Bài viết


 
Album ảnhLiên hoan ảnh nghệ thuật khu vực ĐBSCL lần thứ 28 năm 2013
  VN
  13      


     "Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội lần thứ 3 năm 2013"
     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
 
Cuộc Thi ảnh nghệ thuật Việt Nam-Vẻ Đẹp Bất Tận
- Những bức ảnh báo chí đoạt giải ảnh Pulitzer năm 2013 đưa đến thế giới một cái nhìn cận cảnh về sự khốc liệt, tàn bạo.

Đang truy cập: 15
Lượt truy cập: 6871189





                                           

Điệp viên 'có một không hai' Phạm Ngọc Thảo

Nhắc đến Phạm Ngọc Thảo là nhắc đến một huyền thoại tình báo “có một không hai”. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nhận định: "Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có tiền lệ trong công tác cách mạng của chúng ta".
Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Ngọc Thảo (ảnh chụp lại). Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Ngọc Thảo (ảnh chụp lại).

Trong cuốn sách “Điệp viên hoàn hảo”, nhà sử học người Mỹ Larry Berman đã dẫn lời điệp viên Phạm Xuân Ẩn: "Nhiệm vụ được giao cho Phạm Ngọc Thảo khác với nhiệm vụ của tôi... Nhiệm vụ của ông Phạm Ngọc Thảo nguy hiểm hơn nhiệm vụ của tôi rất nhiều".

Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Ngọc Thảo là tấm gương thầm lặng hy sinh, trung thành với lý tưởng cách mạng đến phút giây cuối cùng. Đối với kẻ thù, khi tra tấn Phạm Ngọc Thảo đến chết, chúng vẫn không hay biết ông là điệp viên cộng sản. Ông được đồng bào, chiến sĩ cả nước biết đến nhiều hơn sau khi nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý viết tác phẩm Ván bài lật ngửa mà Phạm Ngọc Thảo là nguyên mẫu nhân vật chính.

Hồ sơ phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của Đại tá Phạm Ngọc Thảo đã đề cập ngắn gọn về cuộc đời như huyền thoại của ông:

“Đồng chí Phạm Ngọc Thảo (tức Phạm Thao), sinh năm 1922, tại tỉnh Long Xuyên, dân tộc Kinh. Tham gia cách mạng năm 1945, nhập ngũ 1946. Lúc hy sinh, đồng chí là Đại tá, cán bộ Cục Nghiên cứu, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 8/1945, đồng chí tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn. Đầu năm 1946, đồng chí được cử ra miền Bắc học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân I). Ra trường, đồng chí trở lại miền Nam hoạt động ở địa bàn Khu 8, Khu 9.

Cuối năm 1947, được trên giao làm Trưởng phòng Mật vụ Nam Bộ (cơ quan tình báo của ta). Với tinh thần trách nhiệm, trong một thời gian ngắn, đồng chí đã thống nhất được các lực lượng tình báo toàn Nam Bộ.

Năm 1949, được trên điều sang làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 410 chủ lực Khu 9, Tiểu đoàn đã chiến đấu nhiều trận thắng lợi lớn, góp phần mở rộng vùng giải phóng.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhận chỉ thị của tổ chức, đồng chí ở lại miền Nam, dựa vào thế lực là một gia đình trí thức, theo Thiên Chúa giáo, thân cận với gia đình họ Ngô, đồng chí đã thâm nhập đi sâu, leo cao vào chế độ ngụy quyền miền Nam, phục vụ yêu cầu tình báo chiến lược. Trong thời gian làm việc trong chế độ ngụy, Phạm Ngọc Thảo lần lượt là: Năm 1956, được phong Đại úy, Tỉnh trưởng Bảo an Vĩnh Long. Năm 1957, được đề bạt Thiếu tá, thuộc Sở nghiên cứu chính trị-xã hội của Phủ Tổng thống (cơ quan mật vụ của ngụy do Trần Kim Tuyến phụ trách). Năm 1958, được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre).

Cuối năm 1961, do bị nghi ngờ là nội tuyến của Việt Cộng, nên địch điều đồng chí đi học nước ngoài, đến giữa năm 1962 về đảm nhiệm chức tham vụ chuyên môn Phủ Tổng thống.

Với bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định quan điểm đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, với ý thức kỷ luật cao, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ tình báo mưu trí, sáng tạo, giành thế chủ động tấn công địch.

Phạm Ngọc Thảo nhận bằng tốt nghiệp khóa học về chỉ huy tham mưu trên đất Mỹ (ảnh chụp lại).
Những năm làm tỉnh trưởng, với bình phong bất lợi nhưng đồng chí đã cung cấp được nhiều tin tức, tài liệu liên quan đến các cuộc hành quân của địch trong tỉnh và quân khu, nên đã ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do các cuộc hành quân quy mô lớn của địch gây ra. Lợi dụng chức vụ Tỉnh trưởng, đồng chí đã đẩy được một trung đoàn của Sư đoàn bộ binh 3 của ngụy, 5 tiểu đoàn biệt động do địch đưa về đàn áp phong trào du kích Bến Tre ra khỏi tỉnh. Hoặc khi địch mở cuộc hành quân ở khu vực nào đó, đồng chí đã bí mật báo cho lực lượng ta biết để đối phó…

Năm 1965, không may sa vào tay địch, chúng tra tấn đồng chí rất dã man, song không hề lay chuyển được ý chí sắt đá của đồng chí. Cay cú trước khí phách hiên ngang của người Cộng sản, địch đã giết hại đồng chí.

Đồng chí Phạm Ngọc Thảo là một cán bộ tình báo chiến lược, được Trung ương trực tiếp chỉ đạo đi sâu, leo cao vào những vị trí trọng yếu của địch. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đồng chí đã lập được nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc.

Đồng chí đã được truy phong quân hàm Đại tá và được công nhận liệt sĩ. Xét thành tích đặc biệt xuất sắc của đồng chí trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 30-8-1995, đồng chí được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân”.

Theo Quân Đội Nhân Dân

Chuyện ít biết về một Anh hùng đặc công

 Từng tham gia nhiều chiến dịch, tiêu diệt nhiều căn cứ địch, sau những năm tháng chiến đấu, ông Phạm Huy Nghệ trở về sống cuộc sống thanh bạch, giản dị mà không hề hay biết mình được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (AHLLVTND). Mang trong mình di chứng chất độc hóa học, người Anh hùng lừng lẫy năm nào giờ đối mặt với muôn vàn gian khó đời thường.
Ông Nghệ (thứ 2 trái sang) chụp ảnh cùng Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong một lần ra thăm Hà Nội Ông Nghệ (thứ 2 trái sang) chụp ảnh cùng Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong một lần ra thăm Hà Nội

Trước khi đến thăm gia đình ông Nghệ ở thôn Quỳnh Ngọc, xã Ea Na, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, chúng tôi không thể hình dung được cuộc sống giản dị, đơn sơ của người chiến sĩ đặc công lừng lẫy năm nào. Trong căn nhà cấp 4 cũ kỹ, rộng chừng 60m2 thứ đáng giá nhất là những tấm huân, huy chương treo kín trên tường. Bước qua tuổi 63, ông vẫn giữ được tác phong của người lính đặc công, nhanh nhẹn, hoạt bát và bình dị.

Kể lại những năm tháng chiến đấu ở miền Đông Nam bộ, giọng ông Nghệ chùng hẳn xuống. Ông sinh năm 1952 tại thôn Minh Hồng, xã Liên Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Tròn 18 tuổi, ông xung phong vào Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 305, Bộ Tư lệnh Đặc công. Sau khóa huấn luyện tại Suối Hai - Ba Vì, đầu năm 1971 ông cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào chiến trường. Có mặt ở Bình Phước, ông được biên chế về Đoàn 27, đơn vị đảm nhận các mục tiêu lớn như tổng kho Long Bình, sân bay Biên Hòa và các khu căn cứ quân sự ở Bình Dương, Lai Khê, Phước Vĩnh, Trường sĩ quan Long Thành, căn cứ biệt kích Yên Thế… phía bắc Sài Gòn - Gia Định. Ông Nghệ bảo, bước vào trận đánh ai cũng đau đáu quyết tâm cùng đồng đội tiêu diệt nhiều sinh lực, phương tiện, kho tàng của địch. Người chiến sĩ đặc công luôn biết nhận hy sinh, nguy hiểm, khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội. Với họ cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Trận đánh để đời

Cho đến bây giờ ông Nghệ vẫn nhớ như in trận đánh căn cứ Sư đoàn 18 (Sư đoàn Trâu điên, Chiến đoàn 43 Sài Gòn). Đây là sư đoàn chuyên cung cấp các sĩ quan thiện chiến quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH) cho chiến trường miền Nam, nhất là khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng. Theo tin tình báo, trong tháng 4/1973, sẽ có hàng nghìn sĩ quan về dự hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu tại Sư đoàn Trâu điên. Đoàn 27 được giao nhiệm vụ điều nghiên, tấn công, tạo tiếng vang và thanh thế cho ta, gây hoang mang cho địch.

Ông Nghệ hiện là Bí thư chi bộ thôn Quỳnh Ngọc

Dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Văn Lại, đại Đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 9, ông Nghệ và đồng chí Nguyễn Xuân Tinh (Hà Tĩnh) có nhiệm vụ trinh sát, điều nghiên để chuẩn bị cho trận đánh.


