Bài viết


 
Album ảnhLiên hoan ảnh nghệ thuật khu vực ĐBSCL lần thứ 28 năm 2013
  VN
  13      


     "Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội lần thứ 3 năm 2013"
     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
 
Cuộc Thi ảnh nghệ thuật Việt Nam-Vẻ Đẹp Bất Tận
- Những bức ảnh báo chí đoạt giải ảnh Pulitzer năm 2013 đưa đến thế giới một cái nhìn cận cảnh về sự khốc liệt, tàn bạo.

Đang truy cập: 24
Lượt truy cập: 6885987





                                           

Niềm tự hào của người lái xe tăng sớm nhất vào Dinh Độc Lập


Xe tăng quân Giải phóng đánh chiếm Dinh Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn.
                          Ảnh : FRANGCOISE  DEMULDER

>>Chiến tranh không bao giờ là ngày hội

>>Dương Văn Minh đã nói gì khi được mời ăn trưa ngày 30/4/1975?

>>Bức ảnh lịch sử làm nên tên tuổi của nữ phóng viên Pháp

>>Ông Thiệu đã chuyển 16 tấn vàng sang Mỹ?

>>Điệp viên 'có một không hai' Phạm Ngọc Thảo

Vào thời khắc cuối cùng của chế độ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn 40 năm về trước, trong đoàn quân đi đầu của lực lượng "đột kích thọc sâu" thực hiện nhiệm vụ đặc biệt của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh "nhanh chóng chiếm những vị trí trọng yếu thuộc nội đô Sài Gòn," có một người lính giải phóng quân quê Hà Nam - người lái cỗ "chiến xa" huyền thoại T54-843 có mặt sớm nhất tại dinh lũy cuối cùng của địch trưa ngày 30/4/1975.

Người lính ấy là Lữ Văn Hỏa ở tổ dân phố Mễ Nội, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý.
Xe tăng quân Giải phóng đánh chiếm Dinh Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn.

Những nhân chứng Lịch Sử ngày 30-4-1975,lái xe 843 LỮ VĂN HỎA Bà FRANGCOISE DEMULDER, lái xe 390 NGUYỄN VĂN TẬP

Nhớ về một thời hào hùng, người chiến sỹ Lữ Văn Hỏa năm xưa cho biết, gia đình ông có 5 anh em trai đều tình nguyện lên đường nhập ngũ và tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Nam trong những năm đánh Mỹ ác liệt nhất.
Năm 1970, vừa tốt nghiệp trường Trung cấp cơ khí I ở Vĩnh Phú, đáp lại lời kêu gọi của Đảng "cả nước hành quân ra tuyến lửa," Lữ Văn Hỏa khoác ba lô lên đường hòa mình vào những đoàn quân "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước."
Sau ba tháng huấn luyện cơ bản, Lữ Văn Hỏa được điều động về Trung đoàn 203, Binh chủng Tăng thiết giáp. Không khí thời chiến sục sôi cùng với sự say mê và chút vốn hiểu biết cơ khí nên anh thích nghi được ngay với những nội dung huấn luyện chuyên sâu của binh chủng, để rồi nhanh chóng làm chủ kiến thức và thực hiện thuần thục những bài tập kỹ thuật, chiến thuật đặc biệt của người lính tăng.
Tháng 3/1971, Lữ Văn Hỏa cùng trưởng xe Bùi Quang Thận (quê ở Thái Bình) và hai pháo thủ Thái Bá Minh (quê ở Nghệ An), Nguyễn Văn Kỷ (quê Tuyên Quang) trên chiếc xe tăng T54 843 nhận lệnh lên đường.
Lữ Văn Hỏa chia sẻ: "Hơn ai hết, chúng tôi hiểu sâu sắc niềm tự hào khi được vinh dự cùng những đoàn quân đang có mặt ở chặng đường quan trong nhất - chặng đường thể hiện cao nhất sức mạnh và khát vọng của cả dân tộc hướng tới đích là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Thời gian chuẩn bị mở chiến dịch, lính tăng chúng tôi cùng những 'pháo đài di động' hành quân đêm ngày cùng nắng gió, cơm nắm, rau măng, nước suối Trường Sơn. Suốt đêm hành quân không nghỉ, đến nơi tập kết, lại lập tức đào công sự, ngụy trang xe. Vất vả, hy sinh là không thể tính đếm nhưng trước không khí hừng hực của chiến dịch không ai thấy mệt."
Và chính trong những ngày vất vả chuẩn bị cho chiến dịch đó, Lữ Văn Hỏa vinh dự được kết nạp Đảng ngay tại mặt trận.
Vào thời điểm ấy, với những thắng lợi quan trọng của ta trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao ngày càng đẩy Mỹ-ngụy vào thế thất bại và cô lập.
Tháng 1/1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Khí thế của quân và dân ở cả hai miền Nam Bắc càng sôi trào. Sự xuất hiện của những cỗ "chiến xa" thế hệ mới T54 trên chiến trường càng làm nức lòng đồng đội ở các cánh quân trên đường ra trận.
Lữ Văn Hỏa cùng trưởng xe Bùi Quang Thận và hai pháo thủ trên cỗ "chiến xa" T54-843 càng như nóng lòng chờ xuất trận, để trút sấm sét lên đầu thù.
Thế rồi thông tin "mở chiến dịch" cũng được bí mật truyền đến, anh em lính tăng ôm ghì lấy nhau, không nói nên lời, ai cũng sung sướng và hồi hộp chờ đợi.
Ngày 20/3/1975, Trung đoàn 203 tăng thiết giáp được Bộ Tư lệnh Quân đoàn II phiên chế vào lực lượng đột kích cơ động mạnh nhận mật lệnh tập trung hỏa lực từ núi Bông đánh ngược lên sân bay Phú Bài (Thừa Thiên-Huế).
Với phương châm đã trở thành mệnh lệnh của cả chiến trường "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng," những chú "voi sắt" T54 ngạo nghễ từ rừng già vươn nòng trút lửa nghiền nát những ổ hỏa lực ngoan cố của địch, yểm trợ đắc lực cho các cánh quân bộ binh tràn lên làm chủ chiến trường.
Ngày 26/3/1975, xe tăng T54-843 do chiến sỹ Lữ Văn Hỏa lái có mặt tại cửa biển Thuận An, từ đây, dọc theo Quốc lộ 1, hành quân, truy kích địch, tiến về giải phóng Đà Nẵng và hàng loạt các tỉnh Nam Trung bộ rồi cùng những cánh quân khép chặt "vòng đai lửa" quanh Sài Gòn.
Ông Hỏa vẫn còn nhớ như in, 3 giờ sáng ngày 29/4/1975, tại cầu Buông (Biên Hòa) Trung đoàn 203 tăng thiết giáp nhận lệnh tập trung hỏa lực đánh thẳng vào các mục tiêu quan trọng của địch như: ngã ba Tam Hiệp, xa lộ Biên Hòa, cầu Sài Gòn...
Đến 9 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, chiếc T54-843 áp sát cầu Thị Nghè, trưởng xe Bùi Quang Thận ra lệnh hạ thấp nòng pháo tiêu diệt xe tăng cùng các ổ hỏa lực của địch đang ngoan cố, điên cuồng chống trả hòng cản bước tiến của quân giải phóng.
Vượt qua cầu Thị Nghè, cỗ "chiến xa" T54-843 ngạo nghễ lăn xích sắt trên những đại lộ Sài Gòn. Quần chúng cách mạng hai bên đường vẫy chào và dẫn đường cho quân giải phóng tiến vào các mục tiêu quan trọng.
Đúng 11 giờ trưa ngày 30/4/1975, tòa nhà chính dinh Độc Lập hiện ra trước mắt họ. Cỗ "chiến xa" T54-843 sạm đầy khói lửa chiến trường gầm lên cùng đoàn tăng tiến vào trong sân và chỉ ít phút sau, lá cờ giải phóng do Trung úy trưởng xe Bùi Quang Thận mang theo đã tung bay trên nóc tòa nhà, báo hiệu thời khắc lịch sử thiêng liêng, huy hoàng "Toàn thắng về ta."
Là người trực tiếp chiến đấu, có mặt trong đội hình tiến vào sào huyệt cuối cùng, chứng kiến sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền ngụy, chia sẻ cảm xúc về thời khắc lịch sử ấy ông Hỏa nói: "Không thể nào diễn tả hết cảm xúc của anh em chúng tôi lúc ấy. Đó là sự bất ngờ về bước chân thần tốc của các cánh quân, là niềm tự hào trước tầm vóc của chiến thắng, là sự cảm kích trước sự hy sinh của hàng trăm nghìn đồng bào, đồng đội ở khắp các mặt trận và ở ngay cửa ngõ Sài Gòn.
Và hơn hết, thêm một lần chúng tôi có dịp cảm nhận sâu sắc rằng Đại thắng mùa Xuân lịch sử 1975 chính là kết tinh sức mạnh vô song và khát vọng cháy bỏng của toàn dân tộc ta vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước như ý nguyện của Bác Hồ kính yêu hằng mong mỏi."
40 năm đã trôi qua, người chiến sỹ lái xe tăng Lữ Văn Hỏa năm xưa, giờ đây đã trở thành người ông, người cha bên gia đình hạnh phúc và êm ấm. Dù cuộc sống còn nhiều bộn bề lo toan, nhưng ông luôn giữ vững phẩm chất người lính Bộ đội Cụ Hồ, bình dị và gần gũi. Với ông, phần thưởng cao quý nhất chính là sự tin yêu của đồng chí, đồng đội, sự kính trọng, quý mến của bà con lối xóm. Hơn cả là sự bình yên và trưởng thành của hai cô con gái.
Theo TTXVN/Vietnam+


Bà FRANGCOISE  DEMULDE 
Trở Lai Việt Nam                 
năm 1995   

  Bà FRANGCOISE  DEMULDE Và các cựu chiến binh trên hai chiếc xe trăng 843 và 390         



Bà FRANGCOISE  DEMULDE và Nguyễn Văn Tập Lái xe 390           



Từ trái qua Bùi Quang Thận Lữ văn Hỏa FRANGCOISE DEMULDER Nguyễn Văn Tập Nguyễn ĐăngToàn,
Nuyễn Văn Phượng ngày gặp lại tháng 4/1995



Nguyễn Văn Phượng đang giup  FRANGCOISE DEMULDER lên xe tăng 843    
















Đại Tướng VĂN TIẾN DŨNG tiếp Bà FRANGCOISE DEMULDER tháng 4 / 1995


Bà FRANGCOISE DEMULDER và Đại tá BÙI QUANG THẬN & lái xe LỮ VĂN HỎA









Đại Tướng VĂN TIẾN DŨNG tiếp Bà FRANGCOISE DEMULDER tháng 4 / 1995



Ảnh :Tuấn Lai


Ký ức của người dân về Sài Gòn những ngày quân quản

Trong ký ức người dân Sài Gòn và cả cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ quân quản năm 1975, thành phố này vừa yên bình, gần gũi vừa sôi động.
Ngay trong ngày 30/4/1975, sau khi tiến quân vào giải phóng Sài Gòn, các đơn vị quân đội của ta bắt tay vào làm nhiệm vụ quân quản. Một thành phố vừa được giành lại từ tay quân thù, một thành phố gần như còn nguyên vẹn, không bị tàn phá bởi trận chiến quyết định, thành phố ấy phải được gìn giữ, ổn định ngay.
Năm 1975, ông Hồ Văn Dờ, 24 tuổi, một người dân ở vùng Hóc Môn, Sài Gòn, đã có vài năm làm công nhân kỹ thuật cho một đài phát sóng với mong mỏi mình không phải đi lính phục vụ cho quân đội của chế độ cũ. Cho nên, ngày giải phóng, với ông, ngoài niềm xúc động bởi hai tiếng “hòa bình” còn là chấm hết những ngày lo sợ bị bắt đi quân dịch. Trước khi thành phố được giải phóng, cuối tuần nào, ông Dờ cũng cùng bạn bè, người thân từ Hóc Môn vào khu trung tâm giải trí và mua sắm những thứ cần thiết.
Nhân dân Sài Gòn đón mừng bộ đội vào tiếp quản thành phố (ảnh tư liệu)
Nhân dân Sài Gòn đón mừng bộ đội vào tiếp quản thành phố (ảnh tư liệu)
Ngay sau ngày 30/4, hoạt động đó của ông Hồ Văn Dờ cũng diễn ra bình thường,không có gì thay đổi. Thành phố lúc bấy giờ đặt dưới sự quản lý của bộ đội ta và những người dân như ông nhanh chóng chuyển từ lạ lẫm sang gần gũi, hợp tác, chào đón. Ai cũng hiểu rằng, thành phố vừa được giành lại, tình hình trật tự xã hội còn nhiều phức tạp nên những quy định về việc thiết quân luật, giới nghiêm… là cần thiết để bảo vệ cho chính người dân.
Ông Hồ Văn Dờ cho biết: “Thành phố thiết lập chế độ quân quản, tôi cũng trong tâm trạng chờ đợi xem được đối xử như thế nào. Thật sự bên quân quản đối xử với tôi rất tốt. Người dân sinh sống bình thường, được đảm bảo cuộc sống. Mặc dù mấy ngày đầu nhiều cửa hàng chưa dám mở cửa buôn bán, nhưng mấy ngày sau là mở cửa buôn bán, tiếp xúc với cách mạng một cách thân thiện”.
Giải phóng thành phố ngày 30/4 thì rạng sáng ngày 1/5, các đơn vị quân đội của ta đã triển khai xong lực lượng bảo vệ 11 quận nội thành và 44 mục tiêu quan trọng. Trước các công sở, kho hàng, trên đường phố, các chiến sỹ của ta quân phục chỉnh tề, làm nhiệm vụ canh gác, tuần tra, bảo vệ trật tự trị an. Người dân thành phố vẫn có điện, có nước, họp chợ và đi lại bình thường. Ngày 7/5/1975, Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn- Gia Định do Thượng tướng Trần Văn Trà làm Chủ tịch ra mắt nhân dân.
Thiếu tướng Phan Khắc Hy, khi đó là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhớ lại: “Thành phố coi như trọn vẹn, không có một thương vong, tàn sát gì như địch trước đó tuyên bố là Cộng sản vào sẽ tắm máu. Đồng bào nhiều chỗ đã phối hợp với bộ đội, cắm cờ giải phóng trước khi bộ đội vào. Hồi đó là phố xá nguyên vẹn, giao thương bình thường. Cho nên có thể nói, thắng lợi của giải phóng Sài Gòn không chỉ về quân sự mà thắng lợi về lòng dân”.
Là một cán bộ của Trung đoàn 11, Sư đoàn 571, Bộ đội Trường Sơn, đầu tháng 5, sau khi vào thành phố, Đại tá Đinh Công Ty được phân công nhiệm vụ về phụ trách điểm số 10 trong số 10 điểm tiếp nhận sỹ quan chế độ cũ. Về đây, với chuyên môn là một chính ủy, ông tiếp nhận các sỹ quan của chế độ cũ đến trình báo, giải thích cho họ các chính sách của nhà nước ta và hướng dẫn họ về tiếp tục sinh sống hoặc đi cải tạo.
Đại tá Đinh Công Ty kể: “Sau khi đi cải huấn sỹ quan Ngụy, người ta hiểu ra dần là thì ra chế độ Cộng sản, quân giải phóng với hạ sỹ quan cũng chỉ đăng ký rồi cho về chứ không bắt bớ, còn sỹ quan thì tạm thời đi cải tạo, học tập chứ không phải là bỏ tù. Nói chung là giáo dục thôi. Lực lượng sỹ quan trẻ nhiều, lúc đầu họ rất sợ nhưng rồi được mình giải thích, học tập xong rồi mình gần họ thì họ mới biết rằng là không phải như trước đây bị tuyên truyền.
Lực lượng bộ đội chủ lực của Quân đoàn 4 ở các sư đoàn 7, 9, trung đoàn 226 thuộc Sư đoàn 341, các Lữ đoàn 22, 52, 24… đều tập trung cho nhiệm vụ quân quản. Mỗi quận có một trung đoàn, mỗi phường có một tiểu đoàn và mỗi khóm có một tiểu đội. Trong cuộc họp Đảng ủy Quân đoàn ngày 8/5/1975 đã phân tích chân thực tình hình Sài Gòn và quán triệt: Tiếp quản thành phố này là nhiệm vụ hết sức nặng nề, phức tạp, hoàn toàn mới lạ. Cho nên, phải chuẩn bị kỹ và thực hiện chặt chẽ để tránh những sai lầm.
Trung tướng Lê Nam Phong, nguyên Sư trưởng Sư đoàn 7, Quân đoàn 4, đơn vị phụ trách các quận 1, 2, 3, 9 cùng một số mục tiêu quan trọng khác cho biết: “Làm công tác quân quản là đi vào phường, khu phố để nắm tình hình, làm thế nào để giữ được thành phố. Lúc đó còn sợ phía địch phản kích. Đó là dự đoán, dự kiến thôi chứ còn dân thì đầu tiên là sợ nhưng đến khi biết là Việt Cộng đúng là Việt Cộng tốt thì họ chỉ cho bộ đội, đưa vào những khu chưa quản lý được. Có thể nói là phải nhờ dân, không có dân, không có cơ sở thì không thể làm được”.
Nhiệm vụ quản lý thành phố thời gian đầu giải phóng đã được các đơn vị bộ đội của ta lúc đó thực hiện thành công. Tháng 2/1976, UBND TP Sài Gòn được thành lập, đánh dấu thắng lợi to lớn của quân ta tại thành phố ngay sau chiến thắng 30/4. Ủy ban Quân quản hoàn thành sứ mệnh sau 10 tháng hoạt động.
Theo VOV.VN

Hai chiếc xe tăng tiến vào dinh Độc Lập 40 năm trước

Khi đến bảo tàng để gặp lại chiếc xe tăng 390, các cựu chiến binh bị 'thử thách' bằng câu hỏi "Các bác có chắc đây là chiếc xe húc đổ cổng chính dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 không?".

Hai chiếc xe tăng T59 số hiệu 390 và T54B số hiệu 843 đều được công nhận là bảo vật quốc gia vào năm 2012. Trong chiến tranh chống Mỹ, hai xe này thuộc biên chế Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2.

Hiện xe tăng 390 được trưng bày tại Bảo tàng Tăng thiết giáp (Hoàng Quốc Việt, Hà Nội), cạnh hàng chục chiếc tăng màu cỏ úa khác. Số xe rõ nét, tháp pháo nguyên vẹn còn in vết đạn của những lần tham gia chiến dịch. Dù kinh qua nhiều trận chiến và thời gian triển lãm, nhưng xe vẫn nổ máy đều, hoạt động tốt.

IMG-5320.jpg

Hiện vật gốc, độc bản xe tăng 390 hiện được trưng bày ở Bảo tàng Tăng thiết giáp. Ảnh: H.P.

Còn chiếc tăng 843 được trưng bày trong Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam (28B Điện Biên Phủ), được đặt ở vị trí trang trọng giữa những hình ảnh về chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Các dây dẫn nhiên liệu, ác quy bị lão hóa nên xe không còn hoạt động được. Để hạn chế sự tác động của khí hậu nóng ẩm, hàng ngày các nhân viên bảo tàng đều lau chùi và bảo quản định kỳ từng năm.

"Qua nhiều lần bảo dưỡng, xe tăng 843 hầu như nguyên bản, chỉ phải thay thế một số bộ phận han gỉ, chi tiết vụn vặt. Tháng 12/2014, chiếc xe mới được sơn lại. Hội đồng kỹ thuật đã phải tìm được đúng gốc sơn, màu sơn của xe bởi nếu không đúng chủng loại thì lớp sơn gốc của xe sẽ bị phá hủy", thượng tá Cao Thế Duyên, cán bộ bảo quản của Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cho hay.

Có một thời, dư luận băn khoăn về việc trong hai chiếc, đâu là xe tăng húc đổ cổng chính dinh Độc Lập? Cuối cùng, nữ nhà báo Pháp Francoise Demulder có mặt trong thời khắc lịch sử ấy ghi lại được hình ảnh chứng minh chiếc tăng 390 đã húc đổ cổng chính, tiến vào dinh Độc Lập.

Sáng 30/4/1975, hai xe tăng đều nằm trong đội hình của Đại đội 4 thọc sâu, vượt qua cầu Thị Nghè, mở đường cho lực lượng của Quân đoàn 2 tiến về dinh Độc Lập. Trên xe 390 gồm trung úy Vũ Đăng Toàn, chính trị viên đại đội 4, trưởng xe; pháo thủ số 1 Ngô Sỹ Nguyên; pháo thủ số 2 Lê Văn Phượng và lái xe Nguyễn Văn Tập đi sau xe 843 của đại đội trưởng Bùi Quang Thận tiến đến cổng dinh.

Khi đó, xe 843 dẫn đầu đội hình tiến công lao vào cổng phụ của dinh và bị kẹt. Chiếc tăng 390 đi sau lập tức xông lên, húc đổ cánh cổng chính. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận từ xe 843 nhảy ra, chạy lên nóc dinh hạ cờ quân đội Việt Nam Cộng hòa và treo lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lên.

XE-TANG-843.jpg

Những người lính trên xe tăng 390 và 843 là lực lượng giải phóng có mặt sớm nhất ở dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Ảnh: Francoise Demulder. Bảo tàng LSQS cung cấp.

Sau khi sự việc được xác minh và kết luận rõ ràng, thiếu tướng Lê Mã Lương, nguyên Giám đốc bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam khi ấy báo cáo lên Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng đề nghị được đưa xe tăng 390 đang được sử dụng, huấn luyện tại Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2 về trưng bày tại bảo tàng bên cạnh chiếc xe tăng 843.

"Ý kiến của tôi được cấp trên đồng ý, nhưng khi làm việc với bên tăng thiết giáp thì thiếu tướng Đoàn Sinh Hưởng, Tư lệnh binh chủng trả lời rằng mong muốn được giữ lại xe tăng 390, đưa về trưng bày tại bảo tàng để phục vụ tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong binh chủng và các tầng lớp nhân dân, bạn bè quốc tế", tướng Lương cho hay.

Trước khi vào bảo tàng, xe tăng 390 đã cùng những người lính đi một hành trình dài dọc đất nước theo đường tiến công của quân giải phóng. Đây là xe chiến đấu chủ lực hạng trung do Trung Quốc sản xuất trên cơ sở dây chuyền sản xuất xe T54A của Liên Xô, viện trợ cho Việt Nam năm 1969. Trong hành trình ngang dọc ấy, xe tăng 390 từ A Lưới tham gia chiến đấu giải phóng Huế - Đà Nẵng, trở thành xe đầu tiên húc đổ cổng chính dinh Độc Lập vào trưa 30/4/1975.

Trải qua thời kỳ chống Mỹ, xe tăng 390 tiếp tục tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ quốc tế trên đất Campuchia rồi lên tàu thủy, vượt biển ra Bắc, có mặt trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc. Năm 1980, xe cùng đơn vị về đóng quân trên địa bàn Lạng Giang (Bắc Giang) và được sử dụng làm xe huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.

Khi Binh chủng Tăng thiết giáp khánh thành bảo tàng năm 1999, những người lính năm xưa có mặt trên chiếc xe tăng được mời đến gặp mặt để xác định hiện vật gốc. Nhân viên bảo tàng "làm khó" kíp xe bằng câu hỏi "Các bác có khẳng định đây là chiếc xe đã húc đổ cổng chính Dinh độc lập trưa ngày 30/4/1975 không?".

Pháo thủ Ngô Sỹ Nguyên đọc vanh vách đặc điểm nhận dạng xe, như sườn trái tháp pháo vẫn còn 2 vết lõm, sâu chừng một cm do bị đạn bắn. Trên mặt tháp pháo, ngay sau đường hàn cố định có vết lõm dài hơn gang tay do mảnh bom tạo thành. Từng vết lõm, số hiệu xe chính xác như lời các cựu binh miêu tả. Khi đó, nhân viên bảo tàng mở cửa đưa các nhân chứng đến gặp lại chiếc xe. "Xe được sơn mới nhưng nó gắn bó máu thịt với chúng tôi suốt chặng đường chiến đấu từ năm 1972 thì sao quên được", ông Nguyên chia sẻ.

Đại tá Lê Xuân Khanh, Giám đốc nhà máy Z153, nguyên cán bộ phòng kỹ thuật - người tham gia kiểm tra và sửa chữa xe tăng 390 cho biết, năm 1999 phòng kỹ thuật của nhà máy Z153 được lệnh tiếp nhận chiếc xe tăng để sửa chữa. Biết đây là hiện vật có giá trị lịch sử đặc biệt nên đội kỹ thuật cố gắng giữ tính nguyên bản của xe, chỉ thay thế một số phụ tùng hư hỏng thông thường.

Sau gần 2 tháng sửa chữa, xe được bàn giao lại cho Lữ đoàn 201 vận chuyển về bảo tàng. Lực lượng vận chuyển phải dùng xe chuyên dụng mới đưa được hiện vật nặng 36 tấn về nơi trưng bày.

IMG-5450.jpg

Xe tăng 843 chở theo đại đội trưởng Bùi Quang Thận - người cắm cờ trên nóc dinh Độc Lập vào 11h30 phút ngày 30/4/1975. Ảnh: H.P.

Song hành cùng xe tăng 390 tiến vào dinh Độc Lập là chiếc xe tăng T54B mang số hiệu 843, do Liên Xô (cũ) chế tạo và viện trợ cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Sau ngày thống nhất, xe tăng 843 được lệnh ra tiếp quản cảng Nhà Bè (nay là cảng Nhà Rồng) rồi hành quân về tổng kho Long Bình. Sau đó, xe được đưa ra Hà Nội dự triển lãm mừng ngày thống nhất.

Kết thúc triển lãm, xe tăng 843 trở về làm nhiệm vụ huấn luyện tại Lữ đoàn 203 cho đến năm 1979 thì được đưa về trưng bày tại bảo tàng.

Năm 2011, khi lập hồ sơ công nhận xe tăng là bảo vật quốc gia, bảo tàng mời các nhân chứng đến chứng thực chiếc xe tăng là hiện vật gốc. Kíp xe gồm trưởng xe Bùi Quang Thận, pháo thủ số 2 Nguyễn Văn Kỷ cùng lái xe Lữ Văn Hỏa (pháo thủ số 1 Thái Bá Minh đã mất trước đó) một lần nữa được hội ngộ "người bạn cũ".

Những người lính năm xưa nhớ rõ vết xước của núm nhựa chiếc cần lái bên tay phải do lái xe Hỏa va phải khi thay băng đạn đại liên. Lá chắn bùn phía đuôi xe bị biến dạng khi quay xe đi trong rừng Trường Sơn. Vết lõm phía đầu xe có đường kính 3 cm, sâu một cm là vết đạn quân Mỹ bắn trước đầu xe làm pháo thủ Nguyễn Văn Kỷ bị thương khi đang sử dụng súng 12,7 ly bắn bộ binh Mỹ ở căn cứ Nước Trong. Giờ đây, mảnh đạn ấy vẫn còn nằm trong cổ tay ông Kỷ.

40 năm trôi qua, hai chiếc xe không còn làm nhiệm vụ chiến đấu nhưng tiếp tục truyền kiến thức lịch sử và niềm tự hào cho thế hệ sau khi có mặt ở bảo tàng. Trong cuộc giao lưu mới đây, một bạn trẻ hỏi pháo thủ Ngô Sỹ Nguyên, người có mặt trên xe 390 có buồn không khi một thời lịch sử không nhắc đến những người lính lái xe 390 và chỉ nhớ đến những chiếc xe tăng vào ngày kỷ niệm 30/4?

"Với chúng tôi, xe nào vào trước, xe nào vào sau giờ đây đã không còn quan trọng nữa, không cần tranh công cũng không nên đổ lỗi. Lịch sử đã dành cho tôi và đồng đội giây phút vinh quang khi có mặt ở Sài Gòn sớm nhất, trong phút giây nước nhà thống nhất, vậy là may mắn và hạnh phúc hơn những đồng đội đã nằm xuống trên đường tiến về Sài Gòn", ông trả lời.

 

Hoàng Phương
Video: Tư liệu Bảo tàng Tăng thiết giáp


Ký ức người chỉ huy xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập

Khi thấy xe 843 dừng lại ở cổng trái, lái xe Nguyễn Văn Tập hỏi: "Thế nào anh Toàn?", ông Toàn dứt khoát "Cứ tông thẳng vào". Ngay lập tức lái xe Tập nhấn ga, húc tung cánh cổng chính của dinh Độc Lập lao vào trong sân.

Trong bộ quần áo lính giản dị, người chỉ huy xe tăng 390 năm xưa Vũ Đăng Toàn vẫn toát lên vẻ nhanh nhẹn, minh mẫn dù mái tóc xanh đã nhuốm màu bạc trắng. Năm nào cũng thế, cứ cận ngày 30/4 ông lại bắt xe từ Hải Dương lên Hà Nội, đến nhà cậu em út Ngô Sỹ Nguyên để tụ họp cùng anh em đã kề vai sát cánh trong trận đánh cuối cùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Nheo vầng trán rộng, ông chậm rãi kể lại thời khắc cách đây đã 36 năm, khi đại đội ông từ miền Trung vào tham gia chiến dịch mùa xuân năm 1975. Thời điểm ấy, ông thuộc Đại đội tăng 4, Tiểu đoàn tăng 1, Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2. Xe tăng 390 gồm có lái xe là trung sĩ Nguyễn Văn Tập; pháo thủ số 1 Ngô Sỹ Nguyên (trung sĩ); phó đại đội trưởng kỹ thuật kiêm pháo thủ số 2 Lê Văn Phượng (thiếu úy, lên thay pháo thủ số 2 bị thương) và ông Toàn là trung úy, chính trị viên đại đội.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc lập ngày 30/4.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc lập ngày 30/4.

Sáng 10/4/1975 đơn vị ông bắt đầu hành quân từ Đà Nẵng vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trên đường đi, một tiểu đoàn trinh sát đã tham gia giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết. Đại đội của ông là lực lượng nòng cốt đi sau.

Ngày 26/4, toàn bộ lực lượng bắt đầu bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh. Ba ngày sau, đại đội 4 đã giải phóng được toàn bộ căn cứ Nước Trong, trường sĩ quan thiết giáp của địch, tạo mũi thọc sâu cho Quân đoàn 2.

Sáng 30/4, Tiểu đoàn tăng 1 do ông Ngô Văn Nhỡ làm Tiểu đoàn trưởng được giao nhiệm vụ chủ công mở đường vào Sài Gòn, Đại đội 3 có nhiệm vụ cắm cờ trên dinh Độc Lập. Mũi thọc sâu bắt đầu đánh từ tổng kho Long Bình, qua cầu Đồng Nai, ngã ba Thủ Đức, ngã ba Thủ Dầu Một, đến cầu Sài Gòn. Tại đây địch chống trả rất quyết liệt. Các loạt đạn từ xe tăng M48, M41, M113 bắn sang, tàu dưới sông Sài Gòn bắn lên, máy bay thả bom chặn bước tiến của quân giải phóng.

f

Bốn anh em trên chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Từ phải qua là các ông Vũ Đăng Toàn, Ngô Sỹ Nguyên, Lê Văn Phượng, Nguyễn Văn Tập. Ảnh: Hoàng Thùy.

"Chúng tôi đã dùng pháo cao xạ, súng M27 của xe tăng bắn lên, nhưng máy bay địch nâng độ cao và tiếp tục thả bom. Chúng tôi bị tổn thất nặng nề, xe bị cháy, xe bị sa lầy, mắc cạn, hỏng hóc, đại đội 2 và 3 mất sức chiến đấu bởi anh Nhỡ hy sinh, các chiến sĩ người hy sinh, người bị thương, băng bó cho nhau la liệt 2 bên cầu", ông Toàn kể lại.

Ông cho biết, Đại đội tăng 4 lúc đó có 7 xe, ban chỉ huy đại đội gồm 3 người là trung úy Bùi Quang Thận (Đại đội trưởng), trưởng xe 843; thiếu úy Lê Văn Phượng, Phó đại đội trưởng Kỹ thuật và ông là chính trị viên, trưởng xe 390. Sau khi hội ý, Ban chỉ huy quyết định không thể chậm trễ, phải xốc lại đội hình, tổ chức đại đội tiến vào bên trong.

Trước khi hành quân, Đại đội 4 cùng đơn vị bạn đã dùng một số đạn pháo bắn sang bên kia để uy hiếp tinh thần và tiêu diệt địch. Bắn mấy loạt pháo thì địch tháo chạy, quân giải phóng tiến lên. Xe của trung đội trưởng Lê Tiến Hùng dẫn đầu, đến xe 390 rồi xe anh Thận, lần lượt đi. Đến ngã tư Hàng Xanh xe 390 bắn pháo tiêu diệt 2 xe thiết giáp N113 của địch sau đó rẽ trái, tiến về hướng dinh Độc Lập.

Đến cầu Thị Nghè thì xe của trung đội trưởng Lê Tiến Hùng bị địch bắn, ông và các chiến sĩ bị thương, một lính bộ binh hy sinh. Nhờ nhân dân đưa đồng đội đến bệnh viện, xe 390 vượt lên dẫn đầu đội hình gấp rút tiến về chiếm dinh Độc Lập. Khi đến gần dinh thì xe ông đi chậm lại, xe 843 vượt lên. Đến cổng trái, xe 843 lại dừng lại, tắt máy.

"Thấy vậy, lái xe Tập hỏi tôi "Thế nào anh Toàn?". Tôi ra lệnh "Cứ tông thẳng vào". Ngay lập tức lái xe Tập nhấn ga vọt lên, húc tung cánh cổng chính của dinh Độc Lập lao vào trong sân,", ông Toàn hồi tưởng.

Bước ra khỏi xe, ông Toàn thấy Đại đội trưởng Thận đã ôm cờ nên vơ thêm một khẩu AK, chạy theo ông Thận hỗ trợ và sẵn sàng chiến đấu. Khi hai ông đến đầu nhà thì có người đứng chặn và giới thiệu "Tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá của Tổng thống Dương Văn Minh. Tổng thống mời các ông lên làm việc".

"Có thêm người ra chỉ đường cho anh Thận lên nóc dinh cắm cờ, tôi theo Nguyễn Hữu Hạnh vào bên trong. Nội các của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ có hơn 50 người, ông Hạnh dồn hết vào phòng khánh tiết và sang phòng phía sau mời Dương Văn Minh lên", ông Toàn kể.

Lúc này, Ngô Sĩ Nguyên cũng lên tới nơi, sau khi tham gia dồn nội các của Dương Văn Minh vào một chỗ, ông đứng gác ở cửa. Nguyễn Văn Tập ở lại giữ xe tăng còn Lê Văn Phượng thì ngồi trong xe giữ khẩu 12 ly 7 chĩa lên phía lá cờ trên nóc dinh để yểm hộ cho Bùi Quang Thận cắm cờ.

f

Ông Vũ Đăng Toàn sau khi xuất ngũ đã trở về làm mọi nghề để chèo chống gia đình. Ảnh: Hoàng Thùy.

Sau khi có chỉ huy đến nói chuyện với Dương Văn Minh và đưa ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng, ông Toàn cùng đồng đội ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ dinh. Khoảng một tiếng sau, Đại đội 4 của ông nhận lệnh ra cảng Bạch Đằng bảo vệ cảng, bảo vệ kho hàng của chính quyền Sài Gòn. Ở đó chừng 4-5 hôm, đại đội rút về tổng kho Long Bình, sửa chữa xe, lau chùi súng pháo, bổ sung đạn dược, xăng dầu... sẵn sàng chiến đấu nếu có tổ chức nổi dậy.

Sau chiến thắng vang dội đó, mỗi lữ đoàn lại cử một bộ phận hành quân giải phóng Tây Nguyên. Tháng 12/1978, lữ đoàn xe tăng và quân đoàn 2 được điều sang Campuchia tham gia giải phóng nước bạn.

Đất nước hoàn toàn độc lập, ông Toàn lại về Hà Bắc xây dựng củng cố đơn vị. Năm 1981 lữ đoàn 203 cử cán bộ thành lập trường 900 ở Sơn Tây. Làm việc được vài năm, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông Toàn được đơn vị cho về nghỉ hưu với quân hàm đại úy.

"Lúc đó bà xã bị ốm, 2 con nhỏ nên khó khăn chồng chất. Hạ ba lô xuống tôi nghĩ cách làm kinh tế để chèo chống gia đình. Tôi đi học nghề tráng bánh đa, thái phở, thái mì rồi chăn nuôi gà, vịt. Cuối cùng cũng giải quyết được lương thực cơ bản cho gia đình và có điều kiện đưa vợ đi chữa bệnh", vị chỉ huy năm xưa bùi ngùi. Hiện ba con của ông Toàn đều đã lập gia đình.

Ông Toàn cho biết, sau giải phóng, 4 anh em trên chiếc xe tăng 390 mỗi người một nơi, mãi đến năm 1995 mới có cơ hội gặp lại. Từ đó trở đi, năm nào cũng vài lần, 4 cựu chiến binh lại lặn lội đường xa, tìm đến thăm nhau. Các ông Tập, Phượng, Nguyên sau khi rời quân ngũ cũng có cuộc sống khó khăn, và hiện đều có con theo nghiệp bố.

Bốn chiến sĩ xe tăng năm xưa cho biết, niềm hạnh phúc nhất của các ông là được xả thân vì độc lập, tự do của dân tộc và được cống hiến sức lực xây dựng đất nước.

Hoàng Thùy


Điều trăn trở của Tướng Phạm Xuân Thệ

"Tôi thấy nuối tiếc vì nhiều điều chưa làm được trong những ngày chiến trận ấy. Bao đồng đội đã mất. Nhiều người hy sinh ngay khi chiến thắng đã cận kề, họ mới xứng đáng là người được nhắc đến nhiều nhất", Trung tướng Phạm Xuân Thệ nhớ lại.

- Có mặt ở Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 từ lúc bắt giữ toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn cho tới lúc Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng, những ký ức nào còn in đậm với ông?

- Khoảng 6h sáng 30/4, chúng tôi đến cầu Sài Gòn. Lực lượng địch ở đây rất mạnh với xe tăng, hỏa điểm chống tăng, ụ súng lô cốt, tàu hải quân ở dưới sông bắn vào đội hình quân giải phóng. Lúc đó tôi là đại úy, Trung đoàn phó chỉ huy đội hình đi đầu đã triển khai bộ binh, xe tăng, tiêu diệt được 4 xe tăng. Nhưng chúng ta cũng bị thiệt hại 2 xe tăng, mất trên 10 người, trong đó có đồng chí tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn xe tăng hy sinh ngay trên tháp pháo.

Sau khoảng một giờ chiến đấu, tiêu diệt được các cứ điểm của đối phương làm chúng bỏ chạy, chúng tôi vượt cầu Sài Gòn, đến ngã tư Hàng Xanh thì không biết đường vào dinh Độc Lập, nên phải vừa đi vừa hỏi dân chúng. May lúc đó có một người đàn ông cầm lá cờ sao vàng từ Thảo Cầm Viên ra. Ông xin được lên xe chỉ đường. Khi tiến đến gần dinh, thấy chiếc xe tăng 390 tông thẳng vào cổng, xe Jeep của tôi cũng lao theo. Mục đích là đánh chiếm được địa điểm nào thì cắm cờ ở đó, lúc này chúng tôi chưa biết chính quyền Dương Văn Minh ở đây.

Khi lên đến tầng 2, chúng tôi gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh, ông ta nói: "Tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho Tổng thống Dương Văn Minh. Toàn bộ nội các của Tổng thống Dương Văn Minh đang ngồi trong phòng họp, mời cấp chỉ huy vào làm việc".

anh-tu-lieu-4-1349338968_480x0.jpg

Đại úy Phạm Xuân Thệ (ngoài cùng bên phải) cùng đồng đội buộc tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện tại đài phát thanh Sài Gòn trưa 30/4/1975. Ảnh tư liệu.

Khi vào bên trong, ông Hạnh giới thiệu Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Tổng thống Dương Văn Minh nói: "Chúng tôi đang chờ quân giải phóng vào để bàn giao". Ngay lập tức, tôi trả lời: "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có bàn giao gì cả".

Nghĩ đến trước đây, khi giải phóng địa phương nào đều bắt chính quyền ở đó tuyên bố đầu hàng trên phát thanh, tôi buộc Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu ra Đài phát thanh Sài Gòn để tuyên bố đầu hàng. Lúc chúng tôi trở về từ đài phát thanh, người dân Sài Gòn đã đổ ra đường mừng chiến thắng. Cảnh tượng rất xúc động.

- Ông nghĩ đến điều gì đầu tiên khi Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng?

- Ngay từ khi chúng tôi ập vào dinh Độc Lập, Dương Văn Minh đã tỏ thái độ rất lo sợ. Khi chúng tôi chiếm được dinh, quân giải phóng ầm ầm tiến vào, nổ súng ăn mừng. Dương Văn Minh không muốn ra đài phát thanh.

Lúc ở đài phát thanh, nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chúng tôi vỡ òa sung sướng. Nghĩ đến việc từ nay đất nước hoàn toàn giải phóng, được về với bố mẹ, với gia đình sau nhiều năm không tin tức, thư từ, cảm giác hạnh phúc đó không dễ gì tả được.

- Được lịch sử nhắc đến như một nhân vật nổi bật của ngày giải phóng, điều đó có ý nghĩa như thế nào trong cuộc đời binh nghiệp của ông?

- 30/4/1975 là ngày không thể nào quên trong cuộc đời tôi. Còn đến được Dinh Độc Lập là điều may mắn. Nhiều lần, tôi đã cận kề cái chết trong các trận đánh. Không chỉ có vậy, để tôi có được cơ hội vào dinh làm nhiệm vụ, biết bao đồng đội đã mất đi mạng sống. Có nhiều người hy sinh ngay khi chiến thắng đã cận kề, họ mới xứng đáng là người được nhắc đến nhiều nhất.

tuong-the-2-1349338968_480x0.jpg

"Quân đội Việt Nam mạnh hơn thời chúng tôi rất nhiều". Ảnh: Nguyễn Hưng.

- Đến lúc này, còn điều gì ông thấy nuối tiếc?

- Tôi có hơn 40 năm trong quân ngũ. Thanh niên chúng tôi ngày ấy hừng hực khí thế vào Nam đi đánh Mỹ. Năm 1972, do bị thương nặng tôi được đưa ra Bắc điều trị và được phục viên. Nhưng ở nhà buồn quá, tôi nói dối gia đình để trở lại chiến trường và ở luôn trong đó đến khi chiến tranh kết thúc.

Trên cương vị người chỉ huy, tôi còn nhiều điều cảm thấy nuối tiếc vì chưa làm được trong những ngày chiến trận ấy. Trăn trở nhất là trong chiến đấu rất nhiều đồng đội của tôi đã hy sinh. Tôi đã chỉ huy chưa tốt để trận đánh chưa kết thức trọn vẹn, để đồng đội thương vong.

Tôi được sống trong hòa bình, có gia đình hạnh phúc, nhưng nhiều đồng đội còn nằm lại chiến trường, thậm chí lấy được hài cốt rồi thì mất tên, mất quê quán. Năm 2009, vào dịp kỷ niệm 35 năm giải phóng Thượng Đức (Quảng Nam) tôi đã xin được tạ tội với các anh em, đồng chí.

Khi đi bộ đội tôi mới học hết lớp 7, sau này hòa bình lập lại, tôi được cấp trên tạo điều kiện cho đi học tiếp, rồi sang Liên Xô học. Tôi luôn luôn truyền đạt lại kinh nghiệm, kiến thức của mình cho cấp dưới, kể lại cho họ những câu chuyện mà đồng đội tôi đã làm, đã chiến đấu, hy sinh. Ngay bây giờ quân đội muốn chúng tôi huấn luyện cho chiến sĩ, chúng tôi sẵn sàng lăn, lê, bò, toài để truyền lại kinh nghiệm cho các em, các cháu.

tuong-the-1a-1349338968_480x0.jpg

"Có mặt ở Dinh Độc Lập trong ngày 30/4/1975 là điều may mắn đối với tôi". Ảnh: Nguyễn Hưng.

- Nhiều năm trực tiếp chiến đấu và đảm nhiệm cương vị Tư lệnh quân khu trong thời bình, ông đánh giá như thế nào về sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay?

- Tôi cho rằng nền kinh tế của một quốc gia mạnh thì quốc phòng cũng sẽ mạnh. Chúng ta đều thấy đội ngũ sĩ quan ngày nay hơn xưa nhiều. Họ được thừa hưởng những kinh nghiệm chống ngoại xâm, dựng nước và giữ nước của cha ông. Họ đều có trình độ đại học, không còn ai trình độ lớp 7, 8 như xưa. Chúng tôi thời ấy làm đại úy rồi mới học hết lớp 7, đại tá mới lớp 10 thôi.

Hơn nữa, kinh tế đất nước ngày càng phát triển, có điều kiện trang bị tối tân cho quân đội. Một khi trí tuệ phát triển hơn, trang bị tốt hơn, lại được thừa hưởng kinh nghiệm của cha ông đi trước thì tôi tin tưởng rằng, quân đội nhân dân Việt Nam mạnh hơn rất nhiều so với chúng tôi ngày xưa.

Trung tướng Phạm Xuân Thệ sinh năm 1947 ở Khả Phong (Kim Bảng, Hà Nam), nhập ngũ tháng 8/1967 khi vừa tròn 20 tuổi. Ông tốt nghiệp Học viện Quân sự chính trị tại Đà Lạt năm 1977, có thời gian tu nghiệp ở Học viện Quân sự Liên Xô và đã chiến đấu trong 6 chiến dịch của chiến trường miền Nam, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4/1975.

Tướng Thệ nguyên là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304, Thiếu tướng - Tư lệnh Quân đoàn 2 rồi Trung tướng - Tư lệnh Quân khu 1. Năm 2008 ông nghỉ hưu sau 42 năm trong quân ngũ. Ông vinh dự nhận nhiều huân chương Chiến công, Quân công cao quý của Đảng và Nhà nước. Tháng 4/2011, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân do có thành tích đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Nguyễn Hưng - Hoàng Thùy


48 giờ cuối cùng của chiến tranh Việt Nam

Sài Gòn những giờ phút cuối của cuộc chiến tranh bao trùm một không khí "vừa thanh thản vừa sợ hãi" khi hàng nghìn người tìm cách rời thành phố, nhưng ở những góc khác, cuộc sống thường nhật vẫn tiếp diễn.
Ngày 28/4/1975, Sài Gòn được đặt dưới lệnh giới nghiêm khi quân giải phóng ngày càng tiến gần thành phố. Phóng viên của tạp chí Time ghi nhận, bao trùm lên tất cả là một cảm giác "vừa thanh thản vừa sợ hãi".

 

Washington ráo riết thực hiện chiến dịch di tản bằng máy bay trực thăng. Trong ảnh, một số người Sài Gòn đang xếp hàng lên chiếc máy bay trực thăng của CIA đậu trên nóc nhà số 22 Gia Long để tới Mỹ, ngay trước khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc.

">

Ngày 28/4/1975, Sài Gòn được đặt dưới lệnh giới nghiêm khi quân giải phóng ngày càng tiến gần thành phố. Phóng viên của tạp chí Time ghi nhận, bao trùm lên tất cả là một cảm giác "vừa thanh thản vừa sợ hãi".

Washington ráo riết thực hiện chiến dịch di tản bằng máy bay trực thăng. Trong ảnh, một số người Sài Gòn đang xếp hàng lên chiếc máy bay trực thăng của CIA đậu trên nóc nhà số 22 Gia Long để tới Mỹ, ngay trước khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc.

 
Trực thăng đưa lính thủy đánh bộ Mỹ tới sân bay Tân Sơn Nhất nhằm bảo vệ và phong tỏa các khu vực quan trọng để tiến hành di tản những người Mỹ cuối cùng khỏi Sài Gòn.

 

">

Trực thăng đưa lính thủy đánh bộ Mỹ tới sân bay Tân Sơn Nhất nhằm bảo vệ và phong tỏa các khu vực quan trọng để tiến hành di tản những người Mỹ cuối cùng khỏi Sài Gòn.

 
Những viên chức làm việc cho các cơ quan của Mỹ cùng người thân xếp hàng chờ đợi trước cổng Đại sứ quán Mỹ.

 

">

Những viên chức làm việc cho các cơ quan của Mỹ cùng người thân xếp hàng chờ đợi trước cổng Đại sứ quán Mỹ.

 

Máy bay trực thăng di tản của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ.

 
Những công dân Mỹ cuối cùng, trong đó có cả các phóng viên báo chí, chuẩn bị di tản khỏi Sài Gòn vào buổi trưa.

 

">

Những công dân Mỹ cuối cùng, trong đó có cả các phóng viên báo chí, chuẩn bị di tản khỏi Sài Gòn vào buổi trưa.

 
Một phụ nữ cùng ba người con chờ lên trực thăng của lính thủy đánh bộ Mỹ.

 

">

Một phụ nữ cùng ba người con chờ lên trực thăng của lính thủy đánh bộ Mỹ.

 
Người dân vào đại sứ quán ngay sau khi lực lượng an ninh Mỹ rời đi. Mặc dù lệnh giới nghiêm 24/24 được ban bố nhưng hàng nghìn người vẫn tràn xuống đường.

 

Nhiều đường phố bị tắc nghẽn bởi những đoàn xe đạp, xích lô và xe tải rời Sài Gòn. Tuy nhiên, ở những góc khác, cuộc sống vẫn tiếp diễn như thường nhật.

">

Người dân vào đại sứ quán ngay sau khi lực lượng an ninh Mỹ rời đi. Mặc dù lệnh giới nghiêm 24/24 được ban bố nhưng hàng nghìn người vẫn tràn xuống đường.

Nhiều đường phố bị tắc nghẽn bởi những đoàn xe đạp, xích lô và xe tải rời Sài Gòn. Tuy nhiên, ở những góc khác, cuộc sống vẫn tiếp diễn như thường nhật.

 

Một vài phụ nữ xách theo những thùng đồ đạc lấy được sau khi lính Mỹ rút lui.

 
Lính thủy đánh bộ Mỹ nằm rạp trên boong chiến hạm USS Blue Ridge để tránh những mảnh vỡ kim loại văng ra từ một máy bay trực thăng khi nó hạ cánh và va chạm với một chiếc trực thăng khác.

 

Chiếc trực thăng chở đầy phụ nữ và trẻ em này suýt rơi xuống biển nhưng cuối cùng được cứu thoát và không có ai bị thương.

">

Lính thủy đánh bộ Mỹ nằm rạp trên boong chiến hạm USS Blue Ridge để tránh những mảnh vỡ kim loại văng ra từ một máy bay trực thăng khi nó hạ cánh và va chạm với một chiếc trực thăng khác.

Chiếc trực thăng chở đầy phụ nữ và trẻ em này suýt rơi xuống biển nhưng cuối cùng được cứu thoát và không có ai bị thương.

