ông, là hiệu trưởng đầu tiên của trường này.

"Thiếu nữ Hmong" - tranh Tô Ngọc Thành.

Tô Ngọc Thành bắt đầu vẽ từ năm 4 tuổi. Suốt tuổi thơ sống ở miền núi, tâm hồn ông đắm chìm trong không gian bao la của đại ngàn, cũng như trong lối sống gần gũi với thiên nhiên, bình dị của người dân nơi đây. Những tình cảm này tự nhiên đi vào sáng tác hội họa của ông. Ông từng tâm sự, ngày bé, ông không chỉ được cha là họa sĩ Tô Ngọc Vân mà còn được các danh họa Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái... dẫn đi rong ruổi khắp nơi để thưởng ngoạn cảnh đẹp đất nước. Chính điều này khiến tranh của ông luôn đậm hồn cốt con người, cảnh vật quê hương.

Trở về Hà Nội từ 1954, họa sĩ vẫn luôn tìm cơ hội trở lại miền Tây Bắc thuở nào để tìm cảm hứng sáng tác. Tô Ngọc Thành luôn chủ trương phải vẽ tại chỗ, không thể vẽ Sapa khi đang ngồi ở Hà Nội. Chính vì thế, những năm sau này, thời gian ông ở Sapa còn nhiều hơn ở thủ đô.

Sau những chuyến đi, số tranh vẽ về Sapa của Tô Ngọc Thành lại ngày càng nhiều. Màu xanh cây cỏ, núi rừng, màu nâu đỏ đất bazan, cùng nhiều màu sắc sinh động của sinh hoạt người miền cao được thể hiện trong tranh ông chân thật và giản dị.

"Xin Chải" - tranh Tô Ngọc Thành.

Từ năm 1982 đến nay, Tô Ngọc Thành tham gia nhiều triển lãm chung, riêng trong nước và các nước trên thế giới như: CH Czech, Mỹ, Pháp, Nhật, Bungary, Đức... Ông từng đoạt nhiều giải thưởng, như: giải nhất họa sĩ phim hoạt hình 1980, giải đặc biệt của báo chí Liên Xô tại Moscow, Giải thưởng bìa sách và minh họa đẹp cho thiếu nhi 1982-1983, giải nhất đồ họa toàn quốcc (1975-1985), giải nhất biểu trưng xóa đói giảm nghèo 1995...

Ông có tranh được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật châu Á - Thái Bình Dương (Ba Lan) và các bộ sưu tập tư nhân ở nhiều nước trên thế giới.

Triển lãm "Ấn tượng Sapa" của ông diễn ra từ ngày 10 đến ngày 28/9 tại Gallery Tự Do, số 53 Hồ Tùng Mậu, quận 1, TP HCM.


Sapa mộng mơ qua nét cọ Tô Ngọc Thành

"5 cô gái Hmong".

Tranh phong cảnh.

Tranh phong cảnh.

"Tà Phìn".

"Đường về phố núi".

"Đường về Tả Vạn".

"Mai Châu".

"White Rocks".

Thất Sơn


Họa sĩ Phùng Dzi Thuần và nghệ thuật tranh sơn ta

Cập kề tuổi tám mươi nhưng họa sĩ gốc Hà Nội Phùng Dzi Thuần vẫn say sưa với chất nhựa sơn ta - chất nhựa đã tạo nên nghệ thuật tranh sơn mài.

Phùng Dzi Thuần từ tuổi học trò đã ham mê vẽ. Khi học trường Quốc Gia Mỹ Nghệ, ông được thụ giáo các GS họa sĩ Phạm Hậu, Trần Quang Trân, nghệ nhân Đinh Văn Thành - những người thuộc thế hệ vàng trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Anh sinh viên Phùng Dzi Thuần bén duyên với nghệ thuật sơn mài truyền thống từ đó. Con đường đến với nghệ thuật của họa sĩ gặp nhiều khó khăn khi bị chất nhựa cây sơn đáng sợ này hành hạ. Đó là vấn nạn lở sơn cứ lặp đi lặp lại khiến ông có lúc toan bỏ học. Tuy nhiên, với động viên, hỗ trợ của thầy và gia đình, ông đã vượt qua và ngày càng ham mê với chất liệu độc đáo nhưng cũng hết sức "khó tính" này.

Năm 1955, ông thi đậu vào học trường Mỹ Thuật Việt Nam (khóa Tô Ngọc Vân). Thấm thoát đã hơn nửa thế kỷ, ông giờ là hội viên hội VHNT Hà Nội, hội viên hội Mỹ Thuật VN. Phùng Dzi Thuần vẫn miệt mài tìm tòi, thay đổi cách thể hiện và đã gặt hái những thành công, được nhiều đồng nghiệp biết đến. Có dịp gặp và trò chuyện, họa sĩ đã bày tỏ nỗi niềm trăn trở: “Sơn mài - sơn ta truyền thống - là vốn tinh hoa của dân tộc nhưng bây giờ thời kinh tế thị trường, nhịp sống gấp gáp, chúng ta đang dần đánh mất nó”. Theo ông, nhiều họa sĩ giờ đây sử dụng sơn công nghiệp thay sơn ta vì vừa rẻ vừa dễ làm. Trong khi đó, một nghịch lý là những người nước ngoài lại muốn tìm hiểu, học hỏi sơn ta.

MG-0231-jpg-1365071432_500x0.jpg
Họa sĩ Phùng Dzi Thuần có nhiều năm gắn bó với nghệ thuật tranh sơn ta.

Họa sĩ Phùng Dzi Thuần cho biết nghề sơn của người Việt có lịch sử lâu đời. Qua sử sách và tương truyền, từ thời Lê trong cuốn “Bình vọng Trần thị gia phả” đã nói về ông Tổ nghề sơn. Hiện nay, tại làng Bình Vọng thuộc huyện Thường Tín (Hà Tây) người ta còn thấy đền thờ của ông và tương truyền các học trò của ông đã tản đi khắp nơi trên đất nước, tạo nên những phường thợ riêng. Mỗi phường thợ lại sáng tạo, phát triển ra nhiều kỹ thuật độc đáo và giữ thành bí quyết riêng. Ví dụ “Sơn Then Đình Bảng”; “Đồ nét và cuống ghép nứa Cát Đằng” ; “Hàng tráp quả chợ Bằng (Hà Đông)”; “Hàng chúng khảo chợ Dầu (Nam Định); “Đồ khảm làng Chuôn, làng Tre (Bối Khê, Phú Xuyên, Hà Tây); nghề dát vàng bạc Kiêu Kỵ (Gia Lâm); bột son thần Hàng Gai, Hà Nội.

Nguyên liệu chính của nghề sơn chính là sơn ta (tiếng trong giới chuyên môn thường gọi để phân biệt với nhiều loại sơn khác). Sơn ta được lấy từ nhựa cây sơn trồng chủ yếu ở vùng Trung du Bắc Bộ (Yên Bái, Phú Thọ và Nghĩa Lộ). Cây sơn có rất nhiều giống, được trồng ở nhiều địa bàn trong vùng Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Campuchia, Lào, Thái Lan… Tuy nhiên, theo đánh giá của chuyên gia nước ngoài, giống cây sơn của Việt Nam là loại cho nhựa có chất lượng cao nhất.

Nhựa cây sơn ta có màu trắng ngà như sữa, là một chất lỏng quánh, có mùi chua nhẹ. Sơn ta có độ dính cao, làm keo gắn rất chắc. Sơn khô rồi rất bền, không thấm nước, không bị mối mọt, chịu được axit và nước biển, chịu nóng cao. Sơn ta tuy cứng nhưng lại có độ dẻo, đàn hồi hòa hợp với cốt gỗ. Khi bị tác động vẫn bám chắc, không bong tróc rạn vỡ. Mặt sơn dễ mài phẳng, có độ trong bóng cao khiến nó tôn màu sắc trở nên rực rỡ, sâu thẳm và bền màu. Đấy chính là những ưu việt của sơn ta. Cùng với nghề sơn truyền thống nó đã tô điểm cho cuộc sống bằng những tác phẩm phù điêu, điêu khắc, đồ chạm, sơn son thiếp vàng ở những nơi trang nghiêm như cung điện, đền đài, chùa, miếu… cho đến những vật dụng hàng ngày như hộp, tráp, cơi trầu, bàn ghế, tủ…

Bức tranh sơn mài phong cảnh của họa sĩ Phùng Dzi Thuần.
Bức tranh sơn mài phong cảnh của họa sĩ Phùng Dzi Thuần.

Năm 1930 đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử nghề sơn truyền thống khi trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương chính thức mở xưởng nghiên cứu sơn ta. Sơn ta có điều kiện ứng dụng trong hội họa. Đó là đã phát minh ra kỹ thuật mài ra hình sau khi làm những lớp màu chìm. Và thế là nghệ thuật tranh sơn mài ra đời sau những tìm tòi của các bậc tiền bối như họa sĩ Trần Văn Cẩn, Trần Quang Trân, Nguyễn Khang, Phạm Hậu, Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí. Những tác phẩm tuyệt đẹp sử dụng chất liệu sơn mài có thể xem như bằng chứng đầu tiên khẳng định đẳng cấp hội họa đích thực của thể loại này là tác phẩm “Bờ ao” (Bình Phong 6 tấm) của Trần Quang Trân; "Phong cảnh Bắc Kỳ" của Lê Phổ.