“Căn cứ Trâu điên nằm cạnh bờ sông, có con đê cao gần 4m che chắn, từ ngoài vào trong có 3 lớp hàng rào cũi lợn, bùng nhùng, mỗi lớp cách nhau khoảng 3 - 5m. Ở các khoảng trống và trên các hàng rào bố trí dày đặc các loại mìn Clay mo, mìn díp, mìn râu tôm, vỏ lon sữa nhằm phát ra tiếng động, gây sát thương khi có ngoại lực tác động. Cứ 25m địch lại bố trí 1 lô cốt kiên cố, có tầm quan sát rộng và hỏa lực mạnh. Ban đêm căn cứ bật đèn cao áp, bắn pháo sáng. 6 giờ chiều hằng ngày, tổ đặc công chúng tôi hành quân từ cửa rừng ra khu tập kết, đợi đến 11 giờ đêm thì tiếp cận mục tiêu.

 Sau 3 tháng, đêm bò vào, sáng sớm bò ra, chúng tôi đã có đầy đủ sơ đồ bố trí, lực lượng, trang bị chi tiết và những đánh giá chính xác điểm mạnh, điểm yếu của địch. Quá trình trinh sát, chúng tôi được trang bị dao găm, lựu đạn và súng ngắn. Lúc bò vào trong, địch bố trí vật cản thế nào thì khi quay ra phải trả mọi thứ về đúng nguyên trạng như thế. Lo sợ nhất là đám quân khuyển, ngỗng được huấn luyện để lùng sục, đánh hơi kẻ lạ, vì thế trước khi đột nhập, chúng tôi mặc độc chiếc quần lót nằm phơi sương để làm mất hơi người. Ngoài ra, địch còn thả rắn độc, kiến lửa quanh căn cứ nhằm ngăn ta thâm nhập”, ông Nghệ nhớ lại.

Đêm tấn công căn cứ địch, sau khi cắt hàng rào đưa lực lượng vào trong, ông Nghệ ôm khối bộc phá băng băng áp sát Sở chỉ huy Sư đoàn Trâu điên và kích nổ làm hiệu lệnh để toàn đơn vị xung phong. Bị bất ngờ, kẻ địch kháng cự yếu ớt. Nhanh chóng tiêu diệt mục tiêu đảm nhiệm, ông Nghệ quay sang chi viện cho các tổ khác đánh sập thêm 2 dãy nhà, là nơi ở của hàng trăm sĩ quan.

Một trận đánh nhớ đời khác theo ông là trận đánh cầu Tân Cảng trên xa lộ Thủ Đức ngày 10/4/1975. Ông Nghệ có nhiệm vụ cắt hàng rào, mở cửa đưa lực lượng vào trong. Sáng sớm, trước giờ nổ súng 30 phút, ông vinh dự được được kết nạp Đảng ngay trước lớp hàng rào ngoài cùng của địch. Trận ấy, ông cùng đồng đội tiêu diệt hoàn toàn hai trung đội địch bảo vệ cầu, chiếm lô cốt đầu cầu. Sáng hôm sau, chúng điều lính lên chiếm lại cầu, tương quan lực lượng chênh lệch nên cấp trên lệnh cho đơn vị tạm thời rút lui, đến đêm sẽ tái chiếm. 16 ngày liên tục, ban đêm cầu do bộ đội ta làm chủ, ban ngày do địch làm chủ. Đến ngày 26/4, quân ta chiếm được cầu hoàn toàn.

Những điều bất ngờ

Sau ngày giải phóng, ông Nghệ về làm quân quản ở cư xá Kiến Thiết - Thủ Đức, sau được Nhà nước cử sang Bungari học lớp lái máy gặt đập liên hợp, nhưng rồi căn bệnh sốt rét tái phát, sức khỏe yếu ông đành xin về quê.

Lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk tặng hoa AHLLVTND Phạm Huy Nghệ (thứ 2, phải qua) nhân kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập QĐNDVN

Năm 1977, ông chuyển vào làm cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Ông Nghệ bồi hồi: Cuộc đời tôi có hai sự kiện bất ngờ. Lần đầu là vào năm 1978, khi tôi đang trộn bùn trát lại ngôi nhà cũ thì có một đoàn xe chạy vào tận cổng. Chưa hiểu chuyện gì thì những cán bộ sĩ quan mặc quân phục đã reo lên “Đúng anh Nghệ rồi! Chúng tôi đi tìm anh mãi”. 

Rồi họ thông báo, tôi được Đảng, Nhà nước phong tặng AHLLVTND vì thành tích xuất sắc trong trận đánh căn cứ Sư đoàn Trâu điên và mời tôi về quê nhận thưởng. Tôi cứ ngỡ mình nghe nhầm”. Hóa ra, khi quyết định phong Anh hùng đưa về đơn vị cũ, thì ông đang đi học, thuộc quân số của Bộ Luyện Kim. Liên hệ với Bộ Luyện Kim, biết ông đã xuất ngũ về quê. Họ lặn lội về Thái Bình, ông lại chuyển vào Đắk Lắk từ lâu.

“Sau ngày nhận danh hiệu Anh hùng, tôi xin tái ngũ, làm Chính trị viên Đại đội Quân báo - Trinh sát 32, Bộ CHQS tỉnh Thái Bình. Đúng một năm sau, khi tôi đang tập huấn bơi cho bộ đội trên sông Bạch Đằng đoạn qua huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), đoàn công tác của Trung ương Đoàn và Bộ Tư lệnh Quân khu 3 bất ngờ chạy bo bo ra giữa sông thông báo, có lệnh của Bộ Quốc phòng, cử tôi tham gia đoàn Thanh niên cộng sản HCM dự kỷ niệm 30 năm thành lập Thanh niên tự do tại CHLB Đức. Tôi được đi thăm và giao lưu tại 17 nước XHCN. Đó là điều bất ngờ thứ hai”, ông Nghệ chia sẻ.

 Sau chuyến đi ấy, ông về làm chính trị viên Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 329, Quân khu 3 rồi lấy vợ sinh con. Năm 1987, ông đưa cả gia đình vào lại Đắk Lắk. Tại đây, ông đảm nhận các cương vị như Phó chỉ huy trưởng Động viên Ban CHQS huyện Lắk, trợ lý Tác chiến - Phòng Tham mưu. Ngày về hưu ông mang hàm thiếu tá, là Phó chỉ huy trưởng - Tham mưu trưởng Ban CHQS huyện Krông Ana, Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk.

Ông Nghệ có tất cả 8 người con. Bốn người con đầu lúc mới sinh đều khỏe mạnh nhưng cứ đến tháng thứ 6 - 7, lồng ngực, chân tay tự nhiên teo tóp, ốm yếu dần. Bao nhiêu tiền của trong nhà, ông dành cả chữa bệnh cho con, vậy mà chẳng đứa nào ở được với ông quá bốn năm. Người con thứ 5 là Phạm Huy Võ, là chiến sĩ Trung đoàn BB584, Bộ CHQS tỉnh Đắk Lắk may mắn khỏe mạnh, ngoan hiền, song lại qua đời vì tai nạn giao thông năm 2007. Niềm hy vọng lớn nhất của ông bây giờ là cô con gái học năm cuối khoa ngoại ngữ Đại học Tây Nguyên, người con trai vừa tốt nghiệp PTTH và cậu con út học lớp 12, trường Văn hóa 3 Bộ Công an.

Bị di chứng nặng nề của chất độc da cam, cứ trái gió trở trời lại đau nhức khắp người, thế nhưng chẳng bao giờ ông than thở một lời. Với ông, việc hiến trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc là trách nhiệm thiêng liêng của người chiến sĩ Đặc công.     

Ông Nguyễn Đình Viên, Chủ tịch UBND huyện Krông Ana cho biết: Trong huyện chỉ còn duy nhất bác Nghệ là AHLLVTND. Bác không chỉ là nhân chứng sống, nguồn tư liệu quý mà còn là người anh hùng cách mạng gương mẫu, luôn phát huy tốt phẩm chất của người lính Bộ đội Cụ Hồ. Ngoài ra, bác còn tích cực tham gia vào các hoạt động ở xã, huyện, giáo dục truyền thống cho giới trẻ, vận động thanh niên lên đường nhập ngũ.

Những cuộc đột kích giải phóng Trường Sa của đặc công

"Nếu là lực lượng nước ngoài chiếm đảo, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, nhưng khi nghe tiếng miền Bắc kêu gọi đầu hàng, chúng tôi đã buông súng", Thiếu tướng Mai Năng nhắc lại lời một viên chỉ huy Việt Nam Cộng hòa bị bắt làm tù binh ở Trường Sa năm 1975.
Lá cờ bộ đội hải quân cắm trên đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa) ngày 14/4/1975. Ảnh: Hoàng Phương. Lá cờ bộ đội hải quân cắm trên đảo Song Tử Tây (quần đảo Trường Sa) ngày 14/4/1975. Ảnh: Hoàng Phương.

Mỗi độ tháng tư về, trong ký ức trung tá Đào Mạnh Hồng (hiện sống ở TP Hải Phòng, nguyên lính đặc công Đội 1, Đoàn 126), Trường Sa lại hiện lên rất gần và trận đánh giải phóng đảo Song Tử Tây như mới xảy ra ngày hôm qua.

Cuối tháng 3/1975, ông Hồng cùng đồng đội nhận nhiệm vụ hành quân cấp tốc từ Quảng Ninh vào Đà Nẵng. "Lúc xuống tàu, chúng tôi đều nghĩ mình sẽ quay lại miền Nam, trực tiếp chiến đấu chứ không biết sẽ nhận lệnh đi giải phóng Trường Sa", cựu binh 62 tuổi nhớ lại.