 

Lính hải quân Mỹ trên chiến hạm USS Blue Ridge đẩy một chiếc trực thăng xuống biển để dọn chỗ đón những chuyến bay chở người di tản khác từ Sài Gòn tới.

 
Phi công Mỹ bế một em bé đến nơi trú ẩn an toàn trên chiến hạm USS Blue Ridge sau khi chiếc trực thăng chở em cùng nhiều người khác va chạm trong lúc hạ cánh trên boong tàu.

 

">

Phi công Mỹ bế một em bé đến nơi trú ẩn an toàn trên chiến hạm USS Blue Ridge sau khi chiếc trực thăng chở em cùng nhiều người khác va chạm trong lúc hạ cánh trên boong tàu.

 

Bờ sông Sài Gòn những ngày cuối tháng 4/1975 chật kín người chờ di tản trên những con tàu.

 

Xe tăng của quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, hướng tới Dinh Độc lập.

 
Xe tăng Quân đội Nhân dân Việt Nam húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập, tiến thẳng vào dinh trưa ngày 30/4/1975, báo hiệu sự kết thúc của chính quyền Sài Gòn, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài hai thập kỷ.

 

">

Xe tăng Quân đội Nhân dân Việt Nam húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập, tiến thẳng vào dinh trưa ngày 30/4/1975, báo hiệu sự kết thúc của chính quyền Sài Gòn, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài hai thập kỷ.

 

Tướng Dương Văn Minh (người ngồi bên phải) chuẩn bị đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện tại Đài phát thanh Sài Gòn.

 
Vũ Hoàng (Theo Time

Những bức ảnh biểu tượng cho chiến tranh Việt Nam

Những bức ảnh lột tả cuộc chiến khốc liệt tại Việt Nam được thế giới ghi nhớ và trao những giải thưởng danh giá.
Horst Faas đoạt giải Pulitzer năm 1965. Ảnh chụp ngày 19/3/1964, ghi lại cảnh một người ôm xác con khi toán lính Việt Nam Cộng hòa nhìn xuống từ xe thiết giáp. Em bé chết khi quân đội Sài Gòn truy đuổi du kích Giải phóng đến một ngôi làng gần biên giới Campuchia. Ảnh: AP

 

">

Bức ảnh của phóng viên người Đức Horst Faas đoạt giải Pulitzer năm 1965. Ảnh chụp ngày 19/3/1964, ghi lại cảnh một người ôm xác con khi toán lính Việt Nam Cộng hòa nhìn xuống từ xe thiết giáp. Em bé chết khi quân đội Sài Gòn truy đuổi du kích Giải phóng đến một ngôi làng gần biên giới Campuchia. Ảnh: AP

 
Bức ảnh chụp người lính Mỹ Larry Wayne Chaffin đội mũ có dòng chữ "Chiến tranh là địa ngục" ngày 18/6/1965 là một bức ảnh nổi tiếng khác của Horst Faas. Ảnh: AP

 

">

Bức ảnh chụp người lính Mỹ Larry Wayne Chaffin đội mũ có dòng chữ "Chiến tranh là địa ngục" ngày 18/6/1965 là một bức ảnh nổi tiếng khác của Horst Faas. Ảnh: AP

 
Phóng viên Nhật Kyoichi Sawada năm 1965 ghi lại cảnh một bà mẹ Việt Nam cùng 4 đứa con lội qua một dòng sông ở Bình Định để chạy trốn bom Mỹ. Bức ảnh này năm đó đoạt giải Pulitzer và được World Press Photo (WPP), tổ chức có trụ sở tại Hà Lan, chọn là Ảnh Báo chí Thế giới của năm. Ảnh: UPI

 

">

Phóng viên Nhật Kyoichi Sawada năm 1965 ghi lại cảnh một bà mẹ Việt Nam cùng 4 đứa con lội qua một dòng sông ở Bình Định để chạy trốn bom Mỹ. Bức ảnh này năm đó đoạt giải Pulitzer và được World Press Photo (WPP), tổ chức có trụ sở tại Hà Lan, chọn là Ảnh Báo chí Thế giới của năm. Ảnh: UPI

 
Ngày 24/2/1966, xe thiết giáp của quân đội Mỹ kéo lê thi thể của một chiến sĩ quân Giải phóng để đem đến chỗ chôn. Chiến sĩ hy sinh trong cuộc tấn công ác liệt của nhiều tiểu đoàn Giải phóng quân nhằm vào lực lượng Mỹ và Australia tại trận Long Tân, phía nam Vũng Tàu, ngày 18/8/1966. Bức ảnh này cũng do Sawada chụp và được WPP vinh danh là Ảnh Báo chí Thế giới của năm. Ảnh: UPI

 

">

Ngày 24/2/1966, xe thiết giáp của quân đội Mỹ kéo lê thi thể của một chiến sĩ quân Giải phóng để đem đến chỗ chôn. Chiến sĩ hy sinh trong cuộc tấn công ác liệt của nhiều tiểu đoàn Giải phóng quân nhằm vào lực lượng Mỹ và Australia tại trận Long Tân, phía nam Vũng Tàu, ngày 18/8/1966. Bức ảnh này cũng do Sawada chụp và được WPP vinh danh là Ảnh Báo chí Thế giới của năm. Ảnh: UPI

 
Bức ảnh chụp chỉ huy xe tăng M48 Patton của Mỹ nhìn qua ống kính do phóng viên Hà Lan Co Rentmeester thực hiện, đạt giải Ảnh Báo chí Thế giới năm 1967. Ảnh: Co Rentmeester

 

">

Bức ảnh chụp chỉ huy xe tăng M48 Patton của Mỹ nhìn qua ống kính do phóng viên Hà Lan Co Rentmeester thực hiện, đạt giải Ảnh Báo chí Thế giới năm 1967. Ảnh: Co Rentmeester

 
Toshio Sakai, trong đó một lính Mỹ nằm nghỉ ngơi trong mưa lớn khi đồng đội của anh ta vẫn thức để canh gác ngày 17/6/1967. Bức ảnh này nhận giải Pulitzer năm 1968. Ảnh: UPI

 

">

"Mơ về một thời tốt đẹp hơn" là tên bức ảnh của phóng viên Nhật Toshio Sakai, trong đó một lính Mỹ nằm nghỉ ngơi trong mưa lớn khi đồng đội của anh ta vẫn thức để canh gác ngày 17/6/1967. Bức ảnh này nhận giải Pulitzer năm 1968. Ảnh: UPI

 
Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 tự biến mình thành một ngọn đuốc sống tại một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn, nhằm phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Bức ảnh của phóng viên Mỹ Malcolm Browne đoạt giải Ảnh Báo chí Thế giới năm 1963. Ảnh: AP

 

">

Hòa thượng Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 tự biến mình thành một ngọn đuốc sống tại một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn, nhằm phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Bức ảnh của phóng viên Mỹ Malcolm Browne đoạt giải Ảnh Báo chí Thế giới năm 1963. Ảnh: AP

 
Phóng viên Mỹ Eddie Adams ghi lại cảnh tượng Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Giám đốc Nha An ninh Quân đội Việt Nam Cộng hòa, cầm súng bắn vào đầu chiến sĩ quân Giải phóng Nguyễn Văn Lém ngày 1/2/1968. Bức ảnh được giải Ảnh Báo chí Thế giới năm 1968 và giải Pulitzer năm 1969. Ảnh: AP

 

">

Phóng viên Mỹ Eddie Adams ghi lại cảnh tượng Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Giám đốc Nha An ninh Quân đội Việt Nam Cộng hòa, cầm súng bắn vào đầu chiến sĩ quân Giải phóng Nguyễn Văn Lém ngày 1/2/1968. Bức ảnh được giải Ảnh Báo chí Thế giới năm 1968 và giải Pulitzer năm 1969. Ảnh: AP

 
Bức ảnh cô bé 9 tuổi Phan Thị Kim Phúc bị cháy hết quần áo, chạy trốn bom napalm trên con đường ở Trảng Bàng, Tây Ninh ngày 8/6/1972 trở thành một trong những hình tượng ám ảnh nhất của Chiến tranh Việt Nam. Tác giả Nick Út được trao giải Pulitzer và bức ảnh được chọn làm Ảnh Báo chí Thế giới năm 1972. Tạp chí New Statesman của Anh năm 2010 bình chọn đây là ảnh thời sự ấn tượng nhất mọi thời đại. Ảnh: AP

 

">

Bức ảnh cô bé 9 tuổi Phan Thị Kim Phúc bị cháy hết quần áo, chạy trốn bom napalm trên con đường ở Trảng Bàng, Tây Ninh ngày 8/6/1972 trở thành một trong những hình tượng ám ảnh nhất của Chiến tranh Việt Nam. Tác giả Nick Út được trao giải Pulitzer và bức ảnh được chọn làm Ảnh Báo chí Thế giới năm 1972. Tạp chí New Statesman của Anh năm 2010 bình chọn đây là ảnh thời sự ấn tượng nhất mọi thời đại. Ảnh: AP

 
Một lính dù Mỹ ra hiệu cho trực thăng cứu thương đón đồng đội bị thương tại khu rừng ở tây nam Huế tháng 4/1968 trong ảnh của Art Greenspoon. Phóng viên chiến trường nổi tiếng của TIME-LIFE David Douglas Duncan gọi đây là "bức ảnh về Chiến tranh Việt Nam tuyệt vời nhất". Ảnh: AP

 

">

Một lính dù Mỹ ra hiệu cho trực thăng cứu thương đón đồng đội bị thương tại khu rừng ở tây nam Huế tháng 4/1968 trong ảnh của Art Greenspoon. Phóng viên chiến trường nổi tiếng của TIME-LIFE David Douglas Duncan gọi đây là "bức ảnh về Chiến tranh Việt Nam tuyệt vời nhất". Ảnh: AP

 
Phóng viên Mỹ David Hume Kennerly năm 1972 giảnh giải Pulitzer khi ghi lại hình ảnh một lính Mỹ tại một ngọn đồi, thể hiện sự cô độc và tiêu điều của chiến tranh năm 1971. Ảnh: UPI

 

">

Phóng viên Mỹ David Hume Kennerly năm 1972 giảnh giải Pulitzer khi ghi lại hình ảnh một lính Mỹ tại một ngọn đồi, thể hiện sự cô độc và tiêu điều của chiến tranh năm 1971. Ảnh: UPI

 
Mary Ann Vecchio gào khóc khi cô quỳ bên thi thể Jeffrey Miller trong cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tại Đại học Kent State, Mỹ tháng 5/1970, sau khi Vệ binh Quốc gia Ohio nổ sung vào đám đông, giết 4 sinh viên và làm thương 9 người. Nhiếp ảnh gia John Filo đoạt giải Pulitzer với bức ảnh này năm 1970. Ảnh: Valley Daily News/Daily Dispatch

 

">

Mary Ann Vecchio gào khóc khi cô quỳ bên thi thể Jeffrey Miller trong cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam tại Đại học Kent State, Mỹ tháng 5/1970, sau khi Vệ binh Quốc gia Ohio nổ sung vào đám đông, giết 4 sinh viên và làm thương 9 người. Nhiếp ảnh gia John Filo đoạt giải Pulitzer với bức ảnh này năm 1970. Ảnh: Valley Daily News/Daily Dispatch

 
Phóng viên Hà Lan Hubert Van Es chụp bức ảnh này vào ngày 29/4/1975, khi một số người Sài Gòn lên máy bay của CIA để đến Mỹ, ngay trước khi chấm dứt Chiến tranh Việt Nam. Ảnh: Corbis

 

">

Phóng viên Hà Lan Hubert Van Es chụp bức ảnh này vào ngày 29/4/1975, khi một số người Sài Gòn lên máy bay của CIA để đến Mỹ, ngay trước khi chấm dứt Chiến tranh Việt Nam. Ảnh: Corbis

 
Bức ảnh "Niềm vui vỡ òa" được Slava "Sal" Veder chụp ngày 17/3/1973 tại căn cứ không quân Travis, California đoạt giải Pultizer năm 1974 đã trở thành biểu tượng cho sự kết thúc quá trình can thiệp của Mỹ tại Việt Nam. Trong ảnh, tù binh chiến tranh Robert L. Stirm đoàn tụ với gia đình sau khi trở về từ Việt Nam. Ảnh: AP

 

">

Bức ảnh "Niềm vui vỡ òa" được Slava "Sal" Veder chụp ngày 17/3/1973 tại căn cứ không quân Travis, California đoạt giải Pultizer năm 1974 đã trở thành biểu tượng cho sự kết thúc quá trình can thiệp của Mỹ tại Việt Nam. Trong ảnh, tù binh chiến tranh Robert L. Stirm đoàn tụ với gia đình sau khi trở về từ Việt Nam. Ảnh: AP

 

Xe tăng Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Ảnh: AP

 

Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện tại Đài phát thanh Sài Gòn ngày 30/4/1975. Ảnh do phóng viên Phạm Kỳ ghi lại. Ảnh: AP

 

Phương Vũ



Bức ảnh vô giá của nhân chứng lịch sử ngày 30/4/1975

Tuổi đã cao, di chứng của chiến tranh khiến trí nhớ người cựu binh Trần Viết Cả không còn minh mẫn. Thế nhưng chỉ cần nhìn bức ảnh lịch sử ông cùng đồng đội chứng kiến Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, thời khắc lịch sử ấy như sống lại.

Chỉ vào bức ảnh tư liệu quý giá đã ngả màu theo thời gian được một nhà báo Pháp chụp lại vào trưa 30/4/1975, tại Đài Phát thanh Sài Gòn, chứng kiến thời điểm Tổng thống nội các Sài Gòn Dương Văn Minh đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, ông Trần Viết Cả (SN 1950, thôn Hợp Linh, xã Quảng Hợp, Quảng Xương- Thanh Hóa) đọc rõ tên những người đồng đội cùng có mặt trong bức ảnh. Ngoài Đại úy Phạm Xuân Thệ là các chiến sĩ Phùng Bá Đam, Trịnh Ngọc Ước,... Trung tá Trần Viết Cả gầy gò nhưng rắn rỏi, đứng bên trái bức hình, đầu đội chiếc mũ tai bèo, khuôn mặt đầy hân hoan, hạnh phúc.

Trung tá Trần Viết Cả nguyên là Trung đội trưởng Đội trinh sát của Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2. Năm 1968, Trần Viết Cả mới tròn 17 tuổi đã xung phong tham gia quân đội. Sau 3 tháng huấn luyện cơ bản, Trần Viết Cả được gia nhập Đại đội trinh sát, Sư đoàn 304 và tham gia vào mặt trận B5. Đây là mặt trận Trị Thiên - Huế, có vị trí chiến lược quan trọng, tiếp giáp khu vực Vĩnh Linh, có đường chiến lược 12 (nhánh phía bắc hệ thống), đối đầu trực tiếp với Vùng chiến thuật I, Quân đoàn I của Mỹ.

Ông Cả nhớ lại ngày giải phóng miền Nam, đất nước độc lập
Ông Cả nhớ lại ngày giải phóng miền Nam, đất nước độc lập

Ông kể: Là lính chiến nhưng chỉ tập luyện 3 tháng, lúc đó, chiến trường cần lực lượng bổ sung, thế là vừa đi vừa huấn luyện vừa đánh. Những năm chiến đấu ác liệt, bàn chân này đã đặt đến các vùng chiến trường như Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam…

Đặc biệt, trong trận đánh vô cùng ác liệt ở căn cứ Nước Trong (Đồng Nai), ông suýt mất mạng vì đạn pháo 155 li của địch. “Lúc anh em chúng tôi tiến công vào căn cứ Nước Trong, địch phát hiện và chúng điên cuồng nã đạn pháo 155 li tứ phía. Nhiều đồng đội của tôi hy sinh. Còn tôi chỉ bị thương nhẹ khi một quả đạn rơi cách tôi chừng hơn hai mét, nhưng nó lại rơi trúng vào một ụ đất to, nếu không chắc tôi cũng không sống được” – người cựu binh già nhớ lại.

Thế nhưng vào trưa 28/4, không trụ nổi trước thế tiến công mãnh liệt của quân ta, địch ở căn cứ Nước Trong bỏ chạy, đơn vị của ông làm chủ trận địa, mở thông đường hành quân tiến vào nội đô.

Sau trận đánh căn cứ Nước Trong, đơn vị ông được lệnh sáp nhập với Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2, tiến công vào Sài Gòn để chiếm đánh Đài Phát thanh. Sáng ngày 30/4/1975, người Trung đội trưởng trinh sát Trần Viết Cả cùng đơn vị hành quân, với nhiệm vụ đánh chiếm Đài Phát thanh Sài Gòn.

Ông Cả nhớ lại ngày giải phóng miền Nam, đất nước độc lập
Ông Cả đứng đầu tiên (bên trái, đội mũ tai bèo) chứng kiến thời khắc lịch sử Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng

Ông nhớ lại: “Dù là lính trinh sát dạn dày kinh nghiệm, trải qua không biết bao nhiêu trận đánh và địa hình ở các chiến trường, nhưng chúng tôi thực sự bối rối ở ngã tư Hàng Xanh, cửa ngõ Sài Gòn, vì không biết đường. Nơi đô thị này đường sá rộng lớn và tấp nập quá, khác hẳn đường rừng quen thuộc mà chúng tôi có thể hành quân trong đêm tối. May mắn là nhân dân rất ủng hộ Quân giải phóng, hỏi người dân nào cũng được chỉ lối tiến vào Đài Phát thanh gần và nhanh nhất. Nhiều người thậm chí còn theo đoàn quân đến tận khúc rẽ”.

Khoảng hơn 9 giờ ngày 30/4/1975, đơn vị trinh sát đã áp sát Đài Phát thanh Sài Gòn. “Khi chúng tôi tiến vào Đài Phát thanh, lúc ấy lính ngụy chạy tán loạn vì không còn khả năng kháng cự. Đơn vị chúng tôi nhanh chóng chiếm giữ đài, đồng thời phân công anh em trong đơn vị chia nhau cắm chốt, bảo vệ toàn bộ hiện trạng cơ quan này. Chừng 1 giờ sau đó, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ và các chiến sĩ khác đưa Dương Văn Minh đến Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện” – ông nhớ lại.

Chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cửa sắt, chiếc xe Zeep chở Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ chạy thẳng vào sân dinh. Ông Dương Văn Minh nhanh chóng được dẫn vào phòng thu âm. Thế nhưng, lúc ấy, thiết bị của Đài bị hỏng, không phát đi lời tuyên bố ấy được.

“Thủ trưởng Phạm Xuân Thệ hỏi những người có mặt xem có ai biết nhân viên kỹ thuật ở đâu, thì một nhà báo nói biết, nên tôi được cử đi cùng để tìm người đó. Đến nhà người nhân viên ấy, tôi mời anh ta đến Đài Phát thanh để sửa chữa hệ thống kỹ thuật phát thanh nhưng người thân của anh không cho đi vì lo sợ cho tính mạng anh ấy. Tôi phải giải thích, hứa sẽ bảo đảm an toàn tính mạng cho anh và đưa anh về nhà sau khi đã sửa xong hệ thống phát thanh, lúc ấy mọi người mới yên tâm cho anh ta đi” - ông Trần Viết Cả nhớ lại.

Ông Cả (mũ tai bèo) cùng đồng đội hân hoan trong ngày giải phóng
Ông Cả (mũ tai bèo) cùng đồng đội hân hoan trong ngày giải phóng

Sau khi hệ thống Đài Phát thanh Sài Gòn được sửa xong, đúng 11h30 phút, Tổng thống Dương Văn Minh bắt đầu đọc bản tuyên bố đầu hàng Quân giải phóng miền Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chính thức sụp đổ.

Cho đến bây giờ khi nhắc lại giây phút chứng kiến thời khắc bàn giao chính quyền lịch sử và thiêng liêng ấy, ông Cả vẫn bồi hồi xúc động. Hạnh phúc hơn là sau này, bức ảnh ghi lại cảnh ông cùng đồng đội trong thời khắc lịch sử đó cũng bất ngờ được gửi về cho ông. Ông nâng niu và cất giữ bức ảnh cẩn thận như báu vật vô giá suốt mấy chục năm nay.

Nguyễn Thùy


Những bức ảnh khó quên về chiến tranh Việt Nam

Một người cha bế trên tay thi thể đứa con nhỏ chất vấn binh sỹ chính quyền Sài Gòn, lính Mỹ hoang mang, mệt mỏi sau một cuộc đụng độ với quân du kích, tướng cảnh sát chính quyền Sài Gòn bắn người trên phố… là những hình ảnh khó quên về chiến tranh Việt Nam.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Một binh sỹ chính quyền Sài Gòn cầm súng ngắn thẩm vấn hai người bị nghi là du kích của bộ đội miền Bắc, bị bắt tại đồng bằng sông Cửu Long cuối tháng 8 năm 1962.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Phi công Mỹ tháo chạy khỏi chiếc trực thăng vận tải CH-21 Shawnee bị rơi tại Cà Mau ngày 11/12/1962. Có hai chiếc trực thăng đã bị rơi trong trận càn này, và chúng bị phá hủy để tránh bị rơi vào tay đối phương.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Một binh sỹ Mỹ ngồi trên trực thăng tuần tiễu khu vực sông Mekong ngày 2/1/1963. Lực lượng du kích đã bắn hạ 5 trực thăng của Mỹ, tiêu diệt một sỹ quan và bắn bị thương 3 lính Mỹ khác.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu trên đường phố Sài Gòn ngày 11/6/1963 để phản đối chính quyền Sài Gòn.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Máy bay vận tải C-123 của Mỹ phun chất khai quang dọc theo một đường dây điện nối Sài Gòn và Đà Lạt đầu tháng 8/1963. Khu vực này được Mỹ tin là nơi xâm nhập của lực lượng miền Bắc.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Một lính chính quyền Sài Gòn bị thương nặng sau một cuộc giao tranh tại một cánh đồng mía tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Một trung đội 30 lính chính quyền Sài Gòn tham gia một trận càn đã bị bắn trả, khiến một người chết tại chỗ và 4 người khác bị thương.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Một ông bố bế thi thể đứa con ra phía xe thiết giáp của quân đội chính quyền Sài Gòn ngày 19/3/1964. Em bé thiệt mạng trong khi lực lượng của chính quyền Sài Gòn tấn công một ngôi làng gần biên giới Campuchia.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Tướng Mỹ William Westmoreland tới thị sát một đơn vị thuộc lữ đoàn 2, sư đoàn 1 của Mỹ tại căn cứ gần Biên Hòa, năm 1965.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Binh lính chính quyền Sài Gòn cùng các cố vấn Mỹ mệt mỏi sau một đêm mai phục bất thành tại thị trấn Bình Giã, cách Sài Gòn 65 km về phía Đông, đầu tháng Giêng 1965.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Trực thăng Mỹ nã đạn xối xả về phía một hàng cây, để yểm trợ cho binh lính chính quyền Sài Gòn tấn công một căn cứ của bộ đội miền Bắc tại khu vực cách Tây Ninh chừng 30 km về phía Bắc, một ngày tháng 3/1965.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Nhiều người bị thương nằm trên phố, sau khi đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn bị đánh bom ngày 30/3/1965. Ít nhất 2 người Mỹ và một số người Việt Nam đã thiệt mạng.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Cố vấn Mỹ, trung sỹ Philip Fink, thẫn thờ và mệt mỏi sau trận chiến giành thị xã Đồng Xoài ngày 12/6/1965.

Những bức ảnh lay động lòng người về chiến tranh Việt Nam (P1)
Phóng viên ảnh của hãng tin AP nằm rạp người trên một ruộng lúa trong khi tác nghiệp tại đồng bằng sông Cửu Long, khoảng một tháng trước khi thiệt mạng trên chiến trường.

Binh sỹ lực lượng kỵ binh Mỹ đổ bộ xuống bãi biển Qui Nhơn tháng 9/1965.
Binh sỹ lực lượng kỵ binh Mỹ đổ bộ xuống bãi biển Quy Nhơn tháng 9/1965.

Binh sỹ lực lượng kỵ binh Mỹ đổ bộ xuống bãi biển Qui Nhơn tháng 9/1965.
Nhiều lính dù Mỹ bị thương được đồng đội đưa ra trực thăng di tản, trong trận chiến ngày 5/10/1965, tại khu vực rừng núi khu “D”, cách Sài Gòn chừng 40 km.

Binh sỹ lực lượng kỵ binh Mỹ đổ bộ xuống bãi biển Qui Nhơn tháng 9/1965.
Nhiều học sinh, sinh viên Mỹ tham gia biểu tình phản đối sự can dự của Mỹ vào chiến tranh ở Việt Nam tại Boston, ngày 16/10/1965.

Một máy bay B-52 của Mỹ trút mưa bom xuống một khu vực ven biển của Việt Nam ngày 5/11/1965.
Một máy bay B-52 của Mỹ trút mưa bom xuống một khu vực ven biển của Việt Nam ngày 5/11/1965.

Bom xăng bùng cháy thành cầu lửa trong một trận càn của lính Mỹ tại miền Nam Việt Nam năm 1966.
Bom xăng bùng cháy thành cầu lửa trong một trận càn của lính Mỹ tại miền Nam Việt Nam năm 1966.

Bom xăng bùng cháy thành cầu lửa trong một trận càn của lính Mỹ tại miền Nam Việt Nam năm 1966.
Nhiều trẻ em và phụ nữ ẩn nấp trong một mương nước để tránh cuộc giao tranh tại Long An tháng 1/1966.

Bom xăng bùng cháy thành cầu lửa trong một trận càn của lính Mỹ tại miền Nam Việt Nam năm 1966.
Lính Mỹ bò ra khỏi công sự, lo lắng, hoang mang sau 3 ngày giao tranh với bộ đội miền Bắc ở khu phi quân sự, năm 1966. Một chiếc trực thăng bị bắn cháy ngay khi tới tiếp viện.

Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.
Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.

Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.
Binh sỹ Mỹ Lacey Skinner, đến từ thành phố Birmingham, bang Alabama bò rạp người trên cánh đồng lúa, một ngày tháng Giêng 1966, để tránh hỏa lực của lực lượng miền Bắc.

Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.
Các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam nổ ra ngày một nhiều tại Mỹ trong những năm 1965-1966. Trong ảnh là một cuộc biểu tình tại Philadelphia ngày 26/3/1966.

Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.
Một trực thăng vận tải CH-46 của lính thủy đánh bộ mỹ bị rơi sau khi trúng đạn trong chiến dịch Lam Sơn 289, tại Quảng Trị ngày 15/7/1966. Trực thăng sau đó nổ tung làm một phi công và 12 lính Mỹ thiệt mạng. 3 thành viên phi hành đoàn khác bị bỏng nặng.

Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.
Một binh sỹ Mỹ xách một em bé đang khóc trong một trận càn để truy tìm lính bắn tỉa của đối phương gần một đồn điền cao su ở Tây Bắc Sài Gòn. Khoảng 40 người dân đã bị lùa ra khỏi nhà trước khi đạn pháo san phẳng khu vực này.

Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.
Chiến đấu cơ F-105 của Mỹ bị bắn cháy, khiến phi công phải nhảy dù trong bức ảnh được chụp tháng 9/1966 gần Vĩnh Phúc, phía Bắc Hà Nội. Phi công bị bắt giữ làm tù binh từ năm 1966 tới 1973.

Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.
Tổng thống Mỹ Lydon B. Johnson duyệt đội danh dự tại căn cứ Cam Ranh, trong chuyến thăm miền Nam Việt Nam ngày 26/10/1966.

Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.
3 lĩnh Mỹ ngủ thiếp đi trên những hòm đạn, trong trận chiến tại Gio Linh, tỉnh Quảng Trị ngày 2/4/1967.

Những hố bom chi chít trên mặt ruộng sau khi B-52 ném bom một khu vực phía Tây Sài Gòn năm 1966.
Một hầm chứa đạn pháo 175mm của quân đội Mỹ bị pháo 122mm của bộ đội Việt Nam bắn trúng trong trận chiến tại Gio Linh, tháng 9/1967.
Nhà hoạt động vì hòa bình
Nhà hoạt động vì hòa bình Martin Luther King Jr.dẫn đầu một cuộc biểu tình với 125.000 người tham dự trước trụ sở Liên Hợp Quốc, để phản đối Mỹ tham chiến tại Việt Nam ngày 15/4/1967, với khẩu hiệu “Dừng ngay việc ném bom”.

Nhà hoạt động vì hòa bình
Tàu chiến của quân đội chính quyền Sài Gòn tuần tiễu trên sông Bến Tre tại khu vực cách Sài Gòn chừng 80 km về phía Nam ngày 11/7/1967. Tàu đã nhiều lần bị trúng đạn của lực lượng du kích.
Phi công Mỹ
Phi công Mỹ William Morgan Hardman bị thẩm vấn trước bệnh viện Hoàn Kiếm ở Hà Nội ngày 24/8/1967.
Phi công Mỹ
Binh sỹ Mỹ di chuyển tại khu vực Dak Tô, tháng 11/1967. Sau 21 ngày giao tranh, 285 lính Mỹ đã tử trận tại đây.
Phi công Mỹ
Tướng Nguyễn Ngọc Loan, tổng giám đốc cảnh sát chính quyền Sài Gòn, ngang nhiên bắn chết chiến sỹ Cộng Sản Nguyễn Văn Lém, hay còn gọi là Bảy Lớp, chỉ huy đội 3 Biệt động Sài Gòn ngay trên đường phố Sài Gòn trước ống kính phóng viên ngày 1/2/1968.
Phi công Mỹ
Sài Gòn tan hoang sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, ngày 5/2/1968. Lựu đạn, rocket cùng với hỏa hoạn đã biến cả một khu phố thành bình địa. Chùa Ấn Quang (phía trên bức ảnh), trên đường Sư Vạn Hạnh, chính là một cứ điểm quan trọng của lực lượng bộ đội miền Bắc.
(Còn tiếp)
Thanh Tùng
Theo AP

Cặp đôi xe tăng bất tử cùng thời gian
Lịch sử có những phút giây đặc biệt. Nếu nói sự may mắn của lịch thuộc về hai chiếc Xe tăng T-54B, số hiệu 843 và Xe tăng T-59, số hiệu 390, thì chỉ đúng một phần. Bởi để có được thời khắc hai chiếc xe tăng ấy húc đổ cổng chính, cổng phụ dinh Độc Lập-sào huyệt cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa-là kết quả và chiến thắng tất yếu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân dân ta. Theo thời gian, hai chiếc xe tăng ấy sẽ trường tồn cùng dân tộc, bởi nó là hình ảnh biểu trưng cho chiến thắng lẫy lừng của quân đội và nhân dân Việt Nam thế kỷ XX.

Đôi nét về Đại đội 4 anh hùng

Hai chiếc Xe tăng, số hiệu 843 và 390 được công nhận là Bảo vật quốc gia vì đây là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến Chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Hai chiếc xe tăng này đã tiến vào dinh Độc Lập sớm nhất. Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót khi chúng ta bóc tách quá rành rẽ, chỉ kể về hai chiếc xe tăng này mà không nói đến 75 chiếc xe tăng khác của Lữ đoàn 203 (Quân đoàn 2)-đơn vị chủ công trong mũi thọc sâu đánh chiếm Sài Gòn của cánh quân phía đông. Cũng sẽ là thiếu sót nếu không nói đến tập thể Đại đội 4, Tiểu đoàn 1 đã sát cánh “đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể”. Và lại càng thiếu sót nếu không kể đến bao hy sinh mất mát của đồng đội để hai chiếc xe tăng đó lập công đúng giờ toàn thắng.

Hai chiếc Xe tăng 843 và 390 là vật chứng báo hiệu thời khắc miền Nam hoàn toàn giải phóng trong ngày 30-4-1975 lịch sử.

Chúng tôi xin bắt đầu câu chuyện vào sự kiện tháng 2-1972, khi Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203 làm nhiệm vụ chiến đấu độc lập theo hướng đánh vu hồi phía tây nam thành Huế. Đại đội 4 lúc này được biên chế 8 chiếc xe tăng T-59 với số hiệu lần lượt: 380, 381, 382, 386, 387, 388, 389 và 390. Biên chế thành hai trung đội, trong đó xe 386 của Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và xe 390 của Chính trị viên Vũ Đăng Toàn. Cho đến trước ngày 27-1-1973, khi diễn ra trận đánh cứ điểm Tà Lương, Đại đội 4 đã thiệt hại một xe (xe 388) trong trận oanh kích của B-52 khi cả đại đội vượt đỉnh Trường Sơn hướng về Huế. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh trong các hoàn cảnh khác nhau do bị sức ép của bom, vướng mìn, sốt rét… Mỗi chiếc xe tăng đều là tài sản quý và được sự chăm sóc nâng niu của toàn thành viên trong đại đội. Trong Chiến dịch Huế-Đà Nẵng, Đại đội 4 chi viện hỏa lực cho bộ binh đánh thắng nhiều trận, trong đó có trận truy kích bắt sống hàng chục xe tăng địch tại cửa biển Thuận An-Huế. Đó có thể coi là chiến công đầu của Đại đội 4 dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và Chính trị viên Vũ Đăng Toàn.

Gặp chúng tôi, cựu chiến binh (CCB) Vũ Đăng Toàn kể lại, sau khi tham gia giải phóng Đà Nẵng, Đại đội 4 lại được lệnh tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Từ ngày 10-4 đến 24-4-1975, Đại đội 4 trong đội hình của Lữ đoàn 203 đã tổ chức hành quân gần 1000km vào Rừng Lá thuộc địa phận tỉnh Bình Thuận, trong đó có những chặng xe tăng phải chạy ròng rã 230 cây số một ngày. Trên đường cơ động vào chiến trường, đơn vị đã khắc phục nhiều khó khăn, đưa xe vượt cầu yếu, ngầm, đèo… bảo đảm 100% xe và người vào địa điểm tập kết an toàn. Tại đây, đơn vị được giao nhiệm vụ dẫn đầu Quân đoàn 2 thọc sâu đánh chiếm Sài Gòn.

Ngày 29-4-1975, Đại đội 4 được lữ đoàn giao nhiệm vụ hiệp đồng với bộ binh tiến công căn cứ Nước Trong. Đây là một căn cứ quan trọng án ngữ đường tiến về Sài Gòn nên địch tổ chức phòng ngự rất mạnh, Đại đội tăng 5 cùng với bộ binh đã đánh 3 trận mà chưa giải quyết được, còn bị thiệt hại nặng. Khi nhận nhiệm vụ, Đại đội 4 đã tiến hành nhiều biện pháp như: Tích cực trinh sát nắm tình hình, chủ động đề đạt lùi thời gian tiến công với bộ binh; tổ chức đội hình thành hai tuyến để chi viện lẫn nhau; dùng đạn nổ phát quang rừng cao su để phát hiện xe tăng địch. Trong trận này, Đại đội 4 đã tiêu diệt 3 xe M48 và 1 xe M41 cùng nhiều bộ binh địch, làm cho Chiến đoàn 318 của địch phải núng thế rút chạy, mở đường cho cánh quân phía đông tiến về Sài Gòn. Ngày 30-4-1975, Đại đội 4 dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2 đánh chiếm Sài Gòn. Tại đầu cầu Sài Gòn, đại đội đã cùng các xe trong tiểu đoàn tiêu diệt 2 xe M48. Sau khi vượt cầu Sài Gòn, đại đội tiếp tục đập tan các ổ đề kháng của địch để tiến về mục tiêu chủ yếu là dinh Độc Lập.

Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30-4-1975, hai xe tăng số 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy và số 390 do Chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy, đã húc đổ cánh cổng chính và cổng phụ của dinh Độc Lập. Ngay sau đó, Trung úy Bùi Quang Thận đã cắm lá cờ quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta lên nóc dinh Độc Lập, báo hiệu giờ khắc hoàn toàn giải phóng miền Nam.

Năm 2013, Đại đội 4 (Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn TTG 203) đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Gặp những chứng nhân lịch sử

Thuở nhỏ, tôi (PV Đông Hà) thường nghĩ cha mình (Đại tá, họa sĩ Lê Duy Ứng, Anh hùng LLVTND) là lính xe tăng thật sự. Thực ra trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông chỉ đi cùng xe tăng tiến vào giải phóng Sài Gòn. Có lần trong lớp, tôi vẽ một bức tranh phỏng theo tấm ảnh xe tăng húc vào cổng dinh Độc Lập. Thầy giáo nhìn bức tranh khen tôi vẽ khá đẹp rồi biểu dương trước lớp. Thầy chỉ thắc mắc một điều, tại sao số hiệu chiếc xe tăng đó lại là 847. Tôi hồn nhiên đáp: “Thưa thầy, vì bố em đi chiếc xe tăng đó!”. Sau này tôi mới biết, chiếc xe tăng 847 của Đại đội 5, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203 do bác Đĩnh, Đại đội trưởng làm trưởng xe, đã bị cháy ngay trước cửa ngõ Sài Gòn trong trận đánh căn cứ Nước Trong. Còn xe tăng húc đổ cổng chính và cổng phụ của dinh Độc Lập là hai chiếc 843 và 390 của Đại đội 4. Trong trận đánh tại căn cứ Nước Trong, Đại đội 4 đã chi viện cho Đại đội 5 một xe số hiệu 380 và cũng bị thương khá nặng. Những chuyện lịch sử sau này tìm hiểu kỹ tôi mới được biết.

Mang tâm thế ấy, khi thâm nhập thực tế tìm hiểu "lý lịch" hai chiếc Xe tăng 843 và 390 đã được công nhận là Bảo vật quốc gia, tôi cảm nhận được sự chân tình cởi mở khi trò chuyện với các nhân chứng lịch sử. Người đầu tiên tôi gặp là Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt, nguyên chiến sĩ lái xe tăng số hiệu 380, ông cũng là tác giả của cuốn “Hành trình đến dinh Độc Lập” (Nhà xuất bản QĐND-2008) viết về Đại đội 4 anh hùng. Sau Chiến thắng 30-4-1975, Nguyễn Khắc Nguyệt được biên chế thành lái xe của chiếc xe tăng số hiệu 843.

- Điều gì ông nhớ nhất ở hai chiếc xe tăng 390 và 843?-Tôi hỏi.

CCB Nguyễn Khắc Nguyệt hồi tưởng:

- Chiếc xe tăng 390 của Chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn gắn bó với chúng tôi từ năm 1972 ở Quảng Bình, cho đến khi tôi đi học sĩ quan năm 1976. Có lẽ vì thế nên tôi có nhiều kỷ niệm hơn với chiếc xe 843 của anh Bùi Quang Thận được bổ sung thay thế chiếc 386 hỏng hóc trước Chiến dịch Hồ Chí Minh, tháng 4-1975. Dù vậy, tôi cũng phải khẳng định rằng, cả hai chiếc xe tăng đó đều đã trở thành một phần đời không thể quên của không chỉ riêng tôi mà với tất cả các cán bộ, chiến sĩ Đại đội 4.

Hiện giờ, 8 thành viên trong hai kíp chiến đấu của xe 843 và 390 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 chỉ còn 6 người. Đó là các CCB: Vũ Đăng Toàn, Lê Văn Phượng, Nguyễn Văn Tập, Ngô Sĩ Nguyên, Lữ Văn Hỏa và Nguyễn Văn Kỷ. Cũng phải nhắc đến một thành viên khác trên xe 390 là Đỗ Cao Trường, pháo thủ số 2, bị thương trong trận căn cứ Nước Trong. Mặc dù bị “hụt” mất vinh dự ghi tên mình vào lịch sử, song CCB, thương binh Đỗ Cao Trường luôn tâm niệm vinh quang của đồng đội cũng là vinh quang của cá nhân mình. Điều đáng trân trọng là các CCB trong Đại đội 4 giờ đây mỗi lần gặp mặt ôn lại kỷ niệm xưa đều nhắc đến Đỗ Cao Trường. Sự nhắc nhớ đó cũng là một cách ghi công xứng đáng mà đồng đội đã dành cho ông. Trong số các thành viên của hai kíp xe tăng này có Lữ Văn Hỏa là người ra quân sớm nhất vì lý do sức khỏe giảm sút do bị sốt rét triền miên. Các thành viên khác được học các lớp sĩ quan tổ chức trong và ngoài nước. Ngoài Đại đội trưởng Bùi Quang Thận sau này phát triển thành cán bộ chỉ huy cấp lữ đoàn, còn có Lê Văn Phượng và Vũ Đăng Toàn phát triển lên cán bộ cấp tiểu đoàn.

Gặp lại Chính trị viên Vũ Đăng Toàn của Đại đội 4 năm xưa, nay nghỉ hưu ở xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc (Hải Dương), chúng tôi không khỏi cảm phục trước cái tâm của một người chiến sĩ cách mạng luôn hướng về đồng đội. Khi được hỏi về những kỷ niệm đáng nhớ với chiếc xe tăng 390, ông rất xúc động: “Năm 1996, chúng tôi trở lại thăm Lữ đoàn 203, tôi được gặp lại chiếc xe tăng 390 sau mười mấy năm xa cách. Cảm xúc thật khó tả. Chúng tôi leo lên xe đếm từng vết thương do đạn 12,8mm, do mảnh bom phát quang gây ra cho nó… tất cả vẫn còn đó. Mỗi vết thương trên xe đã gợi lại cho chúng tôi nhiều kỷ niệm. Trong đó có nhiều kỷ niệm đau buồn. Sự mất mát hy sinh của những thành viên trong kíp xe, trong đại đội luôn nhắc chúng tôi phải sống xứng đáng hơn với những người đã ngã xuống cho độc lập, tự do của Tổ quốc”.

Tháng Tư này, các thành viên của kíp chiến đấu xe 843 và 390 đang rất bận rộn. Ban tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã mời tất cả các thành viên cùng vợ vào thăm lại chiến trường xưa và thăm Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay. Riêng với CCB Vũ Đăng Toàn, ông đã nhận lời mời tham dự cầu truyền hình đặc biệt "Hà Nội-Huế-Thành phố Hồ Chí Minh: Nghĩa tình sắt son", sau đó ông sẽ cùng với các đại biểu có thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ báo công tại Thành phố Hồ Chí Minh. Những việc đó, đối với một người già quả là bận rộn, nhưng ông đã tìm ra cách riêng để tiếp thêm sức lực cho mình. Đó là mỗi sáng, ông dành ít phút tĩnh lặng để nhớ về đồng đội, nhớ về sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc đã đi qua cuộc đời mình.

Ký sự của VĂN HẢI, ĐÔNG HÀ






Câu chuyện về 2 cha con cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh

Tháng 3-4/1975 Phó Cục trưởng Cục Quân nhu Từ Giấy và con trai Từ Đễ cùng hướng tới Sài Gòn bằng con đường khác nhau: người cha đi theo đường mòn Hồ Chí Minh, người con đi bằng máy bay.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cả dân tộc ra trận. Hàng vạn gia đình có nhiều người đi bộ đội, lên bưng biền, có nhiều gia đình cả hai thế hệ cùng lên đường chống Mỹ. Nhưng những gia đình mà cả hai cha con đều tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thì không nhiều. Một trong số những gia đình ít ỏi đó là gia đình Giáo sư Từ Giấy. Hai cha con đi chiến dịch với nhiệm vụ khác nhau và đường đi khác nhau nhưng đều hướng tới đích là giải phóng Sài Gòn.
 
Hai cha con GS. Từ Giấy cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh
Hai cha con GS. Từ Giấy cùng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh

Đi theo đường mòn Hồ Chí Minh : ngày 20/3/1975, sau khi bộ đội ta giải phóng Tây Nguyên, Giáo sư được cử tham gia đoàn công tác của Cục Quân nhu vào Miền nam với nhiệm vụ tổ chức bảo đảm quân nhu cho các chiến dịch tiếp theo. Đoàn công tác gồm 14 người do Giáo sư làm Trưởng đoàn, ông Phan Nhượng làm bí thư chi bộ, tôi là Đặng Trọng Sùng làm phó bí thư chi bộ. Ngay khi nhận nhiệm vụ, ông đã linh cảm về một ngày chiến thắng đang tới gần. Trên đường hành quân, ông tâm sự:” Trong kháng chiến chống Pháp khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi đã linh cảm và tin vào ngày chiến thắng. Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi đã nhiều lần vào chiến trường, nhưng lần này, tôi mường tượng về một chiến dịch rất lớn sắp bắt đầu và ngày toàn thắng không xa. Niềm tin của ông vào ngày toàn thắng và lời bài hát “Lá đỏ” “ …hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn !” vang lên khi các đoàn quân gặp nhau lan tỏa trong đoàn công tác, thôi thúc đoàn tăng tốc độ hành quân. Đến 29/3/1975 đoàn đã vào tới Lộc Ninh- đại bản doanh của Bộ Tư lệnh Miền Nam.

Đi bằng đường không: cuối tháng 3/1975 Bộ tư lệnh quân chủng Phòng không- Không quânnhận được lệnh “ chuẩn bị tham gia chiến dịch”. Bộ Tư lệnh quân chủng đã họp bàn và đưa ra nhiều phương án khác nhau. Nhưng gợi mở của Tư lệnh Lê Văn Tri” liệu có thể lấy máy bay địch đánh địch?” đã mở ra hướng giải quyết. Ý tưởng của Tư lệnh càng được củng cố sau khi giải phóng sân bay Đà Nẵng ta thu được khá nhiều máy bay A-37 của quân đội Sài Gòn. Tư tưởng chỉ đạo của Bộ thống soái tối cao lúc đó là “ Thần tốc-táo bạo-quyết thắng”. Tư tưởng đó đã được lãnh đạo Quân chủng, các kỹ sư, phi công của “Phi đội Quyết thắng” thực hiện hết sức sáng tạo. Ngày 2/4/1975 đoàn cán bộ kỹ thuật của Quân chủng do đại úy Hồ Thanh Minh đã bay vào Đà Nẵng để tiếp quản và phục hồi máy bay A-37. Chiều ngày 22/4 các phi công của phi đội 4 Trung đoàn 923 cũng tới Đà Nẵng. Đây là các phi công lái MIG 17 do Liên Xô chế tạo.

Thông thường để chuyển loại máy bay phải mất 3 tháng, nhưng với tinh thần” thần tốc”, các phi công chỉ có 5 ngày làm quen và với 90 phút bay thử nghiệm, sau đó phi đội cơ động vào sân bay Thành Sơn ở Phan Rang. Chiều 28/4/1975 phi đội Quyết thắng gồm Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On xuất kích đi ném bom sân bay Tân Sơn Nhất. Trận đánh lịch sử này đã phá hủy 24 máy bay và diệt nhiều sinh lực địch. Chiều tối ngày hôm đó cả 5 chiếc máy bay trở về sân bay Thành Sơn nguyên vẹn. Hôm sau, Bộ Tư lệnh chiến dịch thông báo cho Giáo sư là con trai ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ném bom sân bay Tân Sơn Nhất. Giáo sư rất vui và bất ngờ về chiến công của Không quân Việt nam, trong đó có sự đóng góp của con trai mình. Giáo sư là người rất hóm hỉnh, ông nói với anh em trong đoàn công tác: trong kháng chiến chống Pháp, vợ chồng tôi trong 4 năm ( 1949- 1952) sinh ba cậu con trai, trong kháng chiến chống Mỹ vợ chồng tôi đóng góp hết cho quân đội, như vậy chúng tôi có “tầm nhìn” đấy chứ! Chuẩn bị nguồn nhân lực cho chống Mỹ từ rất sớm. Bõ những năm vất vả nuôi con đàn.

Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn”

Ngay từ lúc lên đường (ngày 20/3) Giáo sư luôn linh cảm là ngày toàn thắng sắp đến và ngày 30/4/1975 đã đến. Năm cánh quân đã hội quân ở Sài Gòn, khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đã thành hiện thực. Ngày 1/5/1975 phi đội Quyết thắng cơ động vào sân bay Biên Hòa. Chiều 2/5 đoàn công tác của Cục Quân nhu vào tiếp quản kho tàng hậu cần ở sân bay Tân Sơn Nhất. Ngày 3/5 tôi được chứng kiến hai cha con gặp nhau ở Sài Gòn, Giáo sư rất vui và cả đoàn công tác của Cục đã tổ chức liên hoan mừng ngày thống nhất đất nước và mừng cuộc gặp mặt lịch sử của hai cha con. Là người nhiều năm công tác với Giáo sư, đặc biệt cùng ông tham gia chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh, tôi có nhiều kỷ niệm về Ông - người trí thức cách mạng mẫu mực, một trong những kỷ niệm đẹp là cuộc hội ngộ của hai cha con ở Sài Gòn ngày 3/5/1975 còn đọng mãi trong ký ức của tôi.

Từ Linh
(Dựa theo lời kể của ông Đặng Trọng Sùng- nguyên Phó cục trưởng Cục Quân nhu/Tổng cục Hậu cần)

Chiến tranh Việt Nam và những hình ảnh rúng động thế giới

Chiến tranh Việt Nam sẽ luôn là bài học đắt giá cho bất cứ ai muốn phá vỡ nền hòa bình của các dân tộc trên thế giới.
Cuộc chiến đã đi qua, đã ở lại sau lưng suốt 40 năm, nhưng nỗi đau dường như vẫn còn đó. Mỗi bức ảnh dưới đây đã từng khiến cả thế giới rúng động về cuộc chiến mà Mỹ và đồng minh thực hiện tại Việt Nam. Rõ ràng, cho đến bây giờ, sau 40 năm, chiến tranh Việt Nam vẫn sẽ luôn là bài học đắt giá cho bất cứ ai muốn phá vỡ nền hòa bình của các dân tộc trên thế giới.
 
Chiến tranh Việt Nam và những hình ảnh rúng động thế giới
Một người phụ nữ đang kéo con mình khỏi ngọn lửa sau khi nhà của họ (ở Tây Ninh) bị lính chính quyền Sài Gòn đốt cháy tháng 7/1963.

Một người đàn ông đang bế đứa con đã chết gần biên giới Campuchia ngày 19/3/1964.
Một người đàn ông đang bế đứa con đã chết gần biên giới Campuchia ngày 19/3/1964.

Người đàn ông bế xác của một cậu bé sau vụ ném bom của Mỹ xuống Hải Phòng tháng 8/1972.
Người đàn ông bế xác của một cậu bé sau vụ ném bom của Mỹ xuống Hải Phòng tháng 8/1972.

Một cậu bé chạy qua những xác người để tránh đạn ngày 31/1/1968.
Một cậu bé chạy qua những xác người để tránh đạn ngày 31/1/1968.
Một cậu bé chạy qua những xác người để tránh đạn ngày 31/1/1968.
Hai người phụ nữ và đứa trẻ sống sót qua trận đánh ác liệt ở Đồng Xoài ngày 6/6/1965, nỗi đau thể xác và tinh thần hiện hữu rõ trên gương mặt họ.

