Bài viết


 
Album ảnhLiên hoan ảnh nghệ thuật khu vực ĐBSCL lần thứ 28 năm 2013
  VN
  13      


     "Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội lần thứ 3 năm 2013"
     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
 
Cuộc Thi ảnh nghệ thuật Việt Nam-Vẻ Đẹp Bất Tận
- Những bức ảnh báo chí đoạt giải ảnh Pulitzer năm 2013 đưa đến thế giới một cái nhìn cận cảnh về sự khốc liệt, tàn bạo.

Đang truy cập: 15
Lượt truy cập: 6871193





                                           

Dương Văn Minh đã nói gì khi được mời ăn trưa ngày 30/4/1975?

Hoàng Đan | 29/04/2015 15:00

Ngay sau khi cờ đỏ sao vàng bay trên Dinh Độc Lập, theo sự phân công của BTL Quân đoàn 2, thiếu tướng Nguyễn Công Trang đã soạn thảo bản quân lệnh số 1 của quân Giải phóng.

Bản quân lệnh của trang sử mới

Chúng tôi tìm đến thăm thiếu tướng Nguyễn Công Trang (sinh năm 1923, quê ở Hà Nam) tại nhà riêng ở tập thể 16A Lý Nam Đế (Hà Nội) đúng dịp 30/4.

Thiếu tướng Trang tham gia lực lượng vũ trang từ tháng 9/1946, trải qua nhiều chiến dịch, tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ trong quân đội.

Ông nguyên là Phó Chính ủy Quân đoàn II, người trực tiếp có mặt trong buổi trưa ngày 30-4-1975 tại Dinh Độc Lập, chứng kiến sự đầu hàng vô điều kiện của nội các Dương Văn Minh.

Ở tuổi 93, vị tướng từng có vai trò quan trọng trong việc ổn định Sài Gòn dù đôi mắt vẫn tinh anh nhưng chân đau, tay run và trí nhớ cũng không còn được như xưa.

Các kỷ niệm, sự kiện gắn liền với ông giờ phải có người nhắc lại thì mới nhớ. Nhưng có một điều mà vị tướng già vẫn nhớ như in chính là, ông đã viết bản quân lệnh số 1 của quân giải phóng trưa ngày 30/4/1975.

Do trí nhớ đã giảm sút nhiều nên để giúp có thêm những cứ liệu cho chúng tôi, ngoài lời kể của ông, gia đình cũng đã cung cấp thêm thông tin từ hồi ký “Đời chiến đấu” của vị tướng này xuất bản năm 2005.

Kể về ngày lịch sử cách đây trong 40 năm, tướng Trang đã viết, ngày 30.4.1975, sau khi giải phóng Huế, Đà Nẵng, Quân đoàn đã tiến thẳng về Sài Gòn.

Thiếu tướng Nguyễn Công Trang nay đã ở tuổi 93.

Thiếu tướng Nguyễn Công Trang nay đã ở tuổi 93.

Trên đường tiến vào nội đô, Quân đoàn nhận được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh là phát triển tiến công thật nhanh vào các mục tiêu, kêu gọi địch đầu hàng, nộp toàn bộ vũ khí, bắt giữ và tập trung các sĩ quan địch từ cấp tá trở lên.


Cũng theo tướng Trang, khi tiến vào Dinh Độc Lập, xe tăng 843 do đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy là xe đi đầu binh đoàn thọc sâu.

Được nhân dân chỉ đường, xe đã mở hết tốc lực, húc vào cánh cổng bên trái, cổng hẹp, lại có hai trụ sắt vững hai bên, nên xe bị mắc kẹt, phải lùi.

Đi sau là xe tăng 390 do chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn chỉ huy. Thấy xe 843 bị kẹt, chỉ huy liền cho xe 390 vòng sau xe 843 và húc vào cổng chính, phá tung cánh cửa sắt, vào trong sân Dinh Độc Lập.

Xe 843 ngay lúc đó cũng qua cổng vào trong sân dinh, tiếp đó nhiều xe khác cũng vào đầy sân.

Đội trưởng Bùi Quang Thận vì đã biết lệnh của quân đoàn, ai vào trước thì cắm cờ lên dinh Độc Lập nên đã xuống xe, cầm cờ giải phóng chạy lên tầng thượng, giật rơi cờ chính quyền Sài Gòn và kéo lên lá cờ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

"Lúc ấy là đúng 11h30 phút ngày 30/04/1975. Cùng lúc, toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn bị bắt sống, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng", tướng Trang viết.

Theo tướng Trang, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 vào Dinh Độc Lập lúc đó có Tư lệnh Nguyễn Hữu An, Phó cư lệnh Hoàng Đan, Phó chính ủy Nguyễn Công Trang cùng một số cán bộ đi cùng.

Ngay sau đó, Tư lệnh đã chỉ thị ngay việc bố trí canh gác và sẵn sàng chiến đấu.

"Tôi nhắc cán bộ cơ quan đi cùng phải duy trì nghiêm kỷ luật, vì theo quy định của Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 phải bàn giao Dinh Độc Lập cho Quân đoàn 4 quản lý.

Tôi cũng giao nhiệm vụ cho cán bộ chính trị đi cùng tôi đến chỗ phòng họp ghi loại toàn bộ danh sách nội các chính quyền Sài Gòn đang ngồi đợi ở đó...", trích hồi ký của tướng Trang.

Theo lời kể của tướng Trang, rút kinh nghiệm từ bài học giải phóng Đà Nẵng, không có những quy định cụ thể để đảm bảo trật tự cho thành phố, dẫn đến việc người dân tự ý phá kho gạo khu vực bán đảo Sơn Trà lấy gạo ăn, gây mất trật tự.

Sau khi Dương Văn Minh được đưa tới Đài Phát thanh Sài Gòn (đường Nguyễn Bỉnh Khiêm) phát lệnh cho ngụy quân đầu hàng vô điều kiện, Bộ Tư lệnh phân công ông dự thảo bản thông cáo số 1 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam,

Viết xong, ông đưa cho Tư lệnh An và Phó Tư lệnh Đan, phái viên Nguyễn Nam Long của Bộ chỉ huy chiến dịch đọc góp ý, sau đó đưa đến đài.

Khoảng 13 giờ chiều hôm đó, đài phát thanh Sài Gòn đã đọc bản quân lệnh ngay sau lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh.

Nội dung bản quân lệnh số 1 do tướng Trang chấp bút viết. Ảnh tư liệu.

Nội dung bản quân lệnh số 1 do tướng Trang chấp bút viết. Ảnh tư liệu.

"...Quân giải phóng đã làm chủ hoàn toàn thành phố Sài Gòn – Gia Định lúc 11h30 ngày 30/4/1975. Chính quyền Sài Gòn đã đầu hàng vô điều kiện và tạm thời nêu sáu quy định để mọi người thực hiện như:

Các sở điện nước phải hoạt động, ngụy quân ngụy quyền phải đến trình diện ở Ủy ban quân quản sẽ đặt ở các quận huyện; không ai được lấy của công;

Sẽ thiết quân luật từ 18h30 tối 30/4/1975 đến 6h sáng 1/5/1975, ai ở đâu ở nguyên đó không được đi lại trong thành phố...", trích nội dung bản quân lệnh.

Do kịp thời thông báo Bản quân lệnh trên toàn thành phố mà đêm 30-4 năm ấy, Sài Gòn đã bình yên, điện trên các ngõ đường được thắp sáng.

Bữa cơm ở Dinh Độc Lập

Cũng theo vị tướng già, bữa ăn trưa vào chiều ngày 30/4/1975 của Quân đoàn vẫn theo nếp hàng ngày là từng xe nấu riêng trong ống “coóng” (ăng gô) treo ở gốc cây, vẫn là cá khô, thịt hộp, rau khô.

Khi vào chiếm được Dinh Độc Lập, Quân đoàn đã phân công cán bộ giữ chìa khóa tất cả các phòng, các kho.

Đến giờ nấu ăn, cán bộ đó đã gọi nhân viên nhà bếp của Dinh Độc Lập đang ngồi ở góc sân đi theo vào kho để đồng chí ấy phát lương thực, thực phẩm nấu cho các thành phần nội các đang ở trong phòng họp.

Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ cho các đơn vị đánh chiếm dinh Độc Lập. Tướng Nguyễn Công Trang là người thứ 3, từ phải vào (Ảnh tư liệu).

Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ cho các đơn vị đánh chiếm Dinh Độc Lập. Tướng Nguyễn Công Trang là người thứ 3, từ phải vào (Ảnh tư liệu).

Cũng theo thiếu tướng Trang, khi nấu xong, trực tiếp ông đã mời ông Dương Văn Minh và cộng sự thân cận là Vũ Văn Mẫu dùng bữa cùng nhưng họ từ chối.

Tuy nhiên, khi đó, ông Dương Văn Minh đã nói: “Các ông nhân đạo quá”.

Sau khi ăn xong, các anh em trong đơn vị vẫn tráng miệng bằng nước gạo rang như thường lệ. 

Chiều ngày 30/4, khi có người mang tới một lá cờ giải phóng cỡ to, tướng Trang đã cử ngay người lên thay lá cờ nhỏ mà đồng chí Bùi Quang Thận đã treo ở dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút.

40 năm đã trôi qua, dù tuổi cao, trí nhớ giảm sút nhiều nhưng có lẽ những kỷ niệm, niềm hạnh phúc của ngày 30/4/1975 sẽ mãi không thể nào quên trong tâm trí vị tướng già này.

"Khó có thể diễn đạt được niềm vui khôn tả trong đêm 30/4/1975. Tâm trạng lâng lâng, tôi về đến Chỉ huy Sở cơ bản đã khuya, thấy một số anh em mắc võng ở đây để ngủ.

Tôi và đồng chí công vụ cũng mắc võng ở cây. Đêm đó, tôi cứ thao thức không sao ngủ được.

Tôi nghĩ về những người đồng đội kề vai sát cánh chiến đấu đã vĩnh viễn nằm lại trên những nẻo đường chiến trận, nhớ về những ngày gian khổ, ác liệt đã qua…

Trải mấy mươi năm, một lòng một dạ theo Đảng, theo Bác Hồ, chúng tôi đã đi tới ngày toàn thắng", tướng Trang bày tỏ.

theo Trí Thức Trẻ


Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975:

Sức mạnh từ sự thần tốc, quyết chiến!