Đêm 10/4/1975, các tàu vận tải giả dạng tàu đánh cá, phủ lưới lên trên boong chở bộ đội rời Đà Nẵng đến Trường Sa. Dọc đường đi, gặp tàu tuần tra của Hạm đội 7, có máy bay trinh sát nên cả đoàn phải rẽ ngược lên phía Bắc để đánh lạc hướng, chờ nguy hiểm qua đi rồi mới tiếp tục hành trình.

Gần 300 người cùng vũ khí ngồi san sát như những lớp cá xếp ngay ngắn dưới hầm tàu, lênh đênh trên biển. "Chúng tôi cứ ngồi trong khoang chật chội như thế, thiếu không khí, sóng dập sóng nhồi nên người mệt lử. Tôi bị say sóng không ăn được gì, thi thoảng người bên cạnh nhét cho một viên đường và cho uống nước để giữ sức", ông Hồng nói. Cảm giác lần đầu tiên say sóng đó đến giờ nghĩ lại ông vẫn thấy nôn nao.

Tối 13/4/1975, đoàn tàu "đánh cá" đến được quần đảo Trường Sa, nhận lệnh đánh đảo Song Tử Tây trước.  Một giờ sáng hôm sau, nhiệm vụ được phân công rõ ràng, Đội 1 đặc công do trung úy Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy, chia làm 3 mũi tiến công đảo. Trong đêm đen, các chiến sĩ mang theo súng AK, lựu đạn,... dùng xuồng cao su chèo tay, lợi dụng dòng hải lưu dần tiếp cận đảo. Trời, biển, đảo thời khắc ấy là một khối đen thăm thẳm, chỉ nghe tiếng sóng ầm ào. Trên đảo thi thoảng có ánh đèn tuần tra le lói. 

Phân đội do thượng sĩ Hồng dẫn đầu tiếp cận đảo sớm nhất. Theo hiệp đồng chiến đấu, phân đội của trung úy Quế sẽ nổ súng lệnh, tấn công đảo lúc 4h30. Nhưng đến sát giờ, đội đặc công do ông Quế chỉ huy vẫn chưa tiếp cận được đảo. Thượng sĩ Hồng phân vân không biết có nên nổ súng. "Phân đội có một khẩu B41. Tôi quyết định cho nổ súng tấn công trước, nếu đợi trời sáng bị phát hiện, yếu tố bí mật, bất ngờ sẽ không còn nữa", ông Hồng nhớ lại và cho rằng nổ súng trước là quyết định sáng suốt nhất đời lính của ông.

Khi chiến sĩ Lê Minh Đức bắn phát súng B41 đầu tiên cũng là lúc bộ đội xung phong lên đảo. Vừa  nổ súng, họ vừa tiếp cận cột cờ để chiếm ưu thế và kêu gọi lính Việt Nam Cộng hòa đầu hàng. Sau 30 phút chống trả yếu ớt, binh sĩ trấn giữ đảo buông súng. Cùng lúc, hai phân đội đặc công còn lại tràn lên đảo, hoàn toàn làm chủ tình hình. Rạng sáng 14/4, lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tung bay trên đỉnh cột cờ của đảo Song Tử Tây.

Kết thúc cuộc tấn công chớp nhoáng,  hai chiến sĩ đặc công hi sinh. Liệt sĩ Tống Văn Quang sau này được mai táng gần cột cờ chủ quyền trên đảo. Còn chiến sĩ Ngô Công Quyền bị thương ở bụng, mất trên đường về đất liền. Phía Việt Nam Cộng hòa có  6 binh sĩ tử trận, 33 người bị bắt làm tù binh.

Đại tá Phan Xuân Ạp bồi hồi kể lại những ngày giải phóng Trường Sa. Ảnh: Nguyễn Đông.
Cùng tham gia tăng cường giải phóng Trường Sa, theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng và Quân khu 5, còn có tiểu đoàn đặc công 471 (thuộc Quân khu 5). Ngày 16/4, một cánh quân của tiểu đoàn này được lệnh xuống ba tàu vận tải giả dạng tàu cá ra đảo Sinh Tồn. Sau khi tiếp cận mục tiêu và trinh sát, đặc công bất ngờ đột kích lên đảo, bắt sống nhiều lính Việt Nam Cộng hòa.

Bốn ngày sau, 36 đặc công thuộc tiểu đoàn 471 tiếp tục nhận lệnh xuống tàu ra Trường Sa. Đến ngày 24/4,  đặc công hải quân đã trinh sát các đảo Nam Yết, Trường Sa lớn, An Bang, Sơn Ca. "Cấp trên lệnh xuống là phải chờ chứ chưa được đánh đảo", cựu binh đặc công Phan Xuân Ạp (64 tuổi, Chủ tịch Hội cựu chiến binh phường Hòa Thuận Đông, quận Hải Châu, Đà Nẵng) kể. Rạng sáng 25/4, lệnh tấn công được phát ra, các mũi đặc công đổ bộ, tràn lên đảo Sơn Ca. Quân lính Việt Nam Cộng hòa chống cự yếu ớt và đầu hàng sau 30 phút đấu súng.

Theo ông Ạp, sở dĩ quân giải phóng nhanh chóng giành thắng lợi ở Trường Sa là do lính Việt Nam Cộng hòa trấn giữ đảo thường xảy ra xô xát nên hầu hết vũ khí bị thu giữ, cất trong kho bởi vậy trở tay không kịp khi bị tấn công bất ngờ.

Nhận được tin Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam giải phóng đảo Song Tử Tây, chính quyền Sài Gòn điều 2 tàu chiến từ Vũng Tàu ra định phản kích chiếm lại, nhưng nản lòng trước những thất bại liên tiếp trên đất liền, nên quay sang tăng cường phòng thủ đảo Nam Yết. Đến ngày 27/4, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã rút khỏi các đảo để theo tàu về đất liền.

"Khi chúng tôi tiếp quản Nam Yết, phát hiện trước đó lính Việt Nam Cộng hòa đã hạ hết nòng pháo ngang tầm bắn trên mặt nước, rải mìn kín xung quanh đảo. Cũng may, đặc công hải quân không đổ bộ sớm, chứ không chắc chắn có nhiều thương vong", ông Ạp nói. Binh sĩ Việt Nam Cộng hòa rút khỏi đảo nào thì quân giải phóng lập tức lên tiếp quản, bố phòng chặt chẽ. Ngày 28/4, các đảo Trường Sa Lớn và An Bang được giải phóng.

Sau khi làm chủ Song Tử Tây, gần 30 đặc công hải quân được giao nhiệm vụ trụ lại phòng thủ đảo. Trung tá Đào Mạnh Hồng cho biết, đó là khoảng thời gian vô cùng căng thẳng. "Sáng 14/4, một tàu đánh cá Trung Quốc tiến đến gần đảo, khi thấy cờ giải phóng thì chần chừ rồi quay đầu đi vòng quanh đảo, thăm dò 3 ngày liên tục".

Thực hiện chỉ thị của Bộ tư lệnh Hải quân "bằng mọi giá không để cho quân đội nước ngoài vào chiếm đảo", lính đặc công đắp ụ cát, chặt thân dừa giả làm nòng pháo, rồi dùng bao bạt phủ lên trông giống ụ pháo, đánh lừa những con tàu lởn vởn quanh đảo như những bóng ma. Sau vài ngày thăm dò, chúng đành bỏ đi.

"Ngày ấy, chúng tôi đi giải phóng và giữ đảo bằng ý chí và một niềm tin sắt đá vì nhận thức rõ rằng, mảnh đất thiêng liêng này thuộc về chủ quyền đất nước", trung tá Hồng nói. 

Thiếu tướng Mai Năng, chỉ huy cuộc giải phóng các đảo Trường Sa năm 1975. Ảnh: Giang Chinh.
Đại tá Phan Xuân Ạp cho rằng, đất nước thống nhất đã 40 năm, nhắc lại quá khứ là điều cần thiết, đặc biệt khi chủ quyền biển đảo trở thành mối quan tâm lớn trong bối cảnh hiện nay. "Phải nói rằng, chính quyền Sài Gòn đã rất ý thức việc giữ chủ quyền biển đảo để phòng thủ đất nước bằng việc cho lính ra đóng giữ 6 đảo.

 Từ đó, quân giải phóng mới dễ dàng làm chủ tình hình. Những người lính đi giải phóng Trường Sa luôn mong mỏi một điều, thế hệ hôm nay và ngày mai phải giữ được những hòn đảo nơi địa đầu tổ quốc để phòng thủ đất nước từ xa", ông Ạp nói.

Thiếu tướng Mai Năng, chỉ huy chiến dịch giải phóng Trường Sa thì nhớ mãi câu nói của viên chỉ huy Việt Nam Cộng hòa khi bị hỏi cung ngay tại chỗ. Ông hỏi: "Sao cấp trên dặn kiên quyết phòng thủ mà lại đầu hàng?". Viên chỉ huy trả lời: "Nếu là lực lượng nước khác chiếm đảo, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Nhưng khi nghe tiếng miền Bắc kêu gọi đầu hàng,  chúng tôi đã buông súng, muốn giao lại đảo cho quân giải phóng". 