Một cậu bé chạy qua những xác người để tránh đạn ngày 31/1/1968.
Một bức ảnh từ cuộc thảm sát Mỹ Lai, vụ thảm sát khét tiếng được thực hiện bởi lính Mỹ ngày 16/3/1968. Có từ 347 đến 504 thường dân đã thiệt mạng tại đây, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.
Xác lính dù Mỹ được trực thăng đưa đi ở gần biên giới Campuchia ngày 14/5/1966.
Xác lính dù Mỹ được trực thăng đưa đi ở gần biên giới Campuchia ngày 14/5/1966.
Xác lính dù Mỹ được trực thăng đưa đi ở gần biên giới Campuchia ngày 14/5/1966.
Lính quân y James E. Callahan đang cố cứu mạng một lính Mỹ hấp hối ở cách Sài Gòn 80km ngày 17/6/1967.
Xác lính dù Mỹ được trực thăng đưa đi ở gần biên giới Campuchia ngày 14/5/1966.
Người biểu tình chống chiến tranh xung đột với cảnh sát ở ngoài đại sứ quán Mỹ ở London ngày 17/3/1968

Xác lính Mỹ ở đồi 689, phía Tây Khe Sanh tháng 4/1968.
Xác lính Mỹ ở đồi 689, phía Tây Khe Sanh tháng 4/1968.
Xác lính Mỹ ở đồi 689, phía Tây Khe Sanh tháng 4/1968.
Tổng thống Lyndon Johnson nghe cuốn băng từ con rể Charles Robb, một đại úy thủy quân lục chiến ngày 31/7/1968.
Lính chính quyền Sài Gòn mang xác đồng đội ngày 30/4/1972
Lính chính quyền Sài Gòn mang xác đồng đội ngày 30/4/1972
Lính chính quyền Sài Gòn mang xác đồng đội ngày 30/4/1972
Và một phụ nữ miền Bắc ôm người bạn miền Nam của mình sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Đây là lần đầu tiên họ gặp nhau sau 21 năm.

Phan Hạnh

Theo Purple Clover


Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi lịch sử nhiếp ảnh thế giới như thế nào?

Những bức ảnh chân thực "bước" ra từ chiến tranh Việt Nam đã từng làm rúng động cả thế giới.


Những cuộc chiến nổ ra rồi khép lại, nhưng nhiếp ảnh gia chiến trường sẽ ghi lại những khoảnh khắc vĩnh viễn đọng lại trong ký ức nhân loại.

Nhiếp ảnh chiến trường với sự kịch tính cùng những câu chuyện gây ám ảnh về số phận con người từ lâu đã được nhìn nhận là một thể loại nhiếp ảnh đỉnh cao.

Đã có nhiều tác phẩm nhiếp ảnh chiến trường trở thành kinh điển trong lịch sử nhiếp ảnh. Trong đó, chắc chắn phải kể tới những bức ảnh chiến trường từng được chụp tại Việt Nam.

Tờ New York Times của Mỹ đã từng thực hiện bài viết về “những bức ảnh gọi tên thời đại”, hay “những bức ảnh làm nên sự khác biệt”, đó chính là những bức ảnh chiến trường được chụp tại Việt Nam.

Khi nhìn nhận chiến tranh Việt Nam trong lĩnh vực nhiếp ảnh, người Mỹ luôn coi đây là giai đoạn chứng kiến bước nhảy vọt kinh điển của lịch sử nhiếp ảnh chiến trường.

Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi lịch sử nhiếp ảnh thế giới như thế nào?
Người ta không thể quên bức ảnh chụp một nhà sư tự thiêu trên đường phố Sài Gòn hồi năm 1963 do Malcolm Browne thực hiện. Gửi bức ảnh này về cho AP, Browne đã viết ghi chú rằng: “Mỹ sẽ không bao giờ có thể đảo ngược tình thế ở Việt Nam”, đồng thời so sánh những sự leo thang của Mỹ với việc “để những đứa trẻ bước vào chuồng hổ nhưng lại cố tin rằng chúng sẽ kiểm soát được con hổ”.

Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi lịch sử nhiếp ảnh thế giới như thế nào?
Người ta cũng không thể quên bức ảnh của Horst Faas chụp người cha bế xác con trên tay đứng trước một nhóm binh lính Việt Nam Cộng hòa đang ngồi trên xe bọc thép, như thể muốn nói: “Hãy nhìn đây, hãy nhìn xem các người đã làm gì…”.

Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi lịch sử nhiếp ảnh thế giới như thế nào?
Và người ta còn nhớ mãi bức ảnh Nick Ut chụp cô bé Kim Phúc 9 tuổi vừa chạy vừa khóc, quần áo em đã cháy hết, da bong tróc từng mảng vì bỏng bom napan.

Có rất nhiều hình ảnh mà người Mỹ sẽ nhớ về cuộc chiến tranh Việt Nam. Đó là một quá khứ đau thương của dân tộc Việt Nam, một quá khứ ê chề của người Mỹ. Nhưng nhìn sang lĩnh vực nhiếp ảnh, chính từ cuộc chiến này, nước Mỹ đã có một thế hệ phóng viên ảnh chiến trường nổi danh thế giới.

Đó là những Malcolm Browne, Eddie Adams, Horst Faas, Larry Burrows, Nick Ut… Họ là những tượng đài trong lĩnh vực nhiếp ảnh báo chí, đặc biệt là nhiếp ảnh chiến trường.

Đó là thời kỳ mà những bức ảnh trở thành tiếng nói vĩ đại nhất của truyền thông. Thời đó, ngay cả một ê-kíp truyền hình cũng không thể có sức mạnh kinh điển bằng một ống kính 35 ly nằm trong tay một phóng viên ảnh dày dạn kinh nghiệm.

Nhiếp ảnh trong chiến tranh Việt Nam đã để lại dấu ấn sâu đậm và khác biệt trong lịch sử nhiếp ảnh chiến trường. Đây là lần đầu tiên (và có lẽ là duy nhất) nhiếp ảnh chiến trường thực sự được tự do “tác chiến”, không bị áp lực kiểm duyệt.

Thuở đó, những hãng tin hàng đầu của Mỹ đều cử phóng viên đến Việt Nam. Đáng kể phải nhắc tới những tay máy chiến trường “ngoại hạng” của AP, đó là những tay máy chuyên nghiệp nhất, dũng cảm nhất. Những bức ảnh họ chụp trong chiến tranh Việt Nam đã giúp AP giành về 6 giải Pulitzer - giải thưởng thường niên uy tín nhất trong làng báo Mỹ.

Ngay cả trong điều kiện hiện tại, việc đưa tin từ chiến trường vẫn là một thách thức bởi không dễ gì thâu tóm được “phần hồn” của một cuộc chiến, nhưng thế hệ phóng viên ảnh có mặt tại chiến trường Việt Nam đã thực hiện được một cuộc cách mạng ngoạn mục trong lĩnh vực nhiếp ảnh chiến trường.

Đối với những phóng viên từng đưa tin về chiến tranh Việt Nam, đây vẫn luôn là trải nghiệm để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong sự nghiệp của họ. Như nhiếp ảnh gia Tim Page từng viết, chiến tranh Việt Nam đưa lại cho phóng viên “những trải nghiệm tận cùng, những khoảnh khắc sửng sốt, một đỉnh cao huy hoàng”.

Những bức ảnh chiến trường thời đó đã giúp người dân trên khắp thế giới phần nào hiểu được bản chất thật của chiến tranh Việt Nam. Khi đó, nhiếp ảnh chiến trường không dừng lại ở một hoạt động đưa tin thuần túy, mà đã góp phần nói lên tiếng nói công bằng, trung thực, đem lại những bằng chứng lịch sử không thể chối cãi, góp phần thúc đẩy người Mỹ xuống đường phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa.

Chiến tranh Việt Nam đã thay đổi lịch sử nhiếp ảnh thế giới như thế nào?
Bức ảnh của Art Greenspon chụp một lính Mỹ đang giơ tay ra hiệu, hướng dẫn trực thăng hạ cánh. Đôi tay người lính được chụp trong một khoảnh khắc như thể đang giơ lên cầu nguyện Thượng đế. Bức ảnh đầy ẩn ý, thể hiện sự bế tắc của Mỹ khi càng lúc càng sa lầy trong chiến tranh Việt Nam.

Người ta từng gọi chiến tranh Việt Nam là “cuộc chiến ở phòng khách”, bởi đây là lần đầu tiên có truyền hình ngoài mặt trận, đưa lại những hình ảnh sống động để người xem ngồi ở phòng khách nhà mình vẫn chứng kiến được một góc cuộc chiến đang diễn ra ở cách họ nửa vòng trái đất.

Vậy mà ngay cả truyền hình cũng vẫn phải “chịu thua” nhiếp ảnh. Bởi một điều đơn giản, nhiếp ảnh đã tôn trọng sự thật, đã trung thực ghi lại bản chất của chiến tranh Việt Nam. Những khuôn hình kinh điển đã “tầm thường hóa” cả những đoạn băng hình.

Đây có lẽ là cuộc chiến duy nhất mà sự tự do, tính trung thực, và tính nghệ thuật trong nhiếp ảnh được đẩy lên cao tới vậy. Những bức ảnh đã diễn đạt nhiều hơn mọi bài viết và mọi đoạn băng hình. Những bức ảnh đã trở thành những lát cắt đóng băng một khoảnh khắc, ghim lại trong lòng người xem.

Có một sự thật ít biết mà Trung tâm Lịch sử Quân sự Mỹ từng ghi lại về chiến tranh Việt Nam, đó là chỉ có khoảng 1/3 phóng viên Mỹ được cử tới Việt Nam thực sự tác nghiệp.

Các hãng thông tấn, các tờ báo lớn, các đài truyền hình Mỹ khi đó đều cử những nhóm phóng viên tới tác nghiệp ở Việt Nam, nhưng 2/3 trong số này đã bị tụt lại phía sau vì gặp trở ngại từ chính những thiết bị lồng cồng họ mang theo.

Ở thời điểm này, chỉ có máy ảnh là tác nghiệp thuận tiện và hiệu quả nhất, vì vậy, đây là cơ hội vàng để phóng viên ảnh phát huy. Cái giá phải trả cho những phóng viên ảnh xông xáo tác nghiệp chính là sự nguy hiểm tính mạng. Cả 4 phóng viên của AP chết trên chiến trường Việt Nam đều là phóng viên ảnh.

Sau này, khi báo chí Mỹ viết về những phóng viên ảnh qua đời khi tác nghiệp trong chiến tranh Việt Nam, họ không tập trung viết về cái chết, mà luôn nhấn mạnh vào sự cống hiến hết mình với nghề của những tay máy sẵn sàng mạo hiểm tính mạng để thu vào ống kính những khoảnh khắc lịch sử - những khoảnh khắc được chụp bằng lòng dũng cảm, tình yêu nghề và sự trung thực - đây cũng đồng thời là tiêu chí cao nhất của báo chí mọi thời đại.


Bích Ngọc
Tổng hợp


Đau thương chiến tranh qua những bàn tay

Những khoảnh khắc ấy xoay quanh những đôi bàn tay, có đôi bàn tay đau thương lau nước mắt, có đôi bàn tay cô độc tuyệt vọng, có đôi bàn tay tìm kiếm nơi bấu víu, chở che...

Bộ ảnh của phóng viên chiến trường người Mỹ Eddie Adams thực hiện năm 1968 tại Việt Nam đã chụp cận cảnh những bàn tay. Người xem không còn thấy gương mặt, không còn rõ thân thế nhân vật, chỉ còn lại những số phận con người nhỏ nhoi trong cuộc chiến.

Phóng viên ảnh Eddie Adams (1933-2004) - người từng đến Việt Nam để thực hiện những bức ảnh chiến trường cho hãng tin AP (Mỹ) - đã không chỉ thu vào ống kính những cảnh chiến trận, sự hỗn loạn, hoang tàn, đau thương.

Eddie Adams đã thực sự đi sâu vào đời sống của người dân bản địa để có thể nắm bắt được những khoảnh khắc đầy ám ảnh, gợi lên những câu hỏi về số phận con người trong cuộc chiến.

Những khoảnh khắc ấy xoay quanh những đôi bàn tay, có đôi bàn tay đau thương lau nước mắt, có đôi bàn tay hy vọng gieo mạ non.

Năm 1968, Eddie Adams đã thực hiện bộ ảnh về những đôi tay thời chiến, những đôi tay làm những công việc khác nhau, qua đó nhìn thấy cả đau thương và hạnh phúc, tội ác và nhân đạo, tuyệt vọng và hy vọng… cùng song hành với nhau trong cuộc chiến.

Những bức ảnh chỉ xoay quanh đôi bàn tay và những hoạt động của nó, nhưng có sức mạnh truyền đạt và khả năng rung động người xem cao độ.

Bộ ảnh mang tên “Hands of a Nation” (Những đôi bàn tay của một dân tộc) của phóng viên ảnh người Mỹ Eddie Adams:

Đôi bàn tay cô độc và tuyệt vọng.
Đôi bàn tay cô độc và tuyệt vọng.

Đôi bàn tay của chiến tranh.
Đôi bàn tay của chiến tranh.

Đôi bàn tay tìm kiếm nơi bấu víu, chở che.
Đôi bàn tay tìm kiếm nơi bấu víu, chở che.

Đôi bàn tay bỡ ngỡ lần đầu chạm vào khẩu súng.
Đôi bàn tay bỡ ngỡ lần đầu chạm vào khẩu súng.

Đôi bàn tay gieo mầm hy vọng.
Đôi bàn tay gieo mầm hy vọng.

Đôi bàn tay đài các, cao sang.
Đôi bàn tay đài các, cao sang.

Đôi bàn tay bị giam hãm, tù đày.
Đôi bàn tay bị giam hãm, tù đày.

Đôi bàn tay nghèo khó, đói khổ, bệnh tật…
Đôi bàn tay nghèo khó, đói khổ, bệnh tật…

Đôi bàn tay gieo chết chóc.
Đôi bàn tay gieo chết chóc.

Đôi bàn tay cầu nguyện an lành.
Đôi bàn tay cầu nguyện an lành.

Đôi bàn tay không còn lành lặn của bé thơ.
Đôi bàn tay không còn lành lặn của bé thơ.

Đôi bàn tay đã ba lần phải dựng lại nhà.
Đôi bàn tay đã ba lần phải dựng lại nhà.

Đôi bàn tay của chiến tranh, chết chóc.
Đôi bàn tay của chiến tranh, chết chóc.

Đôi bàn tay hạnh phúc.
Đôi bàn tay hạnh phúc.

Đôi bàn tay chết chóc, tang thương.
Đôi bàn tay chết chóc, tang thương.

Đôi bàn tay tìm lại hy vọng từ đống hoang tàn.
Đôi bàn tay tìm lại hy vọng từ đống hoang tàn.

Đôi bàn tay điểm trang của người phụ nữ.
Đôi bàn tay điểm trang của người phụ nữ.

Đôi bàn tay người lính bị thương.
Đôi bàn tay người lính bị thương.

Đôi tay nhà binh.
Đôi tay nhà binh.

Đôi tay người bệnh “đói” từng viên thuốc.
Đôi tay người bệnh “đói” từng viên thuốc.

Đôi tay bị giam hãm, tù đày, tìm kiếm một phút giây thanh thản.
Đôi tay bị giam hãm, tù đày, tìm kiếm một phút giây thanh thản.

Đôi tay không còn lành lặn.
Đôi tay không còn lành lặn.

Đôi tay một người lính bị thương, đang nằm tựa đầu lên cánh tay.
Đôi tay một người lính bị thương, đang nằm tựa đầu lên cánh tay.

Đôi tay chắp lại cầu khấn.
Đôi tay chắp lại cầu khấn.

Đôi tay thương tích của quân nhân.
Đôi tay thương tích của quân nhân.

Đôi tay người bà nâng niu cháu nhỏ.
Đôi tay người bà nâng niu cháu nhỏ.

Bích Ngọc
Theo The Atlantic


“Giải phóng Sài Gòn” qua những bức ảnh lịch sử

Nhiếp ảnh gia Đinh Quang Thành đã bám sát những bước chân thần tốc của các chiến sĩ, ghi lại hàng ngàn bức ảnh tư liệu lịch sử quý giá về chiến dịch, trải dài từ Bắc vào Nam, đến tận sào huyệt cuối cùng của địch là Dinh Độc Lập.


40 năm đã trôi qua, kể từ ngày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 giành toàn thắng, khắc sâu vào lịch sử dân tộc Việt Nam những trang vàng chói lọi. Sự kiện mùa xuân 1975 chỉ diễn ra trong 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo về quân sự và chính trị tích lũy từ những năm chống Mỹ, quân và dân ta đã giành toàn thắng với ba chiến dịch lớn: Giải phóng Tây Nguyên mở đầu bằng trận đánh Buôn Ma Thuột đêm 10/3/1975, chiến dịch giải phóng Huế và Đà Nẵng, ngày 26 và 29/3 đồng thời quét sạch địch tại các tỉnh ven biển miền Trung và kết thúc là chiến dịch Hồ Chí minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.

Hơn 1 triệu quân ngụy cùng toàn bộ chính quyền Sài Gòn bị đập tan, chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ dốc sức xây dựng trong suốt 20 năm sụp đổ hoàn toàn. Niềm vui vỡ òa trong mỗi trái tim, mỗi con người sau gần 20 năm trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta dành thắng lợi.

Là phóng viên thời sự của Thông tấn xã, nhà báo Đinh Quang Thành đã bám sát những bước chân thần tốc của các chiến sĩ, ghi lại hàng ngàn bức ảnh tư liệu lịch sử quý giá về chiến dịch, trải dài từ Bắc vào Nam, đến tận sào huyệt cuối cùng của địch là Dinh Độc Lập.

Nhân kỷ niệm 40 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1975-2015), 70 bức ảnh- những câu chuyện bằng hình ảnh của Đinh Quang Thành tái hiện chiến thắng lịch sử của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 sẽ được triển lãm tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam từ ngày 25/4 tới.

Triển lãm Đường xuân chiến dịch 1975 với 4 nội dung: Hành trang đi chiến dịch; Giải phóng Huế - Đà Nẵng; Tiến về Sài Gòn; Đất nước trọn niềm vui tái hiện trung thực chiến thắng lịch sử của quân dân ta, là bản hùng ca vĩ đại về con người và đất nước Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, mãi mãi là niềm tự hào sâu sắc của các thế hệ con dân nước Việt:

“Giải phóng Sài Gòn” qua những bức ảnh lịch sử
Nhân dân xã Hải Tiến, huyện Hải Hậu bắn rơi chiếc máy bay thứ 50 của tỉnh Nam Hà. Xác chiếc máy bay được dân quân dùng xe cút kít thường chở muối đưa về nơi tập trung

“Giải phóng Sài Gòn” qua những bức ảnh lịch sử
Câu chuyện về bức ảnh "Đường ra tiền phương": "Vào một đêm tháng 6/1966, tôi đến cầu Gián Khuất đoạn qua sông Đáy trên quốc lộ 1A đúng vào cái đêm định mệnh: Nguyễn Thị Phúc, đội viên Đại đội TNXP 193 Nam Hà đang chỉ đường cho đoàn xe qua cầu phao trong đêm, bất ngờ một loạt bom nổ giữa đầu cầu và cô bị cưa cụt một cẳng chân. Không kịp cấp cứu, máu ra nhiều, cô gái đã hy sinh. Ngay đêm sau, nhiều đội viên nữ trong đơn vị đã tranh nhau làm nhiệm vụ thay Nguyễn Thị Phúc. Tôi đã chụp tấm ảnh đêm đúng nơi cô gái ấy đã đứng, tay cầm lá cờ lệnh đỏ, tóc buông dài, vai mang súng, chỉ đường cho các đoàn xe ra trận"

“Giải phóng Sài Gòn” qua những bức ảnh lịch sử
"Ga Nam Định, nơi trung chuyển lương thực, vũ khí vào Nam bộ bị bom Mỹ đánh phá nhiều lần. Các chiến sĩ tự vệ của thành phố có mặt kịp thời, cấp cứu những người bị thương hoặc kẹt dưới các hầm trú ẩn. Chiếc xe đạp của tôi dựng gần đó cách đám cháy hơn 200m"

“Giải phóng Sài Gòn” qua những bức ảnh lịch sử
“Quân đoàn 3 truy kích địch trong sân bay Tân Sơn Nhất”. Nhiếp ảnh gia Đinh Quang Thành vẫn bảo rằng, mình là người may mắn khi trực tiếp chứng kiến giải phóng Sài Gòn. Nhờ đó, mà ông lưu giữ được những khoảnh khắc ý nghĩa. Mặc dù không chụp được bức ảnh treo cờ trên nóc Dinh Độc Lập, song ông đã chớp được khoảnh khắc các chiến sỹ Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 truy kích địch trong sân bay Tân Sơn Nhất. Cho đến tận ngày nay, đây vẫn là bức ảnh duy nhất ghi lại thời khắc quan trọng ấy. Đó cũng chính là tác phẩm ghi đậm dấu ấn trong phóng sự “Giải phóng Sài Gòn” của ông

“Giải phóng Sài Gòn” qua những bức ảnh lịch sử

Các hiệu may trong Thành phố Đà Nẵng đưa máy khâu ra hè phố may cờ cách mạng cho nhân dân treo trong ngày giải phóng, từ chối nhận tiền công


“Giải phóng Sài Gòn” qua những bức ảnh lịch sử
Bận rộn ngày đêm với hàng trăm các loại giấy tờ cần chuyển đến, chuyển đi cho các đơn vị, các nữ chiến sĩ giao liên của Quân khu V quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong những ngày trước và sau giải phóng Đà Nẵng

“Giải phóng Sài Gòn” qua những bức ảnh lịch sử
Sáng 29/3 từ hướng Bắc, xe tăng và bộ binh của Quân đoàn II tiến thẳng vào giải phóng Thành phố Đà Nẵng

“Giải phóng Sài Gòn” qua những bức ảnh lịch sử
Sư đoàn 304 đã trao lá cờ truyền thống cho Trung đoàn 66 anh hùng thuộc Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn II để cắm trên nóc Dinh Độc lập

Nhân dân Sài Gòn tập trung tại cổng Dinh Độc lập đón bộ đội vào giải phóng thành phố
Nhân dân Sài Gòn tập trung tại cổng Dinh Độc lập đón bộ đội vào giải phóng thành phố

Nhân dân Sài Gòn tập trung tại cổng Dinh Độc lập đón bộ đội vào giải phóng thành phố
Xe tăng số hiệu 390 húc đổ cổng Dinh Độc lập cùng xe tăng 843 do Trung uý Bùi Quang Thận (người cắm cờ trên nóc Dinh Độc lập) tiến vào án ngữ ngay trước thềm DinhĐộc Lập

Nhân dân Sài Gòn tập trung tại cổng Dinh Độc lập đón bộ đội vào giải phóng thành phố
Ngày 2/5/1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh tổ chức Họp báo quốc tế tại Dinh Độc lập, giới thiệu toàn bộ diễn biến cuộc Tổng công kích giải phóng Sài Gòn

Nhân dân Sài Gòn tập trung tại cổng Dinh Độc lập đón bộ đội vào giải phóng thành phố
Các chiến sĩ biệt động Sài Gòn hoạt động trong giới học sinh, sinh viên bị địch bắt đầy ra Côn Đảo đã cùng các chiến sĩ cách mạng phá các trại giam, trở về Sài Gòn ngay trong ngày 2/5/1975

Nguyễn Hằng



Phi đội Quyết Thắng và bí mật mang tên Mười Thìn

- Sau khi cán bộ quân báo giới thiệu Tướng Trần Mạnh, Tướng Phạm Ngọc Sang đứng bật dậy cúi chào lễ phép: “Thưa tướng quân, tôi nghe về ông từ lâu, nay cho phép tôi chào ông tướng số 1 của Không quân miền Bắc”.


Những chiếc máy bay chở khách dân sự từ sân bay Tân Sơn Nhất nổi lên bầu trời rồi dần dần chìm vào những đám mây trắng xa tít...

Trong khoảng sân đầy nắng, gió xen trong tiếng tre xào xạc, hàng ngày, ông Từ Đễ đều đặn làm công việc ghi chép, viết lại những ký ức trong đời binh nghiệp làm phi công chiến đấu trên mọi chiến trường từ Bắc vào Nam.

Ông an nhiên với thú vui viết lại những ký ức của thời kháng chiến rực lửa của không quân, những ghi chép mang tính chất tư liệu, hay sáng tác kịch bản phim truyền hình về không quân VN anh hùng trong kháng chiến, viết sách cùng đồng đội về những trận đánh đã trải qua của các bậc phi công cao niên và đồng đội.

Từ Đễ, phi đội Quyết Thắng, Mười Thìn, không quân, 30/4
Phi đội Quyết Thắng. Ảnh tư liệu

"Cô hỏi đi, không vài năm sau tôi lú lẫn thì không sẵn sàng được như bây giờ đâu. Nào, phi đội Quyết Thắng ư, cô thích hỏi gì, tôi sẽ trả lời". Ông Từ Đễ vui vẻ, đầy nhiệt tình trước tâm thế thắc mắc của người viết vốn thuộc thế hệ sinh ra sau chiến tranh, chỉ có thể mường tượng trận quyết chiến lịch sử của Quân chủng phòng không - không quân (PKKQ) trong Đại thắng Mùa xuân 1975 qua sách vở, phim ảnh, internet hay bảo tàng.

Trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4/1975 của phi đội Quyết Thắng được Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh giao Quân chủng PKKQ buổi chiều 26/4/1975 tại Sở chỉ huy chiến dịch ở Tà thiết, khi bầu trời vần vũ báo hiệu cơn dông đầu mùa mưa sắp tới.

Tướng tư lệnh chiến dịch Văn Tiến Dũng nói với ông Hoàng Ngọc Diêu, Tham mưu trưởng Quân chủng: Anh về triển khai cho anh em đánh sân bay Tân Sơn Nhất sớm, còn 2 ngày nữa thôi. Chỉ có thời cơ duy nhất là chiều 28/4”.

Ông Diêu chào Tư lệnh, hứa hoàn thành nhiệm vụ và xin phép đi ngay”.

Từ Đễ, phi đội Quyết Thắng, Mười Thìn, không quân, 30/4
Chiếc máy bay A37 do ông Từ Đễ lái trong trận đánh bom Tân Sơn Nhất được trưng bày tại bảo tàng Phòng không không quân ở Hà Nội. Ảnh: Lê Anh Dũng

"40 năm qua, trận đánh đã được kể đi kể lại nhiều lần qua truyền thông, phim, ảnh, sách vở. Nó xứng đáng được vinh danh như mũi tấn công thứ 6 vào Sài Gòn.

"Nhưng ngoài điểm rơi thời gian là quan trọng, yếu tố trận thế, nhân tố từ con người đến kỹ thuật trong trận đánh bom Tân Sơn Nhất dường như đều rất đặc biệt, độc đáo, như những kỳ tích. Liệu trận đánh có những may mắn nhất định?" - câu hỏi đòi "giải mã" chiến thắng trận đánh khiến ông Từ Đễ hào hứng.

Bí ẩn “sự may mắn” Mười Thìn

Ông cười: “Nói các bác thành công trong trận này là do cả phi đội gặp “ thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Nên dù có ai bên ta lẫn bên địch cản trở thì đều không thành công”.

“Bên ta mà cũng có người cả gan cản trở trận đánh được đích thân tư lệnh chiến dịch giao ư, thưa bác? Ông cười vang: “Có đấy cháu ạ. Ông này là cán bộ to lắm, Bí thư tỉnh ủy chứ chẳng phải chơi đâu”. “Cháu không nghe nhầm chứ, Bí thư tỉnh ủy?”, tôi cắt ngang.

Đúng. Là nguyên Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận“, ông Mười Thìn, thiếu úy đại đội trưởng pháo phòng không thuộc tiểu đoàn bộ đội địa phương 602 của tỉnh Ninh Thuận cách đây 40 năm. Năm xưa, ông ấy dùng toàn bộ lực lượng pháo 37 và súng máy 12 li 8 chờ phục sẵn tại sân bay Căng (Phan Thiết).

Từ Đễ, phi đội Quyết Thắng, Mười Thìn, không quân, 30/4
Ông Từ Đễ (trái) sau 40 năm mới gặp được người đã phục kích bắn chiếc A37 trên bầu trời Phan Thiết - chính là ông Mười Thìn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận.

“Khi thấy đàn máy bay nặng nề bay qua ông phất cờ hô bắn như đổ lửa vào đội hình của phi đội các bác mà không trúng lấy 1 viên! Ông lại còn tổ chức rút kinh nghiệm sau trận đánh, động viên toàn đơn vị và tiếp tục ngụy trang, chuyển trận địa, phục chờ lượt quay về. Lần này lại trượt tiếp mới chết chứ!

Đơn vị ông ấy đã từng bắn rơi máy bay A37 của tên phi công Lý Tống trong trận quân ta đập nát “lá chắn thép” Phan Rang ngày xưa. Lý Tống sau này mấy lần mò về Việt Nam rải truyền đơn ấy, rồi xì hơi cay vào mặt ca sĩ khi biểu diễn bên Mỹ nữa. Thế cháu xem, không may thì còn là cái gì?” - ông Từ Đễ cười vang kể lại kỷ niệm về đồng đội.

Điều thú vị đó là hai ông mới chỉ biết và gặp lại nhau lần đầu tiên sau 40 năm mới đây. Sau mấy chục năm, ông Từ Đễ mới biết đích xác người ngày xưa cứ nhằm A37 trên đường hướng về Tân Sơn Nhất mà bắn.

Vai trò vị chỉ huy toàn tài Trần Mạnh

Sau chiến dịch giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miền Trung, ta thu được một số máy bay chiến đấu của địch loại cường kích hạng nhẹ A37 hỏng hóc nằm rải rác tại các sân bay. Bộ tổng tham mưu tính việc nghiên cứu để sử dụng dùng máy bay địch đánh địch, một ý tưởng mang tính truyền thống của quân đội ta

Dựa trên những phân tích, tính toán, Bộ Tổng tham mưu báo cáo với Tổng tư lệnh cho Quân chủng triển khai không quân ta dùng máy bay lấy được của địch ném bom vào một số mục tiêu quan trọng ở Sài Gòn:– sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu, Tổng nha cảnh sát, Bộ Tư lệnh hải quân, kho xăng Nhà Bè để tạo ra tác động lớn, gây hoảng loạn tinh thần đối phương.

Ngày 19/4/1975, các phi công được lựa chọn cơ động từ Thọ Xuân ra Hà Nội. Sau đó lần lượt các tốp phi công, thợ máy được cơ động vào sân bay Đà Nẵng. Ngày 21/4/1975, vừa bước xuống sân bay đầy nắng gió Đà Nẵng, Tướng Trần Mạnh vẫy tay gọi ông Từ Đễ đến, giơ 5 ngón tay giao ngay nhiệm vụ: “Tao cho mày 5 ngày bay xong, không hỏi lại lôi thôi. Đánh Tân Sơn Nhất. Xe kia đi ra chỗ lắp ráp máy bay. Đi!”

“Lúc đó bác nghĩ, máy bay đâu, ai huấn luyện, bản đồ đâu? Nhưng thôi, cụ Trần Mạnh đã nói chắc mọi việc ổn thôi” -– ông Từ Đễ kể.

Từ Đễ, phi đội Quyết Thắng, Mười Thìn, không quân, 30/4
Toàn cảnh chiếc A37 do phi công Từ Đễ lái. Ảnh: Lê Anh Dũng

“Tướng Trần Mạnh lúc đó mới cấp bậc Thượng tá, một nhà chính trị chuyên nghiệp. Khi mới 20 tuổi, ông đã là chính trị viên Tiểu đoàn 308 nổi tiếng của miền Tây thời chống Pháp, rồi làm Tỉnh đội trưởng Vĩnh Trà (Vĩnh Long -– Trà Vinh) năm 23 tuổi, Chính ủy Trung đoàn Bộ binh tập kết năm 29 tuổi.

Ông là kiến trúc sư tất cả các thắng lợi của không quân: từ sử dụng MiG 21 hiệu quả đến mức MiG 21 được coi là súng AK 47 trên không, rồi bắn rơi B52, đánh tàu chiến Mỹ, chỉ đạo đánh Tân Sơn Nhất, rồi là người đặt nền móng xây dựng ngành hàng không dân sự.

Anh em tôi gọi cụ là người chỉ huy -– chính ủy. Tôi nhớ lần Tướng Trần Mạnh cho phép tôi cùng tham gia cuộc hỏi cung Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang ngày 23/4 tại Đà Nẵng. Tôi mang tấm bản đồ địa hình và sân bay Tân Sơn Nhất đút vào cái kẹp đùi bay cầm trong tay.

Thấy tôi tay cầm kẹp đùi bay, súng K59 đeo bên hông và đứng chắn sau Tướng Trần Mạnh, Tướng Phạm Ngọc Sang có vẻ đoán ra bây giờ mới giáp mặt những người cùng nghề.

Sau khi cán bộ quân báo giới thiệu Tướng Trần Mạnh, Tướng Phạm Ngọc Sang đứng bật dậy cúi chào lễ phép: Thưa tướng quân, tôi nghe về ông từ lâu, nay cho phép tôi chào ông tướng số 1 của không quân miền Bắc!. Cụ Trần Mạnh vẫy tay cho phép ngồi bằng một câu tiếng Pháp, đưa mắt cho tôi lấy bản đồ ra và trải lên bàn. Ông nói: Tôi không phải số 1, cậu pilot sau tôi mới là đại diện cho các số 1 của tôi”.

Ông Sang bối rối: Tôi không có ý đó, tôi chỉ là phi công máy bay cánh quạt. Tôi kính nể các ông lái phi cơ MiG 21 siêu thanh dám đương đầu với không quân và đặc biệt mấy ông hải quân Hoa Kỳ. Họ vốn là các cơn ác mộng với phi công trên thế giới này, mà cuối cùng cũng phải rút không dám tiếp tục chống mấy ông”.

Ông Trần Mạnh nghe vậy nói: “Sắp tới tôi sẽ cho họ trình diễn kĩ thuật chiến đấu ném bom trên đầu Bộ tư lệnh không quân Sài Gòn của mấy anh, pilot mà bỏ máy bay chuyển sang chạy bộ. MiG chưa thèm xuất trận, họ mà vào nữa thì F5, A37 hết đường chạy! Tôi chấp thêm các anh không thèm dùng tên lửa SAM! Sao, có dám chơi không? Thôi đủ rồi, anh cho biết tình hình Tân Sơn Nhất ra sao, nếu tôi ném bom…?”

Ông Sang giọng thấp xuống, chậm rãi: Tất cả máy bay ném bom, vận tải đã dồn về Tân Sơn Nhất vì Cần Thơ quá nhỏ. Nếu các ông ném bom nó sẽ làm rung chuyển Sài Gòn, mất hết ý chí và hỗn loạn ngay vì hết đường di tản.”

“Thế còn trụ sở Bộ Tổng tham mưu?, ông Trần Mạnh hỏi ngang. Sang chần chừ: “Có lẽ họ bỏ đi hết rồi”.

Khi ra khỏi phòng “thẩm vấn”, cụ Mạnh giao nhiệm vụ ngay cho tôi: “Họ nghiên cứu về đối phương kĩ đến từng sĩ quan chỉ huy không quân. Tao mới đọc về tay này hôm qua. Rõ rồi, mày về cùng thằng Lục chuẩn bị đánh như tao bảo!”

Còn một kỷ niệm giữa ông Từ Đễ với Tướng Trần Mạnh.Lúc vào Phan Rang, đồng hồ máy bay chuyên dùng hỏng mà không có nó thì gây khó khăn cho dẫn bay, Trần Mạnh đi qua thấy vậy liền giựt phắt đồng hồ đưa cho Từ Đễ, chỉ nói một câu: "Đánh xong về trả lại cho tao ", rồi đi lên đài chỉ huy.

"Có nghĩa cụ Mạnh tin rằng trận này đánh dứt khoát là thắng trở về. Tôi cảm giác đó là sự truyền lửa, một cách rất giản dị, không phải khẩu hiệu gì to tát. Đúng là chỉ huy - chính ủy!", ông Từ Đễ nói.

Xuân Linh


Vị Tướng của những trận chiến khét tiếng

Trong cuộc đời quân ngũ, ông luôn được số phận đặt vào những trận chiến khốc liệt nhất. Vị Tướng từng trở thành Dũng sĩ diệt Mỹ khi 18 tuổi, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi vừa tròn 26 tuổi này có một thói quen thời chiến trận mà đến sau này ông vẫn không thay đổi...

Sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở xã Bình Ngọc, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Đoàn Sinh Hưởng từ nhỏ có một khát khao là sớm được vào quân ngũ. Lý tưởng lớn nhất của những thanh niên thời đó là không được ra mặt trận là một thiệt thòi, bởi chỉ đi bộ đội mới vinh quang.

17 tuổi, chẳng thể chờ đủ tuổi như quy định, cậu thanh niên đến buổi xét tuyển đi lính ở xã với tinh thần "phải đi lính thôi". 41kg, thiếu tới 4kg, người thấp bé, còn bị huyết áp cao, cậu ở lì buổi tuyển quân dù bị từ chối.

30/4, Đoàn Sinh Hưởng, Sư đoàn 308, Khe Sanh, bộ binh, tăng thiết giáp
Đời thường của vị tướng trải qua những trận chiến khốc liệt nhất trong kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước. Ảnh: Mai Anh

29 người được gọi đi lính theo danh sách bị khuyết 1 do thiếu sức khỏe, Đoàn Sinh Hưởng quyết xin thế chân. Mọi chỉ số sức khỏe được các cán bộ tuyển quân lén chỉnh sửa để cậu đủ điều kiện hồ sơ đăng lính chỉ bởi tinh thần quyết tâm quá cao.

Ngày chuẩn bị nhập ngũ, bố chỉ dặn một câu: Bé người nhưng tư tưởng không được bé, phải nghĩ trước khi làm. Ngày 28/9/1966, Đoàn Sinh Hưởng tạm biệt gia đình, quê hương, vác ba lô vào chiến trường, hành trang mang theo chỉ một bộ quần áo, một tập phong bì, tem, một chiếc bút máy, một chiếc đèn pin và một hộp dao cạo râu. Một cậu bạn tên Ngọc tặng một đôi dép 4 quai.

Kỷ niệm đầu đời của cậu học sinh lớp 7 vào lính, đó là được phân công làm tiểu đội trưởng. Ngày vào lính bắt đầu bằng 3 tháng ròng rã hành quân từ Móng Cái về Tiên Du, Phú Thọ. Đó là cuộc trải nghiệm mà Tướng Hưởng nói rằng qua đó tư tưởng mình trưởng thành, không còn là một học sinh.

Những trận mạc khét tiếng

Tháng 9/1967, anh lính trẻ bộ binh thuộc Sư đoàn 308, Trung đoàn 88 bắt đầu bước vào trận chiến lớn đầu tiên trong đời: trận Khe Sanh, vốn được mệnh danh là "Điện Biên Phủ thứ hai".

30/4, Đoàn Sinh Hưởng, Sư đoàn 308, Khe Sanh, bộ binh, tăng thiết giáp
Khe Sanh - trận đánh lớn đầu tiên trong đời

"Những năm 1967-1968, Khe Sanh ác liệt lắm. Khe Sanh vẫn được ví là khe tử. Lúc đó tôi chỉ nghĩ được một điều: được đi chiến đấu là vinh dự" - Tướng Hưởng kể. Anh lính trẻ lần đầu vào trận, lại là trận chiến ác liệt, chỉ kịp biên một lá thư gửi về thông báo gia đình hai việc: con được đi chiến đấu ở miền Nam và có thể không về.

Sau này trải qua nhiều trận chiến, Tướng Hưởng luôn coi Khe Sanh là trận đáng nhớ nhất trong đời ông. "Nó là trải nghiệm đầu tiên của cuộc đời và ác liệt nhất. Hơn nữa, Khe Sanh là đánh trực tiếp với Mỹ, tia chớp Mỹ, pháo binh Mỹ, không quân Mỹ".

Rời Khe Sanh, người lính lại tiếp tục vào các mặt trận khác. Dường như trong cuộc đời quân ngũ, số phận luôn đặt ông vào những trận chiến khốc liệt, có ý nghĩa quyết định.

Rồi trận chiến đường 9 Nam Lào, cuộc thử nghiệm về chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và khả năng hoạt động độc lập của quân lực VNCH. Giai đoạn này, những trải nghiệm của anh lính bộ binh đã thiện nghệ.

Với trận đánh này, lần đầu tiên QĐNDVN mở các đợt tấn công lớn bằng bộ binh với yểm trợ của thiết giáp và pháo binh hạng nặng để đè bẹp quân lực VNCH. Sự hiệp đồng tác chiến của hỏa lực phòng không đã làm cho yểm trợ không quân chiến thuật và tăng viện bằng không quân của Mỹ trở nên khó khăn và chịu nhiều thiệt hại.

30/4, Đoàn Sinh Hưởng, Sư đoàn 308, Khe Sanh, bộ binh, tăng thiết giáp
Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu: TTXVN

Năm 1972 là giai đoạn bước ngoặt trong quân ngũ đối với Tướng Hưởng khi chuyển từ bộ binh sang tăng thiết giáp. Sau một thời gian huấn luyện, người lính làm cán bộ đại đội và một lần nữa lên đường vào chiến trường.

Chiến dịch Tây Nguyên giải phóng Buôn Ma Thuột chứng thực sự trưởng thành, chuyên nghiệp của người lính và là trận lớn đầu tiên chiến đấu ở đơn vị tăng thiết giáp. Ông chỉ huy đại đội 9 phối hợp với đại đội bộ binh đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế, tham gia đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 23 của quân đội Sài Gòn, giải phóng Buôn Ma Thuột.

Không chỉ giành thắng lợi, trận đánh không có thiệt hại nào về người và phương tiện chiến đấu. Chiếc xe tăng 980 do Tướng Hưởng chỉ huy dẫn đầu mũi đột kích thọc sâu, tung hoành ngang dọc, tiến công vào sở chỉ huy Sư đoàn 23 trở thành chiếc xe tăng lịch sử.

Chiếm được sở chỉ huy, chiếc xe tăng còn theo đoàn quân thắng như chẻ tre tới đầu cầu Đà Rằng - Tuy Hòa. Tại đây, sau khi xe 980 diệt 4 khẩu pháo án ngữ lối vào thị xã Tuy Hòa thì xe bị trục trặc nên phải để lại. Sau này, TP .Buôn Ma Thuột, khi dựng tượng đài chiến thắng ở Ngã 6 đã lấy xe tăng 980 làm biểu tượng cho khí thế tiến công cách mạng.

30/4, Đoàn Sinh Hưởng, Sư đoàn 308, Khe Sanh, bộ binh, tăng thiết giáp
Ông dẫn đầu đoàn Quỹ Mãi mãi tuổi 20 viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Citinews

"Nó là trận then chốt quyết định, làm cho thế trận của địch lung lay, không rút không được nữa, buộc phải chạy về dưới đồng bằng. Mất Tây Nguyên cũng như mất nóc nhà, không giữ thế đứng được nữa tức là mất thế chiến lược.

Còn quân ta đã có chỗ đứng để tiến xuống đồng bằng. Các nhà nghiên cứu chiến lược quân sự sau này gọi đó là chiến lược đánh úp từ trên xuống, đúng thế chẻ tre" - Tướng Hưởng nói về trận đánh.

Kể lại trận đánh này, Tướng Hưởng tiết lộ một chuyện thú vị: Dù giành chiến thắng, thay vì được thưởng huân chương, ông suýt bị cách chức chỉ vì... hai cái chảo.

Khi vào sở chỉ huy, ông thấy hai chiếc chảo inox to đựng nước bèn tính lấy về để nấu nướng cho anh em. Loanh quanh tìm cách lấy chảo mang về, ông bỏ máy chỉ huy mất vài phút đúng lúc cấp trên điện lệnh rút quân.

Sau đó ông bị khiển trách không chấp hành kỷ luật chiến đấu và đe cách chức đại đội trưởng. Lúc đó ông vui vẻ xin án phạt về làm anh nuôi. Nhưng lệnh phạt trở thành án treo còn đồng đội thì có sự tích về "huân chương không nhận đi nhận chảo" của Đoàn Sinh Hưởng sau này.

30/4, Đoàn Sinh Hưởng, Sư đoàn 308, Khe Sanh, bộ binh, tăng thiết giáp
Ông thường đến thăm, tặng quà thương binh. Ảnh: Citinews

Có một kỷ niệm là sau trận đánh Buôn Ma Thuột, ông được lệnh giao xe tăng của đơn vị mình cho một đơn vị khác mới lập, đi thu gom xe của địch thành lập một đơn vị mới để tiếp tục chiến đấu.

Đánh địch bằng phương tiện của địch như một truyền thống trong chiến đấu của quân ta, nên ông và đồng đội đi thu gom được hơn 30 chiếc sửa chữa để tái sử dụng. Xe khác hệ nên nhiều tính năng, tác dụng cũng khác nên cả đại đội phải học lại. Chỉ sau 10 ngày cả đội đã làm chủ trang bị.

Sau trận Tuy Hòa, Phú Yên, đại đội của ông tham gia trận đánh chiếm Cầu Bông (cầu An Hạ nay), mở cho quân đoàn từ hướng đông Sài Gòn, vào giải phóng thành phố, hạ gục cứ điểm đầu não cuối cùng của chính quyền VNCH. Sau chốt Cầu Bông, chặng tiến của đại đội do ông chỉ huy được lệnh tiến về Sài Gòn, với mục tiêu chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu địch trong ngày 30/4/1975.

Có một chuyện thú vị đó là Tướng Hưởng có một thói quen từ thời chiến trận đến sau này ông vẫn không thay đổi đó là luôn chải tóc đẹp, quần áo chỉnh tề.

30/4, Đoàn Sinh Hưởng, Sư đoàn 308, Khe Sanh, bộ binh, tăng thiết giáp
Có một thói quen ông không thay đổi...

Chiến đấu khốc liệt giữa bom đạn nhưng cứ ra trận là phải chải tóc thật đẹp, rất hay vuốt tóc, nhiều khi để tóc ướt bóng còn bôi nước cho nếp. "Tôi vẫn nghĩ mình đi trận phải đàng hoàng, phải đẹp. Để chết thì cũng chết trong diện mạo đẹp" - ông cười sảng khoái kể.

Không nghĩ mình sẽ làm tướng

Cuộc đời binh nghiệp như thiên mệnh của Tướng Hưởng, dù khi giây phút lịch sử của ngày 30/4/1975 diễn ra, ông từng nghĩ mình sẽ về xin đi làm công nhân ở một đơn vị nào đó, không bao giờ nghĩ sẽ làm Tướng.

Lúc cắm chốt ở Bình Dương làm dân vận sau sự kiện 30/4, trong một lần nằm nghe thời sự đài phát thanh, ông nghe thông báo tên mình được trong danh sách Chủ tịch nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

"Vậy là mình phải có trách nhiệm, phải làm gì đó cho xứng đáng hơn nữa". Sau này, ông được cử đi học ở Liên Xô, trở về làm Lữ đoàn trưởng khi 34 tuổi, rồi Sư đoàn trưởng khi ở tuổi 37. 41 tuổi ông đã làm Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp, rồi sau đó về làm Tư lệnh Quân khu 4.

30/4, Đoàn Sinh Hưởng, Sư đoàn 308, Khe Sanh, bộ binh, tăng thiết giáp
Về hưu, thú vui lớn nhất của ông là bóng đá, trồng cây cảnh

Thời bình, vị Tướng của những trận mạc khét tiếng năm xưa còn là vị Tướng của bóng đá (ông được biết đến là người sáng lập đội bóng Quân khu 4) và thơ ca, âm nhạc. Bài thơ "Mãi mãi tuổi thanh xuân" của ông được phổ nhạc lấy cảm hứng sáng tác từ cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm.

Ông hiện cũng là Chủ tịch Quỹ "Mãi mãi tuổi 20" tri ân đồng đội và thế hệ trẻ thông qua những hoạt động có ý nghĩa xã hội rộng lớn.

Tháng 4 lịch sử với người cựu binh như một mùa ký ức đặc biệt. Ai đã đi qua cuộc chiến khốc liệt, ở lại trong hòa bình càng da diết với mùa ký ức đó. Vị tướng từng đi qua những chiến trường khốc liệt nhất, vào sinh ra tử nhắc về các đồng đội đã ra đi mãi mãi, mùa ký ức của ông lại đầy ắp sự thương nhớ.

"Chúng ta đã có hòa bình, độc lập trả bằng xương máu, nước mắt và lớn hơn là một tình yêu. Tình yêu dân tộc, đất nước và tình yêu lứa đôi.

30/4, Đoàn Sinh Hưởng, Sư đoàn 308, Khe Sanh, bộ binh, tăng thiết giáp
Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng tại tư gia ở Nghệ An

Tôi nhớ trận đầu tiên, đại đội tôi vào trận 70 người mà chỉ có hơn chục người ra thôi. Nhớ những lúc ôm đồng đội trên tay để chôn không có gì cả, phải cởi áo của mình ra để bọc. Cứ nghĩ một điều mình còn nguyên vẹn, bạn mình có người không có nguyên vẹn.

Nhớ những lúc ngày chiến đấu đêm về nằm võng, nhớ đồng đội ra đi cứ khóc mãi không thôi. Rồi buổi sáng dậy phải trở lại trạng thái bình thường, cứng cỏi để ra trận. Cái tình đồng đội của người lính trên chiến trường thiêng liêng lắm.

Điếu thuốc bẻ đôi, bát nước chia đôi. Một nhà thơ nào đó nói nước mắt cũng để dành cho ngày gặp mặt nhưng nước mắt cũng nói lên sự chia ly, những lúc nhớ nhau" - ông nói trong nghẹn ngào khi 40 năm đã xa.

Xuân Linh - Hồng Nhì



Ảnh đời thường của vị tướng viết quân lệnh số 1 ngày 30/4

Hoàng Đan | 30/04/2015 13:00

Tuổi cao, sức đã yếu nhưng hàng ngày thiếu tướng Nguyễn Công Trang, người viết quân lệnh số 1 ngày Sài Gòn giải phóng cách đây 40 năm vẫn giữ nguyên phong thái của bộ đội cụ Hồ.

Thiếu tướng Nguyễn Công Trang, nguyên Phó Chính ủy Quân đoàn II (Binh đoàn Hương Giang) hiện đang sống cùng gia đình tại phố Lý Nam Đế (Hà Nội).

Thời điểm 11h30 phút ngày 30/4/1975, khi toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn bị bắt sống, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, cùng với Tư lệnh Nguyễn Hữu An, Phó Tư lệnh Hoàng Đan, Phó Chính ủy Nguyễn Công Trang đã cùng có mặt tại Dinh Độc Lập.

Ông cũng chính là người được Bộ Tư lệnh Quân đoàn phân công viết bản quân lệnh số 1 của Quân giải phóng.

Ở tuổi 93, dù chân đau, tay run, trí nhớ có kém hơn nhưng tướng Trang vẫn giữ nguyên phong thái của bộ đội cụ Hồ.