Sơn mài sơn ta truyền thống sử dụng cùng với son thần, vỏ trai, vỏ trứng vàng bạc thật và nhiều màu, chất liệu khác tạo vẻ đẹp lung linh, huyền ảo cho các tác phẩm hội họa mà không một chất liệu nào sánh được. Nó hoàn toàn khác hẳn các dòng sơn của Nhật Bản, Trung Quốc, Lào, Thái Lan chỉ dừng lại ở các đồ thủ công, mỹ nghệ.

MG-0202-jpg-1365071432_500x0.jpg
Họa sĩ Phùng Dzi Thuần bên cạnh các tác phẩm của mình.

Họa sĩ Phùng Dzi Thuần kể liền một hơi về lĩnh vực sơn ta như tuôn từ trong máu thịt của mình với niềm tự hào nhưng cũng không giấu được vẻ tiếc nuối, lo âu. Ông nay đã ở tuổi xưa nay hiếm. Còn số người đam mê, nhiệt huyết với sơn ta như ông cũng không nhiều. Theo ông muốn bảo toàn được nghệ thuật tranh sơn ta thì phải làm cho công chúng yêu nghệ thuật phân biệt được tranh sơn ta và tranh sơn công nghiệp (sơn Nhật) như hàng thật với hàng giả. Hiểu được cái đẹp cao quý rất riêng của tranh sơn ta, họ sẽ đến với loại hình này và trân trọng thưởng thức vẻ đẹp lộng lẫy của nó.

Ngày 9/4 tới, họa sĩ Phùng Dzi Thuần sẽ tổ chức triển lãm cá nhân chuyên đề về tranh sơn ta với mong muốn trình làng trước công chúng yêu nghệ thuật vẻ đẹp đích thực của tranh sơn ta được nâng tầm hội họa. Số lượng tranh bày triển lãm lần này chỉ là một phần nhỏ trong khối lượng lớn đang trưng bày tại nhà riêng và gallery của các con ông.

Phùng Hoa Miên


Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng

Thay vì chỉ xuất hiện trong các liên hoan mang tính thời điểm, nghi lễ chầu văn được dựng thành chương trình tổ chức định kỳ phục vụ khán giả hàng tuần tại Hà Nội.
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng Vở diễn Tứ phủ vừa được đạo diễn Việt Tú ra mắt báo giới tại Hà Nội cuối tuần qua, lấy cảm hứng từ nghi lễ "Hầu đồng" trong tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam. Chương trình thu hút khán giả nhờ yếu tố ánh sáng, âm thanh và nội dung đậm văn hóa, tâm linh.">  

Vở diễn Tứ phủ vừa được đạo diễn Việt Tú ra mắt báo giới tại Hà Nội cuối tuần qua, lấy cảm hứng từ nghi lễ "Hầu đồng" trong tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam. Chương trình thu hút khán giả nhờ yếu tố ánh sáng, âm thanh và nội dung đậm văn hóa, tâm linh.

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng Việt Tú cho biết anh dành ba năm để tìm hiểu và mất thêm một năm lên ý tưởng dàn dựng. Những gì anh muốn là tái hiện nghi lễ "Hầu đồng" gốc của người Việt để giới thiệu cùng bạn bè quốc tế mỗi lần ghé thăm Hà Nội. Chương trình diễn ra 12 suất trong một tháng.">  

Việt Tú cho biết anh dành ba năm để tìm hiểu và mất thêm một năm lên ý tưởng dàn dựng. Những gì anh muốn là tái hiện nghi lễ "Hầu đồng" gốc của người Việt để giới thiệu cùng bạn bè quốc tế mỗi lần ghé thăm Hà Nội. Chương trình diễn ra 12 suất trong một tháng.

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng">  

Vở diễn kéo dài 45 phút, gồm ba chương: "Chầu Đệ Nhị", "Ông Hoàng Mười" và "Cô Bé Thượng Ngàn".

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng Các Thanh Đồng trong buổi lễ thay trang phục nhiều lần với sự trợ giúp của cộng sự để hóa thành thánh thần. Đi kèm phần biểu diễn là các giai điệu chầu văn. Loại hình lễ nhạc này sử dụng nhạc cụ truyền thống như đàn nguyệt, sáo, phách, đàn bầu... Các làn điệu chính bao gồm: Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Đưa Thơ, Vãn, Dọc...">  

Các Thanh Đồng trong buổi lễ thay trang phục nhiều lần với sự trợ giúp của cộng sự để hóa thành thánh thần. Đi kèm phần biểu diễn là các giai điệu chầu văn. Loại hình lễ nhạc này sử dụng nhạc cụ truyền thống như đàn nguyệt, sáo, phách, đàn bầu... Các làn điệu chính bao gồm: Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Đưa Thơ, Vãn, Dọc...

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng Sau khi đội khăn lụa đỏ để thánh thần mượn thân xác giao lưu với người trần, các Thanh Đồng nhảy múa, biểu cảm khuôn mặt để thể hiện thần thái của người mình đang hoá thân.">  

Sau khi đội khăn lụa đỏ để thánh thần mượn thân xác giao lưu với người trần, các Thanh Đồng nhảy múa, biểu cảm khuôn mặt để thể hiện thần thái của người mình đang hoá thân.

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng Những vị thánh này đều là các nhân vật từng có công giúp dân bảo vệ đất nước, mở mang bờ cõi.">  

Những vị thánh này đều là các nhân vật từng có công giúp dân bảo vệ đất nước, mở mang bờ cõi.

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng  

Chương trình từng đón tiếp nhiều đại sứ, tùy viên văn hoá của Pháp, Italy, Ba Lan, Hungary, Canada hay UNICEF đến dự và nhận lời khen ngợi.

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng  

Việt Tú cho biết tháng 11/2015, nhà thiết kế Kenzo đã tới xem vở diễn đồng thời thể hiện sự yêu thích phần trang phục.

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồngĐầu 2015, Việt Nam gửi hồ sơ "Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt" tới tổ chức UNESCO để đưa vào danh sách "Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại". Cuối năm nay, tại kỳ họp thứ 11 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể tại Ethiopia, hồ sơ sẽ được xem xét.">  

Đầu 2015, Việt Nam gửi hồ sơ "Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt" tới tổ chức UNESCO để đưa vào danh sách "Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại". Cuối năm nay, tại kỳ họp thứ 11 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể tại Ethiopia, hồ sơ sẽ được xem xét.

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng Nghi lễ Chầu văn được coi là tín ngưỡng độc đáo và đẹp của Việt Nam. Tuy vậy, vì một số lý do trục lợi cá nhân, một số người đã bóp méo nghi lễ này thành các hoạt động "buôn thần, bán thánh".">  

Nghi lễ Chầu văn được coi là tín ngưỡng độc đáo và đẹp của Việt Nam. Tuy vậy, vì một số lý do trục lợi cá nhân, một số người đã bóp méo nghi lễ này thành các hoạt động "buôn thần, bán thánh".

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng  

Kết thúc buổi lễ, các Thanh Đồng chạy khắp sân khấu để phát lộc. Khán giả thể hiện sự phấn khích trong phần giao lưu này.

 
Vở diễn 'Tứ phủ' tái hiện nghi lễ hầu đồng Sảnh chính là không gian trưng bày với các "giá hầu" gồm ngựa, voi giấy... được thực hiện bởi những nghệ nhân ba đời làm vàng mã. Tất cả tạo nên sự dẫn dắt tâm linh cho khán giả trước khi đến với phần diễn chính trên sân khấu.">  

Sảnh chính là không gian trưng bày với các "giá hầu" gồm ngựa, voi giấy... được thực hiện bởi những nghệ nhân ba đời làm vàng mã. Tất cả tạo nên sự dẫn dắt tâm linh cho khán giả trước khi đến với phần diễn chính trên sân khấu.

 
Đức Trí
Ảnh: Quang Minh


Tranh của Lê Phổ, Vũ Cao Đàm trưng bày ở Hà Nội

Công chúng được dịp thưởng lãm hơn 50 tác phẩm của các họa sĩ trưởng thành từ Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Trong lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (tiền thân của Đại học Mỹ thuật Việt Nam ngày nay) có vai trò quan trọng. Đây là nơi đào tạo nên thế hệ họa sĩ hiện đại đầu tiên của đất nước. 

Khoảng 50 tác phẩm của các họa sĩ thành danh từ ngôi trường này sẽ được giới thiệu trong triển lãm "Hội họa Việt Nam - một diện mạo khác". Triển lãm khai mạc lúc 18h ngày 19/10, kéo dài tới hết ngày 23/10 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Các tác phẩm trưng bày thuộc bộ sưu tập tư nhân của nhà sưu tầm Nguyễn Minh. 

tranh-cua-le-pho-vu-cao-dam-trung-bay-o-ha-noi

Tác phẩm "Điểm tâm" của Lê Phổ. 