Theo Vnexpress

Giải mật chuyên án bắt gián điệp đầu tiên ở Miền Bắc

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, với âm mưu "đánh Cộng sản trong lòng Cộng sản", Cơ quan Tình báo Mỹ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã tung ra miền Bắc hàng trăm tên gián điệp, biệt kích. Tất cả số này đều bị ta tiêu diệt hoặc bắt sống.
Huấn luyện biệt kích tại Đà Nẵng. Huấn luyện biệt kích tại Đà Nẵng.

Không những thế, lực lượng Công an nhân dân (CAND) còn thực hiện thành công chiến thuật "dùng người của địch, phương tiện của địch để đánh lại địch".

Chuyên án BK63 là một chiến công tiêu biểu của cuộc đấu tranh bí mật này. Trong suốt 10 năm (1961- 1970), lực lượng an ninh đã dùng chính gián điệp mà CIA đánh ra Bắc để câu nhử CIA đưa phương tiện và nhiều toán biệt kích ra Bắc theo ý đồ của ta.  Được sự giúp đỡ của Cục Chính trị Tổng cục An ninh, phóng viên Chuyên đề ANTG đã tiếp cận khá đầy đủ hồ sơ chuyên án. Loạt bài tư liệu này sẽ dựng lại phần nào cuộc đấu trí suốt 10 năm của các cán bộ an ninh với trung tâm CIA…

Kỳ I: Chiếc thuyền lạ trên bãi biển và cuộc truy lùng "người trở về"

1. Một buổi sáng đầu tháng 4/1961, cũng như bao buổi sáng khác, ông Ngột, một ngư dân ở thôn La Khê, xã Tiền An, huyện Yên Hưng, tỉnh Hồng Quảng (nay là Quảng Ninh) cùng một bạn chài từ trong làng ra bến thuyền để đi biển. Nhưng khi qua đầm Thùa (thôn La Khê), hai người bất ngờ thấy có một chiếc thuyền nan có kiểu dáng rất lạ, không giống như của ngư dân vùng Hồng Quảng đang sử dụng.

Tò mò, hai người đến xem thì thấy trong thuyền có hai chiếc bơi chèo, một chiếc giỏ đan bằng mây để đựng cá, một cần câu, một ống câu. Thấy những vật này bỏ trong chiếc thuyền vô chủ, ông Ngột đã lấy mang về nhà, còn chiếc thuyền thì mang để ở bến thuyền với ý định sẽ dùng chung. Nhưng sáng hôm sau, khi ra bến thì  không thấy chiếc thuyền đâu nữa. 

Chuyện chiếc thuyền lạ lập tức được báo cho Cơ quan Công an. Công an huyện Yên Hưng sau đó cử cán bộ đi xác minh đã tìm thấy chiếc thuyền lạ này ở một xã khác cách xã Tiền An 2km. Người chủ của chiếc thuyền trình bày rằng anh ta mua lại của một gia đình thuyền chài. 

Đúng lúc chuyện chiếc thuyền lạ bỗng nhiên dạt vào bờ còn chưa hết xôn xao thì mấy hôm sau, anh Phạm Văn Hán, ở xã Tiền An lên báo với Công an xã rằng mẹ anh là bà Trới, chiều ngày 9/4 khi lên núi Đầm Thùa lấy củi thì bất ngờ thấy ở gần nhà Phạm Ốc có một người đàn ông lạ ngồi trong bụi rậm, xung quanh có rất nhiều quần áo. Khi thấy bà, người này úp mặt trên đầu gối như che mặt rồi gừ lên một tiếng nghe sởn tóc gáy, tưởng ma, bà vứt cả dao lẫn củi bỏ chạy về nhà.

Khi Công an huyện cử cán bộ đến gặp bà Trới để hỏi chuyện này thì bà nói rằng không có gì cả, người ngồi trong bụi rậm hôm ấy là Phạm Ốc, hôm đó đi lấy dây rừng về buộc chuồng lợn, thấy bà đi một mình nên định trêu bà thôi. Sau đó Ốc đã đến nhà xin lỗi vì làm bà sợ.

Tuy nhiên, với các cán bộ an ninh, xâu chuỗi những thông tin lại đã khiến họ đặt một nghi vấn lớn hơn, bởi Phạm Ốc có một người anh ruột là Phạm Chuyên vốn là một phần tử chống đối ở địa phương nhưng hai năm trước đã bỏ trốn đi Nam.

Theo hồ sơ lưu tại Cơ quan Công an thì Phạm Chuyên sinh năm 1922, thời Pháp thuộc đi lính khố xanh và được đi học về điện đài. Sau Cách mạng Tháng Tám, Chuyên tham gia Cách mạng và được kết nạp vào Đảng và có một thời gian làm ở Ty Công an Quảng Yên. Tháng 10/1947, Chuyên bị Pháp bắt, sau được tha và làm thư ký hội đồng ở thị xã Hồng Gai. Tháng 5-1948, Chuyên bỏ về quê, sau đó chạy vào căn cứ địa cách mạng ở huyện Hoành Bồ và được kết nạp Đảng lại.

Cuối năm 1948, Chuyên được phân công phụ trách 3 xã ở huyện Yên Hưng; đầu năm 1949, Chuyên được điều về làm ở Ban Thi đua tỉnh; đầu năm 1950 chuyển sang làm ở Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Yên. Năm 1953, khi được cử đi học trường Đảng, Chuyên bị tố hủ hóa sau đó đã cùng tình nhân bỏ vào vùng địch nên lại bị khai trừ Đảng. Sau hòa bình, dù được bố trí công tác trong một cơ quan, nhưng cuối năm 1957, Chuyên bất mãn, nên bỏ cơ quan về và gọi cả em trai là Phạm Ốc lúc đó đang học y sĩ bỏ học về nhà.  

Về quê, sẵn tư tưởng bất mãn nên Chuyên sáng tác ca dao, hò vè đả kích, khích động quần chúng đấu tranh. Tháng 6/1959, sau khi bị Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng gọi lên xét hỏi về hành động chống đối chính quyền, khi được cho về viết kiểm điểm, Chuyên đã bỏ trốn đi Nam. Thời gian sau đó, có bưu thiếp của Chuyên gửi về báo tin Chuyên làm ăn phát đạt.

Một loạt câu hỏi được đặt ra: Phải chăng Phạm Chuyên đã quay về? Người ngồi trong bụi rậm chính là hắn? Việc Phạm Ốc tự nhận là người ở bụi cây dọa bà Trới là một trò đánh lạc hướng điều tra của công an và để dập tắt mọi sự nghi ngờ?

Một báo cáo khẩn cấp của Công an Hồng Quảng gửi về Bộ Công an. Sau khi nhận được chỉ thị của Bộ, một đội trinh sát tinh nhuệ bí mật triển khai bám sát những thành viên trong gia đình Phạm Ốc và theo dõi những biến động khả nghi ở vùng lân cận.

Đêm 6/6/1961, phát hiện Phạm Đắc, em ruột Phạm Chuyên, xách một túi vải đi về thị xã Quảng Yên với nhiều dấu hiệu nghi vấn, tổ công tác quyết định bắt Phạm Đắc đưa về Đồn Công an Quảng Yên. Tại đây, khi khám xét chiếc túi đã thu giữ  một máy phát tin, một gói cơm nếp và một số thực phẩm. Đấu tranh ngay trong đêm, Đắc khai chiếc máy này là của Phạm Chuyên, chiếc thuyền nan mà người dân xã Tiền An phát hiện thấy ở bờ biển chính là thuyền của Chuyên.  

Kế hoạch vây bắt Phạm Chuyên được vạch ra. Khuya 11/6/1961, đồng chí Nguyễn Minh, Trưởng Ty Công an Hồng Quảng đã chỉ huy tổ trinh sát đặc nhiệm bí mật bắt Phạm Chuyên ngay tại nhà. Khám nhà, công an thu được 19 bộ lốc mã giấu trong cót thóc. Mở rộng diện đấu tranh, ta thu được trọn bộ điện đài vô tuyến điện gồm một máy thu, một máy phát và một máy phát điện quay tay.

Từng làm công an và lại được CIA đào tạo bài bản nên những ngày đầu bị bắt, Phạm Chuyên kiên quyết không khai và giở nhiều thủ đoạn để đối phó với cán bộ điều tra. Sau khi nhận báo cáo của Công an Hồng Quảng, đồng chí Nguyễn Tài, lúc đó là Cục trưởng Cục Bảo vệ Chính trị (đồng chí Nguyễn Tài sau này là Thứ trưởng Bộ Công an, rồi chuyển sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan), trực tiếp xuống Hồng Quảng.

Sau những cuộc trò chuyện với Phạm Chuyên, Cục trưởng Nguyễn Tài nhận ra một điều Phạm Chuyên là kẻ tráo trở nhưng lại rất thương mẹ, thương em, vì vậy cùng với việc thuyết phục Phạm Chuyên, Cục trưởng Nguyễn Tài cũng chỉ đạo phải làm tốt chính sách với với gia đình Phạm Chuyên. Vì vậy mà sau vài lần nói chuyện với Cục trưởng Nguyễn Tài, cùng với sự tác động của các cán bộ an ninh, Phạm Chuyên mới khai lại toàn bộ.

Báo cáo của Sở Công an Hồng Quảng gửi Bộ Công an về việc bắt Phạm Chuyên.
2. Trong bản báo cáo ngày 5/7/1961 có đóng dấu "tối mật" của Sở Công an khu Hồng Quảng đã trình bày lại toàn bộ quá trình trốn vào Nam  của Phạm Chuyên như sau:

Ngày 25/6/1959, sau khi được Tòa án nhân dân huyện Yên Hưng cho về viết kiểm thảo, Phạm Chuyên quyết định bỏ trốn.