Hàng ngày, ông dậy rất sớm và dù khó khăn trong việc đi lại, sinh hoạt, phải có người giúp đỡ nhưng vị tướng già vẫn theo dõi các chương trình tivi để nắm bắt, cập nhật các thông tin thời sự trong nước và quốc tế.

Chúng tôi xin gửi tới bạn đọc một số hình ảnh về tướng Nguyễn Công Trang - vị tướng có vai trò quan trọng trong việc ổn định Sài Gòn những ngày đầu giữa đời thường.

Hàng ngày, tướng Trang vẫn dậy rất sớm và do sức khỏe đã yếu nên các công việc cá nhân đều phải nhờ sự giúp đỡ thêm của người nhà.

Dù tuổi cao nhưng hàng ngày, tướng Trang vẫn dậy rất sớm và do sức khỏe đã yếu nên các công việc cá nhân đều phải nhờ sự giúp đỡ của người nhà.

Trong lúc người cháu giúp ông mặc áo thì vợ ông, bà Nguyễn Thị Nhì (năm nay 95 tuổi) luôn ở bên cạnh.

Trong lúc người cháu giúp ông mặc áo thì vợ ông, bà Nguyễn Thị Nhì (năm nay 95 tuổi) luôn ở bên cạnh.

Hai ông bà sống cùng với người con trai cả  là ông Nguyễn Công Trác (sinh năm 1946). Sáng nào cũng vậy, cả gia đình lại ngồi cùng nhau sẻ chia những câu chuyện, kỷ niệm.

Hai ông bà sống cùng với người con trai cả là ông Nguyễn Công Trác (sinh năm 1946) tại tập thể 16A phố Lý Nam Đế. Sáng nào cũng vậy, cả gia đình lại ngồi cùng nhau để sẻ chia những câu chuyện, kỷ niệm.

Dù tuổi cao nhưng tướng Trang vẫn luôn theo dõi các chương trình tivi để nắm thông tin thời sự trong nước và quốc tế.

Dù tuổi cao nhưng tướng Trang vẫn luôn theo dõi các chương trình tivi để nắm thông tin.

Theo lời kể của vợ tướng Trang, hai ông bà được bố mẹ sắp đặt từ năm 10 tuổi nhưng đến năm 20 tuổi mới chính thức kết hôn. Hơn 70 năm chung sống cùng nhau, ông bà đã có 5 người con đều trưởng thành và có 4 người nối đường binh nghiệp của ông.

Theo lời kể của vợ tướng Trang, hai ông bà được bố mẹ sắp đặt từ năm 10 tuổi nhưng đến năm 20 tuổi mới chính thức kết hôn. Hơn 70 năm chung sống cùng nhau, ông bà đã có 5 người con đều trưởng thành và có 4 người nối đường binh nghiệp của ông.

Cũng theo lời vợ tướng Trang, suốt cả cuộc đời ông đã luôn phấn đấu, tận tâm, tận tụy với công việc, thương chiến sỹ, đồng đội. Khi về với đời thường, ông luôn gương mẫu, sống yêu thương con cái. Và với riêng bà, hơn 70 năm qua, dù không nói nhiều nhưng ông luôn dành cho bà tình yêu đặc biệt nhất.

Cũng theo lời vợ tướng Trang, sống với nhau không được bao lâu thì ông đi làm cách mạng. Suốt cả cuộc đời ông đã luôn phấn đấu, tận tâm, tận tụy với công việc. Về đời thường, ông luôn yêu thương con cái và với bà, dù không nói nhiều nhưng ông luôn dành cho bà tình yêu đặc biệt nhất.

Dù hơn tuổi ông nhưng bà có phần khỏe hơn và hàng ngày, bà vẫn giúp ông làm những việc sinh hoạt bình thường.

Hơn 70 năm chung sống, chưa bao giờ ông biết chê bất cứ điều gì mà bà dành cho. Ở tuổi 95 (hơn ông 2 tuổi) nhưng bà có phần khỏe hơn và hàng ngày, bà vẫn giúp ông làm những việc sinh hoạt cá nhân.

Chia sẻ với chúng tôi, các con tướng Trang luôn tự hào về tình yêu thương mà ông bà đã dành cho cho nhau suốt hơn 70 năm qua.

Chia sẻ với chúng tôi, các con tướng Trang luôn tự hào về tình yêu thương mà ông bà đã dành cho cho nhau suốt hơn 70 năm qua.

Khi được hỏi, cả hai ông bà đều chia sẻ, nếu có quay được lại thời gian, thì hai người vẫn sẽ chọn nhau và trọn đời bên nhau.

Khi được hỏi, cả hai ông bà đều chia sẻ, nếu có quay được lại thời gian, thì hai người vẫn sẽ chọn nhau và trọn đời bên nhau.

Tháng 4/1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ cho các đơn vị đánh chiếm Dinh Độc Lập. Trong hình, Tướng Nguyễn Công Trang là người thứ 3, từ phải vào (Ảnh tư liệu).

Tháng 4/1975, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 giao nhiệm vụ cho các đơn vị đánh chiếm Dinh Độc Lập. Trong hình, Tướng Nguyễn Công Trang là người thứ 3, từ phải vào (Ảnh tư liệu).

Tướng Trang.

Tướng Trang.

theo Trí Thức Trẻ




Phi đội hào hoa đánh Tân Sơn Nhất

Nhớ lại lúc luyện bay chuyển loại, ông Từ Đễ vẫn nhớ “nhìn mới thấy chiếc phi cơ A37 thu lượm được của địch để dùng huấn luyện bay ở Đà Nẵng đúng là "5 cha, 3 mẹ”".


Chiều 22/4/1975, tất cả cả cán bộ, phi công, thợ máy của phi đội 4 đã có mặt tại sân bay Đà Nẵng, nhanh chóng ổn định do Thượng úy Nguyễn Văn Lục làm đại đội trưởng, Thượng úy Trần Cao Thăng làm chính trị viên, Thượng úy Từ Đễ làm đại đội phó.

Toàn tài, đẹp trai

Theo ông Từ Đễ, trong đội hình Phi đội Quyết Thắng, nếu ông giỏi về bay đêm, bay trong mây, dẫn đường chính xác ở độ cao thấp mà không cần radar dẫn bay thì ông Nguyễn Văn Lục lại là phi công bắn súng canon rất giỏi, từng bắn gục 2 máy bay không người lái của Mỹ - loại mục tiêu bay khó nhằn nhất vì chỉ nguyên việc phát hiện ra nó đã là một kì công.

“Ông Lục từng bắn hạ 1 máy bay A7 của hải quân Mỹ –- một thành tích đáng nể vì MiG 17 vốn tụt hậu một thế hệ so với máy bay A7, bắn súng mà hạ máy bay Mỹ càng chứng tỏ trình độ thiện xạ của ông. Tất nhiên là so với thế hệ chúng tôi, chứ không thể so với các bậc tiền bối bắn rơi 6,7 chiếc ngày trước được ”- ông Từ Đễ kể.

Từ Đễ, phi công, không quân, phi đội Quyết Thắng, 30/4
Máy bay A37 dùng bay trong trận đánh bom Tân Sơn Nhất là máy bay được các nhân viên kỹ thuật hàng không sửa chữa, chế lại. Ảnh: Lê Anh Dũng

Trong khi đó, ông Hán Văn Quảng (trung đội trưởng) là một phi công chiến đấu lão luyện, trông mặt mũi hiền lành nhưng có tài ném bom các kiểu từ bổ nhào, bay bằng rồi bay cực thấp trên biển - một kiểu ném bom cực khó, đầy nguy hiểm mà lại chỉ ước lượng bằng mắt, không có máy ngắm chuyên dùng.

“Bây giờ thời đại tự động hóa cao đến nỗi dẫn đến bệnh lý “tự động hóa” trong đội ngũ lái máy bay, điều này có thể dẫn đến tai nạn. Nên bác càng tự hào về ông Lục, ông Quảng có thể chiến đấu thô sơ và du kích chỉ bằng cảm quan. Họ lại toàn là giáo viên bay cự phách nữa chứ” - ông Từ Đễ thán phục những đồng đội trong đội hình Quyết Thắng.

Một thành viên trong phi đội là trung úy không quân Sài Gòn Nguyễn Thành Trung trước đó từng lái máy bay F5E của địch, bất ngờ chọn thời cơ thuận lợi, ném bom dinh Tổng thống Sài Gòn rồi bay về hạ cánh an toàn xuống vùng giải phóng ở sân bay Phước Long. Ông Trung được Tư lệnh, Tướng Văn Tiến Dũng đưa ra Đà Nẵng ghép vào phi đội để dẫn đường cho phi công ta.

“"Cái lão này đã đẹp trai lại thiệt tài. Sân bay Phước Long ngắn vậy mà cũng đáp được, lại còn khoe ảnh có râu rất đàn anh nữa chứ. Mà để râu trong không quân vốn bị cấm trong tất cả các nước nhưng chắc học theo phi công nổi tiếng nhất Mỹ là đại tá Robin Old phi công từ thời Chiến tranh Thế giới 2 - người đã tổ chức thành công chiến dịch Bolo chống MiG đầu năm 1967. Mãi tới bây giờ các bác về hưu mới dám để râu nhưng ôi thôi, bạc hết mất rồi" - ông Từ Đễ hóm hỉnh.

Trong đội hình còn có hai phi công Trần Ngọc Sanh và Nguyễn Văn On vốn là 2 trung úy ra trình diện tại Đà Nẵng và được lựa chọn giúp đỡ các phi công miền Bắc sử dụng máy bay.

Hai ông đều được đào tạo ở Mỹ và có kinh nghiệm sử dụng máy bay A37.

Từ Đễ, phi công, không quân, phi đội Quyết Thắng, 30/4
Phi công Từ Đễ ngoài cùng bên trái cùng đồng đội trong trận đánh Tân Sơn Nhất

“Các ông đều tích cực giúp các bác tìm hiểu và khai thác máy bay. Nếu máy bay có nhiều thì các bác sẽ xếp các ông này cùng tham gia ném bom vào Tân Sơn Nhất, nhưng rất tiếc cơ hội chỉ dành cho ông On. Bác cũng ấn tượng với hai ông này. Nếu ông On trông "Hai Lúa"“ bao nhiêu thì ông Sanh lại lạnh lùng và tri thức bấy nhiêu. Nói chung các phi công hai bên VN hồi đó đều đẹp trai kiểu đàn ông đích thực cả” -– ông Từ Đễ cười vang khi nhớ lại kỷ niệm với đồng đội.

Bay chuyển loại nhanh kiểu “Thần Phong”

Luyện bay chuyển loại là điều kiện tiên quyết để đảm bảo thành công cho trận đánh. Theo ông Từ Đễ, thời gian huấn luyện bay cực ngắn của phi đội có thể so sánh với cách huấn luyện những phi công “Thần Phong” Nhật Bản trong giai đoạn kết thúc chiến tranh Thái Bình Dương.

Những phi công Thần Phong được huấn luyện để lái máy bay chở đầy bom, thủy lôi và bình đựng xăng đâm vào tàu địch. Các cuộc tấn công cảm tử của phi công Thần Phong Nhật được thế giới kính trọng. Để chuẩn bị cho những chuyến bay này, họ chỉ có 9 ngày huấn luyện.

Ông Từ Đễ cho hay, có 5 ngày chuẩn bị nhưng thực tế phi đội chỉ có 3 ngày tập bay ở Đà Nẵng với 1 máy bay duy nhất. Mỗi ngày chỉ lên được 5 lượt, tức mỗi người 1 lượt.

“Sát ngày ra trận, do phi công Nguyễn Thành Trung được đưa ra Đà Nẵng để ghép vào đội hình, các bác lại phải “nhường ghế, sẻ xăng” để ông Sanh kèm chú Trung bay hồi phục kĩ thuật. Ngay bác cũng chỉ dám bay có 2 chuyến thử kết hợp huấn luyện và tham gia chiến đấu ngay”, ông kể.

Để luyện bay, nhóm nhân viên kỹ thuật của Sài Gòn có 17 người, cùng nhóm thợ máy, kỹ thuật không quân Hà Nội dốc sức cùng nhau sửa chữa, lắp ráp máy móc dồn ghép thành một chiếc A37 để huấn luyện ở Đà Nẵng.

Từ Đễ, phi công, không quân, phi đội Quyết Thắng, 30/4
Chiếc máy bay "5 cha, 3 mẹ" của phi công Từ Đễ.

Một nhóm khác lại tập trung ở Phù Cát, Bình Định để phục hồi 8 máy bay A37 thu được. Họ là những nhân viên kĩ thuật được đào tạo cơ bản ở Mỹ, 6 tháng lại sang Mỹ tu nghiệp một tuần.

“Ngoài kỹ thuật, họ còn có kỉ luật nghiệp vụ cao, nên việc hồi phục được 5 máy bay là một chuyện đáng nể dành cho các anh em thợ máy cả hai bên.” – ông Từ Đễ cho hay.

Nhớ lại lúc luyện bay chuyển loại, ông vẫn nhớ “nhìn mới thấy chiếc phi cơ A37 thu lượm được của địch để dùng huấn luyện bay ở Đà Nẵng đúng là "5 cha, 3 mẹ"”.

“"Bác được phân công bay thử máy bay này. Bác nghĩ là máy bay Mỹ cấu trúc model, các công tắc tích hợp cao cùng với lối tư duy dành cho khách- phi công sự tối giản, mọi việc phức tạp nhà sản xuất lo nên bác dám cược với chuyến bay thử này. Chưa một lần bay, bác có thể để cho hai anh phi công Sanh và On bay thử trước rồi bay sau. Nhưng với lòng tự trọng và danh dự của phi công miền Bắc, bác phải thể hiện trình độ bay giỏi của mình, bèn vời ông Trần Ngọc Sanh ngồi “bên phải”.

Mở máy lăn ra đỗ trên đường băng, bác nhìn anh Sanh và giơ ngón tay cái lên. Anh Sanh gật đầu và OK, cất cánh! Bác tăng ga hai động cơ lên đều, kiểm tra thông số các hệ thống và nhả phanh chân. Máy bay chúi đầu xuống rồi bật lên chạy nhanh và chỉ cần kéo cần lái máy bay dã bốc đầu lên, động cơ được mở tấm che ngăn đá sỏi tăng lực đẩy và máy bay rời đất.

Không có gì lạ lẫm cả và cái quan trọng nhất mà mình muốn đã tìm ra được là cảm giác bay trên máy bay mới!

Di chuyển vào Phan Rang

Trưa 27/4/1975, cả phi đội cơ động từ Đà Nẵng vào sân bay Phù Cát. Riêng Nguyễn Thành Trung và Hoàng Mai Vượng lái một chiếc A37 vốn có sẵn tại Đà Nẵng mang vào Phù Cát, số còn lại cơ động bằng máy bay vận tải AN-24 do phi công Tiêu “bạc” cầm lái.

Từ Đễ, phi công, không quân, phi đội Quyết Thắng, 30/4

Tư lệnh phòng không không quân Lê Văn Tri (đứng) là người chỉ huy trực tiếp trận đánh Tân Sơn Nhất của phi đội Quyết Thắng. Ảnh tư liệu

“Xuống máy bay anh em lại bước vào kiểm tra 8 máy bay A37 đã được phục hồi nằm trên sân. Sau đó tất cả phải vào ngay Sở chỉ huy nhận nhiệm vụ, còn việc bay thử tin tưởng giao cho hai anh Sanh và On mỗi người bay 4 chiếc. Lúc đó các anh phi công Sài Gòn ấy đã thực sự tin phục chúng tôi, toàn tâm toàn ý giúp đỡ cho phi đội thì chúng tôi cũng phải tin họ chứ” - – ông Từ Đễ kể.

Lúc đó, Trần Cao Thăng, chính trị viên phi đội còn tâm sự "cũng lo nhỡ hai anh bay mất vào Sài Gòn thì tôi chết". Nhưng mọi việc đâu vào đó. Các anh mới bay thử có 5 chiếc thì trời đã tối. Tuy vậy cùng đã chọn ra được 4 chiếc tốt cộng với 1 chiếc chuyển từ Đà Nẵng vào thành 5 chiếc. Tôi phải “nhịn” ngồi nhìn các anh em bay đi đánh ngày mai”

Các máy bay tốt được lắp 4 thùng dầu phụ, kéo sơ tán trong các ụ thép. Ông Huynh, chuẩn úy trưởng tiểu ban tác chiến sân bay Phù Cát hồi ấy còn kể lại với ông Từ Đễ: “Có một mình mà tôi phải tự lái xe đi tuần suốt đêm quanh các ụ chứa máy bay, rồi lại đi kiểm tra Sở chỉ huy tiền phương nơi các sĩ quan còn chúi đầu quanh ngọn đèn dầu, có gì xảy ra thì tôi ra tòa án binh là cái chắc. Cả quân chủng tập trung cho trận này. Cầu trời không có chuỵện gì xảy ra.”

Tối hôm 27/4 chi bộ họp quán triệt nhiệm vụ cho các đảng viên (riêng anh Nguyễn Thành Trung không tham gia vì không phải đảng viên) và sau đó anh em đi ngủ.

“Thật ra cả đêm ấy một phần do nóng vì nằm trong nhà hầm không điện, phần lo lắng cho ngày mai nên chẳng ai chợp mắt.

Rồi sáng 28/4/1975, tại sân bay Phù Cát, lúc 8h, tư lệnh Quân chủng chính thức phê chuẩn kế hoạch cho phi đội tham gia trận đánh. Danh sách phi công gồm Nguyễn Thành Trung (bay số 1 dẫn đường), Từ Đễ (phó chỉ huy, số 2), Nguyễn Văn Lục (chỉ huy trên không, bay số 3), Hoàng Mai Vượng cùng Trần Văn On (bay số 4) và Hán Văn Quảng (bay số 5).

Các phi công ra nhận máy bay và chuyển sân đi Phan Rang. "Cô thắc mắc sao ông Lục chỉ huy mà lại đi số 3 hả? Ông chọn vị trí nào dễ quan sát và chỉ huy phi đội thuận nhất", ông Từ Để giải thích.

Suốt thời gian trước trận đánh, mọi chuẩn bị diễn ra trong bí mật, không có bất cứ lực lượng chiến đấu nào được biết kế hoạch đánh sân bay Tân Sơn Nhất của không quân ta vào buổi chiều ngày 28/4 năm ấy.

Ở trung tâm đầu não, tất cả nín thở chờ giờ cất cánh điểm.

Xuân Linh


Vị Tướng Tổng tham mưu trưởng tuổi 30

Chiều nay, Bộ Quốc phòng tổ chức buổi họp báo giới thiệu về hội thảo khoa học "Đại tướng Hoàng Văn Thái - nhà quân sự tài năng, đức độ của cách mạng Việt Nam" vào ngày 17/4 nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đại tướng (1/5/1915 - 1/5/2015).

Đại tướng, Hoàng Văn Thái, Bộ Quốc phòng
Đại tướng Hoàng Văn Thái báo cáo tình hình chiến trường miền Nam với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh tư liệu

Thiếu tướng Trần Hoài Trung, Cục trưởng Cục Tuyên huấn Tổng cục Chính trị cho biết, rất nhiều bài tham luận tại hội thảo sẽ khẳng định và làm sáng tỏ thêm cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và những cống hiến của Đại tướng Hoàng Văn Thái với cách mạng, nhất là về tổ chức thực tiễn lĩnh vực quân sự, quốc phòng, chỉ đạo công tác tham mưu, xây dựng quân đội, tăng cường sức mạnh quốc phòng và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Đại tướng Hoàng Văn Thái là Tổng tham mưu trưởng đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ nhiệm khi mới 30 tuổi. Hơn 50 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng được giao nhiều chức vụ quan trọng, có mặt ở khắp các chiến trường khó khăn, gian khổ nhất. Đại tướng luôn tỏ rõ phẩm chất của một vị tướng có tài thao lược.

Thái An


Tổng Tham mưu trưởng viết nhạc, chơi đàn nhị

Cứ tối thứ 7 rảnh rỗi, gia đình ông lại tổ chức vui văn nghệ, ông kéo đàn nhị dạy các con những bài hát kháng chiến và bài “Phất cờ Nam tiến” do mình sáng tác.


Những phút bình yên nhất xưa kia của gia đình Đại tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của QĐND VN, được con trai ông - Hoàng Quốc Hùng xúc động kể lại trong buổi hội thảo "Đại tướng Hoàng Văn Thái - Nhà quân sự tài năng, đức độ của cách mạng VN" do Bộ Quốc phòng tổ chức sáng nay tại Hà Nội.

Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng, Hoàng Văn Thái
Ông Hoàng Quốc Hùng. Ảnh: Duy Hồng

Làm công tác tham mưu suốt cuộc đời

Ông Hùng nhắc lại nhận xét của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cha mình.

Hôm trước ngày thành lập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp triệu tập ông Hoàng Sâm, Xích Thắng và Hoàng Văn Thái ra một chỗ vắng. Bốn người ngồi xuống một gốc cây lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên bố: Theo chỉ thị của cấp trên, đội ta thành lập một Chi bộ Đảng, đồng chí Xích Thắng làm thư ký chi bộ. Ban Chỉ huy đội do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên. Còn đồng chí Hoàng Văn Thái có nhiệm vụ cầm lá cờ đỏ sao vàng và đứng ngay cạnh đội trưởng Hoàng Sâm.

Rồi chỉ mấy ngày sau, ông lại là người phất lá cờ đỏ sao vàng giữa đồn giặc trong trận đánh đầu tiên Phay Khắt - Nà Ngần.

Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng, Hoàng Văn Thái

Ông Hoàng Văn Thái (người cầm cờ) tại lễ thành lập đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, 12/1944.Ảnh: Bảo tàng lịch sử quốc gia

Ông Hùng cũng dẫn lại lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng kể: “Một tuần lễ sau ngày thành lập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân, khi trung đội VN tuyên truyền giải phóng quân phát triển thành đại đội thì anh Thái ở trong Ban chỉ huy đại đội và được phân công làm công tác tình báo và tác chiến. Với cảm tình từ đầu, tôi đã thấy ở anh khả năng sau này có thể phụ trách công tác tham mưu của đội quân chủ lực.

Cách mạng Tháng 8 thành công. Với tư cách là người được Ban Thường vụ phân công phụ trách công tác quân sự, tôi đã đề nghị với Bác Hồ và Thường vụ thành lập ngay Bộ Tổng Tham mưu và bổ nhiệm anh Hoàng Văn Thái làm Tổng Tham mưu trưởng”.

Ngày 7/9/1945, tại Bắc Bộ Phủ, Bác Hồ trực tiếp giao cho ông Hoàng Văn Thái làm Tổng Tham mưu trưởng và chỉ thị cho ông thành lập Bộ Tổng Tham mưu.

"Lúc nhận chức vụ Tổng Tham mưu trưởng, cha chúng tôi mới 30 tuổi", ông Hùng tự hào kể về cha.

Trong tham luận của mình, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Tổng Tham mưu trưởng QĐND VN, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết, ngay sau khi nhận nhiệm vụ, Đại tướng Hoàng Văn Thái đã dành rất nhiều thời gian, công sức, ngày đêm nghiên cứu để tìm hiểu cơ cấu tổ chức, thế nào là công tác tham mưu, chức năng, nhiệm vụ...

Tại lễ khai giảng khóa 1, Trường Sĩ quan Tham mưu đầu tiên (tháng 5/1948), Đại tướng Hoàng Văn Thái nói: “Người sĩ quan tham mưu phải có tài năng, tức là trình độ chính trị, quân sự và chuyên môn giỏi… Về chuyên môn, phải nắm địch, nắm ta rõ ràng, phải biết phân tích tổng hợp, đề ra kế hoạch hay… phải có tác phong cần cù, chính xác, tỉ mỉ, khẩn trương, chủ động, bí mật, khiêm tốn, đoàn kết…”.

Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng, Hoàng Văn Thái

Tướng Hoàng Văn Thái báo cáo tình hình chiến trường miền Nam với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh tư liệu

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ngoài trọng trách Tổng Tham mưu trưởng, Đại tướng Hoàng Văn Thái còn kiêm nhiệm Tham mưu trưởng và Đảng ủy viên các chiến dịch góp phần làm nên Chiến thắng Biên giới (1950), Trung du (1951), Hòa Bình, Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953). Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, bên cạnh Bộ Tổng tư lệnh, ông cũng trực tiếp chỉ huy công tác tham mưu tác chiến tại mặt trận, góp phần quan trọng vào chiến thắng của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, ông được Bộ Chính trị chỉ định làm quyền Bí thư Khu ủy 5, Tư lệnh - kiêm Chính ủy Quân khu 5.

Vị tướng yêu văn nghệ, thích tăng gia trồng trọt

Ông Hùng cho biết, cha ông rất thích tăng gia trồng trọt.

Nhà ông ở số nhà 34 đường Hoàng Diệu trong khu cán bộ quân đội cao cấp. Quanh khu, chỗ nào có đất trống là ông cuốc làm vườn rau, mùa nào thức ấy. Ngoài ra, ông còn trồng nhiều cây ăn quả. Ông coi việc tăng gia không chỉ là để cải thiện sinh hoạt, rèn luyện sức khỏe mà còn để xây dựng ý thức yêu lao động, biết tôn trọng người lao động và quý trọng thành quả lao động.

"Có những tối thứ bảy rảnh rỗi, cả gia đình quây quần tổ chức vui văn nghệ. Cha kéo đàn nhị dạy các con những bài hát kháng chiến và bài “Phất cờ Nam tiến” do cha sáng tác, còn mẹ chơi đàn măng-đô-lin. Tôi nhớ mẹ còn hay hát bài hát 'tủ' của mẹ, 'Bài ca hy vọng'", ông Hùng nhớ lại.

Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng, Hoàng Văn Thái

Đoàn quân nhạc chơi bài "Phất cờ Nam tiến" Tết năm 1969. Ảnh: Đại Đoàn Kết

Bà Hoàng Minh Châu, con gái Đại tướng cũng cho biết: "Sau này, khi cha đi B, chúng tôi cũng thỉnh thoảng hát và thu băng cát xét gửi vào cho cha nghe. Cha rất thích và động viên: Các con đã hát rất nhiều bài hát hay cho ba nghe. Ba thấy các con thuộc rất nhiều bài hát khó. Giá có nhạc đệm thì hay lắm đấy…”.

"Chúng tôi luôn tự hào về cha", ông Hùng xúc động nói.

Hồng Nhì


Báo Pháp viết về những chiến sĩ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

“Chúng tôi đã chiến đấu bằng trái tim mình, bằng cái đầu luôn nghĩ về đồng bào miền Nam, chúng tôi không ra chiến trường để nhận về danh tiếng, hay để được tung hô là những anh hùng đâu…” - chỉ huy xe tăng 390 đã chia sẻ với hãng tin AFP như vậy.

Báo Pháp viết về những chiến sĩ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Khi xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập cách đây 40 năm, khoảnh khắc đó đã trở thành thời khắc lịch sử, chính thức đánh dấu hồi kết của chiến tranh Việt Nam. Những chiến sĩ có mặt trên xe tăng 390 năm ấy đã trở thành những nhân vật lịch sử của ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hôm nay, trong cuộc sống thường nhật, đời sống của những con người đã “đi vào lịch sử” ấy vẫn còn rất đơn sơ, nhưng cuộc đời giản dị của họ đã vĩnh viễn gắn liền với lịch sử, với phút giây đáng nhớ nhất trong ngày 30/4/1975. Cùng với chiếc xe tăng 390, 4 người chiến sĩ có mặt trên xe đã cùng viết nên một chi tiết lịch sử hào hùng. Bài viết của AFP được mở đầu như vậy.

Báo Pháp viết về những chiến sĩ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Vào ngày 30/4/1975, tiểu đội 4 chiến sĩ lái xe tăng 390 đã vượt qua mọi sự chống trả quyết liệt của địch trên đường tiến vào Sài Gòn, cả 4 chiến sĩ đều tin tưởng hoàn toàn vào một chiến thắng đã đến rất gần, thẳng tiến về Sài Gòn, họ hướng thẳng về Dinh Độc Lập.

Người chỉ huy xe tăng 390 năm ấy - ông Vũ Đăng Toàn vẫn còn nhớ như in không khí quyết chiến quyết thắng của ngày 30/4 lịch sử: “Nếu chúng tôi có một chút mảy may run sợ, thì làm sao có thể vượt qua tất cả để tiến về Sài Gòn, húc đổ cổng Dinh Độc Lập? Mục tiêu của chúng tôi khi đó, duy nhất chỉ có nhanh chóng chiếm được Dinh Độc Lập, bắt được nội các của Dương Văn Minh. Khi đã tham gia vào quân đội, chúng tôi không muốn thua trong bất cứ một trận nào”.

Báo Pháp viết về những chiến sĩ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Nhiều thập kỷ đã trôi qua sau chiến tranh, khoảnh khắc lịch sử khi chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập, tiến vào trong sân, đánh dấu một trang sử mới thống nhất vẹn toàn cho cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam đã được ống kính của nữ nhiếp ảnh gia người Pháp - Francoise de Mulder ghi lại.

Giờ đây xe tăng 390 lịch sử đã được đặt trong viện bảo tàng, được bảo quản như báu vật lịch sử quốc gia, chiếc xe tăng đánh dấu ngày non sông nối liền một dải, Bắc Nam sum họp một nhà.

Ông Vũ Đăng Toàn cho biết ông không muốn xuất hiện quá nhiều trên các phương tiện truyền thông và cũng không muốn nói nhiều về vai trò của mình trong một khoảnh khắc đã đi vào lịch sử bởi: “Chúng tôi đã chiến đấu bằng trái tim mình, bằng cái đầu luôn nghĩ về đồng bào miền Nam, chúng tôi không ra chiến trường để nhận về danh tiếng, hay để được tung hô là những anh hùng đâu…”.

Báo Pháp viết về những chiến sĩ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Ông Vũ Đăng Toàn đã nói với phóng viên của AFP rằng trong suốt cuộc đời mình, ông luôn cảm thấy hạnh phúc vì một lẽ - ông đã làm trọn nghĩa vụ đối với đất nước.

Sau đó, bài viết trên AFP nhấn mạnh vào khía cạnh đời sống đơn sơ, giản dị của gia đình ông Toàn - người đã 20 năm phục vụ trong quân ngũ và về hưu năm 1985. Khi về hưu, ông từng phụ giúp gia đình làm đậu phụ và bánh phở để kiếm thêm thu nhập.

Giờ đây, tuổi đã cao, ông nghỉ hẳn và sống một cuộc đời giản dị ở quê nhà thuộc tỉnh Hải Dương với đồng lương 5 triệu rưỡi/tháng.

Báo Pháp viết về những chiến sĩ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập
Bốn chiến sĩ trên xe tăng 390 - Ngô Sỹ Nguyên, Vũ Đăng Toàn, Nguyễn Văn Tập và Lê Văn Phượng (từ trái qua). Ảnh: Người lao động

Bài viết của AFP còn tìm hiểu đời sống của 3 thành viên còn lại trên xe tăng 390 năm ấy. Pháo thủ số 2 - ông Lê Văn Phượng cũng từng có đời sống kinh tế nhiều khó khăn, chật vật, giống như tất cả những người dân Việt Nam khác hồi đầu thập niên 1980.

Khi đó cũng là giai đoạn ông rời quân ngũ, trở về đời sống thường nhật, ông quyết định “tay kéo, tay lược” làm thợ hớt tóc để thêm thu nhập cho gia đình.

Giờ đây, ông Phượng cũng đã nghỉ hẳn, ông ở nhà và sống bằng lương hưu. Ông Phượng ở ngay ngoại thành Hà Nội, khi phóng viên AFP tìm đến nhà, ông kể lại ký ức tham gia chiến đấu năm xưa bằng sự hồ hởi, nhiệt thành.

Báo Pháp viết về những chiến sĩ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Ông Phượng cho biết, mỗi dịp nước nhà kỷ niệm ngày 30/4, lòng ông lại rộn ràng, vui sướng và rất tự hào vì được thấy lại những thước phim lịch sử của ngày 30/4/1975 chiếu trên sóng truyền hình: “Mỗi khi nhìn lại những thước phim được quay trong ngày lịch sử ấy, tôi như được trở về cái thuở mới ngoài 20, trong trái tim và khối óc ngập tràn những lý tưởng của thời đại, tự hào được đóng góp sức mình, dù chỉ là một phần rất nhỏ bé, vào chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc”.

Đối với ông Phượng, những gì mà 4 chiến sĩ của xe tăng 390 đã làm được là “rất bình thường” trong một đất nước mà hầu như mỗi người dân đều có những đóng góp lớn nhỏ cho cuộc kháng chiến giành độc lập, một đất nước mà hàng triệu người đã ngã xuống vì nền độc lập: “Tôi vẫn luôn nghĩ về những người anh em còn lại trên xe tăng 390, họ giống như những thành viên trong gia đình của tôi vậy. Chúng tôi vẫn thường xuyên chia sẻ với nhau những vui buồn trong cuộc đời, giống như những người anh em trai”.

Pháo thủ số một của xe tăng 390 - ông Ngô Sỹ Nguyên rời quân ngũ từ năm 1982, năm nay ông đã 63 tuổi. Ông từng làm lái xe buýt ở Hà Nội cho tới khi về hưu.

Báo Pháp viết về những chiến sĩ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Người lái xe tăng 390 - ông Nguyễn Văn Tập năm nay 65 tuổi. Ông rời quân ngũ từ rất sớm (năm 1976), trở về quê, ông làm việc tại một xưởng sơn và làm cả nghề nông. Ông Tập cũng có một suy nghĩ chất phác, chân phương giống như những người đồng đội trên xe tăng 390: “Còn được sống là may mắn rồi, tôi đã may mắn hơn rất nhiều so với những người đồng chí, đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường”.

4 người cựu chiến binh ấy mỗi năm đều cố gắng thu xếp để gặp nhau vài bận, họ sẽ gặp lại nhau trong tuần này ở TPHCM, để cùng nhau kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Báo Pháp viết về những chiến sĩ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập

Trong ngày tháng 4 lịch sử năm 1975, cả 4 chiến sĩ có mặt trên xe tăng 390 đều có tuổi đời dưới 30. Đối với họ, những năm tháng cuộc đời được sống sau này đều rất quý giá, bất kể cuộc sống có khó khăn, vất vả thế nào, bởi tất cả họ đều có chung một suy nghĩ mộc mạc - “được sống đã là may mắn rồi”.

Bài viết trên AFP dừng lại ở đó, chủ yếu khai thác khía cạnh đời sống thường nhật giản dị đến không ngờ của những người anh hùng trong ngày chiến thắng lịch sử 30/4/1975. Họ là những người đã lái chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cổng Dinh Độc lập, nhưng giữa cuộc sống đời thường hôm nay, họ vẫn là những ông lão bình dị, những cựu chiến binh sống khiêm tốn, giản dị vô cùng.


Bích Ngọc
Theo AFP







Hình ảnh Sài Gòn trong “ngày vui đại thắng” trên báo thế giới

Dưới đây là những bức ảnh về Sài Gòn được các phóng viên nước ngoài chụp trong ngày 30/4/1975. Những khoảnh khắc lịch sử đã được ghi lại kể từ sau phút giây xe tăng của Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập.


Hình ảnh người dân Sài Gòn, thành phố Sài Gòn trong ngày chiến thắng lịch sử - 30/4/1975:

Hình ảnh Sài Gòn trong “ngày vui đại thắng” trên báo thế giới
Hai chiếc xe tăng dẫn đầu - T59 số hiệu 390 và T54B số hiệu 843 - tiến vào húc đổ cổng Dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)

Đoàn quân Giải phóng tiến vào sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)
Đoàn quân Giải phóng tiến vào sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)

Đoàn quân Giải phóng tiến vào sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)
Xe chở Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn trong ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)

Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)

Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Những người làm việc cho chế độ cũ ngồi tập trung ở một góc sân Dinh Độc lập trước sự giám sát của một chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)

Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)

Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Sân Dinh Độc lập nhìn từ tầng cao trong ngày Quân Giải phóng tiến vào thành phố. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)

Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Người dân Sài Gòn xuống phố đón Quân Giải phóng, chính thức đánh dấu sự chấm dứt của chiến tranh Việt Nam. (Ảnh: AFP)

Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Xác một chiếc trực thăng cỡ nhỏ của không quân Việt Nam Cộng hòa rơi trên đường Nguyễn Hoàng ngày 29/4, giờ đây còn lại là một đống đổ nát, thu hút sự tò mò, hiếu kỳ của những em nhỏ. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)

Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Những gì còn lại của lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng hòa trên một đường phố ở ngoại ô Sài Gòn. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)

Những người dân Sài Gòn đứng trò chuyện với những chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jacques Teyssier)
Những người dân Sài Gòn đứng trò chuyện với những chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jacques Teyssier)

Người dân Sài Gòn xuống phố chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)
Người dân Sài Gòn xuống phố chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)

Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Bettmann/Corbis)
Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Bettmann/Corbis)

Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)
Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)

Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)
Người dân phấn khích xuống đường hòa vào cùng đoàn quân Giải phóng. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)

Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)
Trong niềm vui phơi phới, hai chiến sĩ giải phóng quân đàn hát ngay trên bậc thềm của khách sạn Majestic nằm bên sông Sài Gòn. (Ảnh: Bettmann/Corbis)

Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)
Nụ cười của những chiến sĩ giải phóng quân trong ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)

Các chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)
Các chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)


Bích Ngọc
Tổng hợp


Chuyện gì đã diễn ra trong ngày 30/4/1975 tại Sài Gòn?

Có lẽ không khó để tìm được nhiều cuốn sách viết về sự kiện lịch sử trọng đại này. Tuy nhiên để tìm được một cuốn sách ngắn gọn, được trình bày một cách thu hút thì không phải là một vấn đề đơn giản... Chính vì bởi lý do này, Nguyễn Hữu Thiên Nga và Nguyễn Hữu Thái Hòa là con trai và con gái của Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái- người cùng anh bộ đội Bùi Quang Thận cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập- đã cùng cha và mẹ mình viết nên một cuốn sách mới: 30/04/75 Sài gòn- Sự kiện & Đối thoại. Cuốn sách vừa ra mắt ngày 25/4 cung cấp cho độc giả, đặc biệt là các độc giả trẻ một cuốn sách ngắn gọn, đầy đủ và sinh động về sự kiện lịch sử trọng đại này của dân tộc theo lối đối thoại & kể chuyện kết hợp với những dòng hồi ức cô đọng của Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái kèm rất nhiều những bức ảnh có giá trị lịch sử.

Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái - nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (1963-64) là người cùng anh bộ đội Bùi Quang Thận cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập, cũng là MC bất đắc dĩ giới thiệu lời tuyên bố đầu hàng của vị Tổng thống cuối cùng Việt Nam Cộng hòa là Đại tướng Dương Văn Minh tại Đài phát thanh Sài Gòn và là người cùng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hát vang bài Nối vòng tay lớn vào trưa ngày 30/4/1975. Hiện nay, ông là nhân chứng lịch sử duy nhất còn sống của sự kiện này.

Vợ ông, bà Trần Tuyết Hoa, cũng là sinh viên phật tử đấu tranh cho hòa bình, là người đưa bài thơ của chị bạn Nhất Chi Mai- người đã tự thiêu cho hòa bình năm 1967- cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phổ nhạc thành bài hát Hãy sống giùm tôi. Bà là người được bạn bè và sinh viên cùng thời ngưỡng mộ và ưu ái đặt tên là Nữ vương hòa bình.

Bìa cuốn sách 30/04/75 Saigon- Sự kiện và Đối thoại
Bìa cuốn sách "30/04/75 Saigon- Sự kiện và Đối thoại"

30/04/75 Saigon – Sự kiện & Đối thoại gồm: Đối thoại giữa ông Nguyễn Hữu Thái và bà Trần Tuyết Hoa với hai con Nguyễn Hữu Thái Hòa và Nguyễn Hữu Thiên Nga về các sự kiện xảy ra trong ngày 30/04/1975.

Các hồi ức, câu chuyện của Nguyễn Hữu Thái về các nhân vật 30/4 mà tác giả được biết: Tướng Dương Văn Minh, Hòa thượng Thích Trí Quang, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Nguyễn Khoa Nam, chiến sĩ Bùi Văn Tùng, Bùi Quang Thận, Dân biểu Lý Quí Chung, Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Vấn đề về Hòa hợp hòa giải dân tộc, qua các nghiên cứu cho Quỹ nghiên cứu Joiner(Trung tâm William Joiner Nghiên cứu về Chiến tranh và Hậu quả Chiến tranh, Đại học Massachusetts Boston, Hoa Kỳ) mà các tác giả đã tham gia năm 2005.

Và sau cùng là ước mơ về một giải Nobel Hòa bình cho Việt Nam do thế hệ 7X Nguyễn Hữu Thái Hòa đề xuất.

Cuốn sách cũng được bổ sung phần Phụ lục nhằm giúp cho các bạn trẻ lớn lên sau chiến tranh thông hiểu được các sự kiện lịch sử nêu trên qua các phần Thuật ngữ, Tài liệu tham khảo, Ghi âm các buổi phát thanh và các Bản đồ (đô thành Sài Gòn thời 1970, sơ đồ Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4/1975).

Bìa cuốn sách 30/04/75 Saigon- Sự kiện và Đối thoại
Bức ảnh lịch sử về ngày 30/04/75: Quân đoàn 3 truy kích địch trong sân bay Tân Sơn Nhất (Ảnh: Đinh Quang Thành)

Về nguyên do ra đời của cuốn sách, một trong các tác giả, Nguyễn Hữu Thiên Nga thổ lộ: “Từ năm 2010 khi mới về lại Việt Nam và tình cờ cùng Ba tôi tham dự buổi kỷ niệm 35 năm ngày 30/04/75 tại Dinh Độc Lập, rồi qua những buổi gặp gỡ thân mật với các cựu chiến binh Mỹ, những email liên lạc qua lại trong nhiều năm với các chú, bác là những nhà báo, giáo sư nổi tiếng người nước ngoài đang ở khắp nơi trên thế giới, với những người bạn Mỹ phản chiến của Ba từ thời xa xưa, v.v… thì ngay trong tôi đã có ý định phải viết cuốn sách như thế này cùng với Ba.

Ngày ấy, thế hệ 7X của hai anh em chúng tôi thỉnh thoảng có nghe tiếng bom đạn đì đùng trong thành phố Sài Gòn …, nhưng lại còn quá nhỏ để hiểu “chiến tranh” là gì? Thế hệ chúng tôi đã được đi nhiều, nghe nhiều về chiến tranh Việt Nam từ hai phía, cũng đã được học từ những sách vở chính thống của trường Đại Học ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài. Nhưng sao những sách vở và tư liệu này lại cứ quá nặng nề và khô khan!

Sự kiện ngày 30/04/75 xảy ra ngay tại thành phố Sài Gòn là nơi tôi sinh ra và lớn lên, rồi câu chuyện lịch sử trọng đại này lại xảy ra ngay tại Dinh Độc Lập - nơi chỉ cách hai ngã tư là nhà bà ngoại mà cả đại gia đình tôi đang ở vào lúc đó.Vậy tại sao tôi phải đi kiếm tìm ở đâu xa xôi khi Ba và Má của tôi thì chính hai người đã là những nhân chứng lịch sử rất quan trọng của giai đoạn này.

Chính vì những lý do đó mà tôi quyết định là phải cho ra đời cuốn sách đã ấp ủ từ rất lâu này để cho độc giả trong nước cũng như bạn bè người nước ngoài ở khắp năm châu có cái nhìn trung thực và khách quan hơn. Và cũng là để đi tìm câu trả lời cho chính mình: “Tại sao?”Tôi ước là mình đã được đọc một cuốn sách như thế này từ rất nhiều năm trước, khi tôi còn trẻ.”

Hà Thanh


Truyền hình Mỹ đang nói gì về chiến tranh Việt Nam?

Mới đây, tờ New York Times (Mỹ) đã có bài viết với tiêu đề “Việt Nam là tâm điểm của các chương trình truyền hình tuần cuối tháng 4”. Những ngày này, truyền hình Mỹ đưa tin gì về chiến tranh Việt Nam?

Trong bài viết, New York Times đã giới thiệu một số chương trình đáng chú ý sẽ phát sóng trên màn ảnh nhỏ của Mỹ những ngày tới đây. Mỗi khi tháng 4 đến, đặc biệt vào những năm kỷ niệm chẵn như năm nay, báo chí Mỹ luôn dành sự quan tâm lớn cho chiến tranh Việt Nam.

Những chùm ảnh, những bài viết được các tờ báo lớn thực hiện với những góc nhìn chuyên sâu, nhiều chiều. Truyền hình Mỹ đương nhiên cũng “vào cuộc” đưa tin điểm nhấn trong tuần cuối tháng 4. Tuy vậy, một điều chắc chắn là không khí đưa tin trên tất cả các phương tiện truyền thông của Mỹ đều được thực hiện ở mức độ “cầm chừng”.

Người Sài Gòn xuống đường trong ngày vui chiến thắng.
Người Sài Gòn xuống đường trong ngày vui chiến thắng.

Những chương trình bàn luận về chiến tranh Việt Nam đã được thực hiện và chuẩn bị lên sóng. Dù những chương trình này không phát sóng “rầm rộ”, nhưng chắc chắn có xuất hiện trên màn ảnh nhỏ của Mỹ để người Mỹ thuộc mọi thế hệ không quên một trang sử “muốn quên” của chính họ.

Dịp này, truyền hình Mỹ phát lại bộ phim tài liệu “Last Days in Vietnam” (Những ngày cuối cùng ở Việt Nam - 2014) của nữ đạo diễn Rory Kennedy. Bộ phim đã được đề cử ở hạng mục Phim tài liệu xuất sắc nhất tại giải Oscar hồi đầu năm nay.

“Last Days in Vietnam” đã ra rạp ở Mỹ hồi năm ngoái. Bộ phim cho thấy lại hình ảnh những cuộc rút quân cuối cùng của lính Mỹ khỏi Sài Gòn trong những ngày cuối tháng 4/1975.

Đoàn Quân Giải phóng khẩn trương tiến về Sài Gòn, hoàn tất công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Lính Mỹ tháo chạy trong hoang mang, lo sợ, và hỗn loạn. Đó cũng chính là hình ảnh Sài Gòn trong những ngày cuối cùng trước khi được hoàn toàn giải phóng, cũng là tinh thần chủ đạo của bộ phim tài liệu.

Người Sài Gòn xuống đường trong ngày vui chiến thắng.
Những gì còn lại của lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng hòa trên một đường phố ở ngoại ô Sài Gòn. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)

Bộ phim sẽ cho thấy lại một cách chi tiết nhất tình trạng hỗn loạn, bát nháo quanh những chuyến bay về nước của lính Mỹ. Cây cối trong sân bãi của Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam khi đó đã phải chặt bớt để máy bay có thể hạ cánh.

Thêm vào đó là một nhiệm vụ cuối cùng dành cho một biệt đội lính thủy đánh bộ của Mỹ, họ đã đốt sạch 1 triệu đô la tiền mặt, hòng gây khó dễ về mặt kinh tế cho Quân Giải phóng khi tiến về giải phóng Sài Gòn.

“Trong những ngày điên cuồng đó, có vô số những quyết định sai lầm đã được đưa ra, sự hỗn loạn hiện hữu khắp nơi” - New York Times bình luận.

Còn New York Daily News thì cho rằng “24 giờ cuối cùng của chiến tranh Việt Nam không kém ngớ ngẩn chút nào so với tất cả những năm trước đó”.

Người Sài Gòn xuống đường trong ngày vui chiến thắng.
Cửa sau Đại sứ quán Mỹ (Sài Gòn) những ngày trước khi Quân Giải phóng tiến về hoàn tất công cuộc thống nhất nước nhà. (Ảnh: Jacques Teyssier)

Người Sài Gòn xuống đường trong ngày vui chiến thắng.
Trước đó, ngay tại nơi này, Đại sứ quán Mỹ đã tổ chức những buổi tiệc lớn ngoài trời. (Ảnh: Jacques Teyssier)

Đạo diễn của phim - cô Rory Kennedy là con gái út của thượng nghị sĩ Robert Kennedy - em trai của Tổng thống Mỹ John Kennedy. Rory ra đời 6 tháng sau khi bác ruột bị ám sát.

Nói về “Last Days in Vietnam”, Rory cho rằng: “Chiến tranh Việt Nam đã khép lại cách đây 40 năm, nhiều trường học ở Mỹ đã không còn dạy về cuộc chiến này nữa, nhưng chúng ta - những người Mỹ - cần phải nhớ về cuộc chiến này, bởi chúng ta cần phải học được những bài học từ đó… Tôi có thể nói rằng cách tốt nhất để tránh khỏi tình huống (như đã thấy trong phim) chính là đừng gây ra chiến tranh ngay từ đầu”.

Người Sài Gòn xuống đường trong ngày vui chiến thắng.
Những chuyến bay cuối cùng chở người Mỹ về nước trong những ngày cuối tháng 4/1975. (Ảnh: Dirck Halstead/Liaison)

Những chuyến bay đưa người Mỹ khẩn trương rời khỏi Việt Nam. (Ảnh: Dirck Halstead/Getty Images)
Những chuyến bay đưa người Mỹ khẩn trương rời khỏi Việt Nam. (Ảnh: Dirck Halstead/Getty Images)

Đài PBS - đơn vị sản xuất chương trình truyền hình cấp quốc gia được tín nhiệm hàng đầu ở Mỹ, dịp này cũng đã thực hiện một số chương trình, dù không đi sâu vào cuộc chiến, nhưng cũng đủ khiến người Mỹ nhớ về một câu chuyện lịch sử ê chề.

Dịp này, PBS đã sản xuất chương trình “Kent State: The Day the ‘60s Died” (Đại học Kent State: Cái chết của thập niên 1960), tưởng nhớ về 4 sinh viên ở trường Đại học Kent State, bang Ohio, đã bị giết hại trong khi tham gia biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam hồi tháng 5/1970.

Khi Tổng thống Richard Nixon quyết định mở rộng cuộc chiến, ngay lập tức những cuộc biểu tình phản đối đã nổ ra. Tại Đại học Kent State, biểu tình đã trở thành bạo lực, cảnh sát được gọi tới, và vào ngày 4/5, cảnh sát đã nổ súng.

Người dân Sài Gòn xuống phố chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)
Người dân Sài Gòn xuống phố chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)

Ngoài ra, PBS còn sản xuất “Dick Cavett’s Vietnam” (Việt Nam qua góc nhìn Dick Cavett) và “The Draft” (Chế độ quân dịch).

“The Draft” khai thác một thực trạng trong chế độ quân dịch đã diễn ra trong lịch sử Mỹ từ thời Nội chiến và vẫn còn tiếp tục diễn ra trong thời kỳ đầu của chiến tranh Việt Nam, phản ánh sự bất công trong xã hội Mỹ một thuở, khi người giàu có thể trả tiền để thuê người khác thay mình ra chiến trường.