 Góp phần quan trọng làm nên chiến thắng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đó là sự lãnh đạo hết sức sáng tạo, biết nắm lấy thời cơ của Đảng và quân đội ta. Từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976 đã được rút xuống còn một năm, và từ một năm đã rút xuống còn ba tháng…

Quân giải phóng chiến trường Thiết giáp của ngụy tại căn cứ Nước Trong (Biên Hòa). Từ đầu tháng 4/1975, các binh đoàn chủ lực của ta từ khắp các hướng tiến về Sài Gòn, tấn công địch với sức mạnh vũ bão và tiêu diệt toàn bộ tuyến phòng thủ từ vòng ngoài của địch. Ảnh: Hứa Kiểm (TTXVN)
Vai trò của Tổng hành dinh

Phát biểu tại Hội thảo “Vai trò của cơ quan tổng hành dinh trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975” do thành phố Hà Nội tổ chức ngày 14/4, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện lịch sử Đảng cho rằng một trong những điều quan trọng tạo nên thành công của cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đó là Đảng ta đã biết nắm lấy thời cơ, biết vận dụng linh hoạt chiến thuật và chiến lược để luôn giành thế chủ động tiến công tiêu diệt địch. Từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976 đã được rút xuống còn một năm, và từ một năm đã rút xuống còn ba tháng…

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng đánh giá: Thắng lợi quan trọng nhất của Hiệp định Paris là quân Mỹ thì ra, còn quân ta thì ở lại. Chúng ta đã thực hiện được vế đầu rất căn bản là đánh cho Mỹ cút và giờ đây là đánh cho Ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hội nghị lần thứ 21 BCH Trung ương Đảng khóa III họp vào tháng 7/1973 đã xác định: Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên.

Kế hoạch chiến lược dự định thực hiện theo hai bước: Bước một, năm 1975, mở cuộc tiến công rộng khắp ba vùng rừng núi, nông thôn, đồng bằng và đô thị; đánh bại về cơ bản chương trình bình định của địch, làm tan rã một bộ phận quan trọng chủ lực quân đội Sài Gòn. Bước 2, năm 1976 thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tây Nguyên được xác định là chiến trường chủ yếu trong tiến công.

Tận dụng thời cơ trong và ngoài nước

Ngay sau khi Tổng thống Mỹ Nixon từ chức liên quan đến vụ nghe trộm điện thoại, Hội nghị Bộ Chính trị đã họp vào cuối tháng 9/1974 xác định: Nhiệm vụ cấp bách lúc này là động viên những nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tiến công và nổi dậy cuối cùng. Sau khi đánh thăm dò và giành chiến thắng lớn trong chiến dịch đường 14, giải phóng toàn tỉnh Phước Long, bên cạnh chiến lược cơ bản 2 năm, Bộ Chính trị còn dự kiến một kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975 khi thời cơ chiến lược xuất hiện.

“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”.

Trích Mệnh lệnh ngày 7/4/1975 của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi các Bộ Tư lệnh toàn miền Nam

Chỉ tính trong vòng 1 năm từ đầu năm 1974-1975, Bộ Tổng tư lệnh đã  đưa vào chiến trường miền Nam 410.000 lượt người gồm nhiều quân binh chủng và nhiều quân trang, thiết bị, vật tư, lương thực phục vụ chiến đấu. Ngay sau khi quân ta giành thắng lợi vang dội ở mặt trận Tây Nguyên, chính quyền Sài Gòn hoang mang cực độ. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định rút quân khỏi Kon Tum, Pleiku, rút chạy khỏi Tây Nguyên. Chớp lấy thời cơ chiến lược này, quân ta thừa thắng xông lên, truy kích, giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh duyên hải miền Trung. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã nhận thấy thời cơ có thể giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975 như dự kiến. Trên nhiều mặt trận, quân địch liên tục suy yếu.    

Theo Đại tá Trần Ngọc Long, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, ngay sau khi đập tan lực lượng của địch tại Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo phải đồng thời tấn công và giải phóng các đảo, khẳng định chủ quyền trên biển Đông. Ngày 4/4/1975, thay mặt Bộ Tổng tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một bức điện đặc biệt cho Khu ủy, Bộ Tư lệnh Khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân chính thức giao nhiệm vụ giải phóng quần đảo Trường Sa và coi đó là nhiệm vụ rất quan trọng. Ngày 28/4 quân ta đã làm chủ đảo Sinh Tồn và sau đó là đảo Trường Sa Lớn.

Sau khi giành thắng lợi tại Đà Nẵng và nhiều chiến trường, Bộ Chính trị nhận định: Nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng Tư năm nay, không để chậm. Phải hành động thần tốc, táo bạo và bất ngờ. Phải tiến công ngay lúc địch hoang mang, suy sụp. Ngày 10/4/1975, bộ chỉ huy Chiến dịch Sài Gòn-Gia Định quyết định tập trung lực lượng và binh khí kỹ thuật, phát huy sức mạnh tổng hợp tạo thành thế áp đảo nhanh chóng, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch còn lại, đập tan ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, tạo điều kiện giải phóng miền Nam.

Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị đồng ý đổi tên Chiến dịch giải phóng sài Gòn-Gia Định thành Chiến dịch Hồ Chí Minh. Chiều ngày 26/4/1975, từ năm hướng (Bắc, Đông, Đông Nam, Tây, Tây Nam), các cánh quân đồng loạt nổ súng tiến công, mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử! Với khí thế tiến công dũng mãnh, áp đảo về lực lượng và thế trận, trưa ngày 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh đã kết thúc với thời gian ngắn nhất trong lịch sử chiến dịch có quy mô lớn nhất từ trước đến nay.

Thần tốc, táo bạo!

Phân tích về những bước ngoặt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, TS Nguyễn Đình Lê (Đại học KHXH&NV Hà Nội) và Th.S Lê Đình Hùng (Học viện Chính trị, Bộ Công an) cho rằng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã thực sự có sáng tạo và quyết đoán đặc biệt, biết tận dụng những thời cơ trong và ngoài nước. Điển hình như vụ Tổng thống Mỹ Nixon phải từ chức và kết quả của chiến thắng đường 14 Phước Long. Sự kiện Phước Long diễn ra khi Bộ Chính trị đang họp bàn về kế hoạch giải phóng miền Nam và có ý nghĩa như một trận trinh sát chiến lược, thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ.

Như vậy qua 2 năm thăm dò, bài toán về thời cơ giải phóng miền Nam đã được trải nghiệm. Cân nhắc thế và lực của hai bên, trong các hội nghị của Bộ Tư lệnh tối cao diễn ra từ cuối năm 1974 đến đầu năm 1975 tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đi đến quyết định quan trọng: cách mạng miền Nam có đủ điều kiện và cần thiết phải tiến lên giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong thời gian ngắn.

Th.Phan Sỹ Phúc, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự Việt Nam khẳng định, trong rất nhiều bức điện, chỉ thị của Tổng hành dinh đến các chiến trường thì bức điện khẩn ngày 7/4/1975 của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một bức điện đặc biệt được đảng viên, chiến sỹ coi là “kim chỉ nam” góp phần đẩy nhanh tốc độ tiến công thẳng vào sào huyệt của địch, giành thắng lợi nhanh chóng, trọn vẹn. Mệnh lệnh ấy thực sự còn là nguồn lực tăng thêm ý chí quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta.


Thứ năm, 30/04/2015 | 12:6 GMT+7
Trận đánh trước cửa ngõ Sài Gòn
 "Trưa 30-4-1975, trên đường vào dinh Độc Lập, nhân dân thành phố Sài Gòn ra đứng kín hai bên đường đón bộ đội giải phóng trong niềm hân hoan chiến thắng và cùng hô vang: “Hoan hô Sài Gòn đã được giải phóng! Hoan hô bộ đội giải phóng! Không có chiến tranh trong thành phố...”. Chúng tôi vô cùng vui sướng và càng khâm phục hơn sự tài tình trong chỉ đạo chiến lược của Bộ Tổng tư lệnh chiến dịch trong cuộc quyết chiến cuối cùng. Với quyết định cho Sư đoàn 304 và một số đơn vị chủ lực tập trung tiêu diệt địch tại một số căn cứ vòng ngoài, chúng ta đã kéo lực lượng địch ra ngoài đánh, giữ cho thành phố nguyên vẹn khi bộ đội ta vào giải phóng..."-Trung tướng Nguyễn Ân, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304 (Quân đoàn 2) xúc động nhớ lại kỷ niệm 40 năm trước.

Theo bước chân thần tốc, sau khi giải phóng Đà Nẵng, Sư đoàn 304 trong đội hình chiến đấu của Quân đoàn 2 vinh dự được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày 23-4-1975, sư đoàn được giao nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu của quân đoàn với nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Nước Trong, Long Bình, cầu xa lộ, cùng lực lượng thọc sâu của quân đoàn tiến thẳng vào Sài Gòn. Thời gian chuẩn bị chiến đấu gấp, chỉ có 3 ngày. Đúng ngày 26-4, theo quyết định của quân đoàn, đơn vị phải nổ súng. Trước một trận đánh quan trọng, chúng tôi hết sức lo lắng vì thời gian chuẩn bị gấp, chiến trường chưa quen, chiều sâu nhiệm vụ quá sâu, mục tiêu đánh địch ở đâu cũng chưa rõ, lại không có thời gian tổ chức đi trinh sát nhiều lần như các chiến dịch trước đây. Trên tay tôi lúc đó chỉ có mỗi bộ bản đồ. Đang lúc vô cùng lo lắng thì tối hôm đó, sau khi Đảng ủy Sư đoàn họp giao nhiệm vụ cho các đơn vị xong, lực lượng trinh sát báo cáo bắt được một số tù binh. Tôi trực tiếp xuống gặp gỡ, động viên các tù binh bị bắt giúp dẫn đường cho sư đoàn chiến đấu và họ đã nhận lời. Vấn đề mục tiêu chiến đấu, địa hình xa lạ đã được giải quyết...

Trung tướng Nguyễn Ân (bên trái) và đồng đội ôn lại kỷ niệm 40 năm trước.