Sở dĩ triển lãm được đặt tên "Một diện mạo khác" bởi các tác phẩm trưng bày đều được Nguyễn Minh mua qua hình thức đấu giá quốc tế. Nhiều bức trong số đó được các họa sĩ Việt Nam sáng tác khi ở nước ngoài. "Họ vẽ về Việt Nam qua hồi ức, bởi thế tác phẩm mang một diện mạo khác", Nguyễn Minh nói.

Trong số 50 tác phẩm, chiếm lượng lớn nhất là tranh của Lê Phổ với 12 bức. Tranh của bậc thầy trường phái hậu ấn tượng được trưng bày đều là sơn dầu, có thể kể tên một vài bức như Cô gái trong vườn, Hái hoa hồng, Bữa sáng, Tĩnh vật...

Triển lãm cũng có chín bức của họa sĩ Vũ Cao Đàm - nổi tiếng ở nghệ thuật điêu khắc và tranh sơn dầu. Một số tác phẩm được trưng bày trong triển lãm như Thúy Kiều - Kim Trọng, Mẫu tử...

tranh-cua-le-pho-vu-cao-dam-trung-bay-o-ha-noi-1

"Chuyện trò" - tác phẩm của Vũ Cao Đàm  trưng bày trong triển lãm .

Ngoài ra, triển lãm giới thiệu tới công chúng những tác phẩm của các họa sĩ nổi tiếng trưởng thành từ Mỹ thuật Đông Dương như Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Trần Duy, Phan Thông, Phạm Hậu...

Nhà sưu tầm Nguyễn Minh sở hữu nhiều tranh quý. Bộ sưu tập nghệ thuật của anh hiện lưu giữ hơn 200 tác phẩm hội họa hiện đại trải dài qua nhiều giai đoạn, từ thời kỳ Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thời chiến tranh, bao cấp và giai đoạn đổi mới.

Để có được những tác phẩm này, Nguyễn Minh phải cất công theo đuổi, lặn lội tìm kiếm cả trong và ngoài nước. Nhiều bức anh phải cạnh tranh vất vả tại các phiên bán của các nhà đấu giá nổi tiếng như Christie, Sotheby's... 

Lam Thu


Thị trường mỹ thuật nội địa Việt Nam non trẻ và kém chuyên nghiệp

Giới mỹ thuật trong nước nhận định, tranh Việt bán được nhưng phần lớn cho người nước ngoài. Người Việt thường mua tranh để trang trí chứ chưa có hoạt động mua đi bán lại tạo thị trường thứ cấp.

Thị trường mỹ thuật được hiểu là nơi buôn bán, giao dịch các tác phẩm mỹ thuật và mỹ thuật ứng dụng. Không chỉ là một lĩnh vực tài chính, thị trường mỹ thuật còn bao gồm hoạt động giao lưu, trao đổi giữa giá trị nghệ thuật, giá trị tài năng, sáng tạo.

Để cấu thành một thị trường mỹ thuật cần nhiều yếu tố, như tự thân các tác phẩm phải có giá trị; đội ngũ nghệ sĩ sáng tạo tài năng; các nhà sưu tầm, người mua, hệ thống gallery, bảo tàng, nhà triển lãm chuyên nghiệp; hệ thống giáo dục mỹ thuật tốt, không chỉ đào tạo người sáng tác mà cả người thưởng thức... Theo nhà báo Đào Mai Trang của Tạp chí Mỹ Thuật - chuyên nghiên cứu mỹ thuật đương đại Việt Nam - nước ta có đầy đủ điều kiện nền tảng để cấu thành thị trường nội địa. Tuy nhiên, cái thiếu là chưa thể gắn kết các điều kiện ấy thành một nền tảng vững chắc và thuận lợi. 

body-thi-truong-3057-1427777164.jpg

Bức tranh "Nhìn từ đỉnh đồi" của họa sĩ Lê Phổ được bán với giá 840.000 USD tại phiên đấu giá năm 2014 của nhà Christie's (công ty mua bán, đấu giá tranh nghệ thuật lớn nhất thế giới, hoạt động từ năm 1766 và đặt trụ sở chính tại London)

Những năm 1990 đến giữa những năm 2000 là giai đoạn tranh Việt Nam được mua nhiều. Tuy nhiên, thời gian sôi động ấy vẫn chưa tạo nên một thị trường mỹ thuật nội địa thực sự, bởi có ít người Việt mua tranh Việt. Theo anh Trung Thành - Giám đốc Gallery Ngàn Phố (một gallery hoạt động 10 năm tại Hà Nội), lượng người Việt tới gallery mua tranh rất ít. Khách nước ngoài vãng lai mua tranh hầu hết vì lý do ngoài nghệ thuật, ví dụ như họ có cha ông từng tham chiến ở Việt Nam nên mua tranh Việt như một món đồ kỷ niệm.  

Suzanne Lecht - Giám đốc Art Vietnam Gallery (một phòng tranh về nghệ thuật đương đại Việt Nam, hoạt động 12 năm nay) - chia sẻ, suốt hơn 10 năm mở Art Vietnam, bà chỉ thấy có ba hay bốn người Việt mua tranh. Bà cho rằng, Việt Nam có những yếu tố để hình thành một thị trường nhưng dường như chúng đều yếu ớt. Suzanne Lecht phân tích, Việt Nam có một số gallery, nhưng số lượng phòng tranh thực sự chứ không phải cửa hàng buôn bán tranh chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Việt Nam cũng có người sưu tầm nhưng ít ỏi. Số người Việt mua tranh càng ngày càng nhiều hơn, nhưng vẫn chưa đủ tạo nên thị trường nội địa. 

Cuốn sách Thị trường nghệ thuật 2012 (do Artprice phát hành) đưa ra thông tin trong khoảng ba năm (2010 - 2012), Trung Quốc dẫn đầu thị trường tranh toàn cầu, chiếm 41% doanh thu toàn thế giới. Sở dĩ giá tranh của họa sĩ người Hoa đạt mức ngoạn mục bởi giới nhà giàu Trung Quốc bỏ số tiền lớn mua tranh, với mục đích không để tác phẩm giá trị của họ rơi vào nước khác sở hữu. Tại một buổi trò chuyện nghệ thuật, họa sĩ Lê Thiết nói: "Ở các phiên đấu giá của nhà Larasati (một nhà đấu giá nghệ thuật nổi tiếng ở Singapore), tranh của các nước Thái Lan, Indonesia, Singapore bán được với giá cao đều do người giàu của nước họ mua".

Nhận thức về mỹ thuật của công chúng trong nước đóng vai trò quan trọng đối với thị trường nội địa. Họa sĩ Lê Thiết Cương nói: "Nhiều người lúc nào cũng kêu gào tranh bán đắt quá. Nhưng họ có nhà, có đất, đổi bao nhiêu cái xe, thì chả bao giờ kêu những thứ ấy đắt cả. Khi nào họ coi tranh là đất, là vàng, là USD, cứ 100 người mua tranh có 5 người coi tranh là hàng hóa đầu tư, thì đó là dấu hiệu tốt cho thị trường mỹ thuật". Theo họa sĩ, không thể "đùng một cái" là có một thị trường sôi động, mà mỗi người hoạt động trong lĩnh vực đều phải cố gắng một chút.

Tự thân các nghệ sĩ, những gallery thời gian qua đã có hành động tích cực để hướng tới đối tượng khách hàng người Việt. Chính Lê Thiết Cương chọn cách giới thiệu nghệ thuật tới số đông công chúng Việt. Cách đây vài năm, khi làm giám tuyển cho một chương trình nghệ thuật, anh tham gia với hai điều kiện: "Nghệ thuật phải làm cho người Việt Nam, và triển lãm không được đưa vào không gian nghệ thuật hàn lâm". Vì muốn đưa nghệ thuật đến gần hơn với công chúng, anh đã tổ chức các triển lãm ở các không gian công cộng như Tràng Tiền Plaza, khu Royal City, một showroom xe hơi, và sắp tới, anh còn tổ chức ở bến xe Mỹ Đình.

"Tôi có khoảng 50 cuộc triển lãm trong và ngoài nước, 49 cuộc tôi làm có yếu tố hướng tới đối tượng người nước ngoài. Nhưng cuộc gần đây, tôi làm triển lãm mà không in một chữ tiếng Anh nào trên các phương tiện quảng bá, từ giấy mời, bao bì, standy, sách triển lãm... Tôi làm vậy không phải là hy vọng có người Việt mua, mà để thể hiện sự tôn trọng với người Việt trước đã. Rồi hy vọng vài năm nữa, 10 năm, 20 năm nữa họ giàu có hơn, yêu thích và hiểu mỹ thuật hơn", Lê Thiết Cương nói.

body-dung-1119-1424766719-7895-142777716

"Tết Art" - một hội chợ nghệ thuật hướng tới công chúng Việt.