“Dick Cavett’s Vietnam” với nội dung xoay quanh những clip được trích ra từ một chương trình talk show trên truyền hình, bàn về chiến tranh Việt Nam, do người dẫn chương trình Dick Cavett dẫn hồi tháng 6/1971.

Ở thời điểm này, những chính trị gia nổi tiếng của Mỹ vẫn còn rất “mạnh miệng” bàn luận công khai về chiến tranh Việt Nam trên sóng truyền hình. Những tranh luận đã thể hiện hai phe, hai tư tưởng, hai đường lối - chủ chiến và phản chiến. Những tranh cãi nảy lửa trên sóng truyền hình khi đó đã thu hút cả Tổng thống Mỹ và dư luận Mỹ.

Trước cuộc tranh luận công khai bộc lộ rõ sự đuối lý của phe chủ chiến, Tổng thống Mỹ Nixon trong một cuộc điện thoại với Tham mưu trưởng Nhà Trắng lúc bấy giờ đã phải thốt lên rằng: “Có cách nào để chúng ta có thể bắt vít tay Cavett này lại không? Tôi muốn như thế. Phải có cách nào đó chứ”.

Người dân Sài Gòn xuống phố chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)
Người dân phấn khích xuống đường hòa vào cùng đoàn quân Giải phóng. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)

Trên đây là một số chương trình điểm nhấn của truyền hình Mỹ trong những ngày này, ngoài ra còn có những bản tin, những chương trình bình luận khác…

Kết lại, xin mượn lời của nữ đạo diễn Rory Kennedy, rằng chiến tranh Việt Nam đã khép lại cách đây 40 năm, nhưng tất cả nhân loại vẫn cần phải nhớ về cuộc chiến này, bởi chúng ta cần phải học được những bài học từ đó, rằng cách tốt nhất để tránh khỏi sa lầy vì chiến tranh chính là đừng gây ra chiến tranh ngay từ đầu.


Bích Ngọc
Theo New York Times



Sự kiện lịch sử 30.4: Nhìn từ nhiều phía

Đọc hồi ký của các tướng tá Sài Gòn xuất bản ở nước ngoài:

Kỳ 1: Nguyễn Cao Kỳ một mình chống lại Ngô Đình Diệm?


Nguyen Cao Ky

Ảnh: Nguyễn Cao Kỳ

Câu chuyện của tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ sẽ mở đầu loạt bài Hồi ký tướng tá Sài Gòn xuất bản ở hải ngoại mà báo điện tử Một Thế Giới giới thiệu để đem đến cho độc giả những góc nhìn rõ hơn về bối cảnh lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ.
Loạt bài này được thực hiện bởi tác giả Mai Nguyễn, là bút danh khác của nhà báo, nhà khảo cứu Giao Hưởng. Ông cũng là tác giả của loạt bài "Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay"đang được nhiều độc giả quan tâm trên báo Một Thế Giới. 


Đối với anh em ông Diệm, 1.11.1963 là ngày kết thúc giấc mơ quyền lực kéo dài 9 năm. Nhưng với nhiều người khác, mới chỉ là thời khắc phôi phai những “mộng ban đầu”. Nguyễn Cao Kỳ chẳng hạn, thừa nhận: “Đối với tôi mọi việc bắt đầu từ ngày hôm ấy”!
Lẽ ra, “mọi việc bắt đầu” sớm hơn một ngày. Vì theo dự tính, đảo chính nổ ra vào 31.10.1963 nhưng tướng Dương Văn Minh quyết định hoãn lại 24 tiếng đồng hồ. Thay đổi giờ chót đó do sơ suất không báo kịp đến Nguyễn Cao Kỳ nên Kỳ vẫn “độc diễn” phần việc được giao: Ông ta tập hợp khoảng gần 200 binh lính và sĩ quan dưới quyền vào một nhà kho lớn chứa máy bay trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.
Theo kế hoạch, ông cầm chân họ tại lớp học tâm lý chiến mà mình chủ trì sao cho đến 1 giờ trưa để đợi tín hiệu là tiếng xe tăng tiến vào căn cứ quanh chỗ tập họp. Nhận tín hiệu, ông sẽ bất thần tuyên bố: “Đảo chính bắt đầu”, và phát lệnh hành động.
Nhưng, theo một VIP, K.K (sếp quân đội) kể lại, đến 1 giờ kém 5 phút, Kỳ “lắng tai nghe vẫn không thấy động tĩnh gì hết”; 1 giờ đúng: vẫn vậy!. VIP thuật: Năm phút sau “nghe tiếng động cơ hình như tiếng chiến xa vô (như tín hiệu đã báo), Kỳ lật đật xô ghế đứng dậy, chưa kịp tuyên bố thì một trung úy chạy vô cho biết đó là tiếng của một trực thăng Mỹ đang đáp” chứ chẳng phải xe tăng xe tiếc gì cả. May quá, Kỳ kịp ngậm miệng bước xuống, chưa hô “đảo chính” ai cả. Đợi thêm tới 1 giờ 30 trưa đó (31.10) đành giải tán, quay về gặp tướng Minh và trách: “Tại sao đình lại mà không cho biết, suýt một chút là chết hết cả đám!”. Ông Minh xin lỗi vì quên thông báo.
Thật là một cái quên chết người và rất “khó quên”!
Nguyen Cao Ky

Đúng 1 giờ 30 trưa hôm sau 1.11, không phải Nguyễn Cao Kỳ, mà Dương Văn Minh tuyên bố: “Đảo chính bắt đầu” và tước vũ khí các tướng tá phe Diệm. Lúc đó, Nguyễn Cao Kỳ đang…ăn trưa tại một nhà hàng Sài Gòn. Tài xế ông ta từ căn cứ phóng xe tới phanh rít trước cửa, chạy vào kêu: “Trung tá trở về căn cứ ngay. Có chuyện lạ đang xảy ra”. Lập tức, Kỳ vọt ra xe đích thân cầm lái phóng như bay về Tân Sơn Nhất. Đến cổng, Tham mưu trưởng không quân là đại tá M. chặn lại la lớn: “Trời! Có anh đây rồi! Đảo chính đã bắt đầu và chúng tôi muốn anh bắt đại tá Nguyễn Hữu Hiền!”.

Đại tá Hiền là tư lệnh không quân, vốn chơi thân với Ngô Đình Nhu. Kỳ chụp một cây súng tiểu liên, lái xe thằng đến văn phòng Bộ Tư lệnh Không quân, một mình gõ cửa bước vào. Đại tá Hiền dường như đoán trước việc phải xảy đến, ông ta ngồi yên trên bàn viết, Kỳ lễ phép: “Thưa đại tá tư lệnh, đại tá đã bị bắt giữ”.
Ông ta không mấy ngạc nhiên trước diễn biến bất lợi cho mình đó. Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ông Hiền là một phi công xuất sắc, và trong vòng mấy tháng tôi đã có thể vận dụng ảnh hưởng của tôi để tìm cho ông ta một việc làm ở hàng không Việt Nam. Không bao lâu, ông ta được giao cho lái một phản lực lớn, lãnh được nhiều tiền hơn hẳn số tiền mà chẳng bao giờ tôi hy vọng lãnh được với tư cách là tư lệnh không quân”.
Sau khi bắt giữ đại tá Hiền, lúc gần 3 giờ chiều, cuộc tiến công tuy “ít đổ máu nhưng tốc độ là điều sống còn” đó bị chận lại vì lực lượng trung thành phòng vệ Phủ Tổng thống chống trả quyết liệt.

Trần Thiện Khiêm điện khẩn bảo Nguyễn Cao Kỳ “hành động ngay”. Kỳ lệnh lấy vài chiếc máy bay và bay ngay bên trên dinh tổng thống ở cao độ thấp để gây khiếp sợ, rồi bắn một vài tên lửa xuống thành lớn của bộ phim đóng gần dinh: “Sau khi họ bắn chỉ có hai tên lửa: quân giữ thành của Diệm đầu hàng. Đối với tôi đó là một giây phút lịch sử không phải chỉ vì đã làm thay đổi được cán cân trong việc lật đổ chế độ Diệm mà lần đầu tiên, với cương vị một người không quân, tôi còn thí nghiệm được giá trị của sức mạnh không quân khi được sử dụng để yểm trợ bộ binh khi gặp khó khăn. Tôi quả quyết rằng nếu tôi không ra lệnh hai chiếc máy bay nhỏ đó cất cánh thì cuộc đảo chính đã thất bại”. (Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào? – Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ) *. Mười ngày sau, bước xuống máy bay sau một chuyến đi dự lễ bên ngoài Sài Gòn, tướng Minh bảo: “Kỳ à, tôi đã quyết định bổ nhiệm anh làm tư lệnh không quân”.

Sang năm 1964, Kỳ tiếp tục thăng tiến trong bối cảnh Mỹ muốn dùng “nhóm tướng trẻ” như Kỳ để mở rộng chiến tranh. Tháng 4 năm đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara đến Việt Nam cao hứng hô khẩu hiệu: “Việt Nam muôn năm” bằng tiếng Việt, sau đó tăng viện trợ quân sự lên 50 triệu đôla để Sài Gòn bắt thêm 50.000 thanh niên vào lính, huấn luyện và tung 7.500 cán bộ “dày xéo nông thôn”, tăng cường hải lục không quân và kho bãi hậu cần, quân tiếp vụ.
Đầu năm 1965, Kỳ đã được phong tướng, làm ủy viên ngoại giao của thường vụ Hội đồng Quân lực Sài Gòn, tán thành sự kiện Mỹ đưa lực lượng thủy quân lục chiến đầu tiên tới Đà Nẵng tham chiến và ném bom miền Bắc. Sau khi đích thân lên máy bay chào từ biệt Nguyễn Khánh trong ngày Khánh ra nước ngoài, Kỳ và “nhóm tướng trẻ” nắm lấy quyền bính, loại thằng cò các “tướng già”, muốn độc quyền đứng dưới bóng tòa đại sứ Mỹ.
Đến giữa năm 1965, sau một loạt các biến động, chính phủ do ông Phan Huy Quát làm thủ tướng lung lay, dẫn đến cuộc họp triệu tập vội vàng đêm 12.6 với sự có mặt của quốc trưởng Phan Khắc Sửu mà Nguyễn Cao Kỳ ghi lại qua những dòng không mấy văn vẻ, đôi chỗ giọng điệu hơi xấc:
Sửu có mặt tại phiên họp – với phần xác chứ không phải phần hồn, bởi vì không có một ai có thể bàn luận nghiêm chỉnh với ông già này về bất cứ một vấn đề gì được. Sửu luôn luôn nói lải nhải, giảng thuyết không mạch lạc về nguyên tắc thượng tôn pháp luật và cách xử sự khi làm chính trị. Rốt cuộc bất thình lình, Quát đập mạnh xuống bàn và không có một lời mở đầu nào cả, đã nói một cách cộc cằn: Tôi xin từ chức. Vì hội đồng quân lực đã chỉ định tôi làm thủ tướng, hôm nay tôi xin giao trả quyền hành thủ tướng lại cho hội đồng quân lực”.

Như vậy, sau các “tướng già” bị loại, đến lượt các “chính khách già” tự phủ nhận đứng bên lề chính trường. Kỳ (và Thiệu) mau chân nhảy lên “bàn tiệc quốc gia” sau đêm đó.

Tìm Thủ tướng mới, Thiệu bảo: “Để cho thằng Kỳ làm!”

Cuộc họp trên kéo dài từ 8 giờ tối đến 12 giờ rưỡi khuya tạm ngưng. Sáng hôm sau, họp tiếp tại tổng hành dinh Bộ Tư lệnh Thủy quân lục chiến để cử thủ tướng mới thay ông Quát. Có 50 thành viên cấp cao của Hội đồng Quân lực và “nội các rệu rã” ngồi hai ngày một đêm để chỉ định người vào chức vị ấy.
Nguyễn Văn Thiệu bấy giờ là trung tướng được ông Kỳ đề cử. Nhưng Thiệu từ chối và đề cử “ngược lại” Kỳ. Kỳ lúc đầu đẩy đưa qua Nguyễn Chánh Thi kèm theo lời “bình loạn” công khai trước mặt Thi: - Xét cho cùng, hình như thiếu tướng là người có đủ điều kiện để lãnh đạo. Thiếu tướng có ý thích chính trị nhiều hơn hầu hết các tướng lĩnh  khác và thiếu tướng khoái được nổi tiếng!
Nghe xong Nguyễn Chánh Thi nổi quạu, không chỉ từ chối một lần mà đến cả chục lần đây đẩy: “Không! Không! Không!” trong suốt hai ngày “nghị sự”. Cuộc họp “nghỉ ăn trưa với bánh “xăng-quych” và uống bia với nước ngọt Hoa Kỳ và khi chúng tôi nhóm lại, tôi đã đề cử tướng Có”. Ông Kỳ kể như vậy và tiếp “Có cũng từ chối”, mệt lả, cả hội trường tạm đình phiên họp vào 10 giờ đêm, ngủ và ăn cơm tối tại chỗ.
Sáng sau nữa, “bầu” tiếp chưa xong, nghỉ uống cà phê, bất ngờ Thiệu bước về phía Nguyễn Cao Kỳ nói thẳng: “Kỳ, tại sao anh không nhận làm thủ tướng?”. Rồi vào họp, theo hồi ký của ông Kỳ, Thiệu nói với giọng van nài:

-Yêu cầu anh Kỳ đứng ra thành lập chính phủ!

Nhưng sau lưng Kỳ, ông Thiệu kêu Kỳ bằng “thằng”, đã khoèo Nguyễn Chánh Thi ra đứng riêng (như hồi ký của Thi kể) mà thì thầm vào tai:

-Để cho thằng Kỳ làm đi!

Đến khi Nguyễn Cao Kỳ nhận lời làm “thủ tướng” được một tháng (bấy giờ Thiệu lên làm quốc trưởng) bèn bảo Kỳ:

-Chúng ta phải tổ chức một buổi lễ liên hoan.

Kỳ có hơi “ngớ người” hỏi lý do vì sao mở tiệc? Thiệu bảo: “Thì chính phủ của anh đã tồn tại được một tháng rồi!”. Câu ấy hàm ý là “cái chính phủ” của Kỳ lẽ ra phải bị ngã đổ một, hai tuần sau khi ra mắt kia chứ. Tồn tại một tháng là “kỳ tích” đáng liên hoan rồi! Mặc kệ Thiệu mỉa mai, nhân đó hàng tháng Kỳ cùng các đồng sự mở tiệc!

Cuộc họp trên có thể xem là một trong các điển hình về sinh hoạt chính trị bát nháo trên sân khấu Sài Gòn tả-pí-lù thời đó. Mà “Thủ tướng” Kỳ, vốn người trong cuộc, đã phải thốt lên là “đáng buồn cười”. Không lâu sau, với sự hỗ trợ của Mỹ, thế lực phe Kỳ nhanh chóng át hẳn Thiệu từ hội nghị Honolulu. Nhưng rồi Thiệu quật lại vào cuối năm 1967 lên làm “tổng thống”, đẩy Kỳ xuống hàng “phó”. Đầu những năm 1970. Kỳ thất thế hẳn so với Thiệu, tạm lui vào vòng tay người đẹp Đặng Tuyết Mai lúc ấy đã thành vợ mình và bắt đầu sống với những hồi ức. Trong đó tiệc cưới Kỳ - Mai có tiếng nổ đôm đốp của 7.800 chai sâm – banh mở đầu những ngày  “mộng dưới hoa” ? Thử giở lại hồi ký những trang đầu Kỳ chép…(còn nữa)
Mai Nguyễn  
(*)Trích theo bản của TTXVN

Kỳ 2: Cao Kỳ - Tuyết Mai: Một thời để yêu và một thời… đảo chính!


Nguyen Cao Ky - Dang Tuyet Mai

Nguyễn Cao Kỳ - Đặng Tuyết Mai

Trên chuyến máy bay sang Thái Lan vào năm 1964, Nguyễn Cao Kỳ bị hớp hồn bởi “một sắc đẹp cổ kính nhất” của cô tiếp viên hàng không Đặng Tuyết Mai 20 tuổi mà ông ta “chưa thấy bao giờ”. 

Xuống phi trường Băng-cốc, Kỳ tìm cách mời cho được Mai dùng cơm với mình chiều hôm đó và” qua sáng hôm sau biết được nàng sẽ rời Băng-cốc sớm trong chuyến bay trở về Việt Nam, tôi cảm thấy là phải đến chào từ giã nàng. Nhưng thông thường đàn ông không đường đột vào phòng ngủ đàn bà lúc 6 giờ sáng. Tuy nhiên tôi cũng đã tìm ra được cách để vào phòng nàng.
Mặc xong bộ quân phục thiếu tướng không quân màu trắng có hồ bột cứng sẵn sàng để đi dự cuộc diễu hành chính thức, tôi kín đáo đứng chờ người phục dịch khách sạn mang điểm tâm lên phòng nàng và tôi dúi cho người này mấy đồng bạc (do người phục dịch “nhường” lại) đến gõ nhè nhẹ cửa phòng của Mai. Nàng đang đứng nhìn ra ngoài cửa sổ và gần như không ngó đến tôi khi nàng bảo để mâm điểm tâm xuống bàn…”.
Kỳ kể về lần đầu gặp Mai như vậy. Đến tháng 9-1, khi Mai đã trở thành cô vợ sắp cưới của mình, lần đầu tiên Kỳ lái xe chở Mai đi chơi ra khỏi Sài gòn vào sáng chủ nhật ngày 13. Nơi họ muốn đến thăm là sân bay Biên Hòa và vùng phụ cận nằm cách 35 dặm phía Bắc. Trên đường, viên sĩ quan cận vệ lưu ý về số đông binh lính đang di chuyển khác thường theo hướng ngược lại họ, nhưng Kỳ không để tâm lắm vì mải trò chuyện với Mai. Tới Biên Hòa, Kỳ biết chắc cuộc chuyển quân nói trên nằm trong âm mưu đảo chính mới của viên tướng tư lệnh vùng sông Cửu Long và Dương Văn Đức.
Dương Văn Đức làm đại sứ tại Séoul thời ông Diệm và đã yêu một cô gái Đức làm việc trong sứ quán Tây Đức ở Hàn Quốc hồi đó. Mặc dầu ông Diệm tỏ ý không bằng lòng nhưng Đức vẫn cưới người mình yêu và bị cách chức, đưa qua Mỹ học.
Về sau, ông Đức ở Pháp hoạt động chống Diệm, thường uống rượu say, sống túng thiếu, sau ngày 1.11.1963 được trở về Việt Nam. Nay thì ông Đức quay sang chống lại sự kềm siết của Nguyễn Khánh và đang kéo quân uy hiếp Sài Gòn, trong lúc Khánh vừa bay lên Đà Lạt, còn Kỳ đi chơi với người đẹp Tuyết Mai ở Biên Hòa.
Rõ ràng Đức đang nắm ưu thế ngay giờ đầu của mưu toan lật đổ, và nếu căn cứ không quân rơi vào tay Đức, lực lượng đảo chính sẽ có thêm phương tiện để có thể hành động phiêu lưu và nguy hiểm. Do vậy Kỳ phải lập tức quay về Tân Sơn Nhất trước khi quân của Dương Văn Đức tràn đến. Không thể để Mai ở lại Biên Hòa một mình, Kỳ điện Bộ Tư Lệnh cấp tốc đưa trực thăng đến đón hai người. Cuộc du ngoạn ngắn ngủi bằng đường bộ chuyện sang chuyến bay chiến thuật song song với cuộc tiến quân đang diễn ra dưới đất.
Rất nhanh, khi trực thăng đưa Kỳ và Mai đáp xuống “ngôi nhà có giàn hoa tím” của họ tại Tân Sơn Nhất, Sư đoàn bộ của tướng Dương Văn Đức với xe tăng yểm trợ đã kiểm soát gần hết Sài Gòn, kể cả Bộ Tổng tham mưu và Đài phát thanh. Qua làn sóng điện, tướng Lâm Văn Phát lên tiếng mạt sát Nguyễn Khánh thậm tệ.
Từ Đà Lạt, Khánh nghe được giọng hậm hực của Phát đã tái mặt bảo Trần Văn Đôn và Trần Thiện Khiêm (lúc đó giữ chức Tổng tư lệnh quân đội, cũng đang có mặt ở cao nguyên và bỏ trống Sài Gòn):

-Nếu thằng Kỳ mà theo bọn ấy, nó sẽ cho phi cơ dội bom tụi mình ở đây…

Nên gia đình Khánh và Khiêm dời chỗ ở đi nơi khác và cho đặt súng phòng không ở Dinh số 2. Nhưng họ quá lo xa, vì Kỳ vốn không ưa Lâm Văn Phát, nay nghe Phát lên đài phát thanh với “nhiều lời tuyên bố mà tôi (Nguyễn Cao Kỳ) chẳng thích. Mục đích được ông ta đưa ra là nhằm phục hồi lại triết thuyết của Diệm (?)”. Không ăn cánh với Phát nhưng lại có quan hệ không căng thẳng mấy với tướng Đức, nên Kỳ gọi điện nhắn Dương Văn Đức là “nên quay trở về”.

Nhưng Đức vẫn tiến quân, đưa xe tăng áp sát căn cứ không quân Tân Sơn Nhất và đến gần vị trí Bộ Tư lệnh của Kỳ chập tối ngày hôm đó. Để dễ “nhận mặt nhau”, hỏa châu được bắn sáng cả bầu trời và Kỳ đích thân ra khỏi vành đai phòng thủ gặp người chỉ huy các toán xe tăng.
Giữa hai binh chủng không quân và thiết giáp trong quá khứ vẫn chưa có gì hiềm khích nhau nên việc dàn xếp để tránh đụng độ khá thuận lợi. Ra về, Kỳ nhắn nhe: “Nếu các anh cho xe tăng tiến lên một bước nữa là tôi sẽ cho ném bom”. Đêm đó, xe tăng án binh bất động.
Sáng ra Kỳ điện cho Dương Văn Đức: “Đã đến lúc trung tướng nên từ bỏ ý định… Đây là lời nói sau cùng của tôi. Nếu trung tướng không rút lui, tôi sẽ ném bom, xuống bộ chỉ huy của trung tướng”. Xét nhiều yếu tố bất lợi, trong đó có sự bất hợp tác của lực lượng không quân nên Dương Văn Đức bỏ cuộc. Sau lần ấy, theo lời Kỳ, ông ta nổi bật lên như “một lãnh tụ không chính thức của nhóm sĩ quan trẻ” mà Kỳ ưa nhắc đến trong hồi ký với tên gọi “nhóm tướng trẻ”.
Quà cưới: Chiếc Ford Facon lộng lẫy và bộ đồ trà chân quê
Nguyen Cao Ky - Dang Tuyet Mai
 Nguyễn Cao Kỳ - Đặng Tuyết Mai thuở mặn nồng
Vài tháng sau cuộc đảo chính trên, Kỳ và Mai gửi thiệp hồng đến hàng ngàn quan khách gồm toàn bộ nhân viên chính phủ, tư lệnh và chỉ huy trưởng các đơn vị hải, lục, không quân, ngoại giao đoàn, cùng nhân vật cao cấp Việt – Mỹ có thế lực tại Sài Gòn mời dự đám cưới.
Khánh lúc ấy với tư cách là “sếp bự” và là bạn cố tri của Kỳ đã tặng vợ chồng Kỳ món quà lộng lẫy là chiếc xe Ford Falcon mà Khánh đang đi. Đó là chiếc xe hơi đầu tiên Kỳ được làm chủ trong đời. Trước đó Kỳ chỉ luôn lái chiếc xe jeep của quân đội cấp cho.
Kỳ viết: “Hương (Trần Văn Hương), lúc bấy giờ còn là thủ tướng đã gửi đến chúng tôi một món quà mừng đám cưới sang trọng là 200.000 đồng, số tiền này đã hết sức tiện lợi cho tôi để trang trải phí tổn tiệc cưới tại nhà hàng Caravelle mà “ai ai” cũng đều được mời dự”.
Theo lời kể của dân Sài Gòn và báo chí thời đó, đêm cử hành hôn lễ của Kỳ - Mai tại khách sạn Caravelle “quả là một đại dạ hội tưng bừng hiếm có giữa Sài Gòn xáo trộn, báo hiệu cái thế giá đang lên của một nhân vật gặp thời”. Kỳ và Mai, một  bên là tư lệnh không quân, một bên là nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp, họ đã thật sự “bay lên mây” theo nghĩa bóng  lẫn nghĩa đen, và làm đám cưới vào độ đậm đà nhất của cuộc tình.
Người Mỹ đang cần đến “ lãnh tụ nhóm tướng trẻ” để ủng hộ việc tăng 180.000 quân Mỹ ở VN năm đó. Chính khách Sài Gòn cần có chỗ dựa để khỏi lạnh gáy giữa thời buổi “đảo chính xảy ra như cơm bữa”. Nên quà cưới của hai phía Mỹ - Việt gửi đến họ khá hào phóng, đắt tiền; trừ một món quà chân quê, đó là bộ đồ trà đơn sơ nằm cứ như một dấu chấm than trêu ngươi giữa các tặng vật hào nhoáng. Kỳ có hơi chột dạ chưa dám giới thiệu với Mai chủ nhân vắng mặt của món quà đó: thiếu tướng Đỗ Mậu.
Đỗ Mậu viết:” Mùa xuân năm 1965, thiếu tướng tư lệnh không quân Nguyễn Cao Kỳ làm lễ thành hôn với người đẹp nữ tiếp viên phi hành Đặng Tuyết  Mai. Đám cưới Kỳ - Mai là một trong những đám cưới linh đình nhất Việt Nam từ mấy chục năm qua, chỉ thua đám cưới ông Trần Trung Dung, cháu rể của Tổng Thống Diệm (trước kia), và dĩ nhiên phải thua đám cưới ái nữ Tổng Thống Thiệu và con trai ông Nguyễn Tấn Trung (sau này)”.
Ngoài đại tiệc ở Caravelle, một đại tiệc khác dành riêng cho hai họ và bà con thân thuộc được mở tại Chợ Lớn. Lễ tơ hồng:” tân lang trong chiếc áo dạ hội màu đỏ đã tặng giai nhân chiếc nhẫn to bằng đầu ngón tay”! Đây là cuộc hôn nhân lần thứ hai của Kỳ; ông viết:” Cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi với một phụ nữ Pháp – và chúng tôi đã có 5 đứa con với nhau – đã kết thúc bằng ly thân và tiếp đó chúng tôi đã ly dị”.
Đời vợ trước của Kỳ, theo lời tướng Đỗ Mậu, không được hanh thông dư dả lắm. Hàng năm cứ vào mùng một Tết, Kỳ thường dẫn vợ con đến nhà Đỗ Mậu mừng tuổi và lạy bàn thờ gia tiên vì xem Đỗ Mậu” như người anh trưởng của gia đình Kỳ’. Đến cuộc hôn nhân với Mai, Kỳ đích thân đến nhà mời vợ chồng  Đỗ Mậu dự tiệc, nhưng ông Mậu đã quá “chán chường không muốn chen lấn vào những nơi tụ họp đông đảo của hạng người trưởng giả nữa” nên không dự đại tiệc của Kỳ ở Caravelle. Có lẽ vì vậy đã dẫn đến thái độ cao ngạo đáp trả của Kỳ đối với Đỗ Mậu khi Kỳ lên làm thủ tướng vào khoảng nửa năm sau ngày cưới Mai. Chuyện như sau:

Kỳ phái viên thiếu tá chánh văn phòng của mình mời Đỗ Mậu đến dinh thủ tướng, đợi hơn một tiếng đồng hồ mới tới. Tới rồi, Kỳ đi thẳng vào phòng làm việc bắt Đỗ Mậu chờ thêm một tiếng nữa rồi mới ra tiếp. Sau hai giờ chờ chực, tưởng Kỳ nói chuyện chi quan trọng lắm, ai dè chỉ buông một câu trống không: “Lâu ngày không gặp nên tôi chỉ mời thiếu tướng vào thăm thế thôi”. Đỗ Mẫu “cám ơn” rồi ra về, buồn bực vì cuộc gặp mặt lãng nhách đó. Chắc Kỳ không mời đến để “thăm” vì thâm tình, bởi nếu vậy Kỳ đã tìm đến nhà riêng tướng Mậu, người mà Kỳ từng tôn xưng là “đàn anh” trước kia.

Đỗ Mậu chẳng buồn vì cách đối xử quá “hỗn” của Kỳ làm chi, mà nhớ đến “lá số tử vi” của một nhân vật “khắc tinh” của Kỳ và đang có mặt bên cạnh Kỳ là Nguyễn Văn Thiệu. Hồi ký Đỗ Mậu viết: “Thiệu có đến 4 chữ Tý: Tuổi Giáp Tý 1924, sinh vào giờ Tý (nửa đêm), tháng Tý (11 âm lịch) và cung Mệnh viên cũng nằm ở Tý”.

Dựa vào “lá số” đó, trước kia Đỗ Mậu xui Thiệu “làm cách mệnh” chống lại chế độ Diệm. Thiệu hoảng sợ năn nỉ Đỗ Mậu là “ông Cụ” (tức  Ngô Đình Diệm) cũng tin tử vi lắm, đừng nói với “ông cụ” về lá số quá tốt của Thiệu, sợ “cụ” nghi kỵ:

-Ông cụ biết được ông sẽ chặt đầu cả hai đứa mình!

( Còn nữa….)

Mai Nguyễn





Kỳ 1: Công bố hồ sơ mật của chính quyền Sài Gòn


ho so mat cua chinh quyen sai gon

Quân Giải phóng đánh chiếm dinh tỉnh trưởng tỉnh Ninh Thuận ở Phan Rang và bắt sống đại tá tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tư lúc 9g30 ngày 16.4.1975


Cùng bạn đọc! Qua loạt bài này, chúng tôi hy vọng với những trích dẫn từ các tài liệu của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam (Hà Nội), của Phủ Tổng thống và Phủ Thủ tướng VN Cộng hòa (Sài Gòn), của cơ quan tình báo CIA (Mỹ) và tình báo Hoa Nam (Trung Quốc) sẽ cung cấp thêm đến bạn đọc thông tin từ nhiều phía về diễn tiến sôi động của cuộc chiến tranh VN dẫn đến sự kiện lịch sử 30.4.1975…


 

Gần 40 năm sau ngày 30.4, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. HCM) thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ) lần đầu tiên cho công bố hồ sơ mật và tối mật của chính quyền Sài Gòn qua một số ấn phẩm, trong đó có hai cuốn:

1. “Về đại thắng mùa xuân năm 1975 - qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2010), do GSTS Phùng Hữu Phú, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, làm Trưởng ban chỉ đạo biên soạn (1). Lời tựa viết:

Thu thập và bảo vệ toàn bộ tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn thời kỳ trước năm 1975, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước - Bộ Nội vụ muốn chia sẻ một phần "bí mật" về động thái của giới cầm quyền Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong cơn tuyệt vọng khởi từ hiệp định hòa bình tháng giêng năm 1973 cho đến trưa ngày cuối cùng của tháng Tư hai năm sau đó (...) với nhiều tư liệu lần đầu tiên được công bố” (PGS. TS.Hồ Sơn Đài).

2“Từ chiến dịch xuân hè 1972 đến Điện Biên Phủ trên không” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2013), do TS. Vũ Thị Minh Hương - Cục trưởng Cục văn thư và Lưu trữ nhà nước chỉ đạo công bố (2).

Cả hai cuốn gộp lại dày trên 760 trang, khổ 16 x 24cm, với nhiều tài liệu có đóng dấu “Mật” hoặc “Tối mật” như hồ sơ số 568 - Font ĐIICH (3), “Thượng khẩn” hoặc “Hỏa tốc” (hồ sơ số 241 - Font ĐIICH), cả bản thảo phát biểu viết tay có chữ ký của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (hồ sơ số 572 - Font ĐIICH) - được thâu giữ từ Phủ Tổng thống (dinh Độc Lập) và các cơ quan nội chính, tình báo và an ninh quân đội…

Hồ sơ số 18620 - font PTTg (4) của Bộ tư lệnh Biệt khu Thủ đô (Sài Gòn) có đóng dấu "Kín" và "Thượng khẩn" (thảo ngày 14 và 15.4.1975) ghi nhận tình trạng xáo trộn trong quân đội Sài Gòn vào những tuần cuối của cuộc chiến: "Một số quân nhân thuộc các đơn vị phòng thủ hay đồn trú tại địa phương đã xin phép hoặc trốn về thu xếp di tản gia đình và đã không trở lại đơn vị, hoặc vì lưu thông gián đoạn, hay vì gia đình cầm giữ. Một số quân nhân khác vẫn để gia đình tại chỗ - khi cuộc tấn công xảy ra số quân nhân này đã bỏ để về lo bảo bọc gia đình. Các sự kiện trên đưa đến tình trạng tan rã ...".

Văn bản đó do trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, kiêm Tổng trấn Sài Gòn - Gia Định ký, huấn thị rõ về triển khai gấp rút hệ thống “tử thủ” Sài Gòn với 5 liên khu và các bộ chỉ huy chiến thuật “mỗi bộ chỉ huy do một đại tá làm chỉ huy trưởng với các thành phần tham mưu chuyên trách về hành quân”. Đồng lúc, biện pháp “quân sự hóa 335 khóm hiện hữu tại đô thành được thực hiện với quân số của Bộ Tổng tham mưu cung cấp”. Phân tích thêm: "Hiện trạng dân số đông đảo, hỗn tạp của Đô thành (Sài Gòn) đã gây trở ngại trong việc kiểm soát an ninh, thêm vào đó, đồng bào từ các vùng chiến nạn tản cư đến, cùng với những quân nhân lạc ngũ, vô kỷ luật từ các đơn vị trốn về Thủ đô (Sài Gòn) đã tạo thêm môi trường cho cộng sản xâm lược (chỉ Quân Giải phóng) lợi dụng để xâm nhập đặc công, cán bộ vào Đô thành" - gởi Phủ Tổng thống, Phủ Thủ tướng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu cùng các đơn vị trực thuộc ngày 17.4.1975.

Vào thời điểm trên, theo hồi ức của đại tướng Võ Nguyên Giáp: ông Lê Đức Thọ đã từ Hà Nội vào Nam công bố Quyết định ngày 6.4.1975 của Bộ Chính trị về thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch Sài Gòn - Gia Định (chiến dịch Hồ Chí Minh), gồm: Văn Tiến Dũng (Tư lệnh), Phạm Hùng (Chính ủy), Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện (Phó tư lệnh), Lê Quang Hòa (Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị), Lê Ngọc Hiền (Quyền Tham mưu trưởng, chuyên trách tác chiến), Nguyễn Văn Linh (Phó Bí thư Trung ương Cục, đặc trách phong trào nổi dậy của quần chúng, nhất là Sài Gòn), Võ Văn Kiệt (Ủy viên thường trực Trung ương Cục, chỉ đạo việc tiếp quản thành phố). Đúng 10 ngày sau (16.4.1975), Quân Giải phóng đánh chiếm Phan Rang, bắt sống đại tá tỉnh trưởng tỉnh Ninh Thuận Nguyễn Văn Tư (lúc 9 giờ 30), bắt chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang - Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân và trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phó tư lệnh Quân đoàn 3 (lúc 10 giờ), cùng hàng nghìn sĩ quan binh lính Sài Gòn. Ngay sau đó Bộ Tổng tham mưu lệnh đưa tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang từ Phan Rang ra Hà Nội bằng máy bay gấp. Ra đó, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi được đưa vào gặp các sĩ quan Cục tác chiến để trả lời một số câu hỏi.

Về hướng hiểm yếu để tiến công Sài Gòn, tướng Nghi nhận định “tiến công từ Gò Dầu hạ - Trảng Bàng” là dễ chiếm thế thượng phong nhất (5). Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cũng nắm được phương thức bố trí “các kho đạn chính ở Nhà Bè và Cát Lái (Long Bình chỉ là kho tiếp liệu)” và Sài Gòn “dựa chủ yếu vào lực lượng không quân, nên các sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa và Cần Thơ giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là sân bay Biên Hòa, nơi đậu các máy bay cường kích F5 và A37” (Võ Nguyên Giáp, sđd). Được hỏi lý do thất bại nhanh chóng của quân đội Sài Gòn tại mặt trận miền Trung và Phan Rang, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi nói thẳng:

Chúng tôi thiếu tiếp liệu và thiếu thời gian. Nếu các ông đánh chậm một tháng nữa thì chưa biết sẽ ra sao ! (còn nữa).

Giao Hưởng

Chú thích:

(1) Ban chỉ đạo biên soạn: TS Nguyễn Duy Hùng, Giám đốc - Tổng biên tập và TS. Khuất Duy Kim Hải, Phó giám đốc - Phó Tổng biên tập NXB Chính trị Quốc gia, TS. Vũ Thị Minh Hương, Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước thuộc Bộ Nội vụ, Ô. Phạm Việt, Trưởng ban Sách Nhà nước và Pháp luật (NXB Chính trị Quốc gia) và Ô. Nguyễn Xuân Hoài, Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (sau đây viết tắt: Trung tâm).

Cố vấn khoa học: PGS. TS. Hồ Sơn Đài (đại tá - Trưởng phòng khoa học Công nghệ - Môi trường, Bộ Tham mưu - Quân khu 7) và PGS. TS. Hà Minh Hồng - Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh.

(2) Chỉ đạo biên soạn: TS. Nguyễn Xuân Hoài - Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia II. Ban biên soạn: TS. Phạm Thị Huệ, Hà Kim Phương, Nguyễn Thị Vui, Lê Vị.

(3) Font ĐIICH (Phông Đệ nhị Cộng hòa - Sài Gòn). Tất cả số ký hiệu của hồ sơ dẫn trong loạt bài này theo đúng với số ký hiệu ghi trên tài liệu hiện lưu trữ tại Trung tâm.

(4)  Font PTTg (Phông Phủ Thủ tướng - Sài Gòn).

(5) Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - 30.4.1975 Bản hùng ca thế kỷ 20, NXB Lao Động, Hà Nội 2006, tr. 227.  



Kỳ 3 - Ông thầy tướng số “bí ẩn” sau lưng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ


Nguyen Van Thieu, Nguyen Cao Ky, Sai Gon, so tu vi

Tướng Nguyễn Cao Kỳ, ảnh chụp năm 1965

Nguyễn Văn Thiệu lâng lâng nghe Đỗ Mậu giải đoán về “lá số tử vi đại quý” của mình với một loạt chữ Tỵ. Đỗ Mậu dựa vào đó để “cổ vũ” Thiệu theo hướng có lợi cho cuộc vận động các sĩ quan chống Diệm. Mớm cho Thiệu phải “hành động quân sự” mới ứng hợp với bước đường thăng tiến mà “lá số” cho thấy.


Nguyễn Văn Thiệu ra về, không bao lâu sau, cũng chính Đỗ Mậu, với tư cách Giám đốc Nha an ninh quân đội, gọi điện thoại bắt Thiệu phải đến trình diện mình gấp. Vội vã và lo lắng, Thiệu rời Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 do mình nắm giữ, về ngay Nha an ninh quân đội vài giờ sau đó.
Lần này, Đỗ Mậu không mở đầu bằng những lời tiên đoán tốt đẹp  như trước đây, mà dọa “bắt giam” Thiệu vì tội “âm mưu lật đổ tổng thống” Diệm! Nghe vậy Thiệu thất sắc, chưa biết phải nói năng ra sao, Ông Mậu vội trấn an ngay, bảo mình giả vờ thôi, và bàn vào chuyện…lật đổ Diệm thật!
Vậy là “ông thầy bói” thành “ngài đại tá” vận động làm binh biến và trong đảo chính 1.11.1963 chính Nguyễn Văn Thiệu cầm quân trực tiếp đánh vào thành Cộng hòa và dinh Gia Long, được thăng từ đại tá lên thiếu tướng.
Theo những người thân cận dinh độc lập thì phần việc tham gia đảo chính trên của ông Thiệu do tướng Dương Văn Minh giao.Thăng đến trung tướng. Thiệu chuyển sang vai “quốc trưởng” (Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia). Năm 1964-1965, Nguyễn Văn Thiệu cùng “nhóm tướng trẻ” đưa “ông thầy bói” Đỗ Mậu ra khỏi Sài Gòn quản thúc. Nguyễn Cao Kỳ cũng vậy, trước được Đỗ Mậu dẫn đi coi bói bởi một “ông thầy” khác để biết chuyện tương lai, sau lên làm “thủ tướng” đã góp tay đẩy ông Mậu về vườn.
Chuyện như sau: Theo Đỗ Mậu, ông và Nguyễn Cao Kỳ có liên hệ “thắm thiết” như anh em, chí lí tình nghĩa đến cả chia nhau chút ruốc mắm, lọn nem, đòn chả, củ hành, dưa kiệu, nhét túi cho Kỳ đôi đồng uống bia là thường. Ngày mẹ mất, Kỳ thống thiết thưa với đàn anh: -“ Buổi sinh tiền, mẹ tôi ngỏ ý muốn khi mất sẽ được chôn cất ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi mà tôi thì quá túng thiếu không làm sao báo hiếu được, vậy nhờ đại tá giúp đỡ đàn em”. (Đỗ Mậu).
Nguyen Van Thieu, Nguyen Cao Ky, Sai Gon, so tu vi
 Ảnh tư liệu: Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ (từ trái qua)
Cám cảnh Kỳ nghèo mà có hiếu, Đỗ Mậu bỏ tiền “mua biếu tặng bà cụ đám đất trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi”, giúp Kỳ chôn cất mẹ như ý nguyện. Kỳ dính líu tới nhóm sĩ quan nhảy dù mưu lật đổ Ngô Đình Diệm vào năm 1960; lại buôn lậu hàng hóa rẻ từ Singapore về bị quan thuế bắt; Đỗ Mậu bảo mình đều đứng ra che chở “đàn em”.
Đến ngày vận động lật đổ chế độ Diệm, tuy thân thiết như vậy, Đỗ Mậu vẫn thi triển bài bản có lớp lang chu đáo. Đầu tiên, gọi Kỳ đến, mở miệng là dọa “bắt” (như với Thiệu). Nhưng sau hạ giọng mát mẻ mời “tham gia đại sự”, làm như bộ luôn tiện (thật ra có chủ ý, sắp xếp trước) lôi Kỳ đi coi bói.
Theo lời Kỳ, hai người lên taxi chạy qua những phố vắng vẻ của Sài Gòn, ngừng trước một căn nhà tồi tàn: “Một cụ già đưa chúng tôi vào một gian phòng dơ dáy đầy sách vở, cuộn giấy, biểu đồ thiên văn…Đỗ Mậu đưa cho ông ta những chi tiết về ngày sinh của tôi rồi hỏi ông ta hai câu. Câu thứ nhất: “Người này (chỉ Nguyễn Cao Kỳ) có lương thiện không, có phải là một người tôi có thể tin tưởng, sẽ không bao giờ phản lại tôi hay những người khác không?”

Câu trả lời của cụ già khẳng định là Kỳ không phải loại người “phản trắc”.

Đoạn “mở đầu gieo quẻ” đó, Đỗ Mậu kể sinh động hơn: “Tôi  (Đỗ Mậu) bèn kéo Kỳ đến nhà thầy tử vi Minh Lộc ở đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần, Q.3, TP.HCM) mà tôi đã sắp đặt từ trước. Sau khi gieo quẻ bấm tay, ông Minh Lộc nói rằng số Canh Ngọ này (của Nguyễn Cao Kỳ) làm nghề đi mây về gió (!) tuy nhiên đến thu đông năm nay (nhằm khoảng thời gian áng chừng nổ ra cuộc đảo chính Diệm; sau ấn định vào 1.11) phải làm gì có tính cách bạo động rồi trở thành vương tướng, phú quý song toàn” (!) Câu ấy hàm ý kích động Kỳ tham gia quân đội lật đổ Ngô triều.

Tử vi của ông này (Kỳ) có báo trước là một ngày nào đó ông ta sẽ đi tù không?

Kỳ viết: “Một lần nữa lão thầy bó nghiền ngẫm những biểu đồ và sách vở của ông ta rồi quyết đoán: Không, suốt đời ông này sẽ không bao giờ đi tù cả”.

Câu hỏi đó của Đỗ Mậu là câu trả lời “không bao giờ đi tù” của ông thầy bói nhằm trấn an Kỳ. Vì từ lời “thầy” mà suy ra, đảo chính bị “hụt”, Kỳ vẫn an toàn không bị ở tù chi cả, vì “số” là như thế (!).

Đến câu hỏi này mới thật cột nhau vào thế kẹt: “Số này (của Kỳ) có phản bội tôi (Đỗ Mậu) không?”. Minh Lộc khẳng định: “Không, bởi nếu phản bội sẽ bị chết bất đắc kỳ tử”. Đỗ Mậu thưởng cho thầy tử vi một trăm đồng bạc rồi ra về: “Trước khi chia tay, Kỳ thề suốt đời giữ trọng lòng trung nghĩa đối với tôi. Sau này Kỳ phản tôi, cùng với nhóm tướng trẻ cô lập tôi ở Kon Tum, tại Nha Trang nhưng Kỳ đã không chết bất đắc kỳ tử, vả lại trong thâm tâm tôi cũng thật lòng không muốn ai phải chết bất đắc kỳ tử…”.

Tuy không “bất đắc kỳ tử nhưng tiếng đồn không mấy hay ho về Kỳ (và Thiệu) tăng dần theo số quân Mỹ từng vào VN tham chiến mà đến Giáng sinh năm 1965 đã lên 184.000 (so với tháng 7.1965 chỉ mới 81.400 quân – số liệu dẫn từ Mc Namara).
Giữa năm đó, thuốc phiện cũng được thả dù xuống cao nguyên Trung phần sau khi bí mật đưa lên máy bay gần Savanakhet của Lào. Một số trong đó “lọt” vào chiếc chuyên cơ của Nguyễn Cao Kỳ với sự “hợp tác” của cả Thiệu, Nguyễn Hữu Có, Vĩnh Lộc, Cao Văn Viên.
Khi chuyến bay sắp cất cánh rời Pleiku về Sài Gòn thì bị phát giác và la ầm lên bởi viên Tư lệnh Quân đoàn I vùng I chiến thuật: Nguyễn Chánh Thi! Nguyễn Hữu Có (Tổng ủy viên quốc phòng) chặn không cho Thi tới gần máy bay chở thuốc phiện. Ức khí, Thi gằn giọng:

-Định bán cho ai?

(Còn tiếp…)

Mai Nguyễn

Kỳ 4: Chuyến hàng thuốc phiện của các tướng lĩnh đứng về phía…dân nghiện!


Chuyen hang thuoc phien, hoi ky tuong ta

Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng uỷ viên Quốc phòng (Tổng trưởng Quốc phòng) và. Tư lệnh Vùng 1 Nguyễn Chánh Thi, ảnh chụp trước khi xảy ra vụ biến động miền Trung

Ngay từ ngưỡng cửa của việc nắm trọn quyền lực, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đã tạm thỏa hiệp ngồi lại với nhau trên “chiếc chiếu thần” của nàng tiên nâu, để tổ chức những chuyến hàng thuốc phiện dài ngày tội lỗi…


Những tướng lĩnh vừa đoạt quyền “điều khiển quốc gia” từ tay một chính phủ dân sự bất lực của các ông Phan Khắc Sửu – Phan Huy Quát vào tháng 6.1965 đang cấu kết mở rộng “con đường tơ nhện” trên không để đưa thuốc phiện về Sài Gòn qua đoạn trung chuyển từ các sân bay nằm khuất tận cao nguyên.
Một vài tay có vai vế cao nhất “thượng thủ, thượng thượng thủ” trong họ, gồm “quốc trưởng” Thiệu, “thủ tướng” Kỳ, cùng Nguyễn Hữu Có và Linh Quang Viên (thiếu tướng, tổng ủy viên an ninh trong nội các chiến tranh của Kỳ) đã có mặt cùng lúc tại sân bay Pleiku vào buổi chiều có chuyến hàng thuốc phiện đó. Duyên do gì cả 4 tay nêu trên lại hội nhau ở phố núi cao?
Nguyễn Chánh Thi trả lời qua hồi ký Một trời tâm sự: “Vào khoảng tháng 9.1965, Nguyễn Văn Thiệu gọi tôi, bảo phải đi Pleiku hội. Cuộc hội có Thiệu, Kỳ, Có, Viên và tôi. Đến sân bay Pleiku lúc 9 giờ 30, tất cả lập tức đi quan sát đồn Pleime, nơi vừa xảy ra trận đánh lớn…Về lạu Pleiku, tất cả đến tư thất Vĩnh Lộc ăn một bữa cơm thật thịnh soạn. Ăn xong Thiệu mới nói: - Cuộc họp mặt hôm nay quan trọng không phải vì trận Pleime, mà vì chuyện của anh Vĩnh Lộc. Tướng Westmoreland cũng như đại sứ Lodge đều yêu cầu phải thay thế Vĩnh Lộc ở chức vụ Tư lệnh vùng II chiến thuật. Đó là do lời đề nghị của tướng Palmer, cố vấn của anh Vĩnh Lộc. Anh Vĩnh Lộc đã làm mất lòng ông Palmer sao đó. Anh Thi nghĩ sao?
Tôi trả lời: - Phải để cho anh Vĩnh Lộc trình bày xem có gì nghiêm trọng không đã, tôi mới có ý kiến được.
Thiệu chặn ngang: - Người Mỹ họ cằn nhằn tôi là anh Vĩnh Lộc không có “tinh thần hợp tác”. Ông Palmer kêu qua họp mà anh ấy từ chối không qua. Đã nhiều lần như thế”.
Vĩnh Lộc vội vã biện bạch, Thiệu tiếp tục “truy”. Hỏi qua đáp lại kéo dài. Hãy khoan nhắc tới nội dung cà kê đó, xin tóm gọn là việc đi đến kết luận cách chức Vĩnh Lộc hôm ấy bất thành, vì mãi đến chiều còn cãi nhau. Nguyễn Hữu Có nhìn trời nhìn đất “quanh năm mùa đông” mới giục về Sài Gòn cho kịp, tạm nhưng họp, Nguyễn Chánh Thi viết: “Thường lệ đi họp mà muốn về lại Sài Gòn, thì tất cả tướng lĩnh đều được mời đi trên chiếc máy bay tốt nhất mà Nguyễn Cao Kỳ đang dùng. Lần đó quen lệ và cũng đinh ninh là mọi người sẽ đi chung một chiếc máy bay để có thêm thì giờ hàn huyên hay giải quyết những chuyện phối hợp lặt vặt, nên tôi xăm xăm đi thẳng tới chiếc máy bay của Nguyễn Cao Kỳ. Đột nhiên Nguyễn Hữu Có giơ tay ngăn tôi lại: - Anh đi chiếc máy bay của anh thì hơn. Tôi sinh nghi: Một ý nghĩ thoáng qua nhanh trong đầu: tụi này âm mưu gì đây”
Chuyen hang thuoc phien, hoi ky tuong ta
 Ảnh tư liệu: Tướng SG Nguyễn Chánh Thi
Đúng là có “âm mưu” trong chiếc máy bay đặc biệt của Nguyễn Cao Kỳ đậu kia. Mà Kỳ khi còn mang cấp bậc đại úy thời ông Diệm, bị dư luận cho là đã dính dáng đến các chuyến bay của phi đội đặc nhiệm chở thuốc phiện.
Có hơn 2.500 tiệm hút hoạt động tại Chợ Lớn từ những năm đầu 60. Dùng máy bay chở thuốc phiện về Sài Gòn không phải là điều hiếm thấy, mà có đến hàng trăm chuyến mỗi tháng. Thậm chí mỗi ngày có từ 300 đến 600 cân thuốc sống được người “cộng tác mật thiết” với Ngô Đình Nhu là Francisci dùng máy bay hai động cơ vận chuyển.
Khi hai anh em ông Diệm mất, Kỳ nắm chức tư lệnh không quân, việc buôn lậu thuốc phiện mở rộng, thời điểm đó Thiệu mới “bước vào nghề”. Như trên đã nói, Nguyễn Chánh Thi nghi chiếc “chuyên cơ” của Kỳ có gì “lạ” lắm đây, nên cứ một mực bảo Có là máy bay của mình phải trở về Quân đoàn, và mình cần “đi chung với các anh”.
“Nguyễn Hữu Có không ngăn được tôi, tỏ vẻ khó chịu. Tôi bước lên máy bay lẹ làng. Vừa ngồi xuống ngó chung quanh, tôi thấy mọi người đang nhìn nhau, nửa nghi ngại, nửa như bực dọc vì sự hiện diện của tôi”. Ai chẳng biết tính tình của viên tướng vùng 1 này, ăn nói bặm trợn chẳng kể ai. Có lần ông ta giúp Thiệu tránh được đám đông biểu tình “đòi làm thịt tại chỗ”, Thiệu cho phụ tá của mình đến cảm ơn. Thi bạo miệng đùa: “ Ơn nghĩa chi! Con chó bị thất thế như tôi cũng cứu huống cho ông Thiệu.
Đại khái ăn nói lua lua “ác khẩu” như vậy, thêm cái khí chất lúc nào cũng nóng nảy như bốc cháy của viên tướng vùng “hỏa tuyến”, nên người ta gọi Thi là “cục lửa to tướng mang hình dạng con người”. Mà “cục lửa” đó lại đang ngồi chình ình trước mặt họ chẳng biết phực cháy khi nào.
Bực mình quá, Nguyễn Hữu Có vọt miệng nói huỵch toẹt: - Chúng tôi vừa bắt được một vụ buôn thuốc phiện lậu, tịch thâu được khá nhiều, định đem về bán lấy tiền làm quỹ đen. - “Chúng tôi” (Thiệu, Kỳ, Có, Viên) là những phù thủy có đủ đòn phép đổi chữ “buôn” (lậu) thành chữ “bắt” (hàng quốc cấm). “Bắt” rồi bán lấy tiền, cầm trên tay những đồng “sạch sẽ” được “rửa” trước mắt Thi!
Nói “la ầm lên” thì không đúng hẳn, nhưng cái cách vừa cười nhạt vừa hỏi “cung” của ông Thi nghe cũng đinh tai” –Thuốc phiện bắt được bao nhiêu? Trị giá được bao nhiêu? Nguyễn Hữu Có tỉnh bơ: - Được vài trăm ký, bán được vài chục triệu. Bán xong, nếu anh muốn, tôi sẽ gửi biếu anh chút đỉnh tiêu…
(Còn tiếp...)