Từ 4 giờ ngày 24-4-1975, sư đoàn và các trung đoàn tổ chức đi trinh sát, chuẩn bị chiến trường. Trinh sát đến đâu, chúng tôi giao nhiệm vụ và thông qua kế hoạch chiến đấu cho các đơn vị ngay đến đó. Tiếp theo là đưa bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa, trong khoảng thời gian từ 20 giờ ngày 25-4 đến 17 giờ ngày 26-4 là phải nổ súng tiến công. Tình hình khi đó rất khẩn trương, khắc phục khó khăn, bộ đội ta vào chiếm lĩnh vị trí bảo đảm bí mật, có nơi chỉ cách địch gần 100m, xây dựng trận địa xuất phát tiến công...

Mặc dù bị địch lùng sục, đánh phá nhưng toàn đơn vị vẫn giữ được bí mật. Đúng 17 giờ ngày 26-4-1975, cuộc tiến công trên toàn mặt trận phía đông và đông nam Sài Gòn chính thức bắt đầu. Pháo binh của Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 đã trút bão lửa vào Hố Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành... Trung đoàn 9 và Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 chiến đấu dũng cảm, giành với địch từng tấc đất, trước sự chống trả quyết liệt của địch. Đêm 26-4, địch điều động thêm 2 chiến đoàn 322 và 318 từ Biên Hòa ra tăng cường phòng ngự để phản kích chặn ta ở căn cứ Nước Trong, khiến bộ đội ta gặp không ít khó khăn...

Trước tình hình đó, chiều 27-4, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn đã họp, đánh giá tình hình, kết quả chiến đấu, đồng thời đề nghị quân đoàn tăng cường lực lượng 5 đại đội xe tăng để tăng sức đột kích, tạo thuận lợi cho sư đoàn đánh dứt điểm, không cho địch thực hiện âm mưu “trì hoãn chiến”. Được cấp trên tăng cường lực lượng, từ chiều 28 đến sáng 29-4, Sư đoàn 304 đã tổ chức đợt tiến công quyết định đánh địch ở ngã ba Đường 15, hoàn thành nhiệm vụ mở đường cho lực lượng thọc sâu của quân đoàn bước vào chiến đấu, nhanh chóng tiến vào đánh chiếm dinh Độc Lập, góp phần cùng với các cánh quân của ta làm nên chiến thắng vĩ đại ngày 30-4-1975.

VŨ HOÀNG (Ghi theo lời kể của Trung tướng NGUYỄN ÂN)



Vị tướng chiến trường và trận đánh cuối cùng ngày 30/4

Trường Nguyên | 30/04/2015 07:21

Trải qua nhiều trận chiến ác liệt, thiếu tướng Trần Ngọc Thổ vẫn không thể quên cảnh người dân tràn ra đường khi ông dẫn đoàn quân tiến vào Sài Gòn ngày 30/4 của 40 năm trước.

Trong căn nhà nhỏ ở quận 12 (TP HCM), thiếu tướng Trần Ngọc Thổ (66 tuổi, quê gốc Hưng Yên, nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7) hàng ngày vẫn miệt mài xem văn bản, tài liệu liên quan đến Hội Nạn nhân chất độc màu da cam Việt Nam, nơi ông đang đảm nhận chức Phó chủ tịch.

Trong 47 năm theo binh nghiệp, người bộ đội giải phóng quân Tám Thổ tham gia hàng trăm trận đánh ở chiến trường Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, biên giới Tây Nam cho đến chiến trường Campuchia.

Suốt cuộc đời binh nghiệp, người bộ đội ấy bị thương đến 11 lần. Ông 8 lần được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt xe cơ giới, Chiến sĩ thi đua của Trung đoàn 88.

Dù đã về hưu, vị tướng già vẫn bỏ ra nhiều thời gian đòi lại công bằng cho các nạn nhân chất độc màu da cam.

Ông chia sẻ: “Họ đang mang trên mình nỗi đau chiến tranh. Có nạn nhân là con cháu của những người bộ đội sẵn sàng hy sinh để đất nước hòa bình như hôm nay. Họ cần có được sự công bằng".

Khi nhắc những ngày cuối tháng 4/1975, vị tướng Tám Thổ sôi nổi hẳn lên. Ông cho biết, niềm hạnh phúc vỡ òa trong ngày thống nhất là giây phút suốt đời ông không thể quên.

"Tháng 3/1975, tôi đang được huấn luyện ở Bộ tham mưu Quân khu 8.

Tuy nhiên, tình hình chiến trường miền Nam chuyển biến mau lẹ và bước vào giai đoạn quyết định, Quân khu 8 quyết định cho chúng tôi kết thúc khóa huấn luyện sớm, trở về đơn vị rồi ra chiến trường”.

Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ - nguyên Tham mưu trưởng quân khu 7 tại nhà riêng. Ảnh: Trường Nguyên.

Trần Ngọc Thổ được điều về làm Phó tham mưu tác chiến Trung đoàn 88.


Trung đoàn được giao nhiệm vụ đánh từ hướng Chợ Gạo (Tiền Giang) qua Long An để đến huyện Bình Chánh, tiến đánh Tổng nha Cảnh sát và Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hoà, hợp cùng các cánh quân khác giải phóng Sài Gòn.

Tướng Thổ cùng Ban Tham mưu quân đoàn bàn bạc kỹ lưỡng các mục tiêu tiến công, nghiên cứu cách đánh để làm sao tiến quân thần tốc và hạn chế hy sinh.

Có kế hoạch tỉ mỉ, chiến lược rõ ràng nên việc hành quân về Sài Gòn vào sáng 29/4/1975 gặp nhiều thuận lợi.

Những quân lính Việt Nam Cộng hoà ở các đồn bốt nhỏ dọc đường khi nghe quân giải phóng thì bỏ chạy tán loạn. Đi đến đâu, đoàn quân cũng được người dân địa phương giúp đỡ nhiệt tình.

Theo tướng Thổ, nhiều gia đình ở Long An còn tháo cả những tủ thờ làm bằng gỗ quý cho bộ đội làm mái che hầm hào, công sự.

Có người thu gom gạo lúa góp thêm phần ăn cho đoàn quân. Điều họ mong chờ là đất nước thống nhất, hòa bình để mọi người được sống bình an, không khói lửa chiến tranh.

Trung đoàn 88 đến Long An thì đối đầu với cứ điểm Cần Giuộc của địch. Quân địch tại đây chống trả quyết liệt. Xác định đây có thể là trận đánh lớn, một bộ phận Trung đoàn 88 nhận nhiệm vụ bao vây cứ điểm.

Hình ảnh người dân Sài Gòn đổ ra đường mừng thống nhất đất nước ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu.
Hình ảnh người dân Sài Gòn đổ ra đường mừng thống nhất đất nước ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu.

Song song với việc bao vây, tướng Thổ báo cáo cấp trên về ý định làm công tác địch vận, tránh đổ máu.

 Trận đánh cam go nên hai bên 'dùng dằng' mãi. Tuy nhiên, sau công tác địch vận cũng như nhận thấy khí thế quân giải phóng quá mạnh, đối phương tại cứ điểm Cần Giuộc gần như mất ý chí chiến đấu. 

"Đêm 29 rạng sáng 30/4, một tiểu đoàn tấn công nhưng chỉ gặp kháng cự yếu ớt. Quân giải phóng sau đó tiếp quản rồi tập trung lực lượng, tiến về Sài Gòn qua ngã quốc lộ 50", ông kể.

Lúc 11h30 ngày 30/4, Trung đoàn 88 đang tiến nhanh vào Sài Gòn, qua khỏi quốc lộ 50 (huyện Bình Chánh bây giờ) thì nghe tiếng của Tổng thống Việt Nam cộng hoà Dương Văn Minh qua làn sóng phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

“Nghe được tin ấy, cả Trung đoàn vui mừng khôn xiết. Nhiều chiến sĩ rơi nước mắt vì từ nay đất nước thống nhất, được sống trong hòa bình, hạnh phúc.

Tiến vào nội đô Sài Gòn, chúng tôi thấy biển người, cờ hoa tràn ngập mừng đoàn quân giải phóng, mừng ngày đất nước thống nhất. Hình ảnh đó khắc sâu vào tâm trí tôi cho đến tận hôm nay”, vị tướng trận mạc kể về thời khắc lịch sử.

Trung đoàn 88 tiếp tục hành quân thần tốc tấn công Tổng nha Cảnh sát và sau đó hành quân đến chiếm Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Tối cùng ngày, Trung đoàn giải phóng Cảng Sài Gòn, vượt cầu Tân Thuận chiếm kho quân vụ rồi giải phóng kho xăng Nhà Bè. Đến 22h ngày 30/4, chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ hoàn toàn.

Trận chiến đòi công bằng cho nạn nhân chất độc da cam

Đất nước thống nhất nhưng chưa yên ổn bao lâu, người lính Tám Thổ tiếp tục lên đường chiến đấu ở biên giới Tây Nam chống quân diệt chủng Pôn Pốt.

“Những năm tháng vào sinh ra tử trên chiến trường, cũng nhờ người dân, bà mẹ Nam Bộ đã cưu mang, che chở tôi vượt qua gian khó, hiểm nguy”, tướng Thổ tri ân.

Thiếu tướng Tám Thổ ngày đêm nghiên cứu các tài liệu để đòi lại công bằng cho nạn nhân chất độc da cam của Việt Nam.
Thiếu tướng Tám Thổ ngày đêm nghiên cứu các tài liệu để đòi lại công bằng cho nạn nhân chất độc da cam của Việt Nam. Ảnh: Trường Nguyên.

Rời quân ngũ, vị thiếu tướng già trở về cuộc sống đời thường. Nhưng phẩm chất của người bộ đội Cụ Hồ không cho ông ngồi yên.

Hình ảnh những nạn nhân chất độc màu da cam do quân đội Mỹ rải xuống Việt Nam khiến ông đau đáu, ăn ngủ không yên.

Ông quyết định phải làm điều gì đó để giảm bớt nỗi đau cho những người không may.

Và từ đó, ông lao vào cuộc chiến khác - Cuộc chiến đi tìm công lý cho những nạn nhân chất độc da cam.

Hiện, ông đảm nhận vị trí Phó chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc màu da cam Việt Nam, kiêm Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam TP HCM.

“Những cựu binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam đã được bồi thường, còn nạn nhân Việt Nam thì không, trong đó có nhiều người bị ảnh hưởng chất độc từ cha mẹ là bộ đội giải phóng năm xưa.