Ban đầu Chuyên lên Hà Nội rồi mua vé xe khách đi vào Vinh. Từ Vinh, Chuyên đi theo đường số 8 lên biên giới rồi vượt biên sang Lào. Sang Lào, sau khi được tiếp nhận, Chuyên được đưa về Savanakhet để thẩm vấn. Sau 9 tháng ở Lào và qua nhiều vòng thẩm vấn, Chuyên được đưa về trung tâm tiếp đón đồng bào vượt tuyến ở Sài Gòn. Tháng 5/1960, sau khi trải qua nhiều vòng thẩm vấn, Chuyên đề đạt nguyện vọng được có một việc làm để sinh sống, khi nào cần sẽ tình nguyện về miền Bắc làm việc, nếu không xin cứ cho nằm lại ở trung tâm.

Công việc mà Chuyên được Sở Nghiên cứu chính trị giao cho làm sau đó là đi nói chuyện ở một số địa phương với nội dung xuyên tạc về chính sách thuế nông nghiệp, hợp tác xã ở miền Bắc.

Sau vài tháng đi nói chuyện, một ngày đầu tháng 9/1960, một người tên là Phan đến gặp Chuyên. Phan giới thiệu là nhân viên của Sở Nghiên cứu chính trị thuộc Phủ Tổng thống (thực chất là cơ quan tình báo, phản gián chiến lược của chính quyền VNCH được thành lập năm 1956 do Trần Kim Tuyến làm giám đốc. Sở này có nhiệm vụ điều tra, thu thập tin tình báo chiến lược về mọi mặt; tổ chức, chỉ huy các hoạt động gián điệp tại Bắc Việt, bảo vệ an ninh nội bộ…).

Câu chuyện của Phan vẫn chỉ xoay quanh việc Chuyên vượt tuyến, việc Chuyên từng học điện đài thời Pháp thuộc. Cuối cùng, Phan mới lật bài ngửa với Chuyên khi hỏi thẳng có dám mạo hiểm trở lại miền Bắc không. Sau khi Chuyên đồng ý, Phan hẹn lần sau sẽ gặp để bàn tiếp công việc. 

Vài ngày sau, Phan lại tới và yêu cầu Chuyên tự viết bản kế hoạch hoạt động khi quay trở lại miền Bắc. Chuyên lập tức viết một bản kế hoạch, trình bày chi tiết từ kế hoạch vượt tuyến trở lại miền Bắc, tới phương pháp gây dựng cơ sở khi ra Bắc, cách thức lãnh đạo đấu tranh, phương tiện liên lạc để cung cấp tin cho trung tâm ở Sài Gòn và cả dự trù kinh phí hoạt động… Cầm bản kế hoạch này, Phan ra về và hẹn sẽ gặp lại sau khi nghiên cứu.

Một buổi chiều giữa tháng 9/1960, Phan quay trở lại gặp Chuyên và đưa Chuyên đến khách sạn Majestic để gặp một người Mỹ. Người Mỹ này lại hỏi Chuyên những câu hỏi mà Phan đã hỏi nhiều lần; gã người Mỹ còn hỏi Chuyên về ấn tượng với chính thể miền Nam rồi sau đó câu chuyện kết thúc. Một tuần sau, Phan lại đưa Chuyên đến gặp gã người Mỹ nhưng địa điểm là ngôi biệt thự trên một con phố. Gã người Mỹ lại đặt những câu hỏi trắc nghiệm tâm lý. Khi kết thúc, gã nói với Chuyên rằng "cán bộ của chính phủ sẽ gặp ông nữa. Riêng tôi, chúc ông thành công".  

3. Đó là nội dung Phạm Chuyên khai vào tháng 6/1961. Mấy chục năm sau, trong cuốn sách "Cuộc chiến bí mật - Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH" của dịch giả, giáo sư Vũ Đình Hiếu  (Giáo sư Vũ Đình Hiếu là một cựu biệt kích quân đội VNCH, sang Mỹ năm 1975, đi học trở lại, sau này trở thành giáo sư chuyên ngành Công nghệ thông tin, từng giảng dạy các trường đại học ở bang Texas - (Mỹ), căn cứ vào những tài liệu đã giải mã của Lầu Năm Góc cũng đề cập tới việc CIA và tình báo VNCH tuyển chọn Phạm Chuyên, trong đó có nhắc tới 2 người đã thẩm vấn và đào tạo Chuyên, đó là Trung úy Đỗ Văn Tiên, nhân viên của Phòng 45 và Edward Reagan, nhân viên CIA. 

Phòng 45 là mật danh của  Phòng Bắc Việt, trực thuộc Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống VNCH, thực chất là một đơn vị tình báo do CIA lập ra vào cuối năm 1958 gồm 12 sĩ quan người Việt cấp bậc từ thiếu úy đến trung úy. Tất cả những người này đều do CIA tuyển chọn và đào tạo về nghiệp vụ tình báo, tác chiến, phương thức phá hoại và chỉ huy đường dây tình báo.

"Phòng 45 lập kế hoạch 5 năm để xâm nhập vào vùng hậu phương mà đối phương kiểm soát rất chặt chẽ. Lần này Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống giao trách nhiệm cho Trung úy Đỗ Văn Tiên (mật danh Francois) phái một điệp viên đơn tuyến xâm nhập miền Bắc. Francois tìm được một người thích hợp là Phạm Chuyên, nguyên là một đảng viên biến chất, quê ở tỉnh Quảng Ninh. Chuyên bị vợ bỏ nên anh ta di cư vào Nam.

Thoạt đầu Phạm Chuyên từ chối, mặc dù Trung tá Lê Quang Tung đã cho đàn em theo dõi, dụ dỗ suốt nửa năm trời. Trung úy Tiên (Francois) buộc phải cộng tác với một nhân viên CIA là Edward Reagan tìm cách thuyết phục Chuyên. Sau hơn 6 tháng CIA trổ tài, Phạm Chuyên nhận lời. Anh ta được đưa ra Nha Trang để làm kỳ trắc nghiệm tâm lý. Chuyên đạt điểm xuất sắc trong kỳ trắc nghiệm.

Sau đó, Chuyên còn phải trải qua hai kỳ khảo nghiệm nữa, một ở Sài Gòn và một ở Nha Trang. Tiếp theo CIA huấn luyện cho Chuyên 6 tháng về kỹ năng truyền tin. Trong lúc Chuyên được huấn luyện các kỹ năng thì Trung úy Tiên và Reagan bận rộn phác thảo kế hoạch đưa điệp viên xâm nhập miền Bắc…".

Nhưng, đây là chuyện của mấy chục năm sau, khi các hồ sơ đã được giải mật.  Còn vào thời điểm năm 1961 thì CIA vẫn chắc mẩm rằng đã thành công khi đưa được Phạm Chuyên trở lại miền Bắc an toàn…

(Còn tiếp)


Giải mật chuyên án bắt gián điệp đầu tiên ở Miền Bắc-Kỳ 2:

Điệp viên Ares và hành trình trở lại miền Bắc Việt Nam

Sáng sớm ngày 5/4/1961, tại một bến tàu ở Đà Nẵng, một chiếc tàu hình dáng như tàu đánh cá trọng tải khoảng 40 tấn chở theo một chiếc xuồng cao su và một chiếc thuyền nan nhỏ lặng lẽ rời bến. Ra khỏi cửa biển Đà Nẵng, chiếc tàu nhằm thẳng hướng Tây - Bắc.
Sau điệp viên Ares, nhiều toán biệt kích bị bắt ngay sau khi đặt chân xuống miền Bắc. Sau điệp viên Ares, nhiều toán biệt kích bị bắt ngay sau khi đặt chân xuống miền Bắc.

Trên tàu, ngoài thuyền trưởng và mấy thủy thủ, có một người khách nói giọng Bắc. Các thủy thủ chỉ được thuyền trưởng thông báo đó là một cán bộ của Trung ương đi công tác đặc biệt và là người chỉ huy chung trên suốt hành trình. "Cán bộ Trung ương" ấy không ai khác chính là Phạm Chuyên.

Chạy mải miết suốt 3 ngày, tới 4 giờ chiều 7/4, khi đã ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ, thấy phía trước mặt lờ mờ nhiều dãy núi đá, thuyền trưởng cho tàu dừng lại, nấu cơm ăn và nắm cho Chuyên một nắm to.

Khi bữa cơm chiều kết thúc đã là 6 giờ 30 phút. Cuối xuân nên trời tối rất nhanh, thuyền trưởng cho tàu nhổ neo nhằm thẳng hướng có dãy núi đá chạy vào bờ. Sau hơn 3 giờ, tàu đã đi vào khu vực Hồng Gai. Khi chạy qua luồng Cửa Dứa, đến gần một quả núi cao, Quân, gã lái tàu vốn là một ngư dân trước khi vượt tuyến vào Nam đã có thâm niên đi biển ở khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng 20 năm nên rất thành thạo luồng lạch, khẳng định là núi cột cờ, Quân cho tàu dừng lại, thuyền trưởng lệnh cho nhóm thủy thủ hạ chiếc thuyền nan và chiếc xuồng cao su xuống nước.