 Mai Nguyễn


Kỳ 5 - Bà Từ Cung muốn gả cháu gái cho tướng vùng “Hỏa tuyến” Nguyễn Chánh Thi?

Nguyen Chanh Thi, hoi ky tuong ta

Trung tướng VNCH Nguyễn Chánh Thi - tư lệnh Vùng I, ảnh chụp năm 1965

Thiệu và Kỳ, cả hai chẳng thích thú gì khi đang gắng gạt hết các “tướng già” như Đỗ Mậu, lại phải bận tâm với loại “tướng trẻ” ngang ngạnh như Nguyễn Chánh Thi. 


Chiếc máy bay như “lết đi nặng nề” và “bầu không khí bỗng trở nên nghẹt thở sau khi câu chuyện thuốc phiện bị Nguyễn Hữu Có đem nói toạc ra” theo như Thi kể. Đã thế, Thi bồi thêm mấy câu pha trò, khích bác chơi.
Thiệu và Kỳ, cả hai chẳng thích thú gì khi đang gắng gạt hết các “tướng già” như Đỗ Mậu, lại phải bận tâm với loại “tướng trẻ” ngang ngạnh như Nguyễn Chánh Thi. Thi sinh tại Huế, 33 tuổi làm Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù (1956) là một trong những người cầm đầu cuộc đảo chính hụt Ngô Đình Diệm hôm 11.11.1960, sau đó phải trốn sang Campuchia trong 3 năm.
Khi chế độ Diệm đổ, ông ta quay về Sài Gòn thì vợ đã chung chạ với một người bạn cũ của ông. Từ đó, ông sống một mình, nuôi 4 con. Nhận chức Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng I chiến thuật từ năm 1964-1966, đóng bản doanh tại Đà Nẵng nhưng hàng tuần Nguyễn Chánh Thi vẫn dùng trực thăng bay ra Huế. Bay ra đó vì công việc của “đại biểu chính phủ” tại Trung nguyên Trung phần mà ông ta kiêm nhiệm. Song dư luận báo giới đương thời vẫn cho vì ông nặng lòng với một cô gái Huế.
Dưới tít lớn “Tướng râu miền hỏa tuyến (Nguyễn Chánh Thi) vừa yêu cô dược sĩ, vừa…ghét ai nhứt?” một bài báo viết: lại trông đêm trông ngày chờ ông đi cưới, thế mà…”. Chuyện đó ông ta không kể trong hồi ký mà chỉ nhắc đến cô H.T.X.M nào đó trong đoạn “Chuyện trò thân mật với Đức Từ Cung thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại” trích sau: “Cuối tháng 11.1964 một buổi mai thứ bảy, tôi đang ngồi uống nước trà với bà chị cả tôi ở quê lên thăm, thì vào khoảng 10 giờ sáng, một bà cụ già của Phước tộc ghé thăm. Sau mấy lời xã giao, bà cụ nói: - Đức Từ Cung sai tôi đến đây có ý mời Ôn qua nhà uống trà, luôn tiện có vài công chuyện muốn thưa với Ôn”.
Theo lời hẹn, sáng hôm sau chủ nhật ông ta đến nhà bà Từ Cung lúc 10 giờ sáng. Bà Từ Cung cho người nhà bận quần áo chỉnh tề ra đón khi ông vừa bước xuống xe, mời vô nhà. Cửa vừa mở, đã thấy bà Từ Cung đứng sẵn mặc áo màu vàng lạt, đầu tóc bạc phơ, mời Nguyễn Chánh Thi ngồi trên bộ trường kỷ bằng mun đen cẩn xà cừ, uống nước trà sen.
Gần 10 năm trước, ông Thi đã gặp bà khi được biệt phái đến chỉ huy Tiểu đoàn Ngự lâm quân. Nay đến thăm và nhờ nghe “một vài công chuyện muốn thưa” gì đó. Bà Từ Cung cám ơn vài việc mà ông đã làm cho hoàng tộc, rồi hạ thấp giọng: - Còn một chuyện quan trọng có tính cách gia đình mà bà muốn giúp cho Ôn vì biết Ôn có 4 đứa con dại không có người trông coi. Bà có đứa cháu gái giỏi, khôn ngoan, tên là H.T.X.M muốn cho Ôn đem về làm vợ để nuôi 4 đứa con và săn sóc Ôn khi đau ốm trở trời.
Nói xong, bà cho gọi cô X.M ra chào. Dừng chập lâu, bà lại khuyên ông nên “có vợ để lo gia đình”. Nguyễn Chánh Thi lúng túng, ngạc nhiên, thưa là “có thể năm ba năm nữa, bảy tám năm nữa, cháu mới dám nghĩ đến chuyện gia thất. Hiện chừ bổn phận làm cha cũng chưa đủ, huống chi thêm vào trách nhiệm làm chồng. Xin đức Từ thông hiểu hoàn cảnh của cháu”.
Nguyen Chanh Thi, hoi ky tuong ta
 Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi
khi đón tiếp Thiếu tướng Frederick Karch...
Bà Từ Cung mời Thi ăn bánh, đoán ông ta áy náy chuyện tuổi tác, chậm rãi nói: - Bà thật thương Ôn Thi và cháu của bà. Nó đã thưa với bà là muốn có tấm chồng gan dạ để được hy sinh với chồng, dù người chồng có hơn tuổi bao nhiêu cũng chả răng, cho nên bà có ý cho (làm vợ) Ôn đó”. Còn cô X.M ?
Hồi ký kể: “Tôi thấy cô X.M với cặp mắt trong xanh cũng cất đầu lên nhìn tôi với những giọt nước mắt đang rớt xuống làm thấm chiếc áo dài xanh lạt của cô. Lòng tôi lúc ấy thật là bùi ngùi, xúc động với những giây phút bất ngờ đã xảy ra tại đây”. Nghĩ một lúc, Bà Từ Cung tiếp: - Thôi nói rứa biết rứa, khi mô nghĩ lại thì đến cho bà biết để bà liệu cho và nhớ khi mô rảnh đem mấy đứa tới thăm bà với cho vui.
Kiếu Bà Từ Cung ra về, ông Thi bào tài xế riêng của mình hãy mang xe về trước, còn ông thả bộ chầm chậm dọc theo bờ sông An Cựu suy nghĩ mông lung về chuyện hôn nhân. Trong tướng tá Sài Gòn quanh ông, có người lỡ “lấn sân” qua bạn đời của kẻ khác. Bồ nhí thì không nhớ hết tên…
Khi Nguyễn Văn Thiệu nắm hết quyền lực vẫn muốn lợi dụng các vụ mèo mỡ lăng nhăng của các tướng tá phe đối lập, ra lệnh cho các tờ báo do mình đỡ đầu đem ra nện tới nơi để hạ uy thế đối thủ, mặc dù chính Thiệu cũng lăng nhăng không kém. Người đương thời đồn đại nhiều vụ ăn vụng, trăng hoa, như tướng Đỗ Cao Trí lấy vợ của dược sĩ V.H.T và bắt bồ với bà chủ hãng Cosuman Film chẳng hạn. Hoặc Cao Văn Viên “mang lộn dép” của vợ một sĩ quan dưới quyền vì tối trời điện cúp…
Ngoài câu chuyện liên quan đến H.T.X.M trong buổi gặp bà Từ Cung, ông Thi cho bà biết đã bàn với phụ tá “đại biểu chính phủ” là ông Hồ Dũ Châu, lo mượn hai chiếc máy bay C.130 lên Đà Lạt để chở trở lại 40 thùng đồ cổ của Đại nội mà trước kia vợ chồng Ngô Đình Nhu đã lấy lên Đà Lạt, tính trang hoàng cho ngôi biệt thự của họ. Nguyễn Chánh Thi viết: “Thật ra, không chỉ một mình vợ chồng Nhu mà sau này, sau vụ biến động miền Trung ngày 10.3.1966, dân chúng thành phố Huế cho biết là bọn Thiệu – Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan, Hoàng Xuân Lãm, Nguyễn Văn Toàn đã làm tiêu tán những bảo vật quý giá của hoàng tộc sau Đại nội và tại Tòa đại biểu Huế”.

Trong số tướng tá mà Nguyễn Chánh Thi nêu trên có một tay “máu lạnh” truyền kiếp: Nguyễn Ngọc Loan. Loan đã nói gì với Nguyễn Chánh Thi trong một cơn say tí bỉ mà Thi mô tả là “như đứa con nít đang lên cơn sốt”?...

 Còn tiếp...
Mai Nguyễn


Đọc hồi ký của các tướng tá Sài Gòn xuất bản ở nước ngoài:

Kỳ 6 - Sinh sự vì Dương Văn Minh lên đại tướng trước Nguyễn Khánh 3 ngày!


sinh su Nguyen Khanh, Duong Van Minh

Hai vị trung tướng Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh (phải), ở giữa là ông Phan Khắc Sửu

Vừa là bạn đồng sàng, vừa là phụ tá đắc lực của Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan được “Thủ tướng” Kỳ tin cẩn lần lượt giao nắm các chức vụ đầy quyền sinh sát trong ngành an ninh quân đội, tình báo và cảnh sát Sài Gòn.


Một bữa, Loan uống say, mặt đỏ và méo, kéo tay Nguyễn Chánh Thi lôi vào một căn phòng ở Bộ Tổng tham mưu hét toáng lên: - Thôi ông ơi, ông thì chịu khó đi ra ngoại quốc một thời gian đi! Chúng nó ngại ông lắm. Nếu ông còn lẩn quẩn ở đây thì chúng nó còn khó chịu và còn làm nhiều chuyện ồn ào lắm.
“Chúng nó” tức cánh Kỳ và Thiệu đang hợp tác tìm thủ đoạn đốn ngã Thi, Loan vừa lè nhè mớm cho Thi hãy “chạy ra nước ngoài”, vừa đưa cao chai bia đang cầm trong tay lên nốc, rồi chửi đổng một hồi vung vít…
Chừng sáu, bảy ngày sau, Loan tìm gặp Thi lần nữa, lần này có cả Mai Đen – từng nhúng tay vào việc buôn vàng và thuốc phiện vùng biên giới Lào – Việt thời Ngô Đình Nhu – đi kèm. Không say như hôm trước, mà rất tỉnh táo, lạnh lùng “đề nghị” Thi:  Ông nên chịu khó đi ra nước ngoài thì hơn, nếu ông còn ở lại Việt Nam, chỉ sợ tính mạng của ông không được bảo đảm.

Nguyễn Chánh Thi hiểu đó chẳng phải là lời đe dọa suông.

Sau này, khi lưu vong, ông viết hồi ký và ngán ngẩm về các “chiến hữu” của mình thời đó như Kỳ, như Khánh. Với đầu óc quân phiệt, muốn làm “cha dân” của Khánh. Có lần qua điện đàm, Thi tỏ thái độ không đồng tình với Khánh về chuyện đó, khiến Khánh “rất khó chịu” và theo lời Thi: “ông ta bỏ điện thoại xuống một cách giận dữ”.
Thi viết: “Dẫu sao sau đấy một chính quyền dân sự (!) được thành lập bởi Thủ tướng Trần Văn Hương và cụ Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng, Trung tướng Dương Văn Minh và trung tướng Nguyễn Khánh được thăng lên đại tướng”.
Vụ thăng đại tướng của hai ông Khánh và Minh hồi ấy cũng bộc lộ những bất đồng sẵn có giữa họ vốn manh nha từ cuộc đảo chánh 1.11.1963. Ông Khánh không muốn ông Minh đưa ông Nguyễn Ngọc Thơ lên làm Thủ tướng. Ông Minh đợi đến buổi lễ gần thăng cấp cho các tướng tá có công trong đảo chánh mới quay lại bảo Khánh: - Anh không muốn cho ông Thơ làm thủ tướng chớ gì, chỉ chốc nữa đây chính ông Thơ sẽ gắn sao cho anh!

Làm sao Khánh có thể khước từ được? Chuyện xảy ra tại Câu lạc bộ Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn có đông đảo các tướng tá sĩ quan cùng biết nên Khánh bực lắm. Đến 1964, khi ông Minh làm “Quốc trưởng” và Khánh làm “Thủ tướng” rồi tự dàn cảnh phong mình lên “Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa”, thì hai bên “đụng” nhau hoài. Một lần, vào ngày 1.7.1964, hai ông Minh và Khánh sừng sộ nhau tại Dinh số 2 Đà Lạt trước mặt các ông Trần Thiện Khiêm, Lê Văn Kim quanh “quyền” của mỗi người. Ông Khánh bắt đầu “nổ” ngay:

-          Tại sao anh ra Huế và Đà Nẵng, anh gắn huy chương cho ông Tôn Thất Xứng và ông Mỹ, tôi là “chủ tịch” mà anh không hỏi ý kiến tôi gì hết?

Dương Văn Minh đáp:

-          Tôi tưởng tôi là “Quốc trưởng” thì có quyền chớ!

Khánh không chịu:

-          Nhưng tôi là “Chủ tịch”, anh phải hỏi tôi.

-          Thế anh có quyền thì ấn định quyền hạn cho tôi đi.

-          Thì anh đề nghị quyền hạn lên tôi. Chuyện này nữa, tôi là Thủ tướng, tôi cần dùng xe cộ, tôi cũng có khách để tiếp đón, tại sao bên anh lại sử dụng gì đến một trăm hai mươi mấy chiếc xe, tôi cần anh trả lại một ít để làm cái Pool: văn phòng tôi hỏi thì ông đổng lý văn phòng anh bảo là không trả gì cả!

“Quốc trưởng”, “Thủ tướng” và “Chủ tịch nước” mà đè nhau ra chì chiết những chuyện như thế thì khó nghe quá. Trần Văn Đôn cũng có mặt tại buổi “tọa đàm nội bộ’ trên kéo dài từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, có chen vào những “thắc mắc chung” của “từng người” khác và đã ghi lại mẩu “đối chọi” giữa hai ông Minh và Khánh như vậy trong hồi ký Việt Nam nhân chứng.

Vài tháng sau, cuối năm 1964, ông Khánh mới nhờ cậu ông ta là Nguyễn Lưu Viên, bấy giờ giữ chức “Tổng trưởng Nội vụ” nói với ông Trần Văn Hương đề nghị với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu thăng Nguyễn Khánh và Dương Văn Minh lên đại tướng, nhưng trong sắc lệnh phải ghi, ông Khánh được “lên” trước ông Minh…1 ngày!

Theo ông Đôn, khi sắc lệnh được trình ký lên văn phòng quốc trưởng “những sĩ quan làm việc tại đó phần nhiều là người của ông Minh. Thấy thế, biết là ông Khánh chơi “thầy” mình nên họ đề nghị Quốc trưởng trình lên Thượng hội đồng quốc gia (…). Nhận định rằng ông Minh là cựu Quốc trưởng và ở chức vụ trung tướng thâm niên hơn ông Khánh, cho nên cuối cùng họ (Thượng hội đồng quốc gia) đồng chấp thuận thăng hai ông lên đại tướng, nhưng để ông Minh “lên” trước …3 ngày!”.

Thế là sinh sự . Khi nhận được điện thoại báo tin sắc lệnh trên đã được ký, ông Khánh đang dùng cơm tối với Trần Văn Đôn ở Dinh số 2, chẳng những không vui mà lộ hẳn vẻ ác cảm, bực tức đến nghẹn cơm vì cái “hội đồng quốc gia” đã làm ông vỡ một cuộc chơi.
Về Sài Gòn, Khánh nhóm họ “nhóm tướng trẻ” quy cho “Thượng hội đồng quốc gia đang âm mưu giành tất cả quyền hành, lấn át quân đội!”. Lúc đó, theo hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ, có người về hùa với Khánh la to: “Hốt chúng đi là xong!”. Thật loạn.
Bề nào thì hội đồng đó vẫn gồm các thành viên cao niên, hoặc tên tuổi được chính giới Sài Gòn biết tiếng như các ông: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Văn Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đình Lượng, Hồ Đắc Thắng, được thành lập hồi tháng 9.1964.
Nguyễn Cao Kỳ mỉa mai: “Hội đồng quá già nua đến độ ở các quán rượu Sài Gòn người ta gọi đó là viện bảo tàng quốc gia”, và Kỳ cùng Khánh ra lệnh “nhóm tướng trẻ” hốt hội đồng đó thật, bắt một số đem quản thúc khiến đại sứ Mỹ M.Taylor phải ôm đầu bảo họ: “Các vị đã làm nát bét cả rồi!” Nghĩa là làm mất cái “màu mè dân chủ”, cái “chính phủ dân sự” mà Mỹ đang muốn có. Dĩ nhiên,  nhiều nguyên do để Khánh “hốt” hội đồng , nhưng chắc chắn việc quyết định để Khánh lên đại tướng sau Dương Văn Minh 3 ngày có tác động tâm lý thúc đẩy Khánh hành động nhanh hơn. Vả lại, lúc ấy nghi án “5 tướng Đà Lạt” kết thúc rồi, các “tướng già” đang có mặt ở Sài Gòn . Họ quen biết những nhân vật thân cận với đại sứ Taylor, điều đó cũng đáng lo chứ?
còn nữa...
Mai Nguyễn

Kỳ 7: Bài diễn văn cuối cùng của chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước giờ khai tử

bai dien van cuoi cua Viet nam cong hoa

Ông Dương Văn Minh trong ngày 30.4.1975 tại Dinh Độc lập


Hồ sơ số 9759, Phông PTTg (hiện lưu trữ tại Trung tâm LTQG II - TP. HCM) là toàn văn bài diễn văn của Thủ tướng Chính phủ kiêm Tổng trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu dự định sẽ đọc trong buổi ra mắt nội các cuối cùng của chính quyền Sài Gòn vào trưa 30.4.1975…


Nhưng trưa ấy, Quân giải phóng đã tràn vào dinh Độc Lập, nên bài diễn văn trên không bao giờ được đọc. Tuy vậy, dưới góc độ tư liệu, vẫn có thể xem đó là bài diễn văn cuối cùng của nền Cộng hòa miền Nam (Sài Gòn) trước khi bị khai tử và cần được tham khảo. Bởi, nội dung bài diễn văn cho thấy vai trò và quan điểm của giới trí thức Sài Gòn vào thời điểm lịch sử 30.4.1975:

1. Muốn tiến đến giải pháp hòa giải và hòa hợp dân tộc.

2. Khẳng định thành phần chính phủ mới (dự định ra mắt trưa 30.4.1975) gồm những vị đã từng là nạn nhân của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và chưa hề tham gia hoạt động trong chính quyền đó.

Nay chúng tôi giới thiệu toàn văn bài diễn văn nói trên để bạn đọc và các nhà nghiên cứu lịch sử tham khảo:

Kính thưa Tổng thống,

Kính thưa quý liệt vị,

Nhận lãnh trách nhiệm thành lập nội các trong giai đoạn hiện tại là nhận lãnh công việc đội đá vá trời. Chúng tôi tuyệt nhiên không hề có ảo tưởng và đã nhận thức rõ các khó khăn vô cùng lớn lao đang chờ đợi. Nhưng chúng tôi không thể cam lòng từ chối trọng trách mà Tổng thống Dương Văn Minh giao phó vì quá thiết tha với hòa bình và hòa giải dân tộc. Hơn nữa, nếu có phải hy sinh, thiết nghĩ chúng tôi cũng có thể tự an ủi hy sinh đây là hy sinh cho chính nghĩa, cho hòa bình, cho nhân đạo, cho tình dân tộc, chứ không phải cho chiến tranh tang tóc, điêu tàn vô ý thức.

         Kính thưa Tổng thống,
         Kính thưa quý liệt vị,

Những vị chấp nhận tham gia vào Chính phủ do chúng tôi điều khiển đều là những nhân vật đã từng tranh đấu cho Hòa bình, đã từng nếm trải đắng cay, đau khổ, hay đã từng là nạn nhân của chính sách hiếu chiến, tham nhũng, độc tài, độc diễn, của ông Nguyễn Văn Thiệu.

Là những người trong sạch chưa hề tham gia chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, các quý vị mà chúng tôi mời tham gia Chính phủ  này, hằng thiết tha ôm ấp hoài bão làm một gạch nối để thực hiện một sự hòa giải giữa các phe lâm chiến. Như vậy, Chính phủ nay là một Chính phủ gom những phần tử hoàn toàn thuộc thành phần thứ ba, theo tinh thần Hiệp định Paris.

Thành phần thứ ba là thành phần đông đảo nhất trong cộng đồng quốc gia và vì thế cũng phức tạp nhất, bao gồm nhiều xu hướng dị biệt, đi từ Trung hữu sang tới Trung tả.

Trước tình thế vô cùng khẩn trương của đất nước, chúng tôi không có đủ thời giờ để tiếp xúc thăm dò ý kiến của tất cả các đoàn thể, lực lượng chính trị thứ ba. Do đó, chúng tôi không dám có tham vọng đại diện cho tất cả thành phần thứ ba ở trong và ngoài nước. Nhưng đây là kết quả tối đa mà chúng tôi có thể thực hiện trong một thời gian tối thiểu.

Hơn nữa, điều mà chúng tôi có thể đoan quyết cùng toàn thể đồng bào là ý chí tha thiết phục vụ đất nước trong một giai đoạn tối khẩn trương, không cho phép một ai trì hoãn hay chậm trễ. Chính thiện chí ấy đã thúc đẩy tất cả chúng tôi cùng đứng ra nhận lãnh nhiệm vụ khó khăn này, chứ không phải vì mưu đồ danh lợi.

Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã từng nhiều lần kêu gọi phía Việt Nam Cộng hòa có một Chánh phủ Hòa bình, với các nhân vật không dính líu với chế độ Nguyễn Văn Thiệu, để tái lập thương nghị. Chính phủ Hòa bình nay giờ đây đã được thành lập. Thành phần thứ ba đã đứng lên để đóng góp cho sứ mạng hòa bình, cho sự nghiệp hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Đồng bào toàn quốc đang trông chờ từng ngày, từng giờ, từng phút để máu và nước mắt dân tộc ngưng chảy vì chiến cuộc. Chúng tôi thiết nghĩ rằng những người anh em phía bên kia chắc cũng không vui sướng trước cảnh súng đao và các tang tóc điêu tàn của đồng bào ruột thịt. Chúng tôi tin tưởng rằng mọi vấn đề dù khó khăn đến đâu, cũng có thể được giải quyết trên bàn Hội nghị với tinh thần hòa giải, hòa hợp và tình huynh đệ giữa những người con cùng một mẹ Việt Nam. Tại sao chúng ta còn cần phải bắn giết lẫn nhau, gây thêm tang tóc, đau thương, cùng cực cho nhau, khi chính sách Nguyễn Văn Thiệu đã cáo chung và các người lãnh đạo chế độ này đã đưa nhau xa lìa Tổ quốc, nếu không muốn nói là chạy trốn?

Vấn đề chính còn lại là sự lựa chọn giữa chiến thắng quân sự hay chiến thắng lòng người, sự đoàn tụ trong tiếng reo mừng của Dân tộc hay sự ly tán trong lời than tiếng khóc của Quốc dân.

Trước khi chấm dứt, trong niềm tin tưởng rằng tinh thần Hòa giải Hòa hợp Dân tộc và tình nghĩa đồng bào ruột thịt sẽ thắng, chúng tôi xin vắn tắt tóm lược chương trình của chính phủ hòa bình này trong bốn điểm thiết yếu như sau :

1. Vãn hồi hòa bình bằng đường lối hòa giải hòa hợp dân tộc trên căn bản Hiệp định Paris.

2. Tôn trọng các quyền lợi tối thượng của dân tộc và các tự do căn bản của con người.

3. Kiến thiết đất nước trong Hòa giải và hòa hợp.

4. Giao hảo và hợp tác trên trường quốc tế với tất cả các quốc gia bạn, không phân biệt ý thức hệ, trên căn bản bình đẳng và tôn trọng chủ quyền quốc gia.

Sau đây là thành phần của Chính phủ hòa bình do chúng tôi điều khiển:

- Thủ tướng Chính phủ kiêm Tổng trưởng ngoại giao

: Giáo sư VŨ VĂN MẪU

- Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng

: Giáo sư BÙI TƯỜNG HUÂN

- Phó Thủ tướng đặc trách Xã hội và Cứu trợ

: Bác sĩ HỒ VĂN MINH

- Quốc vụ khanh kiêm Tổng trưởng Y tế

: Bác sĩ LÊ KHẮC QUYỀN

- Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa

: Giáo sư PHẠM ĐÌNH ÁI

- Quốc vụ khanh

: Luật sư TRẦN NGỌC LIỄNG

- Tổng trưởng Nội vụ

: Ông HỒNG SƠN ĐÔNG

- Tổng trưởng Thông tin

: Dân biểu LÝ QUÝ CHUNG

- Tổng trưởng Giáo dục

: Giáo sư NGUYỄN VĂN TRƯỜNG

- Tổng trưởng Xã hội và Cứu trợ

: Bác sĩ NGUYỄN VĂN MẪN

- Tổng trưởng Cựu Chiến binh

: Dân biểu NGUYỄN VĂN BINH

- Tổng trưởng Tài chính

: Giáo sư VŨ THIỆN VINH

- Tổng trưởng Kinh tế

: Giáo sư NGUYỄN VŨ DIÊU

- Tổng trưởng Tư pháp

: Thẩm phán TRẦN THÚC LINH

- Tổng trưởng Canh nông

: Giáo sư CHÂU TÂM LUÂN

- Tổng trưởng Lao động

: Luật sư TRẦN VĂN TỐT

- Tổng trưởng Giao thông, Công chánh và Bưu điện

: Kỹ sư PHAN NGỌC THỂ

- Bộ trưởng Ngoại giao

: Tiến sĩ CAO HUY THUẦN

- Bộ trưởng Nội vụ

: Dân biểu ĐOÀN MAI

- Bộ trưởng Phủ Thủ tướng

: Dược sĩ TỐNG LỊCH CƯỜNG

- Bộ trưởng Thông tin

: Ông DƯƠNG VĂN BA

- Bộ trưởng Giáo dục

: Giáo sư NGUYỄN ĐỘ

- Thứ trưởng Quốc phòng

: Ông BÙI THẾ DUNG

Trân trọng kính chào Tổng thống và Quý liệt vị. (còn nữa)
Giao Hưởng

Đại sứ Mỹ G.Martin giải thích: Vì sao phải ưu tiên di tản phi công VN trước?


uu tien di tan phi cong

Tư lệnh không quân VNCH - tướng Nguyễn Cao Kỳ


Không quân VNCH thời còn sung sức có quân số hơn 60.000 người - gồm 5 sư đoàn tác chiến với hơn 500 phi cơ các loại - trong đó có phi đoàn tình báo kỹ thuật và biệt đoàn đặc vụ 314...


...Ở giai đoạn tan rã (4.1975), lực lượng còn lại của quân chủng này vẫn làm đại sứ Martin phải nhiều đêm mất ngủ, vì nếu họ quay mục tiêu oanh kích về phía người Mỹ trong những giờ cuối của cuộc chiến, hậu quả sẽ ra sao ?
Vì lẽ đó, Martin phản ứng quyết liệt về “những kế hoạch điên rồ” (xem Kỳ 4) của Nhà Trắng, thuyết phục để tổng thống Ford đồng ý với mình về chủ trương di tản người Việt, đồng thời xét lại các “crazy plans” đầy bất trắc.

Cuối cùng, TT. Ford ngả về phía Martin và triệu tập phiên họp kín tại Nhà Trắng với những thành viên được chỉ định trước, trong đó có các thượng nghị sĩ thuộc Ủy ban Đối ngoại, để cảnh báo về hậu quả tiêu cực của phương án “chỉ di tản người Mỹ” và “bỏ mặc người Việt” (hoặc di tản người Việt với số lượng ít ỏi, chiếu lệ). Giả thử phương án kia thực thi, sẽ không tránh khỏi phản ứng quyết liệt của không quân Nam Việt Nam. TT. Ford trong hồi ký của mình (xuất bản 1979), nhắc lại:

- Chúng tôi cảm thấy rằng một cuộc di tản vội vã sẽ có những hậu quả trầm trọng. Một tình trạng hoảng hốt lớn tại khu thủ đô miền Nam (Sài Gòn) sẽ có thể phát sinh, và trong sự chua cay là đã bị phản bội, quân đội miền Nam (Việt Nam Cộng hòa) có thể quay súng (bắn) vào người Mỹ !.

Nguyễn Tiến Hưng viết, TT. Ford nói rõ thêm: “Nếu rút hầu hết người Mỹ ra cùng một lúc sẽ làm cho người Việt Nam nghĩ rằng Mỹ đang tháo chạy, sẽ có thể gây ra những cuộc tấn công vào người Mỹ”. Cuối cuộc họp, TT. Ford yêu cầu các nghị sĩ có mặt đừng để báo chí biết “phiên họp chỉ bàn tới chuyện di tản” - mà cần thông báo chung chung là: “phiên họp bàn chuyện ổn định tình hình tại miền Nam Việt Nam” (Nguyễn Tiến Hưng, sđd Kỳ 2).

Sau phiên họp trên, từ Sài Gòn, Martin đưa khá nhiều phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa và gia đình của họ ưu tiên ra đi trước: “tất cả khoảng 2.000 người tới phi cảng Atapao ở Thái Lan” - với mục đích: “giảm thiểu khả năng trả thù và đụng độ (của không quân Sài Gòn) với lực lượng Mỹ”. Martin cảnh cáo “nếu cảm thấy bị bỏ rơi quá tàn nhẫn, phía Việt Nam sẽ trút sự giận dữ lên đầu những người Mỹ còn lại”. Ông giải trình trước Quốc hội:

- Không quân Việt Nam sẽ bắn rơi các máy bay vận tải của mình (máy bay chở người Mỹ di tản khỏi Sài Gòn - GH) khi chúng ta bỏ rơi chiến hữu, phó mặc họ cho (quân đội) Bắc Việt (Graham Martin - Testimony, tr. 548 - chú thích của Nguyễn Tiến Hưng, sđd Kỳ 2).

Martin nhận định phi công là phần tử nắm trong tay phương tiện cơ động nhanh chóng và nguy hiểm nhất (máy bay) và có cơ hội cũng như điều kiện để trút “uất hận” lên bất cứ nơi nào tập kết người Mỹ (chuẩn bị di tản) và nếu phi công Việt Nam Cộng hòa bắn rơi ba bốn chiếc máy bay vận tải Mỹ thì “chắc chắn là sẽ có nhiều trong số 6.000 người Mỹ phải chết, thêm vào đó là số thương vong không thể lường của quân đội hai bên - dĩ nhiên (lúc ấy) không lực từ Đệ thất hạm đội (hạm đội 7) sẽ vào uy hiếp (đánh trả), dẹp tan hết mọi cuộc tấn công. Nhưng (hậu quả) là Sài Gòn sẽ đổ nát như Baghdad và bao nhiêu người dân (vô tội) sẽ là nạn nhân?” (Nguyễn Tiến Hưng, sđd Kỳ 2). Martin giải bày:

- Tôi có một sự lo nghĩ trong lòng nhưng nó đã được giải quyết trước ngày cuối cùng của cuộc di tản, đó là một phần đông không quân Việt Nam đã được bay sang căn cứ Utapao ở Thái Lan, như vậy là đã di chuyển được khả năng (chiến đấu) của một số phi công chống đối trên bầu trời - họ có lẽ là phần tử uất hận nhất trong các quân chủng (Graham Martin, Testimony, tr. 586 - NTH).

Những lời trên của Martin phù hợp với hồi ký của tướng Nguyễn Cao Kỳ (từng làm Tư lệnh Không quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa):

“Cộng sản biết rằng mất sân bay thì Sài Gòn cũng mất” nên đã mở đầu đợt đánh chiếm Sài Gòn vào giai đoạn đỉnh điểm bằng động thái đánh bom Tân Sơn Nhất: “Ngày 28.4.1975, quả bom hạng nặng đầu tiên rơi cách nhà tôi 300 mét. Lúc ấy có gần 400 người tụ tập ở đó, hay trên những bãi đất xung quanh. Họ là những gia đình binh sĩ xin chỗ máy bay (để rời Việt Nam). Nhiều người quyết định ngủ đêm ngay tại văn phòng, hoặc những ngôi nhà gần bên. Quang cảnh giống như một trại tị nạn. Lúc những quả bom đầu tiên làm rung chuyển nhà tôi, một anh phi công chạy vào phòng khách kêu lớn: “Tôi cất cánh đây !”.

Nguyễn Cao Kỳ cũng hét: “Đồng ý. Đi đi”!

Thế là anh phi công kia lao đến chiếc máy bay gần nhất. Cùng lúc, tướng Kỳ phóng lên một chiếc xe jeep cùng với thiếu tá thân cận của mình nổ máy chạy ra đường băng để xem thiệt hại tới mức nào. Tướng Kỳ thuật lại, lúc ấy:

“Căn cứ vắng vẻ im lặng, khác lạ, trái ngược hẳn với quang cảnh nhộn nhịp thường ngày. Ai nấy đều chạy vào hầm trú ẩn và xe jeep của chúng tôi là vật duy nhất mà người ta thấy đang di chuyển (trên sân bay). Các phi công cộng sản chắc đã phát hiện ra chúng tôi, vì lẽ các máy bay của họ ở trên cao lượn vòng vòng rồi bắt đầu bắn xuống chúng tôi”.

Kỳ xuống xe, nhảy vào một cái hố tránh đạn đào sẵn bên đường, nhìn lên ông thấy “lửa tóe ra từ những họng súng nhằm vào xe jeep - hàng chục máy bay của chúng tôi bị phá hủy trên mặt đất”. Kỳ quay về: “Điện bị cắt đứt. Chúng tôi không liên lạc với Bộ tổng tham mưu được nữa. Những người ở trong nhà phải thắp nến ăn cơm”. Rồi ông lại quay đi, đến Bộ tư lệnh Không quân, để thấy “một cảnh tượng cực kỳ hỗn loạn bày ra trước mắt, toàn bộ Bộ tư lệnh gồm khoảng 100 sĩ quan, tướng, đại tá và thiếu tá, tập hợp ở văn phòng tư lệnh. Tôi nhận thấy có cả vài tướng lục quân nữa. Ông tư lệnh không quân (trung tướng Trần Văn Minh - GH) cho tôi biết là người Mỹ đã cho lệnh di tản tất cả máy bay F5 sang Thái Lan và Philippines, hiện bộ tham mưu của ông ta đang chờ tại văn phòng này để người Mỹ lo liệu việc di tản”.  (còn nữa).

Giao Hưởng


William Colby với mật mã O.F.W: “cuốn theo chiều gió”...


su kien lich su 30.4


Ngày 28.4.1975 là “một ngày dài hơn thế kỷ” của Nhà Trắng (Washington) với hai cuộc họp khẩn cấp, kết thúc bằng mệnh lệnh của tổng thống Ford về đợt di tản cuối cùng khỏi Sài Gòn, bắt đầu từ 10 giờ 51 sáng hôm sau…


William Colby - Giám đốc Cục tình báo trung ương Mỹ CIA, từng có nhiều năm trực tiếp chỉ đạo hoạt động tình báo vùng Viễn Đông và Việt Nam, cố vấn Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam, sáng 28.4 đã vội vã bước vào căn phòng đặc biệt nằm dưới tầng ngầm Nhà Trắng.
Phòng này không trổ cửa sổ ra bên ngoài, mà được kiến trúc liên thông với các phòng đảm trách an ninh tình báo bên trong tòa nhà. Ở đó, các nhân vật chủ chốt trong nhóm “tháo gỡ khủng hoảng” và “phản ứng nhanh” mang tên: Nhóm hành động đặc biệt của Washington (Washington Special Action Group - WSAG) ngồi sẵn, như: Jim Schlesinger - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Bill Clements, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; George Brown, Tổng tư lệnh quân đội. Có mặt cả Henry Kissinger - Cố vấn Hội đồng An ninh quốc gia; Brent Scowcroft, Phó Cố vấn An ninh quốc gia…
su kien lich su 30.4
William Colby - Giám đốc Cục tình báo trung ương Mỹ C.I.A

Colby khai mạc cuộc họp theo đúng thể thức và cảnh báo ngay về tình hình nguy ngập của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, đại để :

- Hiện chính quyền của tướng Dương Văn Minh đã không theo kịp đà phát sinh của thời cuộc với nguy cơ lớn nhất là Cộng quân (quân đội Cộng sản Việt Nam) đang tiến đến cửa ngõ Sài Gòn và sẽ đặt chân vào nội đô trong vòng ngày mai hoặc có thể ngay trong hôm nay…

Vì Quân giải phóng đã và đang đánh chiếm các mục tiêu quan trọng theo 5 hướng tiến về Sài Gòn. Ngay hạ tuần tháng 4.1975, theo tài liệu Quân ủy Trung ương, các lực lượng lớn đã lần lượt điều động vào vị trí tiến quân: 1. Ở hướng bắc: Quân đoàn 1 đã có mặt ở khu vực nam Sông Bé. 2. Ở hướng tây bắc: Quân đoàn 3 tiến về Dầu Tiếng (về sau tràn ngập căn cứ Đồng Dù, bắt sống tư lệnh sư đoàn 25 bộ binh Lý Tòng Bá). 3. Ở hướng tây: Đoàn 232 áp sát tuyến sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa. 4. Ở hướng nam: Trung đoàn 88 và Trung đoàn 24 được tăng cường thêm Trung đoàn 271b đứng chặn ở Cần Giuộc. Sư đoàn 5 và Sư đoàn 8 áp sát đường số 4 đoạn từ Tân An đến Cai Lậy, khống chế Mỹ Tho. Đồng chí Lê Đức Anh, Phó tư lệnh Miền, Phó tư lệnh Bộ chỉ huy chiến dịch, trực tiếp chỉ huy hướng tây và hướng nam. 5. Ở hướng đông: Quân đoàn 4, sau khi giải phóng Xuân Lộc, áp sát Trảng Bom. Quân đoàn 2, Sư đoàn 3 và Lữ đoàn 52 (Quân khu 5) tiến sát Long Thành, Vũng Tàu, Nước Trong, Bà Rịa. Đồng chí Lê Trọng Tấn, Tư lệnh cánh quân phía đông, nay là Phó tư lệnh chiến dịch chỉ huy hướng này.

Tất cả 6 trung đoàn đặc công và hàng chục đội biệt động đã sẵn sàng từ vùng ven đến nội thành”.

Xét diễn tiến, đã quá bất lợi, nên Colby yêu cầu di tản gấp rút tất cả người Mỹ. Nhưng đại sứ Mỹ Martin ở Sài Gòn còn chần chừ, trì hoãn, vì hy vọng sẽ thương lượng với “Bắc Việt về một giải pháp hòa bình” vào giờ cuối. Nên Colby cùng Nhóm hành động đặc biệt của Washington gắng đợi thêm. Nhưng “phép lạ” đã không xảy đến. Vì :

Cuối chiều hôm ấy, sau cuộc họp bất thường ở Nhà Trắng, lúc 16 giờ 5 phút 28.4 - giờ Washington (tức 4 giờ 5 phút, sáng 29.4 ở Sài Gòn), Quân giải phóng từ trận địa pháo Nhơn Trạch bắn hơn 300 quả đạn 130mm vào phi trường Tân Sơn Nhất, phá hủy máy bay C130, làm nổ kho nhiên liệu, đào lên xới xuống đường băng với những vết đạn pháo lổ chổ nên máy bay không cất cánh được và dĩ nhiên cuộc di tản theo đường Tân Sơn Nhất bế tắc.

Nhận tin, tổng thống Ford triệu tập ngay cuộc họp bất thường với Hội đồng An ninh quốc gia lúc 19 giờ 30 tối 28.4 (giờ Washington) và quyết định triển khai kế hoạch di tản chỉ bằng trực thăng (chứ không bằng máy bay vận tải lớn ở Tân Sơn Nhất nữa) bốc đi từ nóc Tòa đại sứ và một số cao ốc ở trung tâm Sài Gòn. Đợt di tản cuối cùng này mang mật mã O.F.W, viết tắt của mật danh “Operation Frequent Wind”, có nghĩa đen: “Cuộc hành quân gió nhanh”- song người ta vẫn thích diễn dịch là: “Cuộc hành quân cuốn theo chiều gió”cho hợp với tình cảnh lúc ấy. Sau cuộc họp chỉ vài giờ, tổng thống Ford hạ lệnh bắt đầu đợt O.F.W ngay trong đêm 28.4.1975, lúc 22 giờ 51 - giờ Washington (nhằm 10 giờ 51 sáng 29.4.1975 - ở Sài Gòn).

Colby viết trong hồi ký, khi O.F.W cất cánh có “đám đông người Việt Nam tìm cách nhập vào đợt di tản của người Mỹ” đưa đến tình trạng hỗn loạn. Hôm sau nữa, ngày 30.4:

“Một số sĩ quan người Việt đã tự bắn vào đầu tự vẫn, người thì vì danh dự bị hoen ố trước thất bại, người thì lo sợ trước những nhục hình tàn bạo đang chờ đợi họ trong những “trại cải huấn” của cộng sản. Còn ở rất xa đấy, tại Washington, tôi không có cách nào để cứu họ. Suốt ngày hôm ấy, tôi đã sống trong một tâm trạng cay đắng ê chề khi cảm thấy mình bất lực  trước thảm kịch của những sinh mạng bị mất đi và của biết bao năm nỗ lực của cả người Việt Nam và người Mỹ đã từng đổ ra để hy vọng biến Việt Nam thành một đất nước tự do” (William Colby - Một chiến thắng bị bỏ lỡ, bản dịch của Nguyễn Huy Cầu, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2007, tr. 14).

Đến 3 giờ 15 ngày 30.4, lúc trời chưa sáng, một phi công Mỹ lái chiếc CH-46 đáp xuống nóc tòa đại sứ chuyển bức thư viết tay cho ông Martin do đô đốc Gayler gửi, cho biết Gayler được lệnh chỉ gửi thêm 19 trực thăng, và không gởi thêm nữa. Đại sứ Martin sẽ phải ra đi chuyến cuối cùng (trên chiếc trực thăng thứ 19). Sau này ông Gayler tiết lộ là ông đã có thẩm quyền để áp giải (cưỡng bức) nếu ông đại sứ (Martin) cưỡng lại lệnh tổng thống” (David Butler, dẫn theo Nguyễn Tiến Hưng trong sđd. Kỳ 2). Đúng là trước đó đại sứ Martin đã “cưỡng” lại lệnh “di tản nhanh chóng người Mỹ” của tổng thống Ford. Mục đích của Martin nhằm có thì giờ để đưa thêm nhiều người Việt ra đi hơn nữa và tránh khả năng không quân Sài Gòn trong lúc tức giận vì bị bỏ rơi có thể dội bom xuống tòa đại sứ… (còn nữa).

Giao Hưởng


Dương Văn Minh, trước giờ di tản trong tầm pháo


Duong Van Minh

Tướng Dương Văn Minh - Ảnh: Tư liệu


Đến 4 giờ chiều 26/4, Tòa đại sứ Pháp và đại sứ Mỹ Martin báo cho ông Trần Văn Hương lẫn Trần Văn Đôn biết rằng chỉ có Dương Văn Minh mới có thể đối thoại với “phía bên kia” và không thể giao ông Đôn làm "thủ tướng toàn quyền” được. Sáng chủ nhật 27/4, Trần Văn Hương lại họp “đặc biệt” tại nhà riêng. ông Hương lầm bầm: "Muốn ông Minh thì có ông Minh"...




10 giờ sáng 26/4, Trần Văn Hương với tư cách tổng thống mời Quốc hội họp phiên “đặc biệt”. Ông trần tình việc giao Dương Văn Minh làm thủ tướng toàn quyền nhưng bị từ chối. Và ông Minh yêu cầu Trần Văn Hương phải trao ghế tổng thống để đối thoại với Chính phủ Cách mạng. Đứng giữa lưỡng viện, ông Hương thở ra:

  • Trao cái ghế tổng thống cho ai đâu phải là việc nhỏ như trao một chiếc khăn tay, “qua” không làm qua quýt đặng, thôi thì lưỡng viện quyết lấy một trong hai điều. Hoặc là “qua” được toàn quyền chỉ định thủ tướng. Hoặc là bầu ông Minh làm tổng thống.
Nói rồi, ông Hương ra về, điện thoại đến nhà Trần Văn Đôn hứa chắc: “Nếu quốc hội biểu quyết giao quyền chỉ định thủ tướng toàn quyền, tôi sẽ chỉ  định anh!”.

Ông Đôn cám ơn và bàn với bác sĩ Trần Văn Du, giáo sư Bùi Anh Tuấn, đại tá Vũ Quang... về khả năng “hành động và đối thoại” với Mặt trận giải phóng nếu Đôn được giao “toàn quyền”. Đôn cũng điện thoại báo Nguyễn Cao Kỳ biết.

Kỳ đề nghị nên mời tướng Nguyễn Đức Thắng làm Tổng trưởng Quốc phòng để lo việc kéo quân về miền Tây thử “phòng thủ và kháng cự” xem sao. Miệng tuy nói vậy nhưng Kỳ không còn bụng dạ nào để nghĩ đến chuyện viển vông như “uống nước sông Cửu Long thay cơm” để tử thủ. Vì cách đó 4 hôm, vào đêm 22/4, Kỳ tiếp chuyện với một trợ lý của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là Erich Von Marbord tại nhà riêng của mình trong căn cứ Tân Sơn Nhất và rõ ràng vô vọng.

Kỳ kể hôm Von Marbord đến ngồi vào chiếc ghế mà đại sứ Mỹ Martin đã từng ngồi lên đó với vẻ “lạnh lùng và lặng lẽ như đá cẩm thạch ở nhà mồ”. Khi ấy “một người hầu rót thêm trà xanh và rượu Napoléon. Đó là chai rượu cuối cùng còn trong nhà. Tôi (Kỳ) quay sang hỏi Von Marbord:
  • Ông biết dự định của tôi rồi chứ? Ông biết rằng tôi đã giải thích cho đại sứ Martin là chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu ở vùng châu thổ sông cửu Long (!!!) như thế nào rồi chứ!? Tôi biết tôi có thể tổ chức cuộc kháng cự và duy trì nó, có lẽ trong vài tháng... Liệu Chính phủ Mỹ sẽ yểm trợ cho chúng tôi không? Chẳng phải cần đến người mà cần yểm trợ vũ khí thôi. Chúng tôi chỉ yêu cầu bấy nhiêu”...
Kỳ nói mê sảng trong men rượu. Von Marbord im lặng, có lẽ  ông ta nghĩ đến hơn nửa triệu quân Mỹ phải cuốn cờ nữa là, và thế rồi chỉ một câu ngắn ngủi làm tan vỡ sự mong đợi của Kỳ: Tôi rất tiếc, câu trả lời là KHÔNG!
 
“Von Marbord nói với một giọng tẻ nhạt, yếu ớt, không dám nhìn thẳng mặt tôi. Tôi tự hỏi giọng nói ấy, giọng nói chẳng có chút âm vang nào, bộc lộ điều gì? Thất vọng chăng? Nhẫn chịu chăng? Hoặc là tủi nhục?”.