Gần đây, cũng với mong muốn đưa tác phẩm gần hơn với công chúng, một số nghệ sĩ đã đứng ra tổ chức các hội chợ nghệ thuật. Họa sĩ Nguyễn Hồng Phương phối hợp với CuCi Fine Art thực hiện Hội chợ Nghệ thuật Hà Nội lần thứ nhất. Chương trình diễn ra từ 5 tới 28/12/2014 tại Hàng Da Galleria, với sự tham gia của hơn 50 nghệ sĩ, tạo cơ hội quảng bá, giới thiệu tranh, điêu khắc... Tháng 2/2015, hội chợ nghệ thuật Tết Art tiếp tục được tổ chức tại đây với quy mô lớn hơn. Tổng kết Tết Art đã thu về gần một tỷ đồng tiền bán tranh. Sự kiện thu hút nhiều người Việt tới Chợ Hàng Da xem tranh, và 99% khách mua tranh là người Việt.

Nghệ sĩ Trịnh Minh Tiến - người sáng lập Tết Art - chia sẻ: "Làm Tết Art đâu phải chỉ cho công chúng tiếp cận, mà mình đang làm cho chính bản thân họa sĩ. Bởi nếu bán tranh cho người Việt, tác phẩm của mình sẽ ở lại đất nước. Chính người mua sẽ trở thành bạn bè của mình, họ có thể giới thiệu với những bạn bè người Việt khác. Và như vậy, trong tương lai, họ là người góp phần giúp đỡ mình trong việc tạo thị trường mỹ thuật".

Lam Thu


Các hoạ sĩ nói về gallery và thương mại nghệ thuật

Sự hình thành ồ ạt các phòng tranh, sự tăng đột ngột số lượng hoạ sĩ trong vài năm qua, một mặt có thể nói là phát triển, mặt khác là dấu hiệu của sự xuống dốc và thương mại hoá nghệ thuật. Đó là suy nghĩ chung của các hoạ sĩ, nhà phê bình Phan Cẩm Thượng, Trần Lương, Dương Tường.

Một tác phẩm của hoạ sĩ Quang Minh tại Gallery Cỏ xanh.

- Các ông có nhận xét gì về toàn cảnh gallery ở nước ta?

- Phan Cẩm Thượng: Vài trăm gallery trong nước cùng bán một thứ hàng kém phẩm chất, loanh quanh với mươi tác giả thời thượng, trình bày một thứ hội họa loè loẹt về màu sắc, phô trương về kỹ thuật, và nông cạn về ý tưởng. Gallery hiện nay không phát hiện hoạ sĩ, hoạt động chỉ với mục đích duy nhất là kiếm tiền. Hầu hết phòng tranh đều không đạt tiêu chuẩn về kinh doanh nghệ thuật, yếu về nhạy cảm thẩm mỹ, kém về quyền lực kinh tế, không đủ tư cách trao đổi với các gallery ở nước ngoài. Có thể nói đây là thời kỳ suy thoái của gallery Việt Nam.

- Trần Lương: Hoạt động gallery ở Việt Nam chưa chuyên nghiệp. Nhiều ông chủ đứng ra điều hành phòng tranh mà không có một chút kiến thức nào về hội họa. Gallery chạy theo lợi nhuận, hầu như không giới thiệu được hoạ sĩ, hay ủng hộ nghệ thuật. Người ta cũng không cần biết đến style của nghệ thuật, treo đủ các loại từ sơn dầu đến lụa, từ tả thực đến trừu tượng…, không một gallery chuyên nghiệp nào làm như vậy cả.

- Dương Tường: Gallery ở ta thiên về hàng “souvernir”. Một số phòng tranh có được thành công “sổi” không phải nhờ thẩm mỹ tốt mà do nghe ngóng thị hiếu, rồi bám theo các hoạ sĩ “ăn khách”.

- Người ta nói nhiều đến nạn tranh giả ở Việt Nam. Sự thực thì sao?

- Phan Cẩm Thượng: Rất nhiều. Gallery bán tranh giả của hoạ sĩ đang sống, các nhà sưu tập bán tranh giả của hoạ sĩ đã chết. Họ nghĩ rằng người mua không biết gì, cũng không ý thức được việc làm tranh giả khiến mất uy tín của tranh thật. Bản quyền tác giả bị vi phạm nghiêm trọng mà người vi phạm đầu tiên chính là các hoạ sĩ. Đã đến thời điểm phải có luật kinh doanh trong hoạt động mỹ thuật.

- Đối tác chủ yếu của thị trường tranh Việt Nam là người nước ngoài. Ông nghĩ sao khi thị trường Mỹ thuật VN không có công chúng trong nước?

- Trần Lương: Người Việt Nam không mua tranh không hẳn là vì họ không có tiền, không đến xem triển lãm mỹ thuật không phải vì không có thời gian, vấn đề là việc giáo dục thẩm mỹ ở ta còn nhiều bất cập. Cần phải đưa công chúng tới nghệ thuật, tạo ra môi trường hoạt động mỹ thuật để nâng cao nhận thức trong dân trí, mà theo tôi, Trung tâm mỹ thuật đương đại (Art-centre) là hình thức rất hiệu quả, nó là cầu nối công chúng và nghệ thuật. Mở những lớp học cơ bản về nghệ thuật, mời nghệ sĩ đến nói chuyện, giao lưu với công chúng… là cách để công chúng tiếp cận với nghệ thuât.

Đan Phượng


Ra sách 'Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20'

Cuốn sách của Nguyễn Quân là sự kết hợp giữa mỹ thuật và lịch sử, lý luận và phê bình về một thế kỷ biến động, nhiều màu sắc. Trong sách, tác giả thể hiện ba khía cạnh: họa sĩ, nhà nghiên cứu sử, nhà phê bình mỹ thuật.

Tác giả Nguyễn Quân là hoạ sĩ kiêm nhà phê bình mỹ thuật, ông đã đồng hành với mỹ thuật Việt Nam trong suốt thời kỳ đổi mới, tập hợp nhiều dữ liệu sống động và xác thực của thời cuộc.

Họa sĩ Lê Thiết Cương nhận xét trong lời giới thiệu cuốn sách: “Viết về mỹ thuật có ba dạng: lịch sử, lý luận và bình luận. Viết được ở cả ba mảng đó, Nguyễn Quân là người duy nhất”.

Bìa sách Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20. Ảnh: NXB Tri Thức.

Bìa sách "Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20". Ảnh: NXB Tri Thức.

Viết về lịch sử, nhưng là lịch sử nghệ thuật nên cách viết cũng phải có chất nghệ thuật, nếu không sẽ chỉ là một cuốn sách sử chính xác và… nhạt. Viết về sự kiện, Nguyễn Quân luôn đưa ra bình luận, nhận định. Theo Lê Thiết Cương, chẳng hạn khi đưa ra sự kiện “Năm 1884, Pháp phá tháp Báo Thiên để xây Nhà thờ lớn”, Nguyễn Quân bình: “Người Pháp khởi đầu thời kỳ Khai hóa bằng tàn phá”.

Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đầy biến động, không dễ gì tổng kết và đánh giá một cách mạch lạc. Tác giả phải có tư duy tổ chức tốt. Nguyễn Quân cũng là người sáng tác, ông có nền tảng về mỹ thuật, hoàn toàn có thể cảm tác phẩm và đánh giá cả nền mỹ thuật một cách thuyết phục.

Nguyễn Quân mô tả thế kỷ 20 “có lẽ là thế kỷ nhiều biến động và thay đổi toàn diện, căn bản nhất trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam”. Xã hội Việt Nam chuyển từ thời kỳ phong kiến suy tàn sang thời kỳ thuộc địa với những cuộc “đụng độ văn hóa Đông - Tây”, những vật lộn công nghiệp hóa, đô thị hóa. Tiếp theo là hai cuộc chiến tranh dai dẳng và khốc liệt dẫn tới sự chia cắt và thống nhất đất nước. Để rồi Việt Nam ta trở lại tiếp tục đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong một thế giới hoàn toàn khác so với 100 năm trước.

Mỹ thuật Việt Nam là dòng chảy soi bóng chân thực nhất diễn trình lịch sử ấy: Mỹ thuật thời trước 1925; Mỹ thuật Đông Dương; Mỹ thuật Hiện thực XHCN; Mỹ thuật Đổi mới và đương đại thời hiện tại. Nguyễn Quân tin rằng, các thành tựu mỹ thuật cũng là sự biểu hiện thị giác tuyệt vời của tâm hồn Việt Nam, tình cảm và lý trí của con người Việt Nam. Điều đó làm cho mỹ thuật Việt Nam trong thế kỷ qua trở nên rất hấp dẫn.

Trong thời gian biên soạn sách, tác giả đã kỳ công sưu tập những hình ảnh phong phú về các tác phẩm mỹ thuật từ thời đầu thế kỷ cho đến thời hiện tại. Sách do NXB Tri Thức ấn hành, ra mắt chiều 29/10 tại Hà Nội.

Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 được Nguyễn Quân chia làm 4 giai đoạn:

1. Những năm đầu thế kỷ 20: Từ Nhà thờ Phát Diệm đến Lăng Khải Định - cuộc gặp gỡ Đông - Tây lần thứ hai
2. Mỹ thuật Đông Dương 1925 - 1945 và cuộc cách tân lớn trong văn hóa thị dân thuộc địa
3. Mỹ thuật thời kỳ hai cuộc chiến tranh và đất nước bị chia cắt 1945 - 1975
4. Phần tư cuối thế kỷ hòa hợp - đổi mới - hội nhập

Pham Mi Ly


Họa sĩ Hà Nội thực hiện triển lãm đầu xuân

Sáu họa sĩ trẻ hội tụ trong triển lãm nhóm "Lộc xuân" diễn ra từ 13 tới 25/2 tại Nhà triển lãm 16 Ngô Quyền, Hà Nội. 
hoa-si-ha-noi-thuc-hien-trien-lam-don-xuan

Với ý tưởng gặp gỡ đầu xuân, các họa sĩ mang 68 tác phẩm mới giới thiệu tại triển lãm. Trong ảnh là tác phẩm "Đón xuân" - sơn dầu của họa sĩ Vũ Tuyên.

hoa-si-ha-noi-thuc-hien-trien-lam-don-xuan-1

Mỗi tác phẩm có nội dung, phong cách, cảm xúc riêng, nhưng đều thể hiện tình yêu với thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam. Trong ảnh là tác phẩm "Trưa hè" - sơn dầu của Bùi Văn Tuất. 

hoa-si-ha-noi-thuc-hien-trien-lam-don-xuan-2

Họa sĩ tham gia triển lãm là những người có quá trình lao động nghệ thuật, được người yêu hội họa trong và ngoài nước ghi nhận. Trong ảnh là tác phẩm "Góc phố vắng" của Phạm Hiển.

hoa-si-ha-noi-thuc-hien-trien-lam-don-xuan-3

Tác phẩm của họa sĩ Hoa Không. 

hoa-si-ha-noi-thuc-hien-trien-lam-don-xuan-4

"Ngôi nhà nơi sơn cước" - tranh bột màu của Nguyễn Đức Đàn.

hoa-si-ha-noi-thuc-hien-trien-lam-don-xuan-5

"Sắc xuân" - tranh giấy dó của Nguyễn Văn Tuân.

Lam Thu


Tiếng đàn Thúy Kiều trong tranh sơn mài

Họa sĩ Nguyễn Đức Đàn dùng ngôn ngữ hội họa diễn tả những cảm xúc với "Truyện Kiều". Các tác phẩm được trưng bày trong triển lãm "Đàn - Xê dịch".

Nguyễn Đức Đàn sinh năm 1982, sau khi tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật đã theo đuổi con đường hội họa chuyên nghiệp. Anh dành tình yêu lớn cho sơn mài - chất liệu truyền thống của dân tộc, nhưng lại thể hiện bằng bút pháp hiện đại.

body-5129-1422873524.jpg

Tác phẩm "Kiều đánh đàn cho Thúc Sinh, Hoạn Thư".

Tại triển lãm cá nhân đầu tiên, Nguyễn Đức Đàn trưng bày 55 tác phẩm sơn mài. Trong đó, anh gây ấn tượng với loạt tranh lấy cảm xúc từ Truyện Kiều. Nguyễn Đức Đàn nói, anh đọc nhiều sách văn học, và yêu thích tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du bởi vẻ đẹp ngôn ngữ, nhạc cảm, hình ảnh, và những giá trị nhân văn. Bằng ngôn ngữ hội họa, họa sĩ thể hiện cảm xúc với những đoạn thơ đẹp của Nguyễn Du. Các bức tranh của Đức Đàn không phải là minh họa cho tác phẩm văn học, mà là những cảm xúc từ tác phẩm thi ca trác tuyệt của dân tộc. Khi Nguyễn Du thể hiện tiếng đàn của Thúy Kiều với nhiều cung bậc, cảm xúc thì trong tranh Đức Đàn, hình ảnh Thúy Kiều cũng được họa với sự đa dạng của phong cách, bút pháp.

Bức tranh Kiều đánh đàn cho Kim Trọng, với sự tối giản chi tiết, họa sĩ tập trung vào hình ảnh nàng Kiều mặt hoa e lệ với cây đàn. Hai khối màu họa hình dáng hai người trong bố cục đăng đối thể hiện sự giao hòa cảm xúc. Gam nền bàng bạc gợi lời thơ Nguyễn Du tả: "Trong như tiếng hạc bay qua/ Đục như tiếng suối mới sa nửa vời/ Tiếng khoan như gió thoảng ngoài/ Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa". Trong Kiều đánh đàn cho Thúc Sinh, Hoạn Thư với những mảng màu đen, xám, xanh ngọc, Đức Đàn đều gợi lên dáng vẻ cam chịu qua nét vẽ nhân vật. Với Kiều đánh đàn cho Hồ Tôn Hiến, thoạt nhìn chỉ thấy một khối đen lớn mà nhìn kỹ mới có thể cảm nhận được đó là hình bóng Từ Hải.

Bên cạnh loạt tranh vẽ Kiều đánh đàn, Đức Đàn cũng vẽ những tác phẩm có cảm xúc từ Truyện Kiều như Chị em Kiều, Chơi xuân, Trôi nổi, Lưu lạc, Chạy trốn, Kiều gặp Đạm Tiên... Các tác phẩm này không chỉ diễn tả cảm thức từ một tác phẩm văn học, mà còn gợi lên nhiều ý nghĩa và nhân sinh.

Trong triển lãm "Đàn - Xê dịch", Nguyễn Đức Đàn giới thiệu các tác phẩm sơn mài với nhiều chủ đề sáng tác. Những bức tranh phong cảnh của Đàn phần lớn mô tả vẻ đẹp của thiên nhiên, trong đó, con người chỉ là một chi tiết nhỏ bé của toàn bộ quang cảnh. Các bức tranh tự họa thể hiện đa dạng cảm xúc, khi thì giằng xé nội tâm, lúc lại ưu tư...

Các tác phẩm sơn mài của Đức Đàn có những bức theo phong cách biểu hiện, có bức là hiện thực. Tác giả cho biết, anh không tự giới hạn mình vào một phong cách, trường phái nghệ thuật. Ngược lại, anh muốn thử thách mình khi mở rộng biên độ tạo hình, ngôn ngữ nghệ thuật.

Triển lãm "Đàn - xê dịch" diễn ra tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam từ 1 tới 5/2 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Một số tác phẩm trong triển lãm "Đàn - Xê dịch"

2.jpg

"Chơi xuân".

3.jpg

"Kiều đánh đàn trong bữa tiệc của Hồ Tôn Hiến".

4.jpg

"Kiều đánh đàn trong buổi đoàn viên".

5.jpg

"Kiều đánh đàn với Kim Trọng".

6.jpg

"Kiều gặp Đạm Tiên lần 2".

7.jpg

"Sen".

8.jpg

"Trưa hè".

9.jpg

"Nắng xuân".

Lam Thu


Tranh sơn mài trừu tượng của Nguyễn Quang Sơn

Trong khi đề tài thường thấy ở tranh sơn mài là phong cảnh làng quê, đình chùa... thì Quang Sơn dùng chất liệu truyền thống để sáng tác tranh trừu tượng.

Các tác phẩm sơn mài của Nguyễn Quang Sơn được trưng bày trong triển lãm Đen - Trắng tại Craig Thomas Gallery (TP HCM), từ 3/10 tới 3/11.

Sinh năm 1971 tại làng sơn mài truyền thống ở tỉnh Bình Dương (nay là thị xã Thủ Dầu Một), Nguyễn Quang Sơn tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật TP HCM năm 1998. Làng quê Thủ Dầu chính là cái nôi nuôi dưỡng nghệ thuật cho Quang Sơn.

Anh tâm sự: "Tôi sinh trưởng trong một gia đình gắn bó với nghề sơn, nên gắn bó với sơn mài một cách tự nhiên. Bản thân tôi biết và hiểu chất liệu đặc biệt này và nó hấp dẫn tôi hơn những chất liệu sáng tác khác". 

body-2806-1411463213.gif

Tác phẩm "Sóng" sẽ trưng bày tại triển lãm.

Xuất thân từ nghề sơn mài giúp Nguyễn Quang Sơn rất nhiều trong việc thực hành nghệ thuật. Các tác phẩm trong loạt tranh Đen - Trắng có mặt tranh phẳng bóng, lên màu hoàn hảo, đó là minh chứng cho sự thành thạo, tinh tế trong quy trình làm sơn mài của tác giả. 

Tránh các đề tài truyền thống phổ biến như đình chùa, đồng quê thường thấy ở các tranh sơn mài Việt, Quang Sơn đã chọn hướng đi trừu tượng cho series mới của mình. Để tạo bố cục, tác giả đã cẩn nhiều vỏ sò, vỏ ốc lên tranh, sau đó mài đến khi thật phẳng, đẹp. Trên nền sơn đen, các hình ảnh trong tranh của Quang Sơn chiếu sáng lấp lánh, gợi lên bầu trời và những khoảng không gian vô hạn.

Tranh sơn mài trừu tượng của Trần Quang Sơn

R9.jpg

"Nước".

R1.jpg

"Lửa".

R2.jpg

"Chuyển động".

R3.jpg

"Vũ trụ".

R4.jpg

"Đất".

R5.jpg

"Gió".

R6.jpg

"Tâm sáng". 

R7.jpg

"Chuyển động" (Ảnh trên) và "Phong cảnh biển" (Ảnh dưới).

R8.jpg

"Đôi bạn".