Đó là sự bất công. Chúng ta phải đòi bằng được công lý cho họ”, thiếu tướng Trần Ngọc Thổ nói.

theo zing.vn

Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4

30/04/2015 06:49

Quân giải phóng từ các hướng ồ ạt tiến vào nội đô Sài Gòn. Trưa 30/4/1975 xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập, người dân đổ ra đường trong niềm vui thống nhất.

Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Quân ủy trung ương theo dõi diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4/1975.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Bộ đội pháo binh trước giờ xuất kích.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Trung đoàn 201 hành quân qua vùng Đồng Tháp Mười.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Nhân dân Phú Hữu dùng thuyền chở quân đoàn 2 vượt sông tiến về Sài Gòn.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Đánh chiếm cầu Thị Nghè sáng 30/4/1975.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Các phân đội Z23, Z22 lữ đoàn 316 và tiểu đoàn 81 (trung đoàn đặc công cơ giới) chiếm 2 đầu cầu Rạch Chiếc, đồng chí Nguyễn Đức Thọ là người nổ phát súng B40 đầu tiên khai màn tấn công.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Đêm 29/4, ở cánh Tây Nam, Sư đoàn 9 đảm nhận mũi tấn công chủ yếu của đoàn 232 cùng với hai tiểu đoàn xe tăng sau khi vượt qua các chướng ngại đồng lầy, sông nước tại Long An, nhận nhiệm vụ tấn công khu viễn thông Phú Lâm.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Từ hướng Bắc, quân đoàn 1 theo đường 1 tiến vào Sài Gòn. Do phải hành quân gấp từ miền Bắc vào bằng mọi phương tiện thuỷ, bộ và đường không nên quân đoàn 1 bắt đầu tấn công chậm một ngày so với các đơn vị khác.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
5h30 sáng 30/4, Sư đoàn 10 và hai đại đội xe tăng của Trung đoàn thiết giáp 273 tấn công sân bay Tân Sơn Nhất.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Đánh chiếm Bộ tổng tham mưu.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Chiếm trụ sở Biệt khu thủ đô Sài Gòn.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Đoàn xe tăng lao qua cổng chính, tiến vào sân Dinh Độc Lập sáng 30/4. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe 843, lấy lá cờ trên xe của mình đem treo lên cột cờ trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11h30.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Các chiến sĩ xe tăng 843 trưa 30/4/1975.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các ra trước đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, kết thúc chiến tranh Việt Nam.
Những hình ảnh lịch sử ngày 30/4
Người dân tổ chức diễn hành trong ngày thống nhất.

theo zing.vn


'823 ngày đêm' ở trại Davis

 Cuộc đấu tranh của cán bộ chiến sỹ trại Davis ngay giữa lòng Sài Gòn để đòi Mỹ và chính quyền Sài Gòn tuân thủ Hiệp định Paris với nhiều câu chuyện cảm động về lòng kiên trung, bất khuất, mưu lược, dũng cảm đã trở thành huyền thoại, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Ông Ngô Minh Dũng hiện nay. Ông Ngô Minh Dũng hiện nay.

Tròn 40 năm kể từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhiều câu chuyện cảm động, ít người biết về những ngày sống trong hang ổ kẻ thù đã được các nhân chứng ôn lại.

Chiến sĩ giải phóng xoa đầu chuẩn tướng sài gòn

Ông Ngô Minh Dũng, nguyên cán bộ Văn phòng Chính phủ là một trong những người trải qua 823 ngày đêm ở trại Davis.

Ngày ấy, ông Dũng mới 20 tuổi, trẻ nhất trại Davis. Ông được giao nhiệm vụ bảo vệ và lễ tân, thường xuyên gặp lãnh đạo các đoàn trong ban liên hợp quân sự hai bên và bốn bên. Ông Dũng nói giọng Bắc lại thuộc Đoàn đại biểu quân sự miền Nam nên được nhiều người chú ý. Kẻ thù nghi ngờ, trong đó có chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, Phó Đoàn đại biểu quân sự chính quyền Sài Gòn.

Phan Hòa Hiệp luôn tìm cách gây rối trong các cuộc gặp và bị ta khôn khéo vạch trần. Có lần, không cãi được, chuẩn tướng Hiệp vớ lấy gạt tàn thuốc định ném đại tá Võ Đông Giang, nguyên phó trưởng đoàn đại biểu quân sự miền Nam.

Ông Dũng nhớ lại: Hôm ấy tôi đang làm nhiệm vụ thì ông Hiệp đến bên cạnh. Ông ta bất ngờ vỗ vai tôi hỏi bâng quơ: Hình như lúc trước tui gặp ông ở ngoài Bắc. Lúc đó ông làm cái chức gì đó, phải không?

Ông Ngô Minh Dũng (hàng đầu, ngoài cùng bên trái) cùng Đoàn đại biểu quân sự của ta và Đoàn bạn tại trại Davis.
Nếu xử lý tình huống này không khéo, địch có thể vin vào để rêu rao, vu cáo ta hòng phá hoại Hiệp định Paris. Ông Dũng đáp lại: Chuẩn tướng nói gì lạ vậy, tui ở trong này, có biết miền Bắc như thế nào đâu.

Ông ta không vừa, vặn vẹo: Là dân trong này sao ông nói giọng Bắc?

Ông Dũng trả lời: Bố mẹ tôi là người Bắc, vào Nam làm đồn điền cao su và đẻ ra tôi. Cả khu tôi ở là người Bắc, tôi không nói giọng Bắc mới lạ!

Chuẩn tướng Hiệp chịu thua, bước ra cửa. Điều ông ta không ngờ trong quá trình đối đáp, tay lính Việt Cộng trẻ măng dám xoa đầu y. Ông Dũng nói ông hành động có chủ ý, phải cho địch thấy mình cao tay hơn. Chúng vỗ vai thì mình xoa đầu.

Ông Ngô Minh Dũng (hàng đầu, thứ tư từ trái sang) cùng Đoàn đại biểu quân sự Ba Lan tại trại Davis.

Đưa cờ, vũ khí vào Sài Gòn bằng máy bay địch

Ông Trần Trung Đệ (80 tuổi), nguyên cán bộ Văn phòng Chính phủ lúc ấy là thiếu úy, phụ trách công tác tuyên huấn trong trại. Ông Đệ kể: Vào trại Davis được vài ngày thì đến Tết Quý Sửu 1973. Mỹ chưa cung cấp lương thực, thực phẩm cho trại nên cái tết đầu tiên giữa lòng địch, anh em chỉ ăn lương khô, cần trao đổi, bàn bạc thì ra ngoài vì địch gắn rệp và các thiết bị nghe lén tinh vi trong nhà.

Đêm giao thừa, một chiến sỹ cắm lá cờ Tổ quốc trước cửa nhà. Chính quyền Sài Gòn điều trực thăng quần đảo, chiếu đèn sáng rực yêu cầu chúng ta hạ cờ, nếu không chúng sẽ làm căng. Lãnh đạo đoàn ta đáp lại: Cờ anh em treo mừng xuân, chừng nào hạ thì họ sẽ hạ. Các ông vào hạ cờ thì anh em sẽ giữ cờ đấy!

Hằng tuần, ông Đệ nhận các thùng thiếc sơn màu xanh từ Hà Nội chuyển vào trên các máy bay vận tải C.130 của Mỹ, bên trong chứa phim ảnh, sách báo, tạp chí và các thiết bị phục vụ văn hóa văn nghệ. Nhiều hôm, ông Đệ nhận được những thùng chứa đầy cờ đỏ sao vàng và cờ giải phóng. Ông lờ mờ đoán ra nhưng không dám trao đổi với ai.

“Nhiều cờ quá, thỉnh thoảng phải đem ra phơi. Lính Sài Gòn thắc mắc: Anh giải phóng ơi, cờ ở đâu nhiều thế? Chúng tôi bảo, phơi để mai mốt treo, còn treo ở đâu thì các anh sẽ thấy” - ông Đệ kể.

Ông Trần Trung Đệ, người chỉ huy nhóm cắm cờ giải phóng tại trại Davis sáng 30/3/1975.
Tình thâm giữa hai chiến tuyến

Thiếu tá Bùi Thiện Khiêm, sỹ quan công binh chế độ Sài Gòn phụ trách điện nước mỗi lần vào trại Davis gặp cán bộ chiến sỹ đều quan sát họ thật lâu, như đang tìm người thân. Hành động này lập tức rơi vào tầm ngắm của bộ phận an ninh. 

Qua rà soát, bảo vệ trại phát hiện Đoàn ta có một cán bộ tên Bùi Thiện Hùng là phiên dịch của Đoàn. Nhận định hai người có thể là người thân nên lãnh đạo trại quyết định cho chạm mặt nhau. Quả nhiên, sau một phiên họp, Bùi Thiện Khiêm đã chạy ào về phía đoàn ta, thảng thốt: Anh Hùng ơi, em là Khiêm đây!

Hai anh em ôm chầm lấy nhau, nước mắt lăn dài. Cuộc hội ngộ như làn nước mát tạm thời xua đi sự căng thẳng tột cùng sau cuộc gặp giữa các bên. Anh Hùng cho biết khi tập kết ra Bắc vào năm 1954, Khiêm mới 10 tuổi. Hai anh em gặp lại nhau sau gần hai mươi năm trong hoàn cảnh hết sức éo le.

Vụ việc được báo cáo với Trung tướng Trần Văn Trà, trưởng đoàn đại biểu quân sự miền Nam. Tướng Trà quyết định cho anh Hùng gặp và cảm hóa Khiêm. Từ đó, Khiêm không còn là công cụ phá hoại của địch nhằm gây chia rẽ nội bộ của ta.

Sống dưới họng súng của địch, vẫn có những khoảnh khắc yên bình. Có lần, đoàn ta thi đấu bóng chuyền giao hữu, thấy mình đánh hay quá, mấy tay lính tiếu lâm: Ăn rau muống mà sao uýnh mạnh dữ vậy cha nội. Ông Đệ cười, đáp: Ăn rau chỉ đánh vậy thôi, nếu ăn thịt chắc đập mấy ông gãy tay.

Ngày lễ, tết, trại chiếu phim (màn ảnh rộng), biểu diễn văn nghệ. Lính Sài Gòn trèo lên hàng rào xem rất đông, có người còn vỗ tay. Có đêm, anh em trong trại hút thuốc lá Thăng Long, lính ngoài hàng rào hỏi vọng qua: Anh Việt Cộng ơi, hút thuốc gì thơm dzậy. Cho tụi em xin mấy điếu. Anh em moi đất dưới hàng rào tuồn gói thuốc ra cho lính. Có hôm trại còn chuyển cho lính bánh kẹo, rượu nếp mới.