Sau hơn nửa tiếng chuẩn bị, đưa máy truyền tin và hành lý của Chuyên lên thuyền nan, buộc chiếc thuyền nan vào phía sau xuồng cao su, Chuyên ngồi lên chiếc thuyền nan, Quân lái chiếc xuồng cao su chạy về phía hang Đầu Gỗ rồi rẽ sang ghềnh Si. 

2 giờ sáng ngày 8/4, đến ghềnh Si, Quân lái xuồng cao su quay lại tàu, Chuyên bơi thuyền nan theo kênh tiến vào núi đất. Vì nước xuống rất mạnh, lại chèo ngược dòng nên đến gần sáng, Chuyên mới vào được bờ. Vội vã vác hai chiếc máy truyền tin cùng tư trang lên giấu ở rừng sú, Chuyên kéo chiếc thuyền vào một lạch nhỏ giữa rừng sú và trốn trong rừng cả ngày. Vậy là sau 22 tháng bỏ trốn vào Nam, Phạm Chuyên đã trở lại quê hương nhưng với một vai trò khác, điệp viên của CIA với mật danh Ares.

2. Để chuẩn bị cho chuyến trở về này của Chuyên, trước đó gần một năm, Phan (tức trung úy Đỗ Văn Tiên (biệt danh Francois), nhân viên Phòng 45) và nhân viên CIA Edward Reagan đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng.

Đầu tháng 10-1960, sau khi vượt qua các vòng thẩm vấn, Phan đưa Chuyên đến một căn phòng trên tầng 5 ngôi nhà số 13 đường Kỳ Đồng. Tại đây, Phan thông báo với Chuyên rằng Tổng bộ đồng ý tuyển dụng, từ hôm nay Chuyên sẽ phải trải qua một khóa đào tạo. Thời gian học, Chuyên được hưởng lương 3.000 đồng tiền miền Nam/ tháng. Sau thời gian học, lương sẽ tăng lên 5.000 đồng/ tháng. 

Ngay ngày hôm sau, Phan bắt đầu công việc huấn luyện Chuyên bằng cách đưa cho một tập tài liệu về phương pháp công tác yêu cầu đọc kỹ, sau đó có gì thắc mắc thì hỏi lại và cùng thảo luận. Nội dung tài liệu này là hướng dẫn các phương pháp hoạt động gián điệp gồm: công tác bí mật; hướng phát triển cơ sở; tuyên truyền - điều tra - phân tích, chia loại; lãnh đạo đấu tranh; liên lạc báo cáo… Thời gian đọc và thảo luận tài liệu này trong 1 tuần. 

Sau một tuần học về phương pháp công tác, Phan đưa một người nữa, giới thiệu tên là Tý, nhân viên điện đài đến hướng dẫn Chuyên về cách truyền tin bằng vô tuyến điện. Giữa tháng 1/1961, khi đã thành thạo việc phát tin, Chuyên được chuyển đến một ngôi nhà ở đường Nguyễn Biểu để thực tập. Thời kỳ đầu tập liên lạc với Đài P8M ở ngay Sài Gòn, sau đó chuyển sang liên lạc với một đài ở xa hơn. Sau gần một tháng thực tập, khi đã thành thục, Chuyên phải trải qua một cuộc kiểm tra. Kết thúc khóa học này, tên đài của Chuyên được trung tâm đặt là ARES; bí danh của Chuyên là "Hạ Long". Khi liên lạc, trung tâm sẽ xưng hô là "Tổng bộ".

Phan còn hướng dẫn Chuyên trong trường hợp không liên lạc được qua điện đài thì sẽ dùng thư, bưu thiếp để báo cáo tình hình. Tất cả thư, bưu thiếp đều dùng danh nghĩa hai em trai của Chuyên là Phạm Ốc và Phạm Đắc gửi cho Chuyên qua một người khác làm trạm trung gian. Bưu thiếp sẽ gửi tới 2 địa chỉ: Phạm Kỷ, số 186 ấp Tây 3, xã Phú Nhuận, quận Tân Bình - Gia Định và Phạm Thị My, học sinh đệ nhất Trường Lê Quý Đôn, số 216 Phan Đình Phùng - Sài Gòn. Thư chỉ gửi cho bà Kraemer Jean ở Pháp.

Sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, giữa tháng 2/1961, Phan quay lại gặp Chuyên để tiếp tục huấn luyện về chính trị. Kết thúc khóa học, Phan đưa Chuyên ra Nha Trang nghỉ mát  nửa tháng. Trong nửa tháng ở Nha Trang, Phan tiếp tục đưa bản kế hoạch công tác khi trở ra Bắc của Chuyên viết trước đó để thảo luận, đặc biệt là cách nói dối thế nào cho hợp lý nếu sau khi ra Bắc mà bị bắt và Công an miền Bắc không thu được tài liệu. Cả hai thống nhất trong hoàn cảnh này Chuyên sẽ khai do vào Nam không được thu dung vì bị nghi vấn nên quyết định vượt tuyến quay về đầu thú, chưa kịp ra trình diện thì đã bị bắt.

Nhưng khi bàn đến phương án nếu bị bắt mà Công an thu được cả máy móc, tài liệu thì cả hai không tìm được tiếng nói chung, Phan nói rằng trong hoàn cảnh ấy Chuyên "tùy cơ ứng biến" nhưng tuyệt đối không được nhận là "cán bộ chính trị miền Nam cử ra Bắc" vì như vậy sẽ là vi phạm Hiệp định Geneve. Sau đó, Phan đưa Chuyên ra Đà Nẵng nhận tàu.

Nhiệm vụ mà Chuyên được giao trong lần quay trở lại miền Bắc là: tổ chức cơ sở quần chúng; tổ chức một khu căn cứ chuẩn bị cho hoạt động vũ trang; tổ chức cơ sở vùng biên để làm cơ sở đón tiếp tế về người, vũ khí, hàng hóa lương thực từ miền Nam ra; cập nhật và báo cáo tin tức về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế ở vùng hoạt động.

Phan bàn rất kỹ với Chuyên về đối tượng tiếp cận để gây dựng lực lượng, theo đó, ngoài dân chài, thì phải đặc biệt chú ý tới cán bộ xã, đoàn viên thanh niên. Khi đã có lực lượng, giai đoạn đầu tùy theo tình hình phát triển của cơ sở và dựa vào chính sách, hướng dẫn quần chúng tham gia đấu tranh hợp pháp với những bất hợp lý trong việc thực hiện chính sách dân công, hợp tác xã… Việc chuyển hình thức đấu tranh tùy theo sự phát triển của cơ sở và theo sự chỉ đạo từ trung tâm, dứt khoát không được tự động làm khi chưa có lệnh.

Theo kế hoạch Phan đưa ra, sau khoảng 1 đến 2 năm, khi Chuyên đã gây dựng được cơ sở vững và guồng máy hoạt động tốt, trung tâm sẽ cử người ra hoặc Chuyên chỉ định người mà mình đã tuyển để thay thế, Chuyên sẽ trở lại miền Nam. Trong trường hợp bị lộ, Chuyên báo cáo để trung tâm tổ chức đón. Trường hợp khẩn cấp, có thể bị bắt thì Chuyên rút vào rừng trốn, chờ trung tâm tổ chức cho tàu ra đón bằng đường biển…

Báo cáo của Sở Công an Hồng Quảng về việc khai thác Phạm Chuyên sau gần hai tháng bắt giữ.

3. Sở dĩ Phạm Chuyên được đào tạo kỹ lưỡng như vậy vì Ares là điệp viên đầu tiên do CIA đào tạo để đánh ra miền Bắc. CIA kỳ vọng nếu Ares xâm nhập và hoạt động được ở miền Bắc sẽ là cơ sở để tiếp tục đưa điệp viên và các toán biệt kích ra Bắc.

Sau này, trong cuốn sách "Cuộc chiến bí mật - Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH" của dịch giả Vũ Đình Hiếu cũng viết rằng để chuẩn bị cho việc đưa Phạm Chuyên xâm nhập miền Bắc, trong khi Chuyên được huấn luyện các kỹ năng thì trung úy Tiên và Edward Reagan bận rộn phác thảo kế hoạch đưa điệp viên xâm nhập miền Bắc.

"CIA cho rằng việc phái Chuyên xâm nhập miền Bắc bằng đường biển là rất hợp lý. Với niềm hứng khởi ấy, hai chuyên viên tình báo bay ra Đà Nẵng tìm địa điểm xuất phát. Họ thuê một biệt thự kín đáo, có tường bao quanh làm mật cứ. Mọi động thái cũng như đường đi, nước bước của họ từ đó về sau có mật hiệu là Pacific.

Trước khi Chuyên được gửi đi, Phòng 45 quyết định triển khai kế hoạch ngắn hạn: thả điệp viên đến khu phi quân sự, dọc theo Vĩ tuyến 17 để thăm dò. Nhân vật được tuyển chọn cho kế hoạch này là một người theo đạo Công giáo, quê ở Hà Tĩnh, tên là Vũ Công Hồng. Anh ta được huấn luyện cấp tốc và đưa ra sống ở Huế trong một căn nhà được bảo vệ rất nghiêm mật. Vũ Công Hồng (mang mật danh là Hirondelle) đã sẵn sàng lên đường. Thiếu tá Trần Khắc Kính nhân vật thứ hai của Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống chỉ đạo mọi hoạt động xuất phát từ Huế, với mật danh là Atlantic (…). Vài tuần sau, Hồng trở về căn cứ an toàn. Mặc dù Hồng chỉ cung cấp một ít thông tin về đường đi, nước bước của hệ thống an ninh Bắc Việt, nhưng cũng đủ làm cho những nhân viên của Phòng 45 hứng khởi. Sau chuyến đi của Hồng hai tháng, Chuyên đã sẵn sàng lên đường, với hành trang là kiến thức của một năm được huấn luyện.