Y Nguyên


Chân dung vua tôi nhà Nguyễn trên đồ nội thất cũ

Các nhân vật như vua Duy Tân, Nam Phương hoàng hậu, Phan Thanh Giản được vẽ trên bàn ghế, giường, cánh cửa cũ và mang ra triển lãm.

Trần Minh Tâm là họa sĩ luôn mang tới sự bất ngờ. Triển lãm đầu tiên của anh được tổ chức tại Pháp năm 2007. Tới 2008, anh tiếp tục trưng bày tranh ở Pháp và Mỹ. Sau 10 năm gắn bó với nghiệp vẽ, năm 2012 anh mới có cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên tại Việt Nam, đó là triển lãm vẽ các túi nilon bị buộc thành các tạo hình khác nhau. Nhà Nguyễn của Minh Tâm tới đây là một bất ngờ nữa, khi anh trưng bày chân dung các nhân vật của triều đình nhà Nguyễn vẽ trên đồ nội thất cũ. Triển lãm diễn ra từ 6/12 tới 8/1/2014 tại Craig Thomas Gallery, TP HCM.

body-1-4461-1385636101.jpg

Chân dung Nam Phương hoàng hậu được vẽ bằng sơn mài và sơn dầu trên chiếc tủ gỗ cũ.

Trần Minh Tâm có tình yêu đặc biệt với các món đồ cũ và những chuyện đã qua. Anh bắt đầu sưu tầm đồ nội thất bỏ đi từ năm 2008. Với anh các món đồ đó đều ẩn chứa một bí ẩn. Khi sở hữu món đồ cũ đầu tiên, anh đã nảy sinh ý tưởng nuôi dưỡng các đồ vật này, bảo tồn tổ tiên vô hình của chúng. Những câu hỏi về các món đồ bí ẩn luôn khuấy động trí tưởng tượng của anh. Minh Tâm hy vọng một vài món đồ nội thất có thể tồn tại lâu đời như triều Nguyễn.

Cách đây vài năm Minh Tâm bắt đầu quan tâm tìm hiểu tới triều Nguyễn. Anh tìm đọc lịch sử qua mạng Internet và sách cũ. Và rồi họa sĩ bắt đầu vẽ lên các món nội thất cũ của mình. Đồ gỗ như giường, tủ, bàn ghế, cánh cửa... khi được phục hồi và vẽ lên mang vẻ đẹp rực rỡ như ánh hào quang trước đây của kinh thành Huế. 

Trên những tác phẩm, trang phục bằng lụa thêu kim tuyến và mũ đội đầu tinh xảo sẽ tiết lộ địa vị của nhân vật. Nền tranh đều có hình ảnh mang tính tượng trưng. Các vị vua, hoàng hậu, quan đại thần hoặc các nhân vật chính được vẽ ở vị trí trung tâm, xung quanh có các hoa văn, các ngọn núi làm nền.

Bên cạnh những nhân vật được sử sách ghi lại, Nguyễn Minh Tâm còn chọn vẽ chân dung một số phụ nữ có thân phận không cao quý ở thời Nguyễn. Đó là những công dân hạng hai thường bị lịch sử bỏ quên, như chân dung một ca sĩ, một diễn viên múa. Trong triển lãm Nhà Nguyễn nổi lên các bức tranh vẽ Nam Phương hoàng hậu - người phụ nữ ghi dấu ấn mạnh nhất trong vương triều nhà Nguyễn. Các bức tranh vẽ hoàng hậu là những bức đẹp, thể hiện người phụ nữ đẹp, vương quyền, có học thức.

Các tác phẩm trong triển lãm đều được Minh Tâm vẽ bằng tranh sơn mài và sơn dầu. Việc chọn hai chất liệu này cũng là cách thể hiện lịch sử đầy ẩn ý của Minh Tâm. Sơn mài là chất liệu truyền thống của người Việt, trong khi sơn dầu là do người Pháp du nhập vào Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn. Việc sử dụng hai chất liệu này trên bức tranh thể hiện sự học hỏi lẫn nhau trong nghệ thuật thời đại đó.


Một số tác phẩm trong triển lãm

1_1385635553.jpg

Chân dung bà Châu Thị Tế - một người góp sức với chồng là Thoại Ngọc Hầu trong việc mưu phúc lợi cho dân chúng. Bà được gọi là "Hiền phụ".

2_1385635677.jpg

Chân dung cụ Phan Thanh Giản - một danh sĩ, đại thần triều Nguyễn.

3_1385635751.jpg

Chân dung Kiều Nguyệt Nga.

4_1385635802.jpg

Chân dung một diễn viên thời Nguyễn.

5_1385635830.jpg

Chân dung Nam Phương hoàng hậu.

6_1385635854.jpg

Tác phẩm Ông quan.

7_1385635939.jpg

Vua Duy Tân.

8_1385635958.jpg

Chân dung một ca sĩ.

Hiền Đỗ
Ảnh: CraigThomas


Nhiều tranh, cổ vật quý lần đầu được trưng bày

Các hiện vật quý hiếm đang được Câu lạc bộ Những người yêu Cổ ngoạn Hà Nội trưng bày trong triển lãm “Hội họa Mỹ thuật Đông Dương và Tinh hoa Cổ vật” tại Hội quán Cổ vật Việt Phương (Hà Nội).

Triển lãm trưng bày 50 bức tranh quý, hơn 300 hiện vật gồm đồ gốm đời Lý - Trần, và đồ sứ đời Thanh (Trung Quốc), cùng các đồ sơn thiếp và kỷ vật chiến tranh. 

1-Tinh-mau-tu-jpg_1367288513[1180086080]
Sơn mài "Tình mẫu tử" của Nguyễn Đức Nùng.

Các bức tranh trong triển lãm đều là những bức quý, hiếm của thế hệ họa sĩ đầu tiên của trường Mỹ thuật Đông Dương. Các bức tranh thuộc nhiều thể loại sơn dầu, sơn mài, mầu nước, mực nho… đều thể hiện tình yêu quê hương, đất nước và thiên nhiên tươi đẹp. Có thể thấy trong triển lãm này những bức tranh quý như Dệt cửi (lụa - Nguyễn Văn Tỵ), Tình mẫu tử (sơn mài - Nguyễn Đức Nùng), Đi chợ vùng cao (Nguyễn Đức Nùng), Nuy (Nguyễn Văn Bình), Bạn tôi (chì than - Bùi Xuân Phái), Sau giờ trực chiến (Hoàng Tích Chù), hay nhiều bức tranh quý khác như Bác Hồ trong hang Pác Bó, Bác Hồ bên suối Lê Nin của cố họa sĩ Trần Văn Cẩn… Các bức tranh trong triển lãm đều nằm trong bộ sưu tập cá nhân của nhà sưu tập Nguyễn Minh.

3-Binh-voi-jpg[1180086080].jpg
Bình vôi lục quý hiếm còn nguyên vẹn.

Một lượng lớn cổ vật gốm sứ được trưng bày trong triển lãm lần này. Người xem có dịp thưởng ngoạn những chiếc chum, thạp gốm men hoa nâu thời Lý - Trần - Lê, đặc biệt là chiêm ngưỡng chiếc bình vôi quý hiếm số một Việt  Nam. Đây là chiếc bình vôi lớn, còn nguyên vẹn và có men lục nhẹ lửa. Theo các nhà sưu tầm cổ vật, khó mà tìm thấy chiếc bình vôi thứ hai như thế nữa. 

Trong khi đó, các hiện vật thuộc đồ sứ xanh trắng đưa người xem vào thế giới của những chiếc nậm, nai rượu thế kỷ 18. Nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Lâm mang tới những hiện vật đặc sắc, quý hiếm, một thời gắn bó với đời sống văn hóa người Việt ở những thế kỷ trước, một phần hiện vật là đồ cung đình, cao cấp dành cho tầng lớp quý tộc của xã hội phong kiến. Phần lớn các hiện vật này đều là đồ sứ xanh trắng đời Thanh được đặt hàng làm riêng và chuyển sang Việt Nam. 

4-Chum-thap-gom-hoa-nau-jpg[1180086080].
Chum thạp gốm hoa nâu thời Lý - Trần - Lê.

Gây ấn tượng tại triển lãm còn là những hiện vật sơn thiếp của nhà sưu tầm Việt Phương. Các đồ sơn thiếp trong triển lãm này đều là những đồ thờ tự, tuy có niên đại chưa lâu, nhưng lại mang nhiều ý nghĩa truyền thống, giáo dục, văn hóa tâm linh của người Việt. Có thể thấy những bộ sơn thiếp thờ Mẫu, tượng Bồ Tát chuẩn đề, các bức tượng Đức Phật dưới cây bồ đề... cùng các đại tự, câu đối, bàn thờ sơn thiếp. Theo nhà sưu tầm Việt Phương, người  phương Tây luôn đánh giá đồ sơn son thiếp vàng là một trong những văn hóa nổi trội nhất của Việt Nam. Anh sưu tầm đồ sơn thiếp còn bởi ý nghĩa giáo dục trong các câu đối, đại tự trên các hiện vật này.