Ông Đệ nói tài xế chính quyền Sài Gòn bố trí phục vụ trại đa số là nhân viên an ninh nhưng tiếp xúc nhiều họ dần dần có cảm tình với ta. Họ thích nhất là rượu nếp mới và kẹo Hải Châu (Hải Phòng). Thi thoảng ta vẫn tặng họ một ít. Nhiều người cần mẫn bóc từng cái nhãn của viên kẹo, chai rượu ra, vuốt thật thẳng rồi giấu vào túi mang về cho người thân.

Cứ “rót” nhầm nhà tôi

Chiều 29/4/1975, ô tô chở GS Châu Tam Luân, linh mục Chân Tín và luật sư Trần Ngọc Liễng đến trại Davis bị trúng pháo cháy rụi sau khi cả ba người được đưa xuống hầm. Chỉ trong mười ngày, cán bộ chiến sỹ đã bí mật đào địa đạo dài hơn nghìn mét bằng cọc màn, dao, nối thông các dãy nhà với nhau. Để bẻ gãy sức kháng cự cuối cùng của không quân địch, qua điện đài, trại Davis kêu gọi các cánh quân mạnh dạn pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhất, nơi đặt trại. Hai cán bộ, chiến sỹ trại Davis đã ngã xuống trước bình minh của chiến thắng.

Ông Ngô Minh Dũng kể




Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn

Hồng Duy | 25/04/2015 16:31

Larry Burrows, phóng viên chiến trường người Anh, tác nghiệp tại Việt Nam từ năm 1963 tới khi tử nạn năm 1971. Những tác phẩm của ông luôn cho thấy sự tàn khốc của cuộc chiến.

Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Larry Burrows, phóng viên tạp chí LIFE, sinh năm 1926 tại London. Trong những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, Mỹ tăng mạnh số lượng cố vấn tại Việt Nam, từ vài trăm lên hơn 10.000 người. Burrows tới Việt Nam vào năm 1963 để ghi lại những khoảnh khắc khó quên trong cuộc chiến.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Trong những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, người dân Mỹ không biết nhiều tới cuộc chiến cách họ nửa vòng trái đất. Đầu tháng 1/1963, tạp chí LIFE đăng phóng sự ảnh tiêu đề “Chúng ta sa lầy sâu hơn vào cuộc chiến tranh giữa rừng” gây chấn động mạnh trong dư luận Mỹ. Phần lớn những bức ảnh trong bài do Larry Burrows chụp trên chiến trường Việt Nam. Henry Luce, nhà sáng lập tạp chí TIME, mua LIFE vào năm 1936 và giữ nguyên tên của tạp chí.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Burrows chứng kiến sự khốc liệt của cuộc chiến nhưng ông không kịp thấy ngày hòa bình lập lại trên mảnh đất này. Năm 1971, Burrows và 3 đồng nghiệp thiệt mạng khi trực thăng chở họ rơi trong chiến dịch quân sự của Mỹ trên đất Lào nhằm cắt đứt tuyến đường vận tải mà miền Bắc chi viện cho miền Nam. Ông hưởng dương 44 tuổi.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Lính Việt Nam Cộng hòa (VNCH) cứu đồng đội sa lầy ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Chiến đấu cơ Mỹ thả bom Napalm xuống một khu vực. Đây là loại vũ khí cực kỳ nguy hiểm mà quân đội Mỹ sử dụng thường xuyên trong chiến tranh Việt Nam. Nạn nhân của bom Napalm sẽ bỏng nặng. Ngay cả khi họ nhảy xuống nước, phốt pho trắng trong bom vẫn tiếp tục gây bỏng tới tận xương.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Trực thăng H-21 của Mỹ đáp xuống để đón lính bị thương trong một trận chiến với quân Giải phóng.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Lính VNCH đốt mái nhà tranh trong một trận càn. Đây là dạng nhà phổ biến của nông dân Việt Nam ở những vùng nông thôn phía nam.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Đứa con đi theo cha, một người đàn ông mà lính VNCH nghi là du kích.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Binh lính dùng dao găm để tra khảo một thanh niên mà họ bắt trong một trận càn.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Lính trên trực thăng xả súng xuống trong một chiến dịch tìm và diệt.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Larry Burrows chụp bức ảnh nổi tiếng nhất của ông vào tháng 10/1966. Jeremiah Purdie, một quân nhân bị thương, bước về phía một đồng đội nằm trên mặt đất trong trận chiến khốc liệt ở phía nam khu phi quân sự ngăn cách hai miền.
Chiến tranh VN qua ảnh của phóng viên tử nạn
Bốn lính thủy đánh bộ Mỹ mang thi thể đồng đội lên trực thăng trong tháng 10/1966. Anh ta thiệt mạng trong trận chiến với quân Giải phóng tại điểm nóng mang tên Đồi 484.

theo zing.vn


Ảnh hiếm về thương binh Mỹ trong Chiến tranh VN

Minh Anh | 24/04/2015 10:26

Những hình ảnh lính Mỹ bị thương vào năm 1966 góp phần khiến dư luận nước này nhận thức rõ hơn về cuộc chiến tại Việt Nam.

Jeremiah Purdie, một sĩ quan Thủy quân Lục chiến Mỹ, (quấn băng trắng ở đầu) đi về phía một đồng đội bị thương sau trận giao tranh ở khu vực phi quân sự vào tháng 10/1966. Phóng viên ảnh Larry Burrows đã không ngại nguy hiểm khi theo sát đoàn lính Mỹ nhằm ghi lại những hình ảnh chân thực nhất.
Jeremiah Purdie, một sĩ quan Thủy quân Lục chiến Mỹ, được quấn băng trắng ở đầu, đi về phía đồng đội bị thương sau trận giao tranh ở khu vực phi quân sự vào tháng 10/1966. Phóng viên ảnh Larry Burrows đã không ngại nguy hiểm khi theo sát đoàn lính Mỹ nhằm ghi lại những hình ảnh chân thực nhất. Ron Cook là người lính quân y ở góc trái tấm hình. "Đó không chỉ là một bức ảnh", ông Cook nói trên tờ Enquirer. Khi ra chiến trường, ông Cook mới 19 tuổi. "Cấp trên giao cho tôi nhiệm vụ phải chăm sóc cho 56 binh sĩ. Nếu có người qua đời, bạn phải ghi lại tên tuổi của họ và gửi về quê hương. Đó là nhiệm vụ quá lớn lao đối với những thanh niên mới lớn như chúng tôi".
Một lính thủy đánh bộ Mỹ trong chiến trường ở Việt Nam vào tháng 10/1966. Thư ký tòa soạn của tạp chí Life, Ralph Graves, nhận xét về bộ ảnh rằng:
Một lính thủy đánh bộ Mỹ trong chiến trường ở khu vực phi quân sự tại Việt Nam vào tháng 10/1966. Thư ký tòa soạn của tạp chí Life, Ralph Graves, nhận xét về bộ ảnh rằng: "Niềm đam mê lớn nhất của phóng viên ảnh Larry là giúp mọi người nhận ra thực tế khắc nghiệt của cuộc chiến chứ không nên thờ ơ với nó".
Dưới sự yểm trợ của máy bay quân sự, lính Mỹ thuộc tiểu đoàn 2 của lực lượng thủy quân lục chiến bắt đầu một trận càn.
Dưới sự yểm trợ của máy bay quân sự, lính Mỹ thuộc tiểu đoàn 2 của lực lượng thủy quân lục chiến bắt đầu một trận càn ở đồi 400 và đồi 484 trong khu rừng thuộc tỉnh Quảng Trị.
Những binh sĩ Mỹ mang thi thể đồng đội thiệt mạng trong trận chiến ở Đồi 484 vào tháng 10/1966. Theo nhà báo Ralph Graves của tạp chí Life, ước mơ của phóng viên ảnh Larry là anh có thể ở lại Việt Nam để chụp ảnh ngày hòa bình lập lại.
Những binh sĩ Mỹ mang thi thể đồng đội thiệt mạng trong trận chiến ở Đồi 484 vào tháng 10/1966. Theo nhà báo Graves, ước mơ của phóng viên ảnh Larry là anh có thể ở lại Việt Nam để chụp ảnh ngày hòa bình lập lại.
Lính Mỹ khiêng những đồng đội bị thương trong trận chiến ở phía nam khu vực phi quân sự.
Lính Mỹ khiêng những đồng đội bị thương trong trận chiến ở phía nam khu vực phi quân sự.
Những người lính Mỹ giúp đỡ các binh sĩ bị thương sau chiến trận
Những người lính Mỹ giúp đỡ các binh sĩ bị thương sau chiến trận
Để có những tấm hình chân thật về tổn thất của quân đội Mỹ khi tham gia vào cuộc chiến phi nghĩa tại Việt Nam, phóng viên ảnh Larry đã đánh đổi bằng chính mạng sống của anh. Theo Huffington Post, Larry qua đời năm 1966 khi máy bay chở anh và 3 phóng viên khác gặp nạn ở mặt trận tại Lào. Thảm kịch này tiếp tục nhấn mạnh những nguy hiểm mà các phóng viên chiến trường phải đối mặt.
Để có những tấm hình chân thật về tổn thất của quân đội Mỹ tại Việt Nam, phóng viên ảnh Larry đã đánh đổi bằng chính mạng sống của anh. Theo Huffington Post, Larry qua đời vào tháng 2/1971 khi máy bay chở anh và 3 phóng viên khác gặp nạn ở mặt trận tại Lào. Thảm kịch này cho thấy những nguy hiểm mà các phóng viên chiến trường phải đối mặt.
Rất nhiều binh sĩ Mỹ bị thương trong chiến dịch Prairie ở khu vực phi quân sự, xảy ra trong tháng 10/1966.
Rất nhiều binh sĩ Mỹ bị thương trong chiến dịch Prairie ở khu vực phi quân sự tháng 10/1966.
 Tạp chí Life nhận định, bộ ảnh của phóng viên Larry là sự phản ánh rõ ràng và sâu đậm nhất về hiện thực kinh hoàng trong chiến tranh ở Việt Nam, một trong những trạn chiến mà nước Mỹ gánh chịu tổn thất nặng nề nhất.
Tạp chí Life nhận định, bộ ảnh của phóng viên Larry là sự phản ánh rõ ràng và sâu đậm nhất về hiện thực kinh hoàng trong chiến tranh ở Việt Nam, một trong những cuộc chiến mà nước Mỹ gánh chịu tổn thất nặng nề nhất.
Lính Mỹ băng bó cho đồng đội bị thương sau trận đụng độ vào tháng 10/1966.
Lính Mỹ băng bó cho đồng đội bị thương sau trận đụng độ vào tháng 10/1966.
 Những binh sĩ Mỹ tham gia chiến dịch quân sự mang tên Operation Prairie diễn ra gần khu vực phi quân sự.
Những binh sĩ Mỹ tham gia chiến dịch quân sự mang tên Operation Prairie diễn ra gần khu vực phi quân sự năm 1966.
Một trong những hình ảnh ấn tượng về thương vong của lính Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam đã trở thành ảnh trang bìa của tạp chí Life ấn phẩm ngày 28/10/1966.
Một trong những tấm hình ấn tượng về thương vong của lính Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam đã trở thành ảnh bìa của tạp chí Life ngày 28/10/1966.

theo Zing


Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế

Hồng Duy | 25/04/2015 07:20

Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, lính ngụy đánh một người đàn ông bị tình nghi là quân Giải phóng là hình ảnh ấn tượng về Chiến tranh Việt Nam trên báo nước ngoài.

Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Ngày 21/7/1954, Hiệp định Geneva chia đôi Việt Nam thành hai miền Nam – Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Mỹ hậu thuẫn tạm thời kiểm soát miền nam đất nước. Ảnh: AFP
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Một trận càn năm 1962 do quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) tiến hành được ghi lại từ trực thăng. Khi quân đội Mỹ chưa chính thức tham chiến, các trận càn do lính VNCH thực hiện. Ảnh: Getty
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Một thường dân khóc khi bị lính VNCH tra khảo tháng 8/1962. Ảnh: AP
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Chiến đấu cơ Mỹ ném bom Napalm xuống khu vực tình nghi là nơi ẩn náu của các chiến sĩ giải phóng. Mỹ giúp đỡ chính quyền VNCH bằng viện trợ quân sự. Số cố vấn Mỹ có mặt tại Việt Nam tăng từ 900 lên 11.000 trong giai đoạn 1960-1962. Ảnh: Getty
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Tang lễ 7 lính Mỹ thiệt mạng tại Việt Nam trong vụ rơi trực thăng năm 1963. Quan tài của họ được đưa lên máy bay quân sự trở về nước. Ảnh: Getty
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Tháng 6/1963, nhà sư Thích Quảng Đức tự thiêu trên một tuyến phố ở Sài Gòn nhằm phản đối các chính sách phân biệt đối xử nhằm vào Phật giáo. Ảnh: AP
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Người cha mang thi thể đứa con nhỏ tới cạnh xe bọc thép chở lính VNCH. Đứa trẻ thiệt mạng sau trận càn của lực lượng này qua ngôi làng của họ ở gần biên giới Campuchia tháng 3/1964. Ảnh: AP
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Tàu khu trục USS Maddox của Hải quân Mỹ ở Vịnh Bắc Bộ. Phía Mỹ tuyên bố con tàu bị Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công tháng 8/1964. Sau đó, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson tuyên bố vụ tấn công thứ hai xảy ra, khiến Quốc hội Mỹ quyết định cho phép quân đội tham chiến đầy đủ ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây là sự kiện không có thật. Phía Mỹ đổ lỗi cho radar bị nhiễu dẫn tới tuyên bố sai lầm này. Ảnh: AP
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Lính VNCH chuẩn bị lên trực thăng Mỹ sau một cuộc lùng bắt ở đồng bằng sông Cửu Long tháng 10/1964. Ảnh: AP
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Lính ngụy đánh một người bị tình nghi là quân Giải phóng trong tháng 10/1965. Ông là một trong 15 người bị bắt sau trận càn. Ảnh: AP
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Một lính Mỹ bị thương trong trận đánh năm 1966 giữa binh lính VNCH và lính Mỹ với quân giải phóng. Ảnh: AP
Chiến tranh Việt Nam qua ảnh phóng viên quốc tế
Nữ chiến sĩ sử dụng vũ khí chống tăng trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Quân Giải phóng đồng loạt tấn công 36 thành phố lớn ở miền Nam. Ảnh: Getty


Những kỉ vật vô giá làm từ đạn bom, xác máy bay trong chiến tranh

B. Bình | 14/05/2014 15:42

(Soha.vn) - Những phế liệu chiến tranh đã được chế tác thành những vật dụng sinh hoạt hữu ích phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân.

  • Hàng chục đồ vật sinh hoạt trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và thời kỳ bao cấp, làm từ phế liệu chiến tranh gồm vỏ bom, pháo sáng, xác máy bay, vỏ đạn pháo.... đã được trưng bày tại triển lãm "Tôi kể chuyện này" do Báo Hà Nội mới tổ chức tại Hà Nội.

    Đó là vỏ quả bom 250 cân được làm thành kẻng; vỏ bom bi làm thành vành xe đạp; vỏ đạn pháo làm thành các loại lọ cắm hoa; dây dù đan thành võng; dù pháo sáng làm thành khăn choàng cắt tóc; riđô cho các cặp vợ chồng; khăn quàng cổ mùa đông; mũ sắt làm cối giã cua, chậu đựng nước thử săm thủng của thợ sửa xe đạp, gầu múc nước; đèn làm từ vỏ quả đạn M79, ống pháo sáng...

    Triển lãm cũng trưng bày 16 loại đồ dùng gồm điếu cày, gạt tàn thuốc lá, vỏ phích, đĩa đựng chén uống nước, hòm đựng quần áo, bàn uống nước... làm từ xác máy bay. Đặc biệt, có 5 loại đồ dùng làm từ xác máy bay B52 bị bộ đội Phòng không - Không quân Việt Nam bắn cháy trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972.

  • Hầu hết trong 52 hiện vật do nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến sưu tầm trong nhiều năm qua, số còn lại được mượn của các cá nhân. Đây là lần đầu tiên các đồ vật làm từ phế liệu chiến tranh được trưng bày thành một triển lãm.

    Những kỉ vật vô giá này giúp người xem nhớ về chiến thắng hào hùng của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến, cũng như sinh hoạt đời thường của nhân dân Việt Nam thời bấy giờ.
  •  
  • Chiếc thau đồng có chữ

    Chiếc thau đồng có chữ "thọ" phía dưới làm từ vỏ máy bay

    Chiếc va li làm từ xác máy bay F-4 của ông Nguyễn Đức Thảo, Sư đoàn 363 Phòng không.
  • Chiếc hòm đựng đồ làm từ vỏ máy bay.
  • Mũ sắt được biến thành chiếc cối giã....
  • ...và trở thành chậu đựng nước thử săm của người thợ sửa xe đạp

    ...và trở thành chậu đựng nước thử săm của người thợ sửa xe đạp

  • Chiếc vòng được chế biến từ vỏ đạn M79.
  • Bộ bàn ghế làm từ vỏ máy bay B-52.
  • Chiếc đèn dầu với phần dưới làm từ vỏ đạn hạt na

    Chiếc đèn dầu với phần dưới làm từ vỏ đạn hạt na

  • Một bộ ấm chén được làm từ mảnh xác máy bay và ống pháo sáng của Mỹ.
  • Chiếc lược được chế tác từ mảnh nhôm máy bay.
    Chiếc xe đạp có đôi vành được chế tác từ vỏ bom bi

Tổng hợp theo TTXVN/ Hà Nội mới


Bộ ảnh vô giá về cuộc sống và chiến đấu ở Trường Sa năm 1988

14/05/2014 10:12

Hải quân Nhân dân Việt Nam đã thần tốc, táo bạo, bất ngờ phối hợp cùng với một số đơn vị của Quân khu 5 tiến công giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Ngày 29/3/2014 là ngày kỷ niệm 39 năm giải phóng quần đảo Trường Sa. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã thần tốc, táo bạo, bất ngờ phối hợp cùng với một số đơn vị của Quân khu 5 tiến công giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Đây là trang chói lọi trong lịch sử nước nhà, là tiền đề để ngày hôm nay chúng ta tiếp tục giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Tháng 5/1988, Bộ Quốc phòng cùng với Quân chủng Hải quân tổ chức một chuyến ra thăm Trường Sa trên 2 tàu 861, 961, nhân dịp 13 năm giải phóng Trường Sa và ít ngày sau chiến sự Gạc Ma 14/3/1988.

  • biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Các chiến sĩ trên đảo Trường Sa Lớn (năm 1988 còn gọi là đảo Trường Sa)
  • Trên chuyến đi ấy có nhà báo Nguyễn Viết Thái, khi ấy là phóng viên phụ trách mảng nội chính, quân đội của báo Phú Khánh, và ông đã ghi lại những hình ảnh quý giá về cuộc sống của những chiến sĩ ở Trường Sa những ngày tháng ấy. Những người lính mà theo miêu tả của nhà báo Nguyễn Viết Thái là “thiếu thốn nhiều thứ, lưng đội nắng cháy, đối mặt với sóng dữ, vô vàn hiểm nguy nhưng vẫn lạc quan, lãng mạn vô cùng”.

39 năm sau khi giải phóng quần đảo Trường Sa, đời sống của những chiến sĩ nơi đây bớt thiếu thốn, khó khăn hơn. Ngược dòng thời gian 26 năm trước, những bức ảnh của nhà báo Nguyễn Viết Thái đã ghi lại đời sống của những người lính đảo ngày ấy, tháng 5/1988.

Thethaovanhoa.vn xin gửi đến quý độc giả những hình ảnh ấy, để độc giả có thể hình dung được những gian khổ, hiểm nguy, khó khăn của những người lính đảo đang ngày đêm bảo vệ đảo xa nơi đầu sóng, ngọn gió của Tổ quốc thân yêu. Bản quyền toàn bộ hình ảnh thuộc về nhà báo Nguyễn Viết Thái.

  • biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử

    Ngày 4/5/1988,khởi hành từ Cam Ranh (Khánh Hòa) trên 2 tàu 961 và 861. Trong đó, tàu 961 chở đoàn phóng viên, quay phim, văn công, nhạc sĩ và một số sĩ quan các binh chủng còn tàu 861 chở Đại tướng Lê Đức Anh (khi ấy là Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) và Đô đốc Giáp Văn Cương (Tư lệnh Hải quân) cùng nhiều sĩ quan cao cấp của các binh chủng.

  • biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử

    Sau hành trình hơn 250 hải lý, đến 8 giờ ngày 6/5, đoàn đến điểm đầu tiên của chuyến công tác, đó là đảo Đá Lát. Tại đây, nhà báo Nguyễn Viết Thái đã chụp được bức ảnh này và đặt tên là “Chiến sĩ trẻ trên đảo Đá Lát”. “Đây là một trong những bức hình tôi tâm đắc nhất chuyến đi, vì nó thể hiện được sự lạc quan của những người lính trẻ trước nắng cháy đảo xa và vô vàn hiểm nguy nơi đầu sóng, ngọn gió” - Nhà báo Nguyễn Viết Thái chia sẻ.

    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Điểm đến tiếp theo là đảo Trường Sa Lớn (khi ấy còn gọi là đảo Trường Sa).
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử

    Những người lính đào công sự trên đảo Trường Sa Lớn. Tinh thần sẵn sàng chiến đấu luôn được đề cao,…

    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    …điều đó thể hiện ở những bữa cơm vội vã ngay trên mâm pháo như thế này.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Tháng 5/1988, toàn cảnh đảo Phan Vinh – hòn đảo mang tên người thuyền trưởng tàu không số.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Đại tướng Lê Đức Anh (đeo kính, ngồi giữa) và Đô đốc Giáp Văn Cương (ngoài cùng, bên phải) chụp ảnh lưu niệm cùng các chiến sĩ trên đảo Phan Vinh.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Chiến sĩ trên đảo Phan Vinh dùng lưới bắt cá.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử

    Toàn cảnh đảo Thuyền Chài. Từ trái qua là nhà cao chân (cách gọi của lính đảo), làm bằng gỗ với các chân bằng gỗ, rộng chừng 30m2, lợp mái tôn, sàn ghép gỗ. Tiếp theo là nhà lâu bền thế hệ đầu tiên, làm bằng đá chẻ. Cuối cùng là một chiếc xà lan (anh em lính đảo khi ấy thường gọi là pông – tông), được neo chặt xuống rặng san hô bằng nhiều chiếc mỏ neo, mỗi cái nặng 1 tấn. Trên pông-tông có khoang chứa thực phầm, không gian sinh hoạt và nhiều dụng cụ khác.

    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Lễ chào cờ đầu tuần trên đảo Thuyền Chài, được tổ chức trên pông-tông của đảo.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Đô đốc Giáp Văn Cương thị phạm trong một buổi tập bắn đạn thật.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử

    Lính đảo giải trí và tránh cái nắng cháy da tại tầng dưới của nhà cao chân trên đảo Thuyền Chài. Giải trí khi đó chỉ có nghe băng cát-xét, đánh đàn hoặc đọc thư, đọc báo… “Mỗi tờ báo ra đến đảo là anh em chuyền tay nhau đọc đến nát tờ báo vì cả năm mới có vài chuyến tàu ra thăm đảo đem theo thực phẩm, thư từ, sách báo…” – Nhà báo Nguyễn Viết Thái nhớ lại.

    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Mỗi chuyến thăm đảo đều có các đội chiếu video đi theo để phục vụ lính đảo. Xem video thời đó là một món giải trí “xa xỉ” của của các chiến sĩ Trường Sa.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Lau chùi, bảo quản vũ khí dưới cái nắng gay gắt và sóng biển ầm ào của Trường Sa.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Anh em chiến sĩ các đảo chìm khi ấy sống và chiến đấu tại các nhà cao chân như thế này. “Chẳng khác gì một chiếc lá mong manh trước bão tố, sóng dữ đại dương” – Nhà báo Nguyễn Viết Thái miêu tả. Ảnh chụp tại đảo Đá Đông, tháng 5/1988.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Sau nhà cao chân, một số đảo, điểm đảo được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Chính phủ để xây dựng nhà đá chẻ (nhà lâu bền thế hệ thứ nhất). Trong ảnh: Xây dựng nhà đá chẻ tại đảo Tiên Nữ.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Anh em chiến sĩ công binh tắm rửa sau 1 ngày trần mình dưới nắng cháy và sóng biển. Ở Trường Sa khi ấy, tắm nước ngọt là một điều xa xỉ…
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    … và những bữa cơm đạm bạc để chuẩn bị cho một ngày mai căng mình với đá hộc, nắng cháy.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Cố nhạc sĩ Xuân An (người đang ôm đàn, tác giả bài hát “Mưa Trường Sa”) và ca sĩ Thanh Thanh – đoàn ca múa nhạc Hải Đăng, hát cho chiến sĩ Trường Sa nghe bên mâm pháo.
    biên giới, Trường Sa, 1988, hải quân, lịch sử
    Ca sĩ Thanh Thanh vừa hát, vừa tranh thủ khâu áo cho anh em lính đảo.

theo Thể thao và Văn hóa


Những bức hình ám ảnh cả thế giới về chiến tranh Việt Nam

B. Bình | 29/04/2015 10:22

Đây là những bức ảnh lột tả cuộc chiến tranh thảm khốc tại Việt Nam đăng tải trên các tờ báo nước ngoài gây rúng động thế giới.

Hình ảnh hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu trên đường phố Sài Gòn để phản đối sự đàn áp Phật tử của chính quyền Ngô Đình Diệm ngày 11/6/1963. Ảnh: AP
Hình ảnh một người ôm xác con khi toán lính Việt Nam Cộng hòa nhìn xuống từ xe thiết giáp vào ngày 19/3/1964. Ảnh: AP
Hình ảnh Những bức hình ám ảnh về chiến tranh Việt Nam của AP số 2
Một người lính quân đội Sài Gòn đá một lính Việt cộng trong khi một người khác trói chặt tay người lính này. Ảnh chụp vào tháng 10/1965
Một bà mẹ Việt Nam cùng 4 đứa con lội qua một dòng sông ở Bình Định để chạy trốn bom Mỹ vào năm 1965. Ảnh: UPI
Một chiến sĩ hy sinh trong cuộc tấn công ác liệt của nhiều tiểu đoàn Giải phóng quân nhằm vào lực lượng Mỹ và Australia tại trận Long Tân, phía nam Vũng Tàu vào ngày 18/8/1966. Thi thể của chiến sĩ bị xe thiết giáp của Mỹ kéo lê đến chỗ chôn. Ảnh: UPI
Cảnh tượng Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Giám đốc Nha An ninh Quân đội Việt Nam Cộng hòa cầm súng bắn vào đầu chiến sĩ quân Giải phóng Nguyễn Văn Lém ngày 1/2/1968. Ảnh: AP
Bé gái 9 tuổi Phan Thị Kim Phúc chạy trốn bom napalm trên con đường ở Trảng Bàng, Tây Ninh ngày 8/6/1972 trở thành một trong những bức ảnh ám ảnh nhất của Chiến tranh Việt Nam. Ảnh: AP
Một binh sĩ bịt kín mặt ngồi bên cạnh một thi thể giữa đống đổ nát ở Tây Ninh vào ngày 11/4/1969. Ảnh: George McArthur

Một phụ nữ ở làng Trảng Bàng, Tây Ninh bế đứa trẻ bị bỏng nặng do bị dội bom napalm vào ngày 8/6/1972 đã lột tả sự đau thương kinh hoàng mà người dân Tràng Bảng phải hứng chịu. Ảnh: AP

 Tổng hợp


Trẻ em trong chiến tranh Việt Nam qua ảnh quốc tế

An Nhiên | 28/04/2015 08:15

Các em nhỏ vui đùa trên dòng kênh ở Sài Gòn hoặc sợ hãi ngước nhìn những khẩu súng của lính Mỹ được mô tả chân thực qua những bức ảnh của phóng viên chiến trường.

Những đứa trẻ vui đùa trên thuyền ở một dòng kênh tại Sài Gòn, ngày 3/10/1965. Ảnh: AP

Những đứa trẻ vui đùa trên thuyền ở một dòng kênh tại Sài Gòn, ngày 3/10/1965. Cảnh ngộ của nhiều em nhỏ trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam (giai đoạn 1955-1975) được miêu tả chân thực qua những bức ảnh của phóng viên chiến trường. Ảnh: AP