Đầu tháng 4/1961, Chuyên lên tàu Nautilus 1, rời Đà Nẵng, theo hành trình 2 ngày về phía Bắc. Không may cho Chuyên do gặp phải thời tiết xấu, chiếc Nautilus 1 đành quay trở về nơi xuất phát. Vài hôm sau thời tiết đẹp trở lại, Chuyên tiếp tục lên đường. Cả Tiên và Reagan đều ra bến tàu tiễn đưa Chuyên. Sau này Tiên nhớ lại là khi chia tay với Chuyên, anh ta đã chúc Chuyên may mắn nhưng Chuyên không nói nửa lời".

4. Sau một ngày trốn trong trong rừng sú, đêm 8/4, sau khi chôn giấu máy truyền tin, Chuyên lẩn về nằm ở trong vườn nhà mình nhưng không dám vào nhà vì sợ em dâu, là vợ Phạm Ốc, và vợ con mình biết sẽ bị lộ. Sáng hôm sau, khi thấy Ốc đi làm, Chuyên mới gọi Ốc. Tối hôm đó, Chuyên gặp mẹ và hai em trai là Ốc và Đắc. Sau mấy ngày trốn trong nhà, khi nghe thông tin có người đến nhà ông Ngột lấy hai mái chèo ở chiếc thuyền lạ ngoài bãi biển, Chuyên mang máy truyền tin cùng tư trang lên rừng trốn.

Dù phải sống trong cảnh trốn chui trốn lủi, nhưng Chuyên cũng 3 lần lấy máy ra liên lạc về trung tâm. Nhưng vì chậm so với giờ lên máy đã quy ước với trung tâm nên đều không được. Chuyên viết thư và bưu thiếp sau đó để Ốc chép lại có nội dung mật báo gửi vào 3 địa chỉ đã quy ước từ trước với Phan.

Cho tới ngày 27/4, lần thứ 4 lên máy, Chuyên mới liên lạc được với trung tâm, báo cáo đã về tới nơi nhưng căn cứ bị động nên còn ở La Khê. Hai ngày sau, Chuyên lại liên lạc với trung tâm. Sau đó, cách vài ngày, Chuyên lại lên máy liên lạc với trung tâm. Cùng với báo cáo tình hình vào Nam, Chuyên bắt tay vào tuyển người, ngoài 2 em ruột, một em họ, Chuyên chú ý tới những người bạn và một số cán bộ cùng công tác trước kia có tư tưởng bất mãn; Chuyên dự định tổ chức cơ sở vùng ghềnh Si, lập ban đón tiếp, chuẩn bị nhận tiếp tế chuyến đầu tiên vào cuối tháng 5.

Với các ngư dân, Chuyên có ý định dùng gạo để mua chuộc và tổ chức họ. Khi trung tâm chuyển tiền ra sẽ tổ chức thuyền đánh cá để có thể nhận tiếp tế từ ngoài xa ở Hạ Long hay Cát Bà, để tàu tiếp tế không phải vào quá sâu, sẽ nguy hiểm; lựa chọn người để cuối tháng 10-1961 sẽ gửi vào Nam học vô tuyến điện, sau đó ra làm nhiệm vụ liên lạc điện đài để Chuyên tập trung vào việc tổ chức, gây dựng lực lượng… 

Tất cả những dự định ấy mới chỉ được vạch ra thì sau 7 phiên liên lạc bằng điện đài, tối ngày 6/6/1961 Đắc bị bắt khi đang trên đường mang điện đài và lương thực lên rừng tiếp tế cho Chuyên.

Biết em bị bắt trước sau gì cũng sẽ khai ra việc mình vượt tuyến xâm nhập về Bắc, Chuyên quyết định đánh lạc hướng bằng cách một mặt viết thư xin đầu thú rồi cho em ra bưu điện gửi tới Công an huyện Yên Hưng nhưng trong lúc ấy cũng lên kế hoạch liên lạc với Trung tâm cho rút bằng đường biển. Tuy nhiên, kế hoạch này chưa kịp thực hiện thì chỉ vài ngày sau khi em bị bắt, Chuyên cũng bị bắt khi đang trốn trong bồ thóc trong buồng cùng với súng ngắn, lựu đạn, tiền và tài liệu; sau đó Chuyên phải khai nơi giấu bộ máy điện đài thứ hai cùng tất cả tài liệu trong hang trên núi Đá Chồng. 

Sau gần 2 tháng đấu tranh, Phạm Chuyên đã bị khuất phục và khai hết kế hoạch mà CIA giao cho khi xâm nhập ra Bắc. Sau khi đánh giá lại toàn bộ quá trình bắt, đấu tranh với Phạm Chuyên, Cục Bảo vệ Chính trị và Sở Công an Hồng Quảng khẳng định tất cả vẫn đảm bảo bí mật, một kế hoạch táo bạo được gửi lên Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, đó là cho lập Chuyên án BK63 đấu tranh với CIA với mục đích: duy trì chuyên án hoạt động lâu dài nhằm khống chế được hoạt động của địch đối với địa bàn khu vực Đông Bắc; phát hiện toàn bộ âm mưu và thủ đoạn hoạt động gián điệp biệt kích đối với miền Bắc, tạo điều kiện để chủ động tấn công lại địch. Tổ chức câu nhử, đón bắt những nhóm gián điệp khác nhằm khai thác triệt để các trung tâm gián điệp biệt kích của địch; tính toán khả năng phái khiển người vào tổ chức của địch khi cần thiết.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã chỉ đạo trong quá trình đấu tranh phải đảm bảo nguyên tắc "tích cực bảo vệ mình, chủ động tiêu diệt địch" để vận dụng vào việc bố trí các tin tức, tình huống giả tạo với phương châm "không để thiệt hại cho ta, chỉ được lợi cho ta".

Những cán bộ tham gia chuyên án cũng không thể nghĩ từ đây, một cuộc chiến âm thầm đã diễn ra tới 10 năm sau mới kết thúc…

(Còn tiếp)


Theo An Ninh Thế Giới

Những bí mật về nữ điệp viên cao niên của CIA

Đầu tháng 3 vừa qua, Elizabeth "Betty" McIntosh, nữ điệp viên cao tuổi nhất còn sống của Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA), vừa đón sinh nhật lần thứ 100 của mình trong một buổi lễ đơn giản nhưng ấm áp tại trụ sở CIA ở Virginia, Mỹ.
Bà Betty bên chiếc bánh mừng sinh nhật thứ 100 tại trụ sở CIA. Bà Betty bên chiếc bánh mừng sinh nhật thứ 100 tại trụ sở CIA.

Bà được Giám đốc CIA vinh danh là một trong những điệp viên thành công nhất của tổ chức này.

Là một nữ điệp viên của Cơ quan Tình báo chiến lược (OSS - tiền thân của CIA) nằm vùng ở nước ngoài, bà McIntosh đã phục vụ CIA trong suốt 4 thập niên, tham gia vào những kế hoạch hàng đầu của CIA trong Thế chiến II. Giám đốc CIA đã coi những thành tựu và cuộc đời của bà Betty đã truyền cảm hứng cho mọi phụ nữ. Bà hiện được coi là một "pho sử sống" của CIA.

Lọt vào "mắt xanh" OSS

Sinh ra ở Washington DC ngày 1/3/1915, Betty chuyển tới Hawaii sau khi tốt nghiệp chuyên ngành báo chí Đại học Washington. Cô làm việc cho một vài tờ báo như Honolulu Advertiser, Star Bulletin và San Francisco Chronicle. Thời cô làm phóng viên ở Hawaii, quân Nhật đã tấn công Trân Châu cảng ngày 7/12/1941. Cô đã trực tiếp đưa tin về sự kiện và không bao lâu rời Hawaii tới làm việc ở Cục Tin tức Scripps Howard ở Washington DC.

Năm 1943, Betty được giao nhiệm vụ viết tin về một người đàn ông tên là Atherton Richards, giám đốc một công ty ở Honolulu đang cơ giới hóa việc thu hoạch mía. Ông Richards là bạn của bố Betty và cũng là một trong các nhân vật hàng đầu phục vụ dưới trướng của tướng William J. "Wild Bill" Donovan, Giám đốc OSS lúc bấy giờ.

Betty nhớ lại: "Rất khó để sắp xếp thời gian gặp ông ấy nhưng cuối cùng tôi đã làm được. Sau cuộc phỏng vấn, ông ấy hỏi: Cháu có thích làm một việc thú vị hơn công việc cháu đang làm không?”. Lúc đó, ông Richards không hề đề cập đến chữ điệp viên và lúc đó Betty đang phụ trách mảng tin cũng rất thú vị về Đệ nhất Phu nhân Eleanor Roosevelt. Mặc dù chưa biết cụ thể “việc thú vị" đó là gì nhưng Betty vẫn nói rằng cô sẽ quan tâm nếu cô được làm việc ở nước ngoài. Betty đã "bén duyên" với OSS từ đó.

Nhờ thông thạo tiếng Nhật, Betty đã được tuyển vào OSS năm 1943. Lần đầu tiên tới OSS, cảm giác của Betty là "rất lạ". Khi nhận nhiệm vụ, Betty không hay biết mình sẽ làm gì. Các nhân viên OSS chỉ lấy dấu vân tay của cô và dặn cô không được nói gì mặc dù thực sự Betty không hề biết gì.