Từ chỗ ngồi nói chuyện với Von Marbord, nhìn ra cửa sổ, bầu trời căn cứ Tân Sơn Nhất “nhuộm một màu bầm đỏ”, Kỳ thấy trong cảnh nhá nhem buổi mặt trời lặn “những vết đỏ xuất phát từ các trận pháo bao quanh ngoại ô chẳng khác gì một giàn hỏa táng cho Nam Việt Nam (chế độ Sài Gòn), cho cuộc thất trận của một quốc gia lớn nhất trên thế giới...”.

Giờ đây, vẫn với giọng mê sảng, Kỳ đồng ý “phòng thủ và kháng cự” nhưng ý chừng nói khơi khơi với Đôn chứ tâm thần đã rệu rã lắm. Nghe vậy, Đôn bảo Nguyễn Cao Kỳ:

  • Tôi ở lại cố gắng tìm giải pháp thương thuyết đình chiến (!), nếu không được tôi sẽ quay về miền Tây...
Muốn như vậy Đôn phải được nắm quyền thủ tướng toàn quyền đã. Và ngay đó, ông đã liên hệ với Dương Văn Minh: ‘Tôi điện thoại cho ông Minh biết tôi có thể được chỉ định chức vụ mà ông đã từ chối với ông Hương. Ông Minh cười... hơi khinh...”.
 
Đến 4 giờ chiều 26/4, Tòa đại sứ Pháp và đại sứ Mỹ Martin báo cho ông Trần Văn Hương lẫn Trần Văn Đôn biết rằng chỉ có Dương Văn Minh mới có thể đối thoại với “phía bên kia” và không thể giao ông Đôn làm “thủ tướng toàn quyền” được.
 

Sáng chủ nhật 27/4, Trần Văn Hương lại họp “đặc biệt” tại nhà riêng với các ông Trần Văn Linh (Chủ tịch Tối cao pháp viện), Trần Văn Lắm (Chủ tịch Thượng viện), Phạm Văn Út (Chủ tịch Hạ viện), Trần Văn Đôn và một phụ tá tư pháp của ông Hương. Nội dung bàn việc “Quốc hội biểu quyết trao quyền cho người khác”, ông Hương lầm bầm:

  • Muốn ông Minh thì có ông Minh.

Họp xong đã 12 giờ trưa, đại tướng Cao Văn Viên (Tổng tham mưu trưởng) xin ông Hương ký sắc lệnh cho mình “nghỉ dài hạn không lương kể từ ngày 27/4/1975”!!! Tới giờ đó rồi mà ông Hương còn hỏi lại Cao Văn Viên vì sao mà nghỉ không lương, ông Viên đáp:

  • Không thể làm việc dưới quyền ông Dương Văn Minh.
Trần Văn Hương “trịnh trọng chấp thuận” cho Viên nghỉ việc! Đến chiều, lưỡng viện vẫn mời ông Cao Văn Viên họp lần cuối có mặt Nguyễn Văn Minh (trung tướng, tư lệnh biệt khu Thủ đô), Trần Văn Minh (trung tướng, tư lệnh không quân), Chung Tấn Cang (trung tướng, tư lệnh hải quân) và trưởng phòng 3 hành quân thuộc Bộ Tổng tham mưu là chuẩn tướng Thọ, trưởng phòng nhì tình báo Bộ Tổng tham mưu là đại tá Lương. Lưỡng viện quốc hội Sài Gòn nghe một loạt báo cáo bi quan về “vòng đai bị thu hẹp”, hy vọng “chỉ còn miền Tây”, lực lượng “tổng trù bị” xuống tinh thần, nội đô còn một lực lượng biệt động quân và... cảnh sát dã chiến!

Một không khí lo âu, sợ sệt bao trùm. Một nhân vật có danh tiếng ở Sài Gòn nói một câu bằng tiếng Pháp:
  • Nếu có xuống âm phủ mình đi với nhau càng nhiều càng vui!
Nghe ớn. Chiều đó 136/138 dân biểu nghị sĩ biểu quyết trao quyền tổng thống cho Dương Văn Minh. Hai người không biểu quyết là chủ tịch thượng viện và chủ tịch hạ viện.
 
5 giờ chiều thứ hai 28/4, chính nơi Thiệu trao ghế tổng thống cho Trần Văn Hương, thì giờ đây ông Hương trao lại cho Dương Văn Minh. Cuộc lễ vừa xong, tiếng máy bay gầm réo qua nóc dinh Độc Lập, tiếng nổ ầm ầm từ xa vọng tới...

Ngay tối hôm đó, theo tài liệu của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, luật sư Triệu Quốc Mạnh (đảng viên ĐCSVN) được Dương Văn Minh giao chức Giám đốc cảnh sát đô thành. Triệu Quốc Mạnh lập tức ra lệnh giải tán các phòng cảnh sát đặc biệt và thả hết tù chính trị, lấy lý do “tạo điều kiện thương thuyết”.

Sáng 29/4, Trần Văn Đôn vào Bộ Tổng tham mưu nhưng bị chặn lại vì bên trong đang bị pháo kích. Cao Văn Viên thoát khỏi tầm pháo, di tản qua Bangkok, bỏ lại Bộ Tổng tham mưu cho tướng Khuyên.

12 giờ trưa, Trần Văn Đôn đến Tòa đại sứ Mỹ nhưng không vào được vì quá đông người. Quay về trụ sở Bộ Quốc phòng Sài Gòn, Đôn tìm cách điện cho một nhân vật có quyền thế của CIA là Polgar. Nhưng gọi mãi không được vì nhiều đường dây điện thoại dẫn đến Tòa đại sứ Mỹ đã bị cắt. Lúc đó, có nhiều tiếng nổ vọng lại từ hướng Tân Sơn Nhất.

23 giờ đêm 29/4, bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh điện bổ sung cho quân đoàn 3 đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn... (Còn nữa)
 
Mai Nguyễn 
Văn Thiệu nhằm chặn bước tiến về Sài Gòn

Đọc hồi ký của các tướng tá Sài Gòn xuất bản ở nước ngoài

 Lá thư vay 3 tỉ đô la của Nguyễn Văn Thiệu nhằm chặn bước tiến về Sài Gòn


Tien ve Sai Gon

Di chuyển lính Mỹ bị thương khi các phòng tuyến bị vỡ - Ảnh: Tư liệu


Lúc Trần Văn Đôn nôn nóng xin cung cấp vũ khí thì Thiệu đã cố gắng viết thư van nài Tổng thống Ford “cho vay nợ vì tự do” (!). Bức thư có đoạn:Tôi đề nghị Ngài yêu cầu Quốc hội đồng ý cho chúng tôi vay dài hạn lần cuối cùng số tiền 3 tỉ Mỹ kim được phân chia trong 3 năm và kỳ hạn hoàn trả là 10 năm.  Với mức lãi suất do Quốc hội quyết định”. Thiệu, trong cơn tuyệt vọng, đem cả tài nguyên đất nước ra thế chấp khi quân giải phóng tiến về Sài Gòn...



Biệt động quân vốn được xem là gan lì, thiện chiến, giờ đây đang rút gần về phía sau tuyến phòng ngự Phan Rang khiến các sĩ quan văn phòng hành quân của dinh Độc Lập đặt dấu hỏi. Rõ là tinh thần họ bị lung lay mạnh bởi cuộc tiến quân của “đối phương” diễn ra quá nhanh sau khi chiếm Ngũ Hành Sơn và vượt sông Trà.

Các tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (tư lệnh quân khu), Trần Văn Nhựt (Sư đoàn 2), Sang (không quân) và nhiều đại tá chỉ huy các đơn vị quanh Phan Rang phải trình bày và trả lời trong hai tiếng đồng hồ về các nguyên nhân và đề đạt cấp tốc hướng đối phó chiến thuật về Bộ Tổng tham mưu.
Trần Văn Đôn với tư cách Tổng trưởng Quốc phòng ghi chép lại lập tức ý kiến các tướng tá. Trong số đó có 3 điều được ghi trong hồi ký sau này của ông Đôn như sau:

1/ Liên đoàn biệt động quân không thể giữ các địa điểm quan trọng ở các đèo gọi là nút chặn cuộc tiến công được, vì thiếu máy truyền tin nhỏ để các đơn vị liên lạc với nhau.

2/ Pháo binh có 4 khẩu đại bác 105 ly tạm gọi là đủ, đạn còn đủ dùng một thời gian nữa nhưng thiếu ống nhòm để nhắm mục tiêu bắn cho chính xác.

3/ Tôi (Đôn) hỏi không quân có bom CBU (bom hơi ngạt) không, họ nói không có loại đạn đó.
Như vậy, họ đổ lỗi một phần việc “phải rút về phía sau” cho sự thiếu thốn phương tiện giao chiến. Thật nguy hiểm. Quân giải phóng đang tiến về hướng Phan Rang mà các báo cáo nội tình của họ chẳng lạc quan chút nào. Đành lòng mở một “lối thoát”

Trần Văn Đôn bảo tướng Nghi thôi nhắm không giữ nổi Phan Rang thì liệu ngay việc rút lui chiến thuật đi. Nhưng Đôn dặn, nhớ cùng đại tá tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa giữ cho được Phan Thiết.

Cắt đặt xong, ông Đôn lên máy bay rời Phan Rang. Trung tướng tư lệnh Quân đoàn III xin cùng về Sài Gòn chung chuyến ấy để bàn định kế hoạch “phòng thủ thủ đô” đang bị đe dọa.
Về Sài Gòn, Đôn cho mời tùy viên quân sự Mỹ là tướng Smith đến văn phòng Bộ Quốc phòng có việc gấp. Tại đó, tướng Smith nghe tường trình ngắn gọn về tình trạng nguy ngập và thiếu thốn khí cụ ở mặt trận và “yêu cầu ông ta tìm cách cung cấp cho tôi (Trần Văn Đôn) những vũ khí, bom CBU, ống nhòm, những phương tiện mà quân đội đang cần”.
 
Tướng Smith đã khiến cho tất cả thất vọng khi trả lời rằng các kho vũ khí của Mỹ không còn những món mà quân Sài Gòn cần cung cấp. Ông ta hứa sẽ hỏi lại Bộ tư lệnh của Mỹ ở Thái Bình Dương xem. Và lặp lại cơ hồ để Bộ Quốc phòng Sài Gòn đừng quá hy vọng rằng “các kho đạn dược hiện nằm ngoài... Việt Nam”.

Trên đường về. Smith ghé lại văn phòng Tổng Tham mưu trưởng và nói với tướng Cao Văn Viên đại ý là nếu ông Đôn bàn định việc di tản gia đình con cái của ông ta ra nước ngoài như thế nào thì tướng Smith còn có thể lo liệu được, chứ đòi cung cấp khí cụ thì khó lắm. Trong bối cảnh lúc bây giờ tìm cách tác động để Mỹ “rót viện trợ” khẩn cấp là ngoài tầm tay tướng Smith. Huống gì Quốc hội Mỹ không muốn can dự vào những cố gắng quân sự của Sài Gòn, khẩu hiệu mới của nghị sĩ và dân biểu Mỹ là “còn viện trợ, còn đổ máu”.

Lúc Trần Văn Đôn nôn nóng xin cung cấp vũ khí, phương tiện một cách muộn màng thì Thiệu đã cố gắng lần cuối trước khi từ chức, viết thư van nài Tổng thống Ford “cho vay nợ vì tự do” (!). Bức thư được cố vấn của Thiệu đưa ra sau ngày 30/ 4 tại Mỹ, có đoạn:
 

“Thưa Ngài Tổng thống,

Tôi đề nghị Ngài yêu cầu Quốc hội (Mỹ) đồng ý cho chúng tôi vay dài hạn lần cuối cùng số tiền 3 tỉ Mỹ kim được phân chia trong 3 năm và kỳ hạn hoàn trả là 10 năm, với mức lãi suất do Quốc hội quyết định”.

Thiệu, trong cơn tuyệt vọng, đem cả tài nguyên đất nước ra thế chấp:

“Tiềm năng về dầu hỏa và nguồn lợi về nông nghiệp của chúng tôi sẽ thế chấp cho món nợ này. Số tiền vay này được gọi là “Freedom Loan”, số tiền này sẽ cho phép chúng tôi một cơ hội để được tồn tại (...). Trong giờ phút vô cùng khẩn thiết này, chúng tôi mong muốn Ngài thúc giục Quốc hội xem xét dễ dàng và cấp bách lời yêu cầu được vay “số tiền vì tự do” nêu trên của chúng tôi. Đây là hành động cầu xin cuối cùng mà chúng tôi, một người bạn đồng minh, gửi đến nhân dân Mỹ. Kính chào, Nguyễn Văn Thiệu”.

Thiệu giao bản thảo bức thư cho cố vấn của mình là TS Nguyễn Tiến Hưng mang sang Washington để vận động hậu thuẫn cho kế hoạch “vay tiền” của Thiệu.
Trước khi lên đường, Hưng điện cho đại sứ Martin ở nhà riêng thông báo về chuyến đi và cho biết ông Thiệu đang muốn “ngăn chặn” sự phủ quyết của Quốc hội Mỹ và phái Hưng vận động vay 3 tỉ đô la, rồi hỏi liệu có cơ may thành sự không?
Martin trả lời “có thể được” bằng một giọng điệu “êm ái” nhưng không che giấu được “sự hững hờ lạnh nhạt vì dường như ông ta đang bận rộn với việc khác”.

Hưng thuật lại như vậy. Và bảo trong cuộc điện đàm, lần đầu tiên đại sứ Martin dùng chữ "Tổng thống của các ông” chứ không phải “tổng thống” hoặc “tổng thống Thiệu” như trước đây. Mấy tiếng “của các ông” đầy dự cảm không hay...

Ngày 18/4, sau khi qua Mỹ, TS Hưng định đến Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) để thu âm buổi phỏng vấn quanh kế hoạch “vay tiền vì tự do”. Hưng nghĩ điều đó sẽ khích lệ phần nào tinh thần quân đội Sài Gòn khi nghe đài VOA, hy vọng còn nhận được viện trợ.
 
Nhưng vài phút trước khi đi, mọi dự định thảy đều tan vỡ vì Đài phát thanh Hoa Kỳ đưa tin Quốc hội biểu quyết từ chối viện trợ, Kissinger tuyên bố “Việc bàn luận về Việt Nam đã chấm dứt” và điều quan tâm của Mỹ lúc bây giờ là rút người của họ về nước.
 
Ngay đêm hôm sau 19/4, Phan Thiết mất, Tuyến phòng thủ Sài Gòn từ xa bị đập tan. Đường “tiến về Sài Gòn” rộng mở. Hai ngày sau 21.4, Thiệu xuất hiện trên truyền hình suốt 3 giờ đồng hồ tuyên bố từ chức. Thiệu trách móc Mỹ bằng những lời cay cú công khai như:
 
“Các ông đã tìm đường rút lui trong danh dự. Hiện nay khi quân đội chúng tôi thiếu vũ khí, đạn dược, máy bay trực thăng, máy bay B.52, các ông đòi hỏi chúng tôi làm một điều không thể làm được giống như dùng đá lấp biển, giống như các ông đưa tôi chỉ có 3 đô la mà thúc giục chúng tôi đi bằng máy bay, ghế hạng nhất, mướn phòng 300 đô la một ngày ở khách sạn, ăn ba hay bốn miếng bít-tết và uống bảy tám ly rượu Tây một bữa. Đấy là điều kỳ quặc không bao giờ làm được...”.
 
Trong lúc Thiệu còn than thở về những điều “không bao giờ làm được” thì phòng tuyến Xuân Lộc đã vỡ, quân Sài Gòn rút chạy đêm 20/4 về phía Rừng Lá, bỏ ngỏ một cánh cửa then chốt tiến về Sài Gòn. (Còn nữa)

Mai Nguyễn 

Đoạn cuối Sài Gòn qua hồi ký Nguyễn Cao Kỳ


hoi ky

Di tản khỏi Sài Gòn bằng máy bay - Ảnh: Tư liệu

Trước khi chợp mắt, Nguyễn Cao Kỳ còn thấy đại sứ Martin cũng xuống tàu Blue – Ridge. Vậy là ông đại sứ không thể rời Sài Gòn và di tản hết những người ghi trong danh sách đã hứa theo đường Tân Sơn Nhất vì sân bay đã bị quân giải phóng khống chế. Từ ngoài biển, tất cả lắng nghe diễn tiến ngày 30.4 qua làn sóng phát thanh…



Nguyễn Cao Kỳ phóng xe jeep đến dinh Độc Lập để gặp Trần Văn Hương và viết trong Hồi ký “phải mất hơn một tiếng đồng hồ mới đến được trung tâm”, cảnh hoảng loạn trên đường phố làm cản trở giao thông. Kỳ viết: “Tôi thấy một anh lính xắn cao tay áo, lấy làm hãnh diện khoe hai cánh tay ra với người bạn. Hai cánh tay của anh ta... đeo đầy đồng hồ lên đến tận khuỷu tay! Vòng qua một góc phố, tôi phải ngưng xe lại một lát và thấy một đứa trẻ ngồi trên xe ba gác, cổ đeo lủng lẳng một vật gì trông giống cái máy ảnh. Song đáng để ý là nó còn có một thứ khác nữa: một khẩu súng ngắn và một cây tiểu liên bên cạnh. Quanh tòa đại sứ Mỹ, những người hôi của đang khiêng đi những tấm thảm, bồn tắm bằng sứ, trường kỷ và cả những tủ đựng hồ sơ. Khắp nơi mùi hôi thối xông lên, mùi nước sông, trộn lẫn với mùi cống rãnh lộ thiên không ai vét sạch, mùi cá khô, cả mùi của những thùng rượu whisky bị vỡ…”.
Ngay khi tới dinh Độc Lập, Kỳ được đưa vào gặp Trần Văn Hương. “Ôi, ông già Hương chân tình, người đã tặng tôi 200.000 đồng làm quà cưới vợ (đủ để trang trải chi phí nặng nề của lễ cưới tại khách sạn Caravelle...). Lúc này mắt ông ta đã kém đến nỗi gần như không thấy chữ nữa...” và Kỳ “quyết gắng sức lần chót” bằng cách yêu cầu Hương bổ nhiệm chính Kỳ chỉ huy quân đội. Ông Hương trả lời:
- Không thể được. Song tôi có thể để thiếu tướng làm phụ tá quân sự đặc biệt cho tôi vào vài ngày nữa...
 
Nhưng lúc 5 giờ chiều hôm đó 28.4.1975, tại phòng họp dinh Độc Lập, ông Trần Văn Hương trao quyền lại cho Dương Văn Minh thay làm tổng thống - Phó tổng thống là ông Nguyễn Văn Huyền và thủ tướng là ông Vũ Văn Mẫu. Trung tướng Vĩnh Lộc được chỉ định làm tổng tham mưu trưởng (thay Cao Văn Viên). 11 giờ 30 trưa 29.4, bàn giao phủ thủ tướng, Trần Văn Đôn thuật: “Ông Mầu đến đúng nghi lễ, đi bằng xe Mercedes dành cho thủ tướng... Ông Mẫu nói chuyện với mấy ông tổng trưởng:
 
- Tôi vừa lên đài phát thanh tuyên bố, yêu cầu Mỹ phải rút khỏi Nam Việt Nam trong vòng 24 giờ đồng hồ kể từ 5 giờ sáng nay.
 

Nghe ông Mẫu nói, tôi (Trần Văn Đôn) dùng điện thoại màu xanh lá cây dành riêng cho thủ tướng và phó thủ tướng để liên lạc với tòa đại sứ Mỹ:

  • Chuyện gì xảy ra đó? Tôi vừa nghe ông tân thủ tưởng (Vũ Văn Mẫu) yêu cầu DAO rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ?
  • Không phải riêng DAO mà tất cả những người Mỹ sẽ rút. Nếu ông muốn đi thì lên Tòa đại sứ Mỹ trước 2 giờ trưa này.
Tôi chào mọi người và ra về lúc 12 giờ. ”
 
Đến 7 giờ 30 tối hôm đó (29.4), Trần Văn Đôn cùng đại tá Khấu lên chuyến trực thăng bốc khỏi sân thượng tầng 9 của tòa nhà dùng làm cơ sở CIA trên đường Gia Long và đáp xuống chiến hạm Hancock vào ban đêm.
 

Những người khác? Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm trong lúc vội vã đã “bỏ quên’’ Đặng Văn Quang (đứng đầu cơ quan an ninh phủ tổng thống). Quang đã gây oán với khá nhiều người nên khi bị kẹt lại Sài Gòn, em út Nguyễn Cao Kỳ đòi bắn Quang:

- Quang hiện ở Bộ tổng tham mưu và người ta bảo là hắn ta tức giận điên cuồng vì Thiệu đã hứa cho hắn đi theo nhưng rồi lại ra đi mà không cho hắn biết. Thưa thiếu tướng (Kỳ), chúng tôi có thể bắt hắn đem hành hình được không?..."
 Kỳ  bảo: “Hãy bắt hắn nhưng đừng hành hình”.

Số hên giúp Quang thoát khỏi vòng lùng bắt và ra được chiến hạm Hancock ở đó có tướng Ngô Dzu và 2000 người di tản.
Sáng sớm 30.4. trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng, trung tướng Trần Văn Trung. Tổng giám đốc Nha chiến tranh chính trị, đại tá Trần Ngọc Huyến và một số sĩ quan khác lên đoàn xe rời Bộ Tổng tham mưu đến công xưởng hải quân, dùng một chiếc tàu hư duy nhất còn để ở xưởng vượt sông Sài Gòn. Đến cửa biển, tàu chỉ chạy một máy, bị hỏng hóc ngừng hẳn. Nhờ máy truyền tin kêu cứu, đề đốc Chung Tấn Cang và phó đề đốc Diệp Quang Thụy phái tàu tới vớt.

Nguyễn Cao Kỳ thì đã "đưa Mai và các con tôi đi Honolulu trên chiếc máy bay quân sự cuối cùng cửa Mỹ cất cánh rời căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Vợ tôi chỉ có 20 phút để xếp va-li sau bữa điểm tâm và tôi cũng không có mặt để mà chia tay”.

Kỳ kể vậy và bảo trong tuyệt vọng ông bay đến bộ tổng tham mưu thấy "khu nhà này trước kia tấp nập hàng nghìn sĩ quan và binh sĩ giờ đây vắng ngắt... lúc bước xuống cầu thang tôi gặp tướng Ngô Quang Trưởng, tôi hỏi: "Anh làm gì ở đây?”. Trưởng đáp:
- Tôi không biết phải làm gì nữa!
 
Gia đình Trưởng đã di tản từ nhiều ngày trước vì thế tôi bảo ông ta “vậy thì hãy đi với tôi”.
 
Tập hợp 6, 7 phi công khác trên chiếc máy bay lên thẳng. Kỳ tự lái rời Sài Gòn đáp xuống tàu sân bay Midway ngoài khơi. Đô đốc Harris đưa tất cả sang tàu chỉ huy Blue-Ridge bằng trực thăng Mỹ:
 
"Khi 14 người chúng tôi, toàn là sĩ quan cao cấp, bước ra khỏi máy bay thì một đại tá Mỹ của tàu Blue-Ridge mở miệng chào đón chúng tôi bằng một tiếng quát lớn:”Tất cả các ông hãy lại đây!”. Ông ta dẫn chúng tôi đến một cái bàn và nói "Các ông cảm phiền cho chúng tôi khám người". Khám được nửa chừng thì có người nói thầm gì đó, ông ta thấp giọng bảo tôi: "Xin ông đi theo tôi”. Ông ta dẫn vào một buồng ngủ nhỏ, hỏi: "Ông từ đâu tới? Sài Gòn phải không?”. Tôi gật đầu. Cuối cùng: “Ông là ông Kỳ?”. Tôi lại gật đầu. Đêm ấy sau khi tôi gặp viên chỉ huy tàu, ông đại tá Mỹ đến xin lỗi tôi. Tôi nói rằng tôi biết rõ là hiện nay ở mọi nơi đều có sự lẫn lộn và ngay cả nghi ngờ. Nhưng không sao nhịn được, tôi lại nói thêm:
 
- Điều mà tôi không sao hiểu được là tại sao ông ta lại đối xử với tôi và các sĩ quan đi cùng tôi như ông đã làm? Chúng tôi có thể đã thua, nhưng không phải chỉ riêng chúng tôi thua - người Mỹ các ông cũng thua!”..
 
Sau những lời cay đắng đó, Kỳ xin vài viên thuốc ngủ. Viên sĩ quan quân y Mỹ chỉ đưa đúng một viên, với một cốc nước, chờ ông uống xong mới chịu quay đi.

Trước khi chợp mắt, Kỳ còn thấy đại sứ Martin cũng xuống tàu Blue – Ridge. Vậy là ông đại sứ không thể rời Sài Gòn và di tản hết những người ghi trong danh sách đã hứa theo đường Tân Sơn Nhất vì sân bay đã bị quân giải phóng khống chế. Từ ngoài biển, tất cả lắng nghe diễn tiến ngày 30.4 qua làn sóng phát thanh… (Còn nữa)
 
Mai Nguyễn

Tổng thống một tuần Trần Văn Hương “liên hiệp” với hoàng hôn


Tran Van Huong

Tổng thống "một tuần" Trần Văn Hương, người cầm gậy - Ảnh: Tư liệu

Đó là một trong những cố gắng cuối cùng trước ngày tan rã. Chỉ 6 hôm sau, ông Trần Văn Hương “đăng quang”, thay Thiệu làm tổng thống tô đậm thêm hình ảnh tàn tạ của buổi hoàng hôn chế độ: “Lúc đó ông Hương đã 71 tuổi, không khí buổi lễ (trao quyền tổng thống) hôm ấy buồn tẻ, ông Hương lọm khọm nói không rõ ràng mạch lạc... ”.



Khi các đội quân lấn chiếm của Thiệu triển khai các mũi đánh phá thì Trần Văn Đôn đã từ Paris về đến Sài Gòn và trao ông Thiệu danh sách các chính khách đối lập đang sống tại miền Nam, đề nghị liên hiệp “thành lập nội các có những người từ hữu cho đến tả và trung lập để làm việc với nhau” theo tình hình mới sau hiệp định. Thiệu dò xét:
 
- Ông Đôn, tôi thấy người đứng ra lập nội các đó được chính là trung tướng!
 Đôn chột dạ, bảo:
 - Tôi đưa ra nguyên tắc, chứ không đưa ra cá nhân tôi.
 
Hồi năm 1967, lúc Đôn bị nhóm tướng trẻ hất ra khỏi quân đội, ông “thoát hiểm” bằng cách ứng cử vào thượng viện Sài Gòn với sự hỗ trợ vận động của một hiệp hội chiến sĩ do chính Đôn làm chủ tịch. Hiệp hội này gồm các tướng tá tên tuổi, các nhân vật giao tiếp rộng của Sài Gòn như: Thái Quang Hoàng (đệ nhất phó chủ tịch), Lê Quang Vinh (đệ nhị phó chủ tịch), Lê Văn Nghiêm (tổng thư ký), Nguyễn Văn Chuân (phó tổng thư ký), Huỳnh Hữu Hiền, Trần Tử Oai, Phan Đình Ngọc, Trịnh Văn Thanh, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, Hồng Sơn Đông và nhiều cố vấn: Lâm Văn Tết, Vông A Sáng, Nguyễn Khắc Tân, Trịnh Khánh Vàng, Nguyễn Gia Thu.
 
Để tạo thế “hai chân” vững chắc, Trần Văn Đôn gia nhập Hội liên trường Pétrus Ký, Mỹ Tho, Cần Thơ, Chasseloup Laubat và có niên khóa được bầu làm hội trưởng, với 2 phó hội: nha sĩ Ngô Quang Doãn và bác sĩ Trương Ngọc Hơn, tổng thư ký: luật sư Nguyễn Văn Lộc, phó tổng thư ký: kỹ sư Vũ Văn Nhung, cùng kỹ sư Ngô Văn Hoài, kỹ sư Bùi Quang Phương, kỹ sư Lê Văn Danh, cố vấn: thạc sĩ Trần Quang Đệ, kỹ nghệ gia Trần Văn Văn, luật sư Trần Văn Liêm, tham sự Võ Văn Để... Ông thừa nhận qua hồi ký, hai hội trên ủng hộ ông trong vận động tranh cử quôc hội. Cộng mối quan hệ tăng thêm sau nhiều năm làm nghị sĩ, dân biểu, Trần Văn Đôn có thể trở thành nhân vật “khó tính” đốì với Thiệu khi “nội các có cả tả và hữu” mà Đôn nói tới được hình thành. Ông Đôn viết là đã bàn với giáo sư Bùi Anh Tuân, tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, bác sĩ Trần Văn Du, giáo sư Phạm Văn Diêu về “giải pháp phi liên kết” và trình bày với ông Thiệu những thuận lợi của giải pháp đó tại dinh Độc Lập ngày 31.1.1973 nhưng Thiệu ừ è, rồi bỏ qua.
 
Lình xình, nghi kỵ, chần chừ mãi đến hơn 2 năm sau khi quân giải phóng tiến sát Sài Gòn. Thiệu mới giao Trần Văn Đôn giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng ngày 14.4.1975 trong chính phủ do ông Nguyễn Bá Cẩn làm Thủ tướng. Ông Đôn nhắc lại việc “thành lập một nội các liên hiệp mà năm 1973 tôi đã từng đề nghị. Tôi vừa nói đến đó thì ông Thiệu lắc đầu...

- Mà liên hiệp thế nào? Bây giờ liên hiệp mình ở thế yếu. Năm 1973 mình ở thế mạnh hơn (!) ”.

Không được thực hiện “giải pháp chính trị” do mình đề ra, Trần Văn Đôn bay ra chiến trường. Bấy giờ áp lực của cuộc tổng tiến công làm vỡ tuyến phòng ngự của quân đội Sài Gòn ở mặt trận cực nam Trung bộ. Trần Văn Đôn thuật:
 

Đêm 18.4, Phan Rang mất, ở đó có nhiều đơn vị chiến đấu giỏi, nhưng có lẽ binh lính mất tinh thần và cấp chỉ huy bi rối. Tưng Nguyễn Vĩnh Nghi bị Việt Cộng bắt. Tối hôm sau 19.4, Phan Thiết bị mất vì binh sĩ không còn tinh thần chiến dấu, dù đại tá tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa bố trí binh sĩ khắp các nơi có tính cách chiến lược, nhưng nghe tiếng đoàn xe tăng Việt Cộng vào thành phố là lính bỏ súng chạy thoát thân. Trong lúc đi thăm tình hình chiến sự ở các nơi thì nhiều sĩ quan than phiền với tôi:

- Những ông tướng tá làm mất các tnh Cao nguvên và miền Trung, bây giờ nhởn nhơ đi chơi ở Sài Gòn, có xe hộ tống đi ăn uống trong khi chúng tôi ở đây nhận chịu hậu quả các việc làm của họ...

Trung tướng Lê Nguyên Khang điều tra và ngày 18.4 đã trao Thiệu danh sách các tướng tá cần quản thúc vì làm mất miền Trung, gồm trung tướng Lâm Quang Thi, trung tướng Phạm Quốc Thuần, thiếu tướng Phạm Văn Phú, thiếu tướng Lâm Quang Thơ và chuẩn tướng không quân Nguyễn Đức Khánh, cùng đại tá tỉnh trưởng thuộc các tỉnh và thành phố bị rơi vào tay quân giải phóng như Quảng Tín, Đà Lạt, Nha Trang, Phan Rang...
Những tướng tá trên đều bị quản thúc, trừ Ngô Quang Trưởng, lý do "đang phụ tá hành quân cho đại tướng Cao Văn Viên” theo lời Thiệu thông báo. Nhưng ông Trưởng vẫn tự đến gia nhập vào “nhóm sĩ quan bỏ mất miền Trung”.

Trong khi quân đội tan rã thì ông Đôn lấy làm “tiếc là ông thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn không phải là người của tình thế, cũng không phải là người dốc tâm dốc sức để giải quyết cơn bệnh đến lúc ngặt nghèo của Việt Nam Cộng hòa". Ông Cẩn đứng đầu nội các có nhiều chuyên viên và chính trị gia, được xem là “mạnh” nhiều lần hơn so với các nội các của Sài Gòn trước đó với tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo (Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng canh nông và kỹ nghệ), kỹ sư Dương Kích Nhưỡng (Phó thủ tướng đặc trách cứu trợ và định cư); các quốc vụ khanh gồm: luật sư Lê Trọng Quát, giáo sư Phạm Thái, ông Nguyễn Xuân Phong, luật sư Vương Văn Bắc (Tổng trưởng ngoại giao), luật sư Ngô Khắc Tịnh (Tổng trưởng tư pháp), ông Bửu Viên (Tổng trưởng nội vụ), tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Tổng trưởng kế hoạch), giáo sư Trần Văn Mãi (Tổng trưởng xã hội), nghị sĩ Tôn Thất Niệm (Tổng trưởng y tế), kỹ sư Nguyễn Xuân Đức (Tổng trưởng công chánh giao thông), giáo sư Nguyễn Duy Xuân (Tổng trưởng văn hóa) và nhiều tổng trưởng, thứ trưởng, cố vấn khác như thẩm phán Huỳnh Đức Bửu, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, kỹ sư Đoàn Minh Quan, kỹ sư Nguyền Hữu Tân, ông Nguyễn Quang Diệp, Lê Quang Trường, Nguyễn Long Châu...

Đó là một trong những cố gắng cuối cùng trước ngày tan rã.

Chỉ 6 hôm sau, ông Trần Văn Hương “đăng quang”, thay Thiệu làm tổng thống tô đậm thêm hình ảnh tàn tạ của buổi hoàng hôn chế độ: “Lúc đó ông Hương đã 71 tuổi, không khí buổi lễ (trao quyền tổng thống) hôm ấy buồn tẻ, ông Hương lọm khọm nói không rõ ràng mạch lạc...”. (Còn nữa)

 

Mai Nguyễn


Tại sao thủy quân lục chiến Mỹ và binh lính Sài Gòn suýt bắn nhau vào giờ chót?


thuy quan luc chien My ban nhau voi binh si Sai Gon

“Giờ chót” ở đây nhằm chỉ thời hạn căng thẳng của cuộc di tản 6.000 người Mỹ khỏi Việt Nam vào các tuần lễ cuối cùng trước ngày Sài Gòn thất thủ…  


Tại sao hỗn loạn lại diễn ra quá đỗi nhanh chóng ?

Hồ sơ số 31559 - Font PTTg (lưu trữ phát biểu của tổng thống Thiệu):

“Nhiều tỉnh đã xảy ra chuyện đồng bào lũ lượt kéo hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn đi. Binh sĩ vô kỷ luật bắn phá, cướp bóc, trong đó có đặc công Cộng sản trà trộn, rỉ tai nói với đồng bào: “Đi lại chiếm phi trường đi, để có tàu bay mà đi (di tản); đồng bào đi lại chiếm hải cảng đi để có tàu thủy mà đi; đồng bào cứ ra giữa phi đạo ngồi đi, rồi có tàu bay mà đi”.
Giành giựt nhau, đạp nhau, chém giết nhau, bắn giết nhau để rồi rốt cuộc không ai đi được hết. Trong sự hỗn loạn, nhà nước không tổ chức được cuộc di tản bằng máy bay, nhà nước không tổ chức được cuộc di tản có trật tự bằng tàu thủy, để trễ nải 3, 4 ngày sau. Trong lúc đó binh sĩ cũng không tổ chức được chiến đấu, Cộng sản nó sáp lại gần, than ôi, lúc đó đã trễ quá rồi (…) cho nên bây giờ hàng ngàn đồng bào còn kẹt lại những chỗ như Đà Nẵng, Qui Nhơn chẳng hạn”.

Phát biểu trên (4.4.1975) cho thấy sợ hãi quá mức đã gây nên sức ép tâm lý trong dân chúng và binh lính Sài Gòn, dẫn đến hỗn loạn. Đại sứ Mỹ Martin nhận định (tương tự): “Yếu tố đáng sợ nhất chính là sự hoảng hốt. Sự hoảng hốt có thể là kẻ giết người, là kẻ phá đổ, và là yếu tố làm tê liệt mọi việc mà ta cần phải tránh với bất cứ giá nào vào lúc đó”.

Câu ấy của Martin được TS. Nguyễn Tiến Hưng (cố vấn tổng thống Thiệu) trích dẫn trong cuốn “Khi đồng minh tháo chạy” (xuất bản lần đầu năm 2005 bởi cơ sở Hứa Chấn Minh - San Jose, CA).

Đến 16.4.1975 Phan Rang thất thủ (xem kỳ 1). Qua hôm sau 17.4.1975, đại sứ Martin nhận mật điện từ Mỹ:

Người nhận: Martin

Độ mật: Tối mật

“Chúng tôi vừa họp xong một cuộc họp liên bộ để duyệt xét tình hình miền Nam Việt Nam. Ông Đại sứ phải biết rằng trong phiên họp của Ủy ban Đặc nhiệm Washington hôm nay, hầu như không có ai ủng hộ việc di tản người Việt và việc dùng quân lực Mỹ yểm trợ bất cứ việc di tản (người Việt) nào. Quan điểm chung của các giới quân sự, Bộ Quốc phòng và CIA là phải rút ra cho lẹ và ngay lập tức”.

(“We have just completed an interagency review on the state of play in South Vietnam. You should know that at the WSAG (Washington Special Action Group) meeting today, there was almost no support for the evacuation of Vietnamese, and for the use of American force to help protect any evacuation. The sentiment of our military, DOD (Department of Defense) and CIA colleagues was to get out fast and now”).

Để bạn đọc tiện theo dõi các diễn tiến đầy kịch tính trong các bài tới, ở cuối bài này, chúng tôi trích giới thiệu trước đoạn TS. Hưng viết về cuộc tháo chạy do Nhà Trắng lên kế hoạch điên rồ (crazy plans) sau:

“Để giúp cho việc ra đi được yên ổn và không tổn hại nhiều đến uy tín của mình, Hoa Kỳ đã có 4 dự định chính: 1. Mang thủy quân lục chiến vào Sài Gòn để phụ trách di tản 6.000 người Mỹ và một số rất ít người Việt Nam liên hệ. 2. Tác động với phía Việt Nam để tránh tình trạng hỗn loạn vào giờ phút chót. 3. Nhờ cậy Liên Xô dàn xếp với Hà Nội để không cản trở việc di tản. 4. Sắp xếp một giải pháp chính trị để có một thời gian chuyển tiếp”.

Martin: “Người Việt Nam sẽ cho rằng Hoa Kỳ mang thủy quân lục chiến vào để di tản người Mỹ và mặc kệ số phận người Việt ở đây - đó là một hành động phản bội trắng trợn của Hoa Kỳ (…) tình báo của chúng tôi đã có rất nhiều những báo cáo chính xác là nếu chúng ta mang số đông thủy quân lục chiến vào để di tản người Mỹ, chúng ta sẽ phải chiến đấu để mở đường tháo chạy. (Lúc ấy) không quân Việt Nam (không quân Sài Gòn) sẽ bắn rơi các máy bay vận tải của mình (chở người Mỹ ra đi), vì chúng ta bỏ rơi chiến hữu, phó mặc họ cho Bắc Việt”. Và một quan chức ở Sài Gòn nói thẳng với Kissinger rằng: “Nếu các ngài rút người Mỹ ra và bỏ rơi chúng tôi trong hoạn nạn, các ngài có thể phải đánh nhau với một sư đoàn quân đội miền Nam (quân đội Sài Gòn) để mở lối ra”…

Để gỡ rối, giám đốc CIA Mỹ W. Colby nói gì và làm gì ? (còn nữa).

Đại sứ Martin đến sân bay Tân Sơn Nhất vào 'giờ chót' để làm gì?


Dai su Martin

Đại sứ G.Martin trình ủy nhiệm thư tháng 7/1973 - Ảnh: Tư liệu


Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân Sài Gòn, viết về cuộc tấn công cuối cùng. 'Kho nhiên liệu phát hỏa, nhiều máy bay nổ tung giữa ánh lửa màu cam.  Bỗng một chiếc ô tô trờ tới trước cổng. Ai tốt bụng đến rước tôi vào phút cuối này? Người bước xuống là... đại sứ Martin. Thật là bất ngờ! Ông ta đến sân bay làm gì giữa lúc nơi đây đang hứng chịu đạn pháo tới tấp?..."



Ngày 29/4/1975, từ trận địa pháo 130mm đặt ở Nhơn Trạch, quân giải phóng bắn hơn 300 trái đạn vào phía trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất của quân đội Sài Gòn. Đạn rơi trúng và phá sập khu nhà hàng không Mỹ; hủy phân nửa số máy bay đang đậu; hai trái nổ sát trạm gác làm tử thương 2 lính Mỹ mà Frank Sneep ghi rõ họ tên: trung sĩ Mac Mahon và binh nhất Judge (đang làm nhiệm vụ bảo vệ “cuộc tháo chạy tán loạn” bằng đường không tại Tân Sơn Nhất). Họ được xem là 2 lính Mỹ cuối cùng chết trong cuộc chiến tranh Việt Nam. 

Bây giờ Nguyễn Cao Kỳ, thiếu tướng, từng làm tư lệnh không quân Sài Gòn còn ở tại nhà riêng trong căn cứ Tân Sơn Nhất thuật lại cảnh tượng do trận mưa pháo gây ra mà ông ta tận mắt chứng kiến: 
“Trời vừa rạng sáng, quân cộng sản đã nã pháo hạng nặng trúng vào đường băng của sân bay. Kho nhiên liệu chính phát hỏa và chỉ vài phút sau khói đen quyện dầu bốc lên dày đặc tỏa thành đám mây khổng lồ. Nhiều máy bay đậu trên mặt đất nổ tung giữa những ánh lửa màu cam. Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc tấn công cuối cùng đã mở màn”. (Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế nào?, sđd.)

Theo Kỳ kể, ông đã nán ở lại cho đến lúc nghe có tiếng súng đại liên vọng tới từ hướng một nghĩa địa cách nhà ông chừng nửa dặm. Ông ta đoán là một lực lượng quân “đối phương” chắc vừa lọt vào sát khu vành đai căn cứ không quân. 
Nếu đúng như vậy có lẽ họ sẽ đặt chân lên đường băng không mấy chốc. Ông chột dạ, đang loay hoay chưa biết phải làm gì thì thấy một chiếc ô tô trờ tới ngay trước cổng. Ai tốt bụng đến rước ông vào phút cuối này? Không phải “chiến hữu" nào trong Bộ tham mưu quân Sài Gòn cả, xe cắm cờ Mỹ, ngồi trên là hai người Mỹ. Kỳ quan sát thật kỹ, nhận ra người vừa bước xuống xe là... đại sứ Martin. 

Thật là bất ngờ! Ông ta đến sân bay làm gì giữa lúc nơi đây đang hứng chịu đạn pháo tới tấp? Lúc đầu, Kỳ nghĩ ông ta đến tìm mình nhưng ngay sau đó biết là không phải; Martin muốn tận mắt nhìn thấy sự thực về các báo cáo mới nhất rằng máy bay không thể cất cánh được vì đường băng đã bị bom và đạn pháo phá hỏng. Vị đại sứ muốn đạo diễn màn chót cuộc chiến bại bằng cảnh “người Mỹ ra đi đàng hoàng” chứ không “tháo chạy”. 

Nhưng cuộc ra đi “đàng hoàng” đó giờ đây không tiếp tục thực hiện được nữa bằng những phương tiện máy bay tại Tân Sơn Nhất vì Martin trong chuyến quan sát thực địa thấy rõ “không một máy bay nào có thể cất cánh” và “điều ấy có nghĩa là người Mỹ không thể mở cuộc di tản trên quy mô lớn mà sẽ phải đưa người ra khỏi Việt Nam bằng máy bay lên thẳng (từng đám nhỏ một) và cũng có nghĩa là Martin không giữ được lời hứa sẽ di tản tất cả những người Việt Nam có liên hệ với tòa đại sứ Mỹ” - như Kỳ viết. Đứng lặng vài giây, Martin vội vàng lên xe jeep cùng tướng Smith ngồi bên cạnh nổ máy vọt đi, bỏ lại sân bay không còn sử dụng được nữa. Ông ta trở về tòa đại sứ Mỹ quyết định tổ chức cuộc di tản hoàn toàn bằng máy bay lên thẳng mang tên “chiến dịch móng quặp chặt”.

Khi Martin rời Tân Sơn Nhất, Kỳ trèo lên chiếc trực thăng riêng của mình, vớt thêm 6 phi công nữa cùng ngồi chen chúc nhau, nổ máy, cố rướn lên khỏi mặt đất đang bị đe dọa bởi pháo tầm xa và: ‘Tôi chỉ kịp nhìn lại căn nhà của mình, nơi đó biết bao điều đã xảy ra, và mới rạng sáng hôm qua đây còn vang tiếng cười của các con tôi... Mai (vợ Kỳ) và các con tôi đi Honolulu trên chiếc máy bay quân sự cuối cùng của Mỹ cất cánh rời căn cứ không quân Sài Gòn (sáng 28/4). Vợ tôi chỉ có 20 phút để thu xếp va-li sau bữa điểm tâm và tôi cũng không có mặt để chia tay”. 
So với số đông khác “chạy tán loạn”, Kỳ còn may mắn hơn rất nhiều; ông ta ngồi trên trực thăng nhìn xuống đường phố Sài Gòn sáng 29/4 và mô tả: 
“Phố xá nhan nhản những bóng người chạy lăng xăng với những ngọn lửa màu cam của các đám cháy chấm phá đây đó. Những hình ảnh đó lướt qua trước mắt chúng tôi quá mau trên đường ra biển. Mặt biển đan kín các tàu thuyền đủ cỡ, đủ loại, từ những thuyền chèo bằng tay trông nhỏ xíu đến những tàu sân bay...”.

Đáp xuống tàu sân bay Midway đậu ngoài khơi, rồi chuyển sang tàu chỉ huy Blue Ridge, ở đó Nguyễn Cao Kỳ thình lình gặp lại... đại sứ Martin. 
Thật chán ngán, cả 2 lần gặp liên tiếp trong 2 ngày chẳng có lấy một chút thú vị gì cho Kỳ. Martin lên chiêc máy bay CH-53 (đổ xuống sân thượng tòa đại sứ Mỹ lúc 4 giờ 20 sáng 30.4) sau khi Washington điện khẩn buộc phải đi ngay.

Một tài liệu của Ban tổng kết chiến tranh Thành ủy TP. Hồ Chí Minh biên soạn đã cho biết:
“Nhà trắng lại có lệnh rõ ràng: “Cầu hàng không (chở người di tản) sẽ ngừng (hoạt động) lúc bản thân Martin đã đi”. Nhưng khi chiếc CH-53 chở Martin đã rời sân thượng, tòa đại sứ Mỹ vẫn còn 5 nhân viên, 4 lính thủy đánh bộ người Mỹ và ngót 420 người Việt Nam phần đông là nhân vật cao cấp của Thiệu, nhân viên sứ quán Nam Triều Tiên, đứng đầu là thiếu tướng... Tất cả những người này chấp nhận bỏ hành lý để thoát cho được. Moorefield, người được Martin chọn “giúp cai trị” ở tòa đại sứ là người Mỹ cuối cùng rời Sài Gòn lúc 5 giờ 24 phút ngày 30 tháng 4.” (Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến 1945- 1975, Trần Hải Phụng và Lưu Phương Thanh chủ biên, NXB TP Hồ Chí Minh 1994). 

Ra tới tàu Blue Ridge như đã nói, đại sứ Martin có nhiều phóng viên đi theo; những phóng viên đó gặp Kỳ và yêu cầu họp báo ngay trên tàu. Biết chuyện đó, Martin phái sĩ quan báo chí của ông ta đến buồng Kỳ đang trú để thuyết phục đừng họp báo. 
Kỳ viết: “Sự thuyết phục đó không cần thiết vì chính tôi cũng không muốn nói chuyện với ai”. 
Là vì tâm trạng của Kỳ lúc đó đang chán ngán, rã rời, chẳng buồn gần gũi ai “ngay cả khi nhìn thấy ông ta (Martin) đứng cạnh một cửa hầm trên boong tàu, vai khoác một cái áo tắm xanh, đôi mắt trũng sâu, tôi cũng không lại gần. Ông ta đang ăn một quả táo... Người hầu của Martin thì đang dẫn con chó xù của ông đại sứ đi dạo chơi”. 

Xa cách làm sao, cảnh và người so với mấy tháng trước đây, ngày mà đại sứ Martin kín đáo đến thăm Kỳ tại nhà riêng sau khi sư đoàn I bị đánh tan và Đà Nẵng thất thủ. 

Ông ta hứa điều gì? Và tại sao Kỳ suýt bị hạ thủ? (Còn nữa)

Mai Nguyễn

Sát phạt và sợ bị trả thù trước giờ tuyên án tướng Thi

hoi ky tuong ta Sai Gon

Cặp bài trùng Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ



Nghe Nguyễn Văn Thiệu vạch tội Nguyễn Chánh Thi lê thê luộm thuộm quá, tổng ủy viên thông tin trong nội các của Nguyễn Cao Kỳ là thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị đứng dậy đỡ lời và “tém lại” cho gọn.


Ông Trị gióng tiếng cảnh giác Hội đồng kỷ luật do Thiệu làm chủ tịch hãy thật công bằng, đừng dựa vào “lời khai một phía” của “thằng Hộ” nào đó mà kết tội Thi, Thiệu ngắt lời :

-        Thằng Hộ (?) cũng là một source d’information (nguồn thông tin)... Bây giờ anh em muốn décider (quyết định) liền hay là để mình đi lần lượt mình làm comparaison (đối chiếu) sau, hay là mình cứ đưa ra một cái gần như draft (phác thảo) trước?

Hỏi như vậy Thiệu làm rối chuyện lại và chẳng ai trả lời. Nguyễn Cao Kỳ giả bộ không nghe câu Thiệu hỏi, đẩy mũi dùi thẳng vào Thi:

-        Xin dùng danh từ ông Thi là cái ngòi mà cái người châm ngòi không phải ông Thi. Ông Thi chỉ là cái ngòi trước sự xáo trộn và nhất là trong cái vụ xáo trộn Thi chỉ là cái ngòi thuốc súng và cái người châm ngòi là Trí Quang và tất cả phe nhóm chính trị đứng đàng sau.