Phóng viên George Esper của hãng AP chụp hình cùng một bé trai Việt Nam tại tỉnh Quảng Ngãi, ngày 1/1/1966.
Phóng viên George Esper của hãng AP chụp hình cùng một bé trai Việt Nam tại tỉnh Quảng Ngãi, ngày 1/1/1966. Ảnh: AP
Hai em nhỏ Việt Nam ngước nhìn một lính dù Mỹ đang cầm súng phóng lựu M79 tại khu vực Bảo Trai, cách Sài Gòn 32 km.
Ánh mắt sợ hãi của những em nhỏ Việt Nam khi ngước nhìn một lính dù Mỹ cầm súng phóng lựu M79 tại khu vực Bàu Trai, cách Sài Gòn 32 km. Ảnh: AP
Trẻ em trong chiến tranh Việt Nam qua ảnh quốc tế
Người phụ nữ vội vã kéo hai em nhỏ khỏi đám cháy đang bùng lên tại nhà của họ ở gần Tây Ninh, năm 1963. Ảnh: AP
Lính bộ binh Mỹ  của đại đội A, tiểu đoàn 1, sư đoàn bộ binh số 16 bế một đứa trẻ ra khỏi làng Cam Xe, gần đồn điền cao su Michelin Dầu Tiếng, phía tây bắc Sài Gòn, sau vụ tấn công ngày 22/8/1966. Ảnh: AP
Lính bộ binh Mỹ bế một đứa trẻ ra khỏi làng Cam Xe, gần đồn điền cao su Michelin Dầu Tiếng, phía tây bắc Sài Gòn, sau vụ tấn công ngày 22/8/1966. Ảnh: AP
Hai bé gái gầy trơ xương chờ được phát thực phẩm bên ngoài một ngôi nhà hư hại bởi pháo kích tại An Lộc, Bình Phước, ngày 14/6/1972.
Hai bé gái gầy trơ xương chờ được phát thực phẩm bên ngoài một ngôi nhà hư hại bởi pháo kích tại An Lộc, Bình Phước, ngày 14/6/1972. Ảnh: AP
Bé trai ôm chó theo chuyến di tán. Ảnh chụp ngày 16/1/1967.
Một bé trai ôm chó theo chuyến di tán. Ảnh chụp ngày 16/1/1967. Ảnh: AP
Bé gái bế em trên chiếc thuyền vượt sông phía nam Đà Nẵng trong cuộc di tản ngày 10/8/1974. Ảnh: AP
Bé gái bế em trên chiếc thuyền vượt sông phía nam Đà Nẵng trong cuộc di tản ngày 10/8/1974. Ảnh: AP
Ngày 4/3/1967, bác sĩ tại một bệnh viện ở Cần Thơ bế trên tay môt em bé bị thương khi trực thăng Mỹ xả đạn vào một đoàn thuyền nan đang di chuyển trên sông do tình nghi chở bộ đội giải phóng.
Nữ bác sĩ tại một bệnh viện ở Cần Thơ bế một em bé bị thương sau khi trực thăng Mỹ xả đạn vào đoàn thuyền nan đang di chuyển trên sông. Lính Mỹ nghi ngờ thuyền chở bộ đội giải phóng. Ảnh chụp ngày 4/3/1967. Ảnh: AP
Hai bé trai nắm tay nhau hòa cùng dòng người di tản khỏi Chợ Lớn, Sài Gòn, ngày 13/5/1968. Ảnh: UPI
Hai bé trai nắm tay nhau hòa cùng dòng người di tản khỏi Chợ Lớn, Sài Gòn, ngày 13/5/1968. Ảnh:UPI
Lính Mỹ xoa thuốc vào vết thương trên tay một bé trai Việt Nam, năm 1966. Ảnh: AP
Lính Mỹ xoa thuốc vào vết thương trên tay một bé trai Việt Nam, năm 1966. Ảnh: AP
Trong cơn khát, một bé trai uống nước từ chai rượu cũ. Cậu bé cùng gia đình đang tập trung tại một sân bóng ở Kom Tum để chờ di tản khỏi vùng chiến sự, ngày 7/6/1972. Ảnh: AP

Trong cơn khát, một bé trai uống nước từ chai rượu cũ. Cậu bé cùng gia đình tập trung tại một sân bóng ở Kom Tum để chờ di tản khỏi vùng chiến sự, ngày 7/6/1972. Ảnh: AP



'Điểm danh' các loại pháo Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam

Lựu pháo M101, M102, M114 hay pháo tự hành M107 và M110 là một phần trong những loại pháo được Mỹ sử dụng rộng rãi trong chiến tranh Việt Nam.

Theo một số báo cáo, Mỹ đã chi khoảng 111 tỷ USD cho cuộc chiến ở Việt Nam từ năm 1955 đến 1975. Washington điều động tới chiến trường hàng chục loại máy bay, trực thăng, phương tiện quân sự và đặc biệt là những khẩu pháo hỏa lực cực mạnh. Tuy nhiên, họ vẫn thất bại và hứng chịu tổn thất lớn trên phương diện chính trị, tạo ra cái gọi là "hội chứng Việt Nam", nhiều năm sau vẫn ám ảnh người Mỹ.

Lựu pháo M102

Tháng 6/1964, Mỹ triển khai lựu pháo M102 hỗ trợ quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Lựu pháo M102. Ảnh: Wikipedia.
Lựu pháo là một trong bốn loại hỏa pháo cơ bản của pháo binh. Với đường đạn vòng cung, tầm bắn đến vài chục km, lựu pháo cho phép xạ thủ có thể tấn công những địa điểm nằm khuất sau vật cản. Nhờ đặc điểm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn.

Vì ít có khả năng tiêu diệt mục tiêu bằng một hay vài phát đạn, lựu pháo thường được triển khai thành đội và bắn đồng loạt theo hiệu lệnh.

Một khẩu pháo M102 tiêu chuẩn nặng khoảng 1.400 kg, dài 5,2 m, rộng 1,6 m, tốc độ bắn 3 viên/phút, sơ tốc đạn 494 m/s và được điều khiển bởi kíp chiến đấu gồm 8 người. Pháo M102 có khả năng xoay 360 độ trên trục. Nòng pháo có thể nâng cao từ 5 đến 75 độ.

Lựu pháo M114

Lựu pháo M114 là loại pháo nòng 155mm do Mỹ sản xuất, được sử dụng rộng rãi như loại pháo hạng trung của quân đội Mỹ trong Chiến tranh Thế giới II, chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam.

Lựu pháo M114. Ảnh: Wikipedia.
Đây là loại pháo xe kéo tương đối cơ động, có thể tác chiến trên nhiều địa hình khó khăn như như rừng rậm hay bùn lầy. Pháo có nòng dài 2,4 m, tầm bắn tối đa 14,6 km, tốc độ bắn 4 lần/phút. Pháo thường được quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa triển khai để tấn công yểm trợ trong các cuộc càn quét, bố trí tại cứ điểm gần khu vực tác chiến.

Lựu pháo M114 xuất hiện trong các chiến dịch lớn như Cedar Fall,Juinction City, Lam Sơn 719, Quảng Trị.

Mặc dù có cỡ nòng và hỏa lực mạnh hơn loại pháo M-46 130mm của quân giải phóng Việt Nam nhưng M114 lại có tốc độ bắn chậm và tầm bắn hạn chế hơn vì thế thường thua thiệt trong các cuộc đấu pháo.

Lựu pháo M101

Lựu pháo M101 105mm là loại pháo mặt đất hạng nhẹ tiêu chuẩn của quân đội Mỹ, được sản xuất năm 1941. Pháo có độ dài nòng 2,3 m, góc bắn từ -5 đến 66 độ, sơ tốc đạn 472 m/s, tầm bắn 11,2 km, tốc độ bắn từ 3 - 10 lần/phút, góc quay ngang 46 độ, tùy thuộc vào kỹ năng của khẩu đội.

Lựu pháo M114. Ảnh: Flickr.
Pháo sở hữu bộ càng có thể xếp mở cơ động, thiết bị chống giật thủy lực, khóa nòng trượt theo phương ngang và cơ chế nạp đạn riêng biệt. Lựu pháo M101 sử dụng loại đạn nổ.

Với độ chính xác cao và hỏa lực mạnh pháo chủ yếu được sử dụng để yểm trợ bộ binh tiến công.

Quân đội Mỹ sử dụng loại pháo này trong suốt Chiến tranh Thế giới II, chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam.

Pháo tự hành M110

M110 203mm là loại pháo tự hành lớn nhất trong kho của quân đội Mỹ, chính thức biên chế cho các đơn vị Lục quân và Thủy quân lục chiến Mỹ từ năm 1963.

Pháo tự hành M110A. Ảnh:Military-Today.
M110 từng được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam và chiến tranh vùng Vịnh. Nhiệm vụ chính là hỗ trợ, định vị, bắn phá pháo binh đồng thời ngăn chặn hệ thống phòng không đối phương.

Theo thông số kỹ thuật từ nhà sản xuất, M110 nặng 28,3 tấn, dài 18,8 m, rộng 3,1 m, cao 3,1 m, có tầm bắn từ 16,8 km đến 25 km khi bắn đạn tiêu chuẩn, và lên đến 30 km khi bắn đạn có tên lửa hỗ trợ.

Tốc độ bắn điển hình của M110 là ba viên trên hai phút khi hoạt động hết công suất và một viên trên hai phút khi hoạt động bình thường. M110 có một dầm thủy lực hỗ trợ việc nạp đạn. Tuy nhiên, nó dễ bị sự cố và thường làm chậm hoạt động của pháo do kíp chiến đấu phải hạ hoàn toàn nòng trước khi sử dụng.

Tổ điều khiển có thể tăng tốc độ bắn lên hai đến 4 phát một phút nếu nạp đạn bằng tay. Việc này đòi hỏi nhiều sức người nhưng lại có ưu điểm là không cần phải hạ nòng như dùng dầm tự động.

M110 có kíp chiến đấu tiêu chuẩn lên tới 13 người, trong đó 5 người trên xe, gồm lái xe, hai pháo thủ, hai lính thực hiện việc nạp đạn, cùng 8 lính hỗ trợ đi kèm.

Tuy M110 sở hữu hỏa lực cực mạnh nhưng tốc độ bắn quá chậm. Nhược điểm này khiến chúng không được đánh giá cao bằng những khẩu pháo xe kéo nòng dài M46 130 mm hay D74 122 mm của quân giải phóng Việt Nam.

Pháo tự hành M107

M107, từng được quân lực Việt Nam Cộng hòa gọi là "Vua chiến trường", là loại pháo tự hành nòng dài, trang bị cho lục quân Mỹ từ năm 1962. Pháo được triển khai trên chiến trường Việt Nam từ năm 1968.

Lựu pháo M114. Ảnh: Flickr.
M107 nặng 28,2 tấn, dài 11,3 m, rộng 3,14 m, cao 3,47 m, nòng pháo dài 9,15 m, sơ tốc đạn 914 m/s, tầm bắn 32,7 km, sở hữu máy nâng và nạp đạn bằng thiết bị thủy lực. Kíp điều khiển pháo gồm 13 người.

Pháo tự hành M107 sử dụng hai loại đạn là đạn nổ mạnh M437 với bán kính sát thương trên 50 m và đạn hạt nhân 15 kiloton. Vì đạn pháo nặng và có kích thước lớn nên chỉ có thể dự trữ tối đa 2 viên trong xe. Khi tham gia chiến đấu, M107 cần đi cùng xe tải đạn.

Việc nạp đạn được tiến hành thủ công. Trong quá trình nạp, nòng pháo phải hạ xuống sau đó mới nâng lên trở lại để bắn, vì thế tốc độ khai hỏa rất chậm, chỉ từ một đến hai pháo mỗi phút.

Dù được đặt nhiều kỳ vọng nhưng thực tế hiệu quả chiến đấu của pháo M107 tại chiến trường Việt Nam không cao. Một số lượng khá lớn pháo tự hành M107 đã bị tiêu diệt suốt thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Trong chiến dịch Tây Nguyên, quân đội Việt Nam đã thu giữ hàng trăm khẩu pháo cùng hàng nghìn viên đạn, trong đó có 12 pháo tự hành M107.

Theo VnExpress






 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 

Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.