Betty là một trong vài phụ nữ được tuyển chọn làm việc cho nhóm Morale Operations (MO - Chiến dịch Tinh thần) của OSS ở Washington. Nhóm có nhiệm vụ làm nhụt nhuệ khí của kẻ thù bên ngoài và trên mặt trận. Việc của MO chính là tung tin đồn hay còn gọi là "tuyên truyền đen". Betty phụ trách khu vực Viễn Đông, còn đồng nghiệp bao quát khu vực châu Âu.

Ở MO, Betty được dạy cách sử dụng các tài liệu dựng lên từ công thức "thông tin thật + thông tin bịa đặt" để tuyên truyền cho các mục tiêu cụ thể ở Viễn Đông. Cô phải học cách phổ biến tài liệu, cách đưa tin đồn thế nào cho hiệu quả. Do tính chất công việc, nhóm của cô chủ yếu là phóng viên, phát thanh viên, nghệ sĩ, họa sĩ biếm họa và nhà văn.

Betty thời trẻ lúc làm việc cho OSS.

Nhiệm vụ lạ lùng

Nhiệm vụ đầu tiên mà Betty được giao phó là vào mùa hè năm 1943. Sau khi kết thúc khóa huấn luyện ở OSS, cô được cử tới Ấn Độ. Ở đây, Betty hỗ trợ viết tin cho báo giấy, làm bản tin phát thanh giả cũng như thực hiện một số chiến dịch tuyên truyền khác nhằm tung tin đánh lạc hướng và làm suy kiệt tinh thần quân Nhật. Lúc bấy giờ, quân Nhật cũng đã thoái chí và rút lui sau khi bị lực lượng Đồng minh đánh bại ở Imphal (Ấn Độ). Một nhiệm vụ mà Betty thực hiện là đưa tin giả mạo về mệnh lệnh của Chính phủ Nhật dành cho binh sĩ Nhật ở Miến Điện.

Chính phủ Nhật Bản từng đe dọa binh sĩ rằng, nếu họ đầu hàng họ sẽ mất quyền thừa kế và sẽ không thể về Nhật. Do có mệnh lệnh này nên rất ít binh sĩ Nhật dám đầu hàng và quyết chiến đến hơi thở cuối cùng. Vì thế, nhóm của Betty có nhiệm vụ là tìm cách thuyết phục binh sĩ đầu hàng mà không cảm thấy bị mất mát gì.

Betty và nhóm của cô đã bịa ra một mệnh lệnh giả nói rằng, chính phủ cho phép binh sĩ Nhật đầu hàng với một số điều kiện. Đây là một điều có thể tin được vì gần đây Chính phủ Nhật có sự thay đổi về lãnh đạo.

Nhóm của Betty đã giao nhiệm vụ cho một điệp viên OSS người Miến Điện sát hại người đưa thư Nhật Bản đang trên đường băng qua rừng, rồi nhét mệnh lệnh giả vào túi thư của anh ta. Sau đó, điệp viên này tìm cách báo tin cho phía Nhật biết về vị trí của người đưa thư đã chết.

Đúng như dự báo, quân Nhật đã tới đưa xác người đưa thư về cùng túi thư và phát hiện ra mệnh lệnh trong đó. Họ tin rằng mệnh lệnh là thật và... lần lượt đầu hàng. Trong thời gian này, Betty còn viết cả các tin bịa ra rằng ở quê nhà, vợ các binh sĩ đang "bồ bịch" với những người đàn ông khác, khiến tinh thần binh sĩ Nhật đang tham chiến không yên...

Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở Ấn Độ, Betty đáp chuyến bay từ Calcutta tới Kunming (Côn Minh, Trung Quốc). Nhiệm vụ mới của cô là viết kịch bản cho "trạm phát thanh đen" ở Trung Quốc và Nhật Bản. Đây là một thử thách với Betty vì cô vốn là phóng viên báo giấy, chưa bao giờ làm việc trong một đài phát thanh truyền hình.

Khi được giao nhiệm vụ nghĩ ra một bản tin nào đó làm chấn động người Nhật và người Trung Quốc, Betty đề xuất ý tưởng tung tin về một trận động đất lớn, một cơn sóng thần nhưng đều bị cấp trên bác. Về sau, Betty nhận thấy người dân Trung Quốc rất tin vào thầy bói vì cho rằng người này có thể dự báo tương lai dựa vào các vì sao. Cô đã tìm cách đưa một thầy bói lên sóng phát thanh và đọc bản dự báo do cô sáng tác, nói rằng có một điều gì rất kinh khủng sẽ xảy ra với Nhật Bản, sẽ tàn phá cả một khu vực rộng lớn ở nước này.

Vào ngày phát sóng bản tin, Mỹ đã thả xuống Hiroshima một quả bom nguyên tử. Betty về sau khi được hỏi tại sao cô biết kế hoạch tuyệt mật về thả bom xuống Hiroshima, Betty cho biết, đây chỉ là sự tình cờ.

Khi Thế chiến II kết thúc với việc quân Nhật đầu hàng, Betty trở lại Mỹ và OSS giải thể. Cô làm việc cho tạp chí thời trang Glamour ở New York - một công việc mà so với việc làm thời chiến của cô là rất nhàm chán. Cô từng gặp khó khăn khi làm công việc thời bình: "Sau khi trải qua 3 năm trong nhóm MO chuyên che giấu sự thật, bịa đặt tin tức và tung tin đồn, tôi gặp khó khăn lớn lúc phải viết những tin tức một cách đúng sự thật khi chiến tranh đã kết thúc".

Betty kết hôn, tháng 5/1946 và chuyển về Washington DC làm việc theo hợp đồng với Hội đồng Tham mưu trưởng Mỹ, Bộ Ngoại giao và Liên Hiệp Quốc. Sau khi chồng qua đời, bạn bè của Betty đang làm việc cho CIA đã thuyết phục cô xin một chỗ làm trong CIA. Kinh nghiệm của cô khi làm ở OSS đã giúp cô rất nhiều trong công việc mới ở CIA.

Hòn than ám ảnh

Đến tận bây giờ, khi đã sống trọn một thế kỷ, bà Betty thừa nhận vẫn bị ám ảnh bởi nhiều ký ức thời chiến. Đôi khi tưởng rằng quá khứ bạo liệt đã bị chôn vùi dưới lớp bụi thời gian, thế nhưng đột nhiên chúng lại tìm về với bà. Đến bây giờ, bà Betty vẫn còn day dứt mãi về một nhiệm vụ thời còn làm cho OSS.

Hồi đó, ở Trung Quốc, bà được giao nhiệm vụ đưa một hòn than to cỡ cổ tay, tưởng chừng như vô hại cho một mật vụ Trung Quốc ở một ga tàu hỏa tại Côn Minh. Bà nhận nhiệm vụ mà không rõ thực sự thứ mình cầm trên tay là cái gì, được dùng để làm gì. Về sau, khi đã kết hôn với một quan chức OSS cấp cao, bà mang điều bí mật này ra hỏi chồng và mới vỡ lẽ. Hòn than thực ra là một thiết bị nổi tiếng của OSS, được gọi là "Joe đen".

Bên trong hòn than nhét đầy thuốc nổ. Mật vụ Trung Quốc sau khi nhận "Joe đen" từ tay Betty đã bắt một chuyến tàu chở đầy quân Nhật. Mật vụ này sau đó đã chờ cho đoàn tàu tiến tới một cây cầu bắc qua hồ, rồi anh ta ném hòn than vào động cơ tàu và nhanh chóng nhảy ra khỏi tàu. Khi đoàn tàu băng qua cầu, nó phát nổ. Phần lớn lính Nhật thiệt mạng.

Hồi đó, bà Betty có nghe tin về đoàn tàu và vụ nổ nhưng không ngờ rằng chính mình là một phần trong sự việc này. Sau khi biết về bí mật, bà đã phải đấu tranh nội tâm rất dữ dội. Bà kể: "Tôi cảm thấy rất tồi tệ. Tôi cảm thấy rằng hòn than mà tôi chịu trách nhiệm vận chuyển đã giết chết những người đó. Rồi sau đó, tôi lại tự nhủ: Không thực sự là thế. Mình chỉ là người trao nó cho người thực hiện mà thôi".

Bà Betty đã tự rút ra cho mình một đúc kết: một phần đời của điệp viên chính là những hoài nghi không biết mình có làm đúng không, biết rằng những người đó chết là vì những gì mình làm, là thắc mắc liệu mình còn lựa chọn nào khác không. Nhưng bà buộc phải chấp nhận vì đó là chiến tranh.

Có lẽ, tâm tư của bà chỉ có thể được người cùng cảnh thấu hiểu. Người cùng cảnh mà bà tình cờ gặp chính là bà Doris Bohrer - một điệp viên OSS thời Thế chiến II và cũng là một điệp viên CIA, giống bà Betty. Trong suốt thời gian làm cho OSS và CIA suốt chừng ấy năm, hai người chưa từng chạm mặt mà chỉ gặp nhau khi tình cờ cùng sống trong một ngôi làng gồm những người nghỉ hưu ở Westminster.

Khi ở gần cuối cuộc đời, bà Betty đã chiêm nghiệm được nhiều thứ, cảm thấy mình đã sống một cuộc đời ý nghĩa khi là một trong số những nữ điệp viên hiếm hoi của OSS.

Theo An Ninh Thế Giới




 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 

Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.