Được các thành viên Câu lạc bộ Những người yêu Cổ ngoạn Hà Nội đứng ra tổ chức, triển lãm mở cửa miễn phí cho mọi người đến thưởng lãm. Và đặc biệt, những hiện vật trưng bày đều thuộc sở hữu của các nhà sưu tầm tư nhân, đây là lần đầu tiên được trưng bày, xuất hiện trước công chúng. Các hiện vật quý này sẽ tiếp tục trưng bày tại 628 Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) tới hết ngày 2/5. 

Lam Thu


Triển lãm tác phẩm quý của mỹ thuật Việt

Tranh, ảnh, tác phẩm điêu khắc của 19 tác giả Giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước đang được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.

Các tác phẩm trong triển lãm đều tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của các nghệ sĩ đã được nhà nước đánh giá cao và ghi nhận, có giá trị thẩm mỹ và nội dung tư tưởng sâu sắc. Về mỹ thuật, có trưng bày tranh của cố họa sĩ Nguyễn Gia Trí (Giải thưởng Hồ Chí Minh) và 16 họa sĩ, nhà điêu khắc được tặng Giải thưởng Nhà nước (Nguyễn Nghĩa Duyện, Lê Thanh Đức, Trịnh  Bá Phòng…). Về nhiếp ảnh, triển lãm giới thiệu bộ tác phẩm của hai tác giả Vương Khánh Hồng và Chu Chí Thành.

4-1375427261_500x0.jpg
Mùa xuân trên Tây Nguyên (sơn khắc - Trần Hữu Chất).

Trong 38 tác phẩm, công chúng có dịp ngắm những sáng tác tiêu biểu như “Phong cảnh nông thôn” của cố họa sĩ Nguyễn Gia Trí, “Bác Hồ đi chiến dịch” của họa sĩ Nguyễn Nghĩa Duyện, điêu khắc “Dòng sữa mẹ” của Phạm Hồng… Các tác phẩm đa dạng về chất liệu như sơn dầu, sơn mài, sơn khắc, tranh lụa; hoặc điêu khắc đồng, điêu khắc đá, điêu khắc gỗ… Phần lớn tác phẩm trong triển lãm đều lấy đề tài chiến tranh, cảm hứng yêu nước, yêu quê hương, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của sống.

Triển lãm diễn ra cho tới hết ngày 5/8.


Một số tác phẩm trong triển lãm

Cảnh nông thôn (Sơn mài- Nguyễn Gia Trí)
Cảnh nông thôn (Sơn mài - Nguyễn Gia Trí).
2. Bác Hồ thăm trận địa pháo ở Hồ Tây (sơn dầu- Nguyễn Cao Thương)
Bác Hồ thăm trận địa pháo ở Hồ Tây (sơn dầu - Nguyễn Cao Thương).
3. Trẻ sơ sinh trong địa đạo Vĩnh Linh (Sơn dầu- Nguyễn Thế Vinh)
Trẻ sơ sinh trong địa đạo Vĩnh Linh (Sơn dầu - Nguyễn Thế Vinh).
Nhổ mạ (in tổng hợp- Lê Mai Khanh)
Nhổ mạ (in tổng hợp - Lê Mai Khanh).
Trò chơi (gò đồng- Hoa Bích Đào)
Trò chơi (gò đồng - Hoa Bích Đào).
7. Những cánh diều (xi măng- Hoa Bích Đào)
Những cánh diều (xi măng - Hoa Bích Đào).
Ngã ba Đồng Lộc- cắm tiêu (Sơn dầu- Lê Huy Hòa)
Ngã ba Đồng Lộc - cắm tiêu (Sơn dầu - Lê Huy Hòa).
9. Mẹ con (đá sa thạch- Phạm Quang Hồng)
Mẹ con (đá sa thạch - Phạm Quang Hồng).

Hiền Đỗ


Ngô Văn Sắc đốt gỗ thành tranh

Những bức chân dung to, nhỏ được khắc họa trên gỗ nâu trầm là nội dung các tác phẩm trong triển lãm "Giữa đời" của họa sĩ Ngô Văn Sắc.

Triễn lãm sẽ mở cửa vào ngày 25/10 tại Craig Thomas Gallery (27i Trần Nhật Duật, quận 1, TP Hồ Chí Minh) và kéo dài đến hết ngày 25/11.

Ngô Văn Sắc chọn cho mình chất liệu vẽ tranh tự nhiên, đó là các thớ gỗ sần sùi, thô nhám. Anh sử dụng các chất liệu một cách tài tình, biến sự thô mộc ấy thành một đặc tính lợi thế để thể hiện những ẩn ức, hồn cốt của từng tác phẩm. Có khi anh thuận theo những thớ dọc để khắc ra một Khu vườn yên tĩnh ẩn hiện một hay nhiều gương mặt tĩnh lặng trầm tư. Có khi lại dùng ánh sáng hắt ra từ mảnh gỗ làm nền cho một ánh mắt đen sâu u uẩn. Rồi lúc khác anh lại xoay thớ gỗ ngang biến vân gỗ thành công cụ diễn tả một vài Vùng ký ức đã bị xóa nhòe. 

NVS-4045-1382001207.jpg

Tác phẩm tranh đốt gỗ của Ngô Văn Sắc đoạt giải cuộc thi Chân dung tự họa Dogma 2012.

Ngô Văn Sắc chia sẻ, lúc đến với những khối gỗ tươi, chưa qua xử lý anh như bị mê hoặc. Quá trình thực hiện khắc họa chân dung trên gỗ đòi hỏi người họa sĩ phải kỳ công chuẩn bị qua nhiều bước. Anh dùng chì than phác thảo trên các miếng gỗ trước, sau đó dùng đèn hàn khò, sử dụng thìa kim loại cạo bớt bề mặt vừa khò để điều hòa màu sắc.

Công đoạn đốt gỗ bao gồm những thao tác hết sức tỉ mỉ. Để có độ đốt vừa chuẩn, tạo nên những hình ảnh vừa có độ sắc nét, lại thêm phần bóng bẩy mà vẫn không thiếu sự thanh thoát, Ngô Văn Sắc sử dụng một cây đèn hàn khí thay vì một cây bút khắc nung. Việc làm sáng những đốm đen trên từng thớ gỗ còn cần đến cả máy đánh bóng, nên họa sĩ đã có thêm trải nghiệm của một người thợ mộc lão luyện. Phần còn lại như chọn màu sơn cánh gián, màu nâu, căn độ bóng lại đòi hỏi tới kỹ năng và độ nhạy cảm của người họa sĩ.

Sinh ra, lớn lên trong gia đình có truyền thống hội họa, nhiếp ảnh, lại được đào tạo bài bản gần chục năm trong trường Mỹ thuật, Ngô Văn Sắc đã thuộc làu cách sử dụng các chất liệu vẽ tranh truyền thống như: chì than, sơn mài, sơn dầu... Nhưng anh không ngừng thử nghiệm trên những chất liệu mới, hóc búa nhưng cũng đầy thú vị.

Những hình ảnh xe đạp, cây cối, hoa súng nước, những chú bò vàng hiền hòa lồng ghép, ẩn hiện trong những bức chân dung tự họa của Ngô Văn Sắc. Quan sát Giữa đời của Ngô Văn Sắc rất dễ nhận thấy sự thích thú của họa sĩ trong việc khắc họa nhiều bức chân dung nhỏ, ở nhiều góc độ, nhiều tâm trạng đè lên một khuôn mặt lớn mang hồn cốt chủ đạo. Điều này lặp lại ở nhiều bức như: Giữa đời 1, Khoảng lặng, Khu vườn tình yêu, Ảo ánh, Vùng ký ức, Giấc mơ thu, Giấc mơ trưa...

Cách tạo hình khối để chia nhỏ không gian cho từng khuôn mặt người trầm tư, cười rộ hay lặng yên như trong tác phẩm Giữa đời 5 cũng thể hiện sự sáng tạo, phá cách của họa sĩ. Thậm chí, ngay chính từng bức tranh của Ngô Văn Sắc cũng đang diễn ra một cuộc sắp đặt chân dung đặc sắc.

Ngô Văn Sắc không dừng lại ở việc khắc chân dung, thiên nhiên trên gỗ, tác phẩm của anh còn là một nỗi niềm thời cuộc, đó là những suy tư về sự thay đổi các giá trị trong nền kinh tế thị trường.

Cũng với thể loại tranh đốt gỗ độc đáo, Ngô Văn Sắc đã chiến thắng tại cuộc thi Chân dung tự họa Dogma năm 2012.


Ngô Văn Sắc đốt gỗ thành tranh

1_1382000462.gif

Khoảng lặng.

3_1382000578.gif

Giấc mơ trưa.

5.gif

Giữa đời 1.

6.gif

Giữa đời 5.

8.gif

Khu vườn tình yêu.

9.gif

Vùng ký ức 3.

Hiền Đỗ
Ảnh: cthomasgallery


Giải Dogma khuyến khích họa sĩ Việt tự họa chân dung

Họa sĩ Richard San Marzano người Italy kết hợp một nhà sưu tập tranh tổ chức giải thưởng dành cho tác phẩm tự họa của các họa sĩ Việt Nam. Trị giá giải thưởng là 100 triệu đồng.