Trí Quang mà Kỳ nói là “cái người châm ngòi” tức thượng tọa Thích Trí Quang – lãnh đạo Phật tử  đấu tranh chống Thiệu – Kỳ tại Đà Nẵng và Huế. Kỳ viết trong hồi ký rằng sau biến động miền trung, Kỳ đã ra lệnh bắt giữ thượng tọa Thích Trí Quang và đưa vào Sài Gòn “chữa bệnh”. Kỳ tiếp:

-        Các quý vị còn nhớ, đại tướng Khánh hỏi rằng ông Thi ra nắm được miền Trung không, cũng đã nhiều lần tôi đã nói với ông Khánh là phải cho một số anh em ở trung ương (Sài Gòn) ra cạnh ông Thi (ở miền Trung) để mà conseiller (khuyên can bớt) ông đó. Ông Thi chưa nắm được miền Trung đâu trái lại chính miền Trung lại nắm ông Thi để làm cái paravent (bình phong) mà che cho họ núp đàng sau... Trước ngày ông bị cách chức (10.3.1964 tại Sài Gòn ) thì ông đã bị lợi dụng. Có người(?) đã tính đường xa hai ba năm về sau là nó thúc đẩy “conseiller” (chỉ vẻ) để thổi phồng lên hầu nó có một bộ mặt chính thức và ông Thi đã vô tình cũng như có một phần nào có ý mắc vào cái mưu mẹo đó (...). Ông biết rằng ông không thể nào đơn phương độc mã mà làm chuyện gì ghê gớm đâu. Thế nhưng mà ngồi ở đó (tư lệnh quân đoàn I và vùng I chiến thuật, kiêm đại biểu chính phủ tại trung nguyên Trung Phần) thằng nào tới nói “Oui” (Ừ! Được) ông cũng “Oui”, mà nói “Non” (Không!) thì ông cũng “Non”!

Nói tới đó, Nguyễn Cao Kỳ hạ thấp dần cường độ khích bác để đưa đến nhận xét có lợi một cách bất ngờ cho ông Thi khiến Thiệu chưng hửng:

-        Ông Thi có những hành động nào tiếm quyền và dùng quân đội (ý nói trực tiếp chỉ huy quân ly khai chiến đấu chống trả cuộc tập kích của Thiệu - Kỳ - MN) trong vụ xáo trộn này không, thì không có một bằng cớ nào tỏ ra ông Thi có cái việc tiếm quyền phản loạn. (Thật ra Nguyễn Cao Kỳ biết rõ ông Thi thực chất nắm quyền điều động Sư đoàn I trong tầm tay và cổ xúy binh lính ly khai như “tin riêng” của tướng Westmoreland nhận được). Tất nhiên lúc tuyên bố thế này thế nọ cũng có, không thể nào tránh được. Thêm nữa theo như témoignage (làm chứng) của thiếu tướng Lãm thì trong những ngày cuối cùng (của cuộc biến động) ông Thi tỏ ra hiểu biết và hợp tác (kêu gọi ngưng đánh nhau - MN). Tất nhiên yếu tố chính là ông đã thấy sự tranh đấu đó không thể thắng được... Tôi đề nghị phạt trọng cấm và đi an trí.

Mức hình phạt do Kỳ đề nghị làm nhiều thành viên của hội đồng kỷ luật sửng sờ vì nó... “nhẹ hều”!

Chỉ trọng cấm, an trí!!!

Và rồi đây có thể phục hồi vai vế của Thi trong quân đội???!!! Một luồng khí lạnh tanh thổi qua gáy các tướng lĩnh từng công khai mạt sát Thi khi ông bị cách chức. Nhất là ngay phiên xử này, nhiều cặp mắt lạnh nhạt hoặc lỡ lườm ngó Thi trước đó nay nghe Kỳ phát biểu đều phải chột dạ. Vì sao? Vì sợ Thi trả thù nếu Thi không bị đẩy hẳn ra nước ngoài, hoặc bị bao vây cô lập một chỗ “ như người tu”. Nóng ruột tỏ thái độ không đồng ý với mức án của Kỳ quá nhẹ dành cho Thi, trung tướng tổng ủy viên quốc phòng Nguyễn Hữu Có bật dậy mổ xẻ:

-        Phải xét lại cho kỹ cái cá nhân con người đó (Nguyễn Chánh Thi) đối với tương lai. Nếu mà mình vì cái cảm phục cho một ngày nào ông trở lại, tôi nói thật với các anh em khó lắm chứ không phải dễ. Tôi đã thấy ông qua bữa chỉnh lý (hôm 31.1.1964, Thi ủng hộ Khánh “lật” Dương Văn Minh, bắt Đôn-Đính- Kim- Xuân- Vỹ, nhưng không lâu sau đó thất vọng vì Nguyễn Khánh tham quyền và muốn làm “cha” dân! - MN), tôi đứng ngoài cửa, cái cách ông (Thi) bắt ông Đôn (Trần Văn Đôn) cùng ông này ông kia (các tướng khác) với cử chỉ căm thù. Huống chi mà mình đem ông đem ra trước đây để xử ông, mình bắt ông, mình giam ông. Mà một ngày nào ông có cái cơ hội thuận tiện mà ông còn trong quân đội không giải ngũ, còn cái chức tước với cái chính phủ khác, ông cũng vẫn là một vị tướng, thì  tôi e rằng có hại cho quân đội. Tôi không nói là cá nhân ông Thiệu, ông Kỳ, ông Có gì cả mà tôi nói quân đội thôi. Ông sẽ làm một cái représaille (báo thù) ghê gớm lắm! Không phải riêng ông Thiệu, ông Kỳ, ông Có mà cái représaille đó có thể đi lần xuống dưới nữa (...) Vì ông Thi là người hết sức “ambitieux” (“có dã tâm”), hết sức dám làm! Liều lĩnh! Liều lĩnh! Liều lĩnh! Và  “ambitieux” (dã tâm) thì nguy hại vô cùng!

Nguyễn Hữu Có nói một hơi đầy vẻ lo sợ, thống thiết, khẩn cầu Kỳ gấp gấp rút lại mức phạt “chẳng thấm thía gì” với Thi và tăng nó lên để bóp chặt Thi, không cho Thi cơ hội nắm lấy “cán dao” báo thù. Có sợ cũng phải, vì Có từng chĩa súng vào ngực buộc Thi không được lên máy bay về Trung và nhiều lần “đụng” khác... Chẳng lẽ Kỳ không biết tính Thi “dữ như cọp” sẵn sàng ăn miếng trả miếng đó sao? Kỳ quá rành! Nhưng vẫn đề nghị giảm nhẹ cho Thi chẳng phải Kỳ yêu mến cảm phục gì Thi mà chẳng qua vì... phía Mỹ có cảnh báo! Đại sứ Cabot Lodge gặp Kỳ trước khi mở phiên tòa quân sự đặc biệt đó và đánh tiếng: “Phải dè dặt và kín đáo kẻo dư luận báo chí bên Mỹ nó ồn ào rùm beng lên thì mang tiếng”. Kỳ đành lập lại câu nói Cabot Lodge giữa tòa khiến hội đồng kỷ luật của Thiệu ngớ người trước khuyến cáo mới!
Mai Nguyễn (còn nữa)

 


Nguyễn Hữu Có và Đặng Văn Quang, hai tướng quyết liệt chống lại giải pháp “nửa chừng xuân”


hoi ky tuong ta Sai Gon, Nguyen Huu Co

Tướng Nguyễn Hữu Có và nhiều tướng khác sợ nếu không lột lon tướng Thi sẽ bị trả thù....



Đại sứ Cabot Lodge khuyến cáo Nguyễn Cao Kỳ và hội đồng kỷ luật của quân đội Sài Gòn hãy dè chừng dân chúng và báo chí Mỹ. Vì lần này đem xét xử không chỉ một mình Nguyễn Chánh Thi mà cùng lúc những 4 tướng nữa: Tôn Thất Đính, Phan Xuân Nhuận (chống đối, ly khai), Nguyễn Văn Chuân, Huỳnh Văn Cao (đào tẩu, thiếu trách nhiệm...).


 
Nếu cả 5 tướng đều bị lột lon cách chức, đưa về vườn một lượt, sợ sẽ gây chấn động trong quân đội. Tiếng đồn về mối bất hòa dai dẳng giữa các tướng lĩnh Sài Gòn một lần nữa sẽ vang ra ngoài và thế nào báo chí Mỹ cũng xoáy vào đàm luận.
Khi ấy, một số có xu hướng phản chiến trong báo giới Mỹ có thể nhân đó công kích Tổng thống Johnson đang ủng hộ một chính phủ mất đoàn kết, không đáng tin cậy như Thiệu – Kỳ và hâm nóng bầu khí chống chiến tranh Việt Nam vốn sôi bỏng cách đó hơn nửa năm vào tháng 11.1965 với 25.000 người biểu tình kéo về đài tưởng niệm Washington tố cáo Johnson leo thang chiến tranh.
Chiến tranh Việt Nam 1965-1966 đã khiến phải rút giảm các quỹ xã hội Mỹ. Ngân sách giáo dục và chương trình cung cấp sữa cho học sinh bị cắt đầu tiên. Mục sư Martin Luther King hỏi: “Chúng ta thích cuộc chiến chống nghèo khó hay chúng ta thích chiến tranh ở Việt Nam?”. Một luật gia Mỹ bảo: nền kinh tế không thể cùng lúc đưa lại cả súng và bơ! Vậy cần chọn lựa một trong hai. Nhưng Tổng thống Johnson đã cột Mỹ vào hai cuộc chiến tranh cùng một lúc: chiến tranh chống nghèo khó và chiến tranh Việt Nam. Làn sóng phản đối dâng cao tràn ra Đại lộ số 5 New York diễu hành, la ó, ném trứng, đốt thẻ quân dịch... Đó là những hình ảnh nhức đầu mà Cabot Lodge không muốn chúng tiếp tục diễn ra từ “một đám cháy” tận Việt Nam. Nên Lodge khuyên “dè dặt”, nhất là “đối với Nguyễn Chánh Thi”. Để chiều đại sứ Cabot Lodge, Nguyễn Cao Kỳ muốn phạt quân kỷ cả 5 tướng vài tháng, rồi “tính bước nữa” chả muộn. Nhưng Nguyễn Hữu Có nằng nặc đòi giải ngũ Thi lập tức, đưa về làm dân không dính gì tới quân đội nữa:

 - Cho nên ông (Thi) còn mang trung tướng mà không phải một người dân thì ông còn sử dụng cấp bực trung tướng, khi mình ra biện pháp này những người tay chân bộ hạ của ông, về chính trị cũng như trong quân đội, vẫn còn nuôi hy vọng là ông Thi vẫn còn là một vị trung tướng. Cho nên ở trong đó còn “réserver” (dành riêng) cho một cái “carte” (lá bài) để sau này ông sử dụng lại. Họ còn ủng hộ, còn tiếp tục liên lạc với ông Thi thì các ảnh hưởng đó gây khó khăn cho mình nữa! Theo ý kiến tôi hết sức khách quan không vì cá nhân, vì tư thù nói rằng bây giờ tôi còn cầm quyền; có quyền hạn ăn nói ở đây để buộc tội người ta, làm cho người ta sợ (sợ không thôi cũng chưa đủ) mà trên thực tế nếu mình biết ông là người “dangereux” (nguy hiểm) mà mình còn giữ cho ông lá bài, không giải ngũ ông thì “half and half ” lấy biện pháp nửa chừng xuân, thì cái hậu quả đó có nguy hại đến cho mình không? Có lợi không?

 Câu hỏi báo động đỏ chưa tắt, ông Có ném cái “phao dỏm” chen mấy tiếng Tây cố hữu:

 - Mình muốn “réserver” (dành chỗ) cho ông còn trung tướng để “sauver” (cứu) ông là người tư cách đối với anh em chúng mình, đối với miền Trung. Nếu thấy ông Thi hoàn toàn không lỗi (mà chỉ) vì chỉ bị người ta lợi dụng - (thì) tôi nói thật với anh em, tôi xin nhường chức vụ của tôi cho ông Thi để “sauver” (cứu) ông, để cho ông có một “avenir” (tương lai) đường hoàng (!!!), chớ đừng bắt bỏ tù ông (!!!). Nếu nói ông Thi là người “capable" (có khả năng) và không tội gì, một người xứng đáng, có tư cách, thì tôi sẵn sàng nhường chỗ tôi cho ông!

 Cái “phao dỏm” muốn “cứu” ông Thi của Nguyễn Hữu Có vừa ném ra, một trung tướng trong hội đồng quân lực đã tức tốc nhào lên phát pháo, đâm lủng tòe loe, không cho “nổi” lên một chút gió:

 - Xin phép anh em suy nghĩ lại cái nguy hiểm cho tương lai (....) ông Thi sẽ trả thù từng đứa (...) tôi ơn ớn chuyện đó (...).

 

Còn cả một tràng dài bồi đắp cái “nấm mộ” tố khổ đã cao càng cao thêm, trù dập chôn Thi chết đứng giữa phiên tòa. “Ngài trung tướng” có công “bồi thêm” đòn chí tử kia là Đặng Văn Quang. Hồi ký Đỗ Mậu viết:

Quang là: “người con nuôi tinh thần của bà Ấm, chị ruột tổng thống Diệm và là thân mẫu của giám mục Nguyễn Văn Thuận. Vợ Quang là em ruột cựu Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn Lương thời Diệm (...). Quang cũng là người điều động hệ thống buôn thuốc phiện lậu để chia lời với Thiệu như Ngô Đình Nhu trước kia buôn thuốc phiện lậu để làm giàu mà Mac Coy đã nói rõ trong The Politics of Heroine in Southeast Asia”.
Đặng Văn Quang tai tiếng vì tham nhũng thời còn làm Tư lệnh Quân đoàn 4 đóng vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thiệu đắc cử tổng thống năm 1967 dùng Quang làm phụ tá đặc biệt về quân sự, an ninh, tình báo. Ở chức vụ sinh sát đó, Quang lấn tới kiểm soát luôn lực lượng đặc biệt để tung về Kontum, Pleiku đột kích sang những vùng thuốc phiện nằm sâu tận hạ Lào vơ vét. Đứng chân được ở miền cao, Quang quay dòm con đường thủy tiến vào lãnh thổ Campuchia, chuyển ma túy từ Phnom Penh đến Niếc Lương qua Tân Châu, Bình Thủy, về Sài Gòn bằng các giang thuyền của lực lượng hải quân - với sự thỏa hiệp của Lâm Ngươn Thanh và của đô đốc Chung Tấn Cang.
Chung Tấn Cang, bạn ông Thiệu, Tư lệnh Hải quân từng được Thiệu che chở khỏi cơn bĩ cực một dạo, nên phục tùng Thiệu, nhập với Quang thành “liên minh ma quỷ”. Mỉa mai là, khi Mỹ than phiền thuốc phiện lậu “chảy” xiết vào Sài Gòn, Quang cử Chung Tấn Cang làm trưởng ban bài trừ ma túy của hải quân Sài Gòn! Đặng Văn Quang nắm trong tay nguồn lợi khổng lồ từ thuốc phiện. Trần Văn Đôn viết: “Đặng Văn Quang là người đứng sau Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên về quyền uy, nhưng đứng hàng đầu về tham nhũng” như chúng tôi sẽ nhắc đến ở ngay sau đoạn mở đầu. (còn nữa)

Mai Nguyễn


Tại sao TT Marcos khuyên Nguyễn Cao Kỳ "để sẵn va-li đầu giường ngủ" và câu chuyện về "Quế tướng công"?


tuong ta sai gon, nguyen cao ky


Do khi làm Tư lệnh Sư đoàn 2 đóng trên miền núi phía Nam Đà Nẵng, tướng Toàn đã thèm thuồng và phù phép vơ không nguồn lợi từ những rừng quế đắt giá ở đó. Ông ta sai linh lấy trộm cả “núi” bán chợ đen. Quế được chở lén lút bằng xe nhà binh xuống thị trong những đêm “hành quân ma”. Việc vỡ lỡ thì Toàn đã no bụng.


Nguyễn Cao Kỳ viết: “ông ta (tướng Toàn) đã tạo được một tài sản lớn nhờ đánh cắp loại cây gia vị rất quý giá này”. Theo Đỗ Mậu, tướng Toàn là người có công với Thiệu Kỳ vì “từng chỉ huy thiết giáp đàn áp Phật tử trong biến cố 1966”. Có lẽ nhờ vậy, Toàn được Kỳ làm ngơ vụ đó, nhưng dân làng báo đương thời chơi ác, phong Toàn cái danh bất hư truyền: “Quế tướng công” từ đó. Mãi sau Toàn vẫn phây phây bon tới chức Tư lệnh quân đoàn III Vùng III chiến thuật, nơi đóng quân và hoạt động của 3 sư đoàn tinh nhuệ, 7 lữ đoàn biệt kích, gần 700 xe bọc thép và hàng trăm máy bay, bao gồm cả “thủ đô” Sài Gòn trong tầm phòng thủ!

Nắm trong tay lực lượng quân sự lớn, Toàn với cấp bậc trung tướng nằm trong Hội đồng An ninh quốc gia của Thiệu bên cạnh những tay tham nhũng khét tiếng như phụ tá quân sự Đặng Văn Quang, Tổng giám đốc Công an Nguyễn Khắc Bình…

Nay, hắc danh “Quế tướng công” vẫn thấy nhắc đến trong các sách báo của người Việt xuất bản ở nước ngoài!

Lúc Toàn biết “ăn” quế, Kỳ mới lên làm thủ tướng, chưa mảy may kinh nghiệm việc “nước”. Ngay chuyện nhậm chức đứng đầu chính phủ là “quốc gia đại sự” mà Kỳ phải chạy về hỏi vợ có nên nhận không rồi mới làm. Nghe tưởng đùa, nhưng thật 100%. Kỳ thuật lại, hôm hội đồng tướng lĩnh chỉ định Kỳ làm “thủ tướng”, ông ta dùng dằng một hồi rồi đưa thêm điều kiện vào cuối phiên họp:

“- Tôi phải xin phép vợ tôi đã!

Phản ứng của vợ tôi là “cấm không cho”! Lúc ấy chúng tôi (Kỳ và Tuyết Mai) là cặp vợ chồng trẻ, chúng tôi không muốn bận bịu bởi chuyện chính trị. Tuy nhiên sau khi nghe giải thích, vợ tôi đã hiểu và đồng ý với việc tôi quyết định đứng ra thành lập chính phủ. Ngày hôm sau tôi trở lại phòng họp của hội đồng quân lực để xác nhận quyết định này!”.

Việc “nước” việc “nhà” của “tướng trẻ” cứ lẫn vào nhau như quyền và lợi của họ. Mới nắm quyền, Kỳ lúng túng nhờ cố vấn Bùi Diễm lo gánh vác nhưng đâu xuể. Trần Văn Đôn viết: “Nguyễn Cao Kỳ ưa chơi đá gà, đánh mạt chược, chuyện quốc gia lơ là nên tham nhũng càng lúc càng trầm trọng. Những tên tham nhũng buôn bán gạo chợ đen, đầu cơ tích trữ, những tay thầu lớn, đều là tay chân thân tín, bà con với những người đang cầm quyền lãnh đạo lúc bấy giờ”.
Càng về sau, cái thế “gia đình ta” cùng làm cùng ăn càng rõ tợn. Như Tổng trưởng Nội vụ Trần Thiện Khiêm (sau cùng là thủ tướng, 1969) đưa cả nhà vào cuộc. Em ruột Khiêm là Trần Thiện Khởi nắm quyền kiểm tra xuất nhập khẩu tại sân bay Tân Sơn Nhất với mối lợi béo bở nhờ việc che chở các đầu mối buôn lậu vàng và thuốc phiện. Người em nữa là trung tá Trần Thiện Phương làm Giám đốc Cảng Sài Gòn. Một người nắm quyền lên trời, một người vùng vẫy dưới nước, toàn ở vị trí có nhiều cơ hội làm ăn lớn. Thêm em bên vợ là tướng Trần Thanh Phong làm giám đốc tổng nha cảnh sát; em rể là Đỗ Kiến Nhiễu làm Đô trưởng Sài Gòn; thế mạnh như cọp mọc sừng!

Ở những vị thế cao ngất cỡ Kỳ, chỉ ngồi “nhà” cũng “thường xuyên được các công ty nước ngoài đến thăm dò ý kiến”. Một công ty Nhật bắn tiếng nếu Kỳ đồng ý “cho phép thành lập xí nghiệp ráp xe hơi” họ sẽ biếu Kỳ “1 triệu đô-la tiền mặt và 300 chiếc xe hơi để tặng bè bạn” như chính Kỳ kể về thời mới nắm quyền thủ tướng. Với cương vị đó, tại hội nghị lãnh đạo chính phủ các nước Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Hàn Quốc, Thái Lan nhóm họp tại thủ đô Manila vào cuối năm 1966, Kỳ gặp Tổng thống Marcos của Philippines và Marcos kéo ông ra riêng để khuyên:

-         Anh nên nghĩ đến nguy cơ của một cuộc đảo chính để lo trước cho tương lai của mình!

Lo cách nào? Kỳ viết: “Có lẽ tất cả các tổng thống tại các nước không ổn định đã tìm cách làm ra tiền cho riêng họ để đề phòng khi bị mất chức”. Marcos nói về mình song hàm ý mách nước để Kỳ làm theo:

-         Tôi luôn luôn để sẵn hai va-li bên giường ngủ của tôi.

Chỉ hai va-li? Thua “tông tông” Thiệu! Kỳ viết: “Người ta nói là Thiệu đã mang theo những 5 va-li chứa đầy đô-la” chạy ra nước ngoài cùng “tẩu tướng” Trần Thiện Khiêm vào cuối tháng 4.1975 (chưa kể vàng tấn chuyển ra Tân Sơn Nhất).

Dưới Thiệu và Kỳ, các tư lệnh cùng, tỉnh trưởng, quận trưởng đều có 1.001 cách tham nhũng, vòi hối lộ. Ăn cắp thì có hệ thống “quân giai” – như cả nửa triệu tấn gạo biến mất khỏi các kho lương thực trong năm 1967. Ngoài tủ lạnh, ti vi, xe gắn máy…súng cũng được bán với giá 25 đến 30 đô-la một khẩu. Vài tay liều mạng đánh cắp lựu đạn rao bán và bị theo dõi còng tay ở chợ Qui Nhơn. Nguyễn Cao Kỳ viết:

“Nếu ai muốn mua một xe bọc thép hoặc một máy bay lên thẳng thì việc đó cũng có thể dàn xếp được!”. Mặt hàng này đặc biệt hấp dẫn đối với mafia châu Á cùng những đội quân thuốc phiện ở vùng “Tam giác vàng”! Chúng được đưa ra khỏi các kho vũ khí bởi các VIP KK.

Trung tướng Vĩnh Lộc hối lộ cho ai?

Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ nêu trường hợp: “Nguyên tư lệnh các lực lượng Nam VN ở đồng bằng sông Cửu Long đã lấy cắp 8.000 đài vô tuyến và 24.000 vũ khí cá nhân do Hoa Kỳ trang bị” và sớm tiêu thụ chúng sạch sành sanh. Tài liệu mật từ Tòa đại sứ Mỹ cho biết “Việt cộng” đã sở hữu phần lớn số đó! Không có điều kiện vẫy vùng, dậy sóng như các VIP KK nhưng các sĩ quan và quan chức địa phương cũng rất ấm túi nhờ các món tiền lo lót để được miễn dịch (khỏi đi lính) chẳng hạn. Việc mua quan bán chức có giá ấn định theo từng cấp, từng vùng, thậm chí từng quận. Ví dụ ở Sài Gòn, quận 5 sáng giá. Kỳ kể hồi nhóm tướng trẻ mới nổi, các người bạn lái máy bay của Kỳ nói đùa:

-         Này Kỳ, nếu sau này có lúc nào đó anh lên làm thù tướng và muốn tìm việc cho bạn bè cũ thì xin anh đừng băn khoăn nghĩ đến chuyện bố trí chúng tôi vào một chức bộ trưởng nào trong nội các của anh cả! Mà anh chỉ cần cho một người trong chúng tôi làm trường ty cảnh sát quận 5 là đủ!.

Muốn làm quận trưởng ở đó phải hối lộ đúng chỗ 15 triệu đồng nhưng người ta yên chí chồng tiền vì sẽ thu gấp ba lần số bỏ ra chỉ sau 2 năm tại chức do nhiều nguồn thu nhập như “hợp tác” làm ăn, hiếu hỷ “vượt mức” v.v…Riêng khoản chạy chọt giấy tờ miễn dịch đưa tới hàng năm một món khá to rồi. Vì Chợ Lớn với 90% dân Hoa kiều thời đó không ai muốn bị đẩy ra chiến trường bom đạn, chết chóc nên “hầu hết những người cha trong gia đình đều cố trả những món tiền hối lộ thật lớn để cho con của họ được miễn dịch”.

Giấy miễn dịch được những người có thẩm quyền cấp phát dưới sự mách nước lắm khi từ các …bà vợ của họ. Một đoạn hồi ký khá hóm hỉnh viết:

Số tiền 100.000 đồng mà các bà vợ nhận được mỗi khi họ (bảo chồng mình) giúp cho con của bè bạn được khỏi bị gọi đi lính – đã trở thành một món tiền phổ biến đến mức các bà đánh xì-phé trong các canh bạc lớn mỗi lần đi tiền thêm đã hô:

-         Tôi tố thêm một tân binh quân dịch!”.

“Một tân binh” nghĩa là đặt thêm 100.000 đồng nữa (theo Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, 1 đô-la Mỹ ăn 118 đồng tiền Sài Gòn vào giữa năm 1965-1966). Ngoài giấy miễn dịch, các loại giấy khác để hoàn tất thủ tục xuất ngoại, hoặc môn bài, bằng cấp…đều cần nạp lễ bằng tiền, hoặc bánh trung thu nhân hột xoàn. Dân hối lộ quan chức và các tướng tá là sự thường, tướng tá hối lộ dân có không? Có. Chắc bạn đọc còn nhớ chuyện trung tướng Vĩnh Lộc (người kết án Nguyễn Chánh Thi rất gay gắt) dan díu với ca sĩ Minh H. bị dư luận “pha đèn”. “Rét” quá, Vĩnh Lộc sai người khệ nệ ôm một bó bạc bọc giấy hoa, khiêng dàn máy Akai loại “đời mới” thời đó, thêm hai chiếc đồng hồ Seiko sáng chói khép nép đến làm lễ ra mắt một…nhà báo. Mục đích xin đừng viết về “mối tình nghệ sĩ” của ông trung tướng nữa.

Nhưng trung tướng hoàng gia đã “lầm địa chỉ”.

Mai Nguyễn (còn nữa)



Trung tướng Nguyễn Chánh Thi bị xử 60 ngày biệt cấm tại …Mỹ!


tuong ta Sai Gon, trung tuong Nguyen Chanh Thi

Trung tướng Nguyễn Chánh Thi (ngồi giữa) - ảnh chụp năm 1964


Người mà ông Vĩnh Lộc “tặng không” dàn máy âm thanh, đồng hồ, bạc bó là một ký giả có vai vế ở báo Quật Cường. Tờ đó do Hoàng Đức Nhã và các cán sự thông tin báo chí của ông Thiệu lập ra với sự thường xuyên hỗ trợ của Tổng Giám đốc Cảnh sát quốc gia kiêm Đặc ủy trưởng tình báo trung ương Nguyễn Khắc Bình.


 

Sự “phối hợp nghệ thuật” giữa họ đề ra ban biên tập sẵn sàng “quật” đối lập, trong đó có một số cây bút quân đội kéo từ “Cây đèn cầy” về. “Cây đèn cầy” tức vùng 1 chiến thuật. Con số “1” đính nơi áo giống hình cây đèn cầy thắp lên giữa vùng hỏa tuyến, xui lắm! Binh nhì đưa ra tác chiến ở đó dễ thành “cố binh nhất” vĩnh viễn. Đã bị đẩy trú quân vùng 1 mà được chuyển về Sài Gòn coi bằng thoát miền tử địa, khỏi ăn cháo lú. Nhưng bù lại, các cây bút hưởng “ân huệ” đó cần quên mình, viết theo chỉ thị đưa ra từ phủ đầu rồng.

Dạo đó có tin Quật Cường chuẩn bị “quật” chuyện tình vụng trộm của mình lên mặt báo, trung tướng Vĩnh Lộc lo lắm. Tuy là tờ báo hẻo lánh, ít bạn đọc so với các tờ khác trong làng báo Sài Gòn, nhưng tướng Lộc sợ các tờ khác xía vô “nổ dây chuyền” phiền phức.

Cũng thời điểm đó, ký giả “có vai vế” mà tướng Lộc muốn nhờ đỡ đang bị “hạ tầng công tác” vì việc gì không rõ và em rể của nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan (người họ Trịnh) được đưa về thay thế. Không biết việc thay đổi về nhân sự trên, ông Lộc cứ truyền lễ lạc mang tới. Ký giả kia bảo mình không có quyền hạn chi. Nhưng phía ông trung tướng tưởng quà cáp còn ít cứ nài nỉ “xin nhận cho”…Việc cũng qua, trung tướng Vĩnh Lộc băng băng lên tới Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn nhưng chỉ tại chức có …1 ngày, vào 29.4.1975 theo quyết định muộn màng của đại tướng Dương Văn Minh, ông Vĩnh Lộc được các tướng tá viết hồi ký nhắc đến là sĩ quan “có học vấn cao” (Đỗ Mậu), thuộc hàng “tướng lĩnh thâm niên nhất” (Trần Văn Đôn). Còn Nguyễn Chánh Thi ghép ông với các tướng tham nhũng cạnh nhau, gọi bằng “chúng nó”.
 
Và phiên tòa của “chúng nó” như chữ ông Thi gọi, tiếp tục cuối chiều đó bằng phát biểu của Nguyễn Cao Kỳ sau khi nghe Nguyễn Hữu Có và Đặng Văn Quang chống lại hướng xử “nửa chừng xuân”:

“Tôi quên không nói rõ là cá tính của ông Thi thù hằn ghê lắm. Phải mường tượng ngày hôm nay hội đồng kỷ luật từng này người mà phạt ông 60 ngày trọng cấm, ngày nào ông ngồi ông xét xử lại, ông kể lại từng tên một này ra, không xót một tên nào! (…) Tôi xin kể anh em nghe câu chuyện: Thiếu tá Phan Phụng Tiên lái máy bay cho ông đi trốn ở Cao Miên chỉ vì sang đó (1960) nó hành động này nọ, nó chỉ trích rồi nó không chơi với ông nữa. Thì hôm đầu tiên ông về đây (1963) gặp tôi ông bảo, thằng Tiên nó đâu rồi mày. Hôm đó ông định giết nó. Tôi phải can ông mãi trong hành lang Tổng tham mưu. Tôi bảo nó là đàn em, dầu nó có tội mà nó có công lái máy bay nếu không làm sao anh trốn được. Thằng Tiên sợ quá xanh mặt về nói với tôi thôi rồi ông Thi về đây tôi chết. Vì ông đó là ông ghê gớm lắm!
 
Ghi lại các phát biểu trên, Hoàng Đại Minh, người đưa tài liệu đặc biệt về phiên xử lên mặt báo Tia Sáng, đã nhận xét: “Dẫu sao lúc này sau những tháng rối ren đẫm máu mà (nguyên cớ) cũng tại việc ông (Kỳ) cách chức tướng Thi nên đứng ở địa vị thủ tướng chính phủ đứng đầu ngành hành pháp…ông Kỳ phải thận trọng. Lần kết tội này đối với tướng Thi nếu suôn sẻ không nói chi ngược bằng rối ren lại ầm ầm dấy lên thì chưa chắc ông còn giữ vững được ngôi vị…”. Đoán ý Nguyễn Cao Kỳ tuy có chuyển sau những lời kết tội mạnh mẽ của hai ông Có và Quang nhưng vẫn còn dè dặt, chờ đợi, thiếu tướng Vỹ tiếp thêm:
 
-         “Tôi e rằng nếu không giải ngũ ông Thi là mình tự thổi phồng ông lên…”. Tướng Lê Nguyên Khang thì: “Sở dĩ ông Thi được coi là thần tượng trong thời gian vừa rồi vì nhiều người thấy ông hò hét như vậy nể nang, riêng mình phải nhận một phần lỗi, chứ nếu mình đã đưa ông đi an trí với những biện pháp, rồi cắt đứt tất cả sợi dây liên lạc rồi thì tôi tin rằng ông không còn cái gì nữa…”.

Phiên xử lấn cấn chỗ nên “cắt đứt tất cả sợi dây liên lạc ngay” (biệt cấm) đồng lúc với giải ngũ hay hoán từng giai đoạn. Lui tới “phe ông Có” đòi “bứng gốc” bị can Nguyễn Chánh Thi khỏi đất Việt Nam quăng ra nước ngoài. Một lần cuối, ông Kỳ cố thuyết phục hãy chầm chậm chút đỉnh:
 
-         Nếu trên thực tế mình chấp nhận ông ấy phải ra khỏi quân đội, thì bây giờ (như đòi hỏi gấp gáp của tướng Có) hay hai tháng sau, cũng vậy. Vì từ giờ đến hai tháng nếu mình chấp nhận mọi hình phạt trọng cấm hay biệt cấm xong là 60 ngày thì trong 60 ngày ông không “contacter” (tiếp xúc) được với ai!
 
Phiên xử đến hồi phải gút. Đến 17 giờ 5 phút ngày 9.7.1966 (ông Thi ghi 14.7). Hội đồng kỷ luật quân đội Sài Gòn do ông Thiệu đứng đầu tuyên án 60 ngày biệt cấm, hưu trí đối với tướng Thi. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi viết:
 
Cuộc hỏi tội chấm dứt lúc nào tôi cũng không biết. Tôi bâng khuâng bước ra khỏi phòng hội Bộ Tổng tham mưu, đầu óc trống rỗng”. Ông và Tôn Thất Đính, Phan Xuân Nhuận bị áp giải về lại số 2 đường Tú Xương. Cơm tối xong, ông Đính hối hả chạy sang gặp Nguyễn Chánh Thi, bảo:
 
-   Anh có nghe radio không? Chúng nó loan báo phạt mình và đuổi ra khỏi quân đội rồi!

Ông Đính quát tháo, chửi bới Thiệu – Kỳ - Có toáng lên. Lính gác ngỡ có xô xát ôm súng chạy đến. Họ đứng nghe, im lặng “im lặng nhìn nhau rồi bỏ đi”.

 
Mấy hôm sau, Nguyễn Hữu Có cho xe đến đón Nguyễn Chánh Thi vào nơi làm việc tại Bộ Quốc phòng. Ông Thi thuật lại buổi nói chuyện cuối cùng với ông Có tại Sài Gòn hôm đó:

Gặp tôi hắn có vẻ ngài ngại, cố làm ra vui vẻ, hỏi:

-         Anh có được mạnh khỏe không?

Tôi không trả lời. Hắn nói tiếp: Chính phủ (?-Ông Thi đánh dấu hỏi) và người Mỹ đã chịu điều kiện anh đòi hỏi, anh nghĩ sao?

- Điều kiện ấy là gì?

- Thì anh sẽ chịu đi ra ngoại quốc với điều kiện là thả tất cả những người phạm tội trong vụ biến động miền Trung.

Tôi cố làm ra vui vẻ nói đùa với Nguyễn Hữu Có:

-         Té ra tôi cũng quan trọng thế hả? Bứng được tôi chắc các anh mừng lắm hỉ?...

Có lặng thinh nhẫn nhịn. Tôi trêu thêm:

-         Hôm nay tôi cứ tưởng anh gọi đến chia tiền bán thuốc phiện, mừng quá...”

 
Không đợi đến “60 ngày biệt giam” mà khoảng hơn 10 ngày sau, vào ngày 20.7.1966, đại tướng Samuel Wilson, “Giám đốc cải cách điền địa” mà ông Thi biết là người của CIA đến nhà giam thúc: “đã đến lúc tôi phải đi khỏi nước càng sớm càng tốt”!

 

Mai Nguyễn (còn nữa)


Nguyễn Văn Thiệu hứa cuội với Nguyễn Chánh Thi và hạ đo ván tướng Kỳ lần đầu tiên ra sao?


tuong ta Sai Gon, Nguyen Van Thieu

Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu "bắn tin" cho tướng Nguyễn Chánh Thi về lại Nam VN nhưng lại chận không cho ông Thi nhập cảnh


Đích thân vào ‘thăm” Nguyễn Chánh Thi tận nơi giam giữ, đại tướng Mỹ Samuel Wilson thông báo chính ông ta đứng ra “dàn xếp như ý muốn” của ông Thi. Nghĩa là “những anh em can dự vào biến động miền Trung sẽ được thả”. Phần tướng Thi, còn được một tuần đến 10 ngày để chuẩn bị rời khỏi Việt Nam vô thời hạn.


Theo ông Thi, ông không có trương mục gửi nhà băng Thụy Sĩ hoặc các ngân hàng khác. Hội đồng quân lực Sài Gòn phải trợ giúp ông 5.000 đô la, may cho 5 bộ đồ lớn tại hiệu may Tân Tân đường Tự Do và mua “tặng” tấm vé máy bay Sài Gòn đi Hoa Thịnh Đốn không đăng ký khứ hồi. Một trời tâm sự của Nguyễn Chánh Thi viết:
Ngày 29.7.1966, tôi và hai đứa nhỏ, Nguyễn Chánh Hiển 9 tuổi và Hoàng Thị Hoàng Yến 7 tuổi được đưa ra sân bay Tân Sơn Nhất đi Mỹ”.

Số ông lận đận, ngay chuyến bay biệt xứ đó cũng gặp trắc trở. Theo một tờ báo đương thời: “Tướng Thi cùng 2 trong 4 đứa con (vợ ông sống với người khác từ hồi ông bị Ngô Đình Diệm kết tội “phản nghịch” phải trốn sang Campuchia năm 1960-1963) và một hầu cận (?) rời Sài Gòn đi Hoa Thịnh Đốn nhưng một cuộc đình công của nhân viên hàng không làm họ kẹt ở Honolulu”. Cả bốn người chuyển sang chiếc phản lực cơ Air Force One đi nhờ đoạn đường còn lại. Ông Thi viết:

Chuyến lưu đày nào mà không buồn! Đi thì đi nhưng tôi không ngờ lại bị giam hãm ở nước này (Mỹ) lâu đến thế!”

Bốn năm sau, vào giữa tháng 12.1970, tờ Baltimore Sun tiết lộ “phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ trong chuyến sang Mỹ đã gặp tướng Thi” nhưng cuộc gặp gỡ này đầy kịch tính và được nữ phái viên Rose Kusnher tường thuật khá sinh động:

Ông Kỳ “ngồi hàng ghế đầu ở câu lạc bộ quốc gia báo chí tại Hoa Thịnh Đốn ghì lấy lưng ghế rồi quay lại ra lệnh một cách vội vàng … Liền đó, ông Đặng Đức Kh. (tuân lệnh) đi nhanh đến dãy bàn nằm đối diện diễn đàn rồi ngồi mọp xuống bên cạnh chiếc ghế của một người Việt Nam khác cũng có bộ râu như ông Kỳ là trung tướng Nguyễn Chánh Thi để chuyển lời mời tướng Thi đến ngồi với phó tổng thống Kỳ tại bàn tiệc đặt ở hàng đầu, tướng Thi đã từ chối”.
Đến bữa cơm được dọn ở trụ sở trên, những người biểu tình thuộc nhiều phe nhóm hò hét bên ngoài, ông Kỳ được bảo vệ kỹ lưỡng, nhưng hẳn nhiên không thoải mái lắm bởi hàng rào an ninh chìm nổi vây quanh, trong lúc “tướng Thi tự do đi đi lại lại trong phòng tiệc đầy người, ngưng lại nói chuyện với thân hữu cũ như tướng Lewis Walt, cựu tư lệnh bộ chỉ huy thủy quân lục chiến Mỹ tại Đà Nẵng thời miền Trung biến động. (…) Tướng Thi phà khói sau khi hít những hơi thuốc trong chiếc ống điều ngà cũ xì và thuật lại những diễn biến đưa đến việc ông bị hạ bệ”.
Ông nói vào lúc đó (1966), Mỹ tung một lúc quân lính và đô la ào ào vào Nam Việt Nam. Đô la Mỹ làm mờ mắt nên không ai muốn từ bỏ quyền hành của mình đang nắm, vì “có quá nhiều cơ hội để trở nên giàu có”, ngược lại họ lanh lùng loại trừ những tiếng nói phản kháng. Thậm chí họ đành tâm nghe theo ý kiến ngấm ngầm chỉ vẽ của “đại sứ Cabot Lodge và vị phụ tá là ông Philip Habib cho phi cơ Mỹ dội bom Đà Nẵng khi dân chúng nổi dậy phản đối …”!

Những lời bộc trực cứng cỏi đó chắn hẳn phải gây khó cho ông trong chuyện ông xin hồi hương về Việt Nam vào đầu năm 1972. Ông Thiệu bắn tin qua báo Sóng Thần (một tờ báo “thông thạo nhất về tin tức của phía chính quyền”) là “sự trở về của ông Thi có một vài khiếm khuyết về thủ tục, ông (Thiệu) cũng sẽ ra lệnh cho các viên chức thừa hành thông qua”.

Thế là sau 6 năm sống lưu vong, sáng 23.2.1972 ông Thi về đến phi thường Tân Sơn Nhất trên chuyến phi cơ 747 của hãng PANAM. Dư luận báo chí hết sức ngạc nhiên, như Mạc Kinh viết: “Nhiều lần ông (Thi) vẫn tuyên bố chống chính sách can thiệp của Mỹ, điều làm cho Hoa Kỳ không mấy hài lòng. Mới đây ông cũng xác nhận quan điểm đó cho nên người ta đã ngạc nhiên làm sao tướng Thi lại được Hoa Kỳ chấp thuận cho trở về Việt Nam. Một vài nguồn tin còn đi xa hơn cho rằng chính Hoa Kỳ đã áp lực tổng thống Thiệu, yêu cầu ông Thiệu để cho ông Thi về với một sứ mạng đặc biệt nào đó trong tương lai” (!)

Thật ra chẳng có “một sứ mạng” nào cả mà thực tế xảy ra khác hẳn với lời Nguyễn Văn Thiệu hứa. Nghĩa là thay vì đón mừng, theo Hiếu Chân thuật lại, sáng sớm hôm đó một đại đội cảnh sát dã chiến nai nịt gọn gàng, trang bị lựu đạn cay, súng M-16, ma trắc và cả lá chắn được tung đến phục sẵn quanh chỗ máy bay sắp hạ cánh. Hỗ trợ bên trong các phòng hành chánh của phi trường còn có cảnh sát áo trắng chở tới đông ngót hàng chục xe túc trực với đồ nghề cầm tay gồm máy truyền tin liên lạc, máy đánh chữ và súng lục bên hông.

Tất cả đợi khi chiếc máy bay có chở tướng Thi vừa đáp xuống thì cùng một lượt hướng tầm mắt về phía cầu thang lên xuống … Ở đó, theo hãng UPI, có giám đốc cảnh sát đô thành Trang Sĩ Tấn. Trang Sĩ Tấn xuất hiện chặn tướng Thi lại, yêu cầu ông không được bước vào phòng khách của Tân Sơn Nhất và ngồi yên tại chỗ để quay trở về Mỹ trong vòng 10 phút nữa!
Vào lúc đó, từ đại sảnh của phòng trà sân bay, hàng trăm thân hữu của ông Thi nhướng mắt chờ đợi ông với bữa tiệc hứa hẹn sẽ đầy đủ các chính khách quan trọng đến dự ngay trưa ấy tại Sài Gòn. Nhưng ngoài kia ông bị giữ lại. Cuối cùng, chiếc phi cơ phản lực khổng lồ gầm rú và hối hả cất cánh quay về Mỹ với người khách độc nhất là tướng Nguyễn Chánh Thi.
Như vậy chuyến hồi hương về Việt Nam đó ông chỉ được nhìn khung cảnh Sài Gòn qua cửa máy bay, rồi bị buộc phải độc hành viễn xứ lập tức. Báo chí Sài Gòn lại rộ lên dư luận chỉ trích Thiệu – Kỳ xử sự với ông Thi không công bằng và đưa tin hãng PANAM chưa đồng ý về khoản bồi thường 200.000 đô la cho “sự cố” trên.

Qua vụ đó, người ta liên tưởng đến việc ông Thiệu hạ đo ván tường Kỳ thời kỳ vận động tranh cử tổng thống 1967. Lúc đầu, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đều muốn ghi danh. Song Kỳ bảo: “Nếu hai chúng tôi cùng ganh đua để tranh ghế tổng thống thì điều này có thể sẽ được người ta coi là một sự rạn nứt trong quân đội”. Để giải quyết, tướng Cao Văn Viên với tư cách “bộ trưởng bộ quốc phòng” triệu tập 48 tướng lãnh bàn cãi một ngày dài. Nhưng không tới đâu, và hai bên quay mặt choảng nhau. Màn ngoạn mục đầu tiên là Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố ứng cử tổng thống để Thiệu làm phó nhưng …

Mai Nguyễn (còn nữa)


Tình báo dinh Độc Lập vào cuộc thanh toán nội bộ


tinh bao dinh Doc Lap

Nguyễn Cao Kỳ & Phó tổng thống Hoa Kỳ Spiro Agnew. Sài Gòn, tháng 1/1970 - Ảnh: Tư liệu


Một nhân viên an ninh tình báo được phái đến mưu hại Nguyễn Cao Kỳ bị phát hiện và bắt giữ tại căn cứ Tân Sơn Nhất. Thuộc hạ Kỳ thẩm vấn. Nhân viên ấy thú nhận mình là tay chân tướng Đặng Văn Quang theo lệnh tình báo dinh Độc Lập theo dõi để “lập mưu ám sát” Kỳ. Thực hiện việc đó còn nhiều người khác nữa. Nắm lời khai, Kỳ âm thầm mở cuộc “hành quân” bắt trọn ổ...


 
Mất cao nguyên, Thiệu chưa kịp hoàn hồn thì tiếp đến các thất bại liên hồi ở miền Trung. Tư lệnh tiền phương phụ trách phía Bắc đèo Hải Vân là trung tướng Lâm Quang Thi rút chạy. Đang đêm, sau khi thất thủ ở Huế và Đà Nẵng, các tướng Ngô Quang Trưởng, Bùi Thế Lân đi bộ qua vùng rừng núi Quảng Nam suýt chút nữa thì “mất liên lạc” - như lời Trần Văn Đôn kể:
 
“Các ông ấy định gọi tàu mới sực nhớ ra là không có mật mã vì sĩ quan tùy viên mang đi rồi nên không liên lạc được với hải quân dù là thấy tàu trước mắt. May mắn là một lúc sau có ca nô của Hồ Văn Kỳ Tường, chỉ huy trưởng Hải khu Đà Nẵng, cho chạy dọc bờ tìm kiếm nên ghé vào vớt hai ông ra tàu”...

Ông Trưởng cay đắng vì quân đoàn I có “200.000 quân ưu tú nhất của quân đội Sài Gòn, gạo, vũ khí, đạn dược có thể giữ được 6 tháng, vậy mà...”.
 
Về phần Nguyễn Cao Kỳ bảo tướng Trưởng muốn áp dụng chiến thuật cầm cự, tập trung quân để "cố thủ một số điểm ven biển" nhưng tinh thần binh sĩ hoang mang từ lúc “xương sống” cao nguyên bị dập gãy, phần bất mãn thấy cấp sĩ quan chỉ huy họ miệng kêu gọi ở lại tiếp tục chiến đấu nhưng sắp đặt sẵn để gia đình chạy trốn trước. Hằng trăm nghìn dân thường kinh hoàng đua nhau ùn ùn đổ về phía Nam.

Và rốt cuộc, Kỳ viết, vùng I chiến thuật nơi đông quân thiện chiến nhất với “một sư đoàn thủy quân lục chiến, một sư đoàn nhảy dù, sư đoàn I bộ binh cùng lực lượng thiết giáp và không quân, hùng mạnh nhất của miền Nam Việt Nam đã bại trận, tháo chạy một cách bi thảm”.

Trong bối cảnh đó, hai ngày trước khi mất Đà Nẵng: Nguyễn Cao Kỳ không để Thiệu yên, tuyên bố" thành lập “ủy ban cứu nguy dân tộc” vào 27/3. Rõ là Kỳ muốn giành quyền “lãnh đạo quân dân” với Thiệu nhân lúc Thiệu rối bời. Rảnh tay đâu mà đối thoại với phe Kỳ, Thiệu lệnh cho viên tướng đảm nhiệm an ninh tình báo là Đặng Văn Quang theo dõi “giải quyết” vụ việc.

Và Quang chuẩn bị hành động thì tướng CIA Charles Timmes, nhân viên cao cấp Tòa đại sứ Mỹ, xuất hiện một cách khó hiểu bên cạnh Kỳ. Timmes với sự đồng ý của đại sứ Martin cho đặt một đường dây điện thoại riêng nối liền Tòa đại sứ với nhà Kỳ nằm trong căn cứ Tân Sơn Nhất. Lý do bên ngoài của việc lắp đặt đường dây này là để Kỳ có thể nhanh chóng trao đổi ý kiến mới nhất về chiến sự đang sôi động. Còn bên trong “đường dây nóng” đó chẳng ai cấm Kỳ - Martin và Timmes bàn đến số phận của nhóm Thiệu.

Sau này qua Mỹ, Kỳ nói là vào thời điểm đó quả ông ta có ý định lật đổ Thiệu thật. Tình báo dinh Độc Lập của Thiệu nắm được ý định đó và muốn ra tay trước, nhưng Martin đánh động để Kỳ đề phòng.
Hai việc xảy ra khiến Kỳ chột dạ: Việc thứ nhất, viên tướng tư lệnh không quân Trần Văn Minh mà Kỳ đã bổ nhiệm trước kia đến thăm và thảo luận về “sự cần thiết phải thay đổi lãnh đạo” của guồng máy quốc gia, trắng ra là tống khứ Thiệu bằng đảo chính. Cuối câu chuyện, Minh cảnh báo:

- Anh vẫn là  sếp của tôi, tôi sẽ đứng về phía anh trong bất cứ việc gì. Nhưng xin báo để anh biết: nếu anh có quyết định làm gì thì phải hết sức thận trọng, nếu không họ sẽ giết anh trước.

Kỳ bảo Minh nói như vậy là rất chân tình với mình, hỏi tới:

  • Chắc là anh còn biết nhiều chuyện hơn nữa, sao không nói rõ chi tiết cho tôi biết?

Minh đáp:

  • Martin đang theo dõi anh đấy. Người Mỹ cho người đến thuyết phục tôi đừng cộng tác với anh nếu anh ra tay hành động, (đảo chính)
Câu nói của tướng Minh “bắn tin”: Mỹ chưa muốn “ủy ban” của Kỳ lật đổ Thiệu lúc đó. Tòa đại sứ Mỹ cũng chưa muốn tình báo dinh Độc Lập “thanh toán” Kỳ. Sự việc xem ra có vẻ mâu thuẫn, nhưng có lẽ đó là “hai mặt của một thực tế” trong cuộc cờ của Mỹ. Martin gắng giữ sự “ổn định” màu mè trước giờ cuốn gói.
 
Sau đó vài ngày, cứ như lời Kỳ thuật lại, một nhân viên an ninh tình báo của Đặng Văn Quang phái đến mưu hại Kỳ bị nghi ngờ, phát hiện và bắt giữ tại căn cứ Tân Sơn Nhất. Thuộc hạ Kỳ thẩm vấn, nhân viên ấy thú nhận mình là tay chân tướng Quang theo lệnh của tình báo dinh Độc