Họa sĩ Italy Richard San Marzano, người phụ trách chính Hội sưu tập Dogma cho biết, anh và nhà sưu tập Dominic Scriven người Anh có cùng niềm say mê hội họa cũng như con người Việt Nam. Vì thế, họ quyết định cùng tổ chức một giải thưởng dành riêng cho lĩnh vực tranh chân dung tự họa, do chính các họa sĩ - nghệ sĩ Việt Nam thực hiện.

Cuộc thi dành cho tất cả các họa sĩ 18 tuổi trở lên, đang cư trú tại Việt Nam, đăng ký tham dự qua trang dogmacollection.com. Mỗi thí sinh chỉ được nộp một tác phẩm.

Một bức tranh chân dung tự họa của họa sĩ Nguyễn Thị Châu Giang.

Một bức tranh chân dung tự họa của họa sĩ Nguyễn Thị Châu Giang.

Bắt đầu chấm thi vào ngày 15/6, ban giám khảo sẽ chọn ra người thắng giải và công bố vào 12/7. Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM cũng tổ chức một triển lãm dành cho các tác phẩm chọn lọc từ cuộc thi từ ngày 12 đến 30/7. Ban tổ chức trao giải Dogma trị giá 100 triệu đồng cho họa sĩ thắng cuộc. Ngoài ra có 3 giải phụ, trị giá 10 triệu đồng mỗi giải.

Thành phần ban giám khảo gồm: bà Mã Thanh Cao, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, bà Phạm Thị Như Quỳnh, giám đốc phòng trưng bày Quỳnh và họa sĩ Richard San Marzano.

Họa sĩ Richard San Marzano chia sẻ: "Lịch sử hội họa thế giới cho thấy, có rất nhiều họa sĩ cũng như danh họa đều thích vẽ chân dung của họ, cũng là cách chiêm nghiệm, khám phá bản thân. Chúng tôi muốn lập ra giải thưởng này để truyền cảm hứng cho các họa sĩ Việt quan tâm hơn về chân dung tự họa và từ đó thúc đẩy họ sáng tạo nhiều hơn ở mảng đề tài độc đáo này".

Hiện nhà sưu tập Dominic Scriven - người đồng hành cùng họa sĩ người Italy tổ chức giải thưởng nắm giữ bộ sưu tập thú vị với khoảng 80 chân dung tự họa của các họa sĩ, nghệ sĩ Việt.

Họa sĩ Italy Richard San Marzano (trái) và vợ, nghệ sĩ Linh Huyền (giám đốc công ty Mekong Artists) giới thiệu về giải thưởng Dogma. Ảnh: Thoại Hà

Họa sĩ Italy Richard San Marzano (trái) và vợ, nghệ sĩ Linh Huyền (giám đốc công ty Mekong Artists) giới thiệu về giải thưởng Dogma. Ảnh: Thoại Hà.

Hưởng ứng cuộc thi, họa sĩ Thanh Bình, cán bộ Bảo tàng TP HCM cho rằng: "Giải thưởng Dogma là tuy là giải mới nhưng mang đề tài rất hay. Có nhiều người thắc mắc sao họa sĩ Việt Nam ít vẽ chân dung của họ. Cá nhân tôi có một vài lý giải riêng. Trước đây, tôi có vẽ chân dung người mẹ của bạn tôi. Sau đó, tôi tặng bức tranh lại cho bà, nhưng bà nhất quyết không chịu treo vì cho rằng vẽ ảnh chân dung xui lắm. Có thể họa sĩ ta ít vẽ chân dung cũng vì quan niệm như thế. Thứ hai, dường như giới họa sĩ Việt có quá ít thời gian để nhìn lại, chiêm nghiệm lại bản thân nên họ bỏ ngỏ mảng đề tài này chăng?" 

Ông Bình cũng tỏ hy vọng, giải Dogma sẽ góp phần hâm nóng đam mê vẽ chân dung tự họa của các đồng nghiệp.

Dự kiến, Ban tổ chức sẽ tổ chức giải Dogma 2 năm một lần ở Việt Nam. "Chúng tôi sẽ làm hết sức cho giải này đến khi nào hết khả năng tài trợ thì thôi", họa sĩ Richard San Marzano nói.

Thoại Hà


Ngô Văn Sắc đoạt giải nhất chân dung tự họa Dogma

Họa sĩ sinh năm 1980 dùng lửa đốt thớ gỗ, họa lên nhiều góc khác nhau của khuôn mặt. Tác phẩm đoạt giải cao nhất cuộc thi Dogma lần hai.

Bức chân dung tự họa của Ngô Văn Sắc có kích thước 200 x 120 cm. Trên khối gỗ tự nhiên hình chữ nhật được chia thành 16 ô, họa sĩ khắc họa ở mỗi ô những góc khuôn mặt của chính anh. Màu nâu của gỗ hòa với màu đen của vết cháy và những đường vân tự nhiên tạo nên hiệu ứng thị giác đặc biệt cho bức chân dung. Tác phẩm vừa như sự tự bộc lộ trạng thái cảm xúc của một người làm nghệ thuật trong cuộc sống vừa như ẩn giấu góc khuất bên trong một con người.

Bức chân dung tự họa này đã vượt qua 45 tác phẩm vào vòng chung khảo cuộc thi vẽ mang tên Dogma để đoạt giải nhất, trị giá 120 triệu đồng.

Bức chân dung tự họa của Ngô Văn Sắc.

Bức chân dung tự họa của Ngô Văn Sắc.

Ngoài Ngô Văn Sắc, ban tổ chức còn trao 4 giải đặc biệt khác, mỗi giải trị giá 20 triệu đồng cho các họa sĩ Phạm Quang Hiếu, Đỗ Thế Thịnh, Phạm Tuấn Tú, Đặng Xuân Hùng.

"Chân dung tự họa - Dogma Prize" là cuộc thi khởi động từ năm 2011, do công ty Nghệ sĩ Mê Kông thực hiện dưới sự bảo trợ của tổ chức Dogma.

Năm nay, cuộc thi diễn ra hơn 3 tháng (từ ngày 7/5 đến ngày 31/8). Sự kiện mỹ thuật này thu hút nhiều họa sĩ chuyên và không chuyên trên toàn quốc tham dự.

Thành phần ban giám khảo cuộc thi là những chuyên gia, họa sĩ uy tín trong ngành mỹ thuật như: Tiến sĩ Mã Thanh Cao - giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, ông Richard di San Marzano - họa sĩ kiêm chuyên gia thẩm định tranh, bà Phạm Thị Như Quỳnh - chủ nhiệm Quynh Gallery. Ông Richard di San Marzano, người gắn bó lâu năm với Việt Nam chia sẻ, cuộc thi là một sân chơi bổ ích, là cầu nối giữa giới họa sĩ Việt Nam với nghệ thuật tranh đương đại thế giới.

Hôm 14/9, tại Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam, Hà Nội diễn ra lễ khai mạc triễn lãm các tác phẩm đoạt giải và vào chung khảo cuộc thi.


Chân dung tự họa của các họa sĩ Việt Nam

Tự họa của Đặng Xuân Hùng.

Tự họa của Đặng Xuân Hùng (giải đặc biệt).

Tự họa của họa sĩ Phạm Tuấn Tú.

Tự họa của Phạm Tuấn Tú (giải đặc biệt).

Tự họa của họa sĩ Phạm Quang Hiếu (giải đặc biệt).

Tự họa của Phạm Quang Hiếu (giải đặc biệt).

Đỗ Thế Thịnh. (giải đặc biệt).

Đỗ Thế Thịnh (giải đặc biệt).

Bùi Ngọc Trang.

Bùi Ngọc Trang.

Dương Kính.

Dương Kính.

Nguyễn Quang Thanh.

Nguyễn Quang Thanh.

Nguyễn Viết Thắng.

Nguyễn Viết Thắng.

Trần Hữu Nhật.

Trần Hữu Nhật.

Vũ Duy Tâm.

Vũ Duy Tâm.

Phan Vũ.

Phan Vũ.

Nguyễn Thế Dung.

Nguyễn Thế Dung.

Thất Sơn






Chế độ toàn màn hình
Xem trước
In
Tìm kiếm
Dán từ văn bản Word
Dán văn bản
Hủy thao tác vừa thực hiện
Làm lại thao tác vừa hủy
Mầu chữ
Mầu nền
Bookmark
Liên kết
Ảnh
Flash
Nhạc hình
Link nội bộ
Lựa chọn khác
Chèn bảng
Sửa bảng/ô
Định dạng chính xác
Ký tự đặc biệt
Đường kẻ
Dạng xuất bản
Xóa định dạng
Xem/sửa mã nguồn
Xóa toàn bộ
Kiểu - định dạng
Kiểu lựa chọn
Tags
Đoạn văn
Font chữ
Kích thước font
In đậm
In nghiêng
Gạch chân
Gạch ngang
Căn trái
Căn giữa
Căn phải
Căn đầy đủ
Chữ số
Định dạng đầu dòng
Lùi dòng từ trái sang phải
Lùi dòng từ phải sang trái


 
 
Tiêu đề tin
Ngày
Danh mục
Xuất bản
Ảnh đại diện
Ảnh hiện tại  Xem ảnh       Xóa ảnh
 
Hiện bên trái



 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 

Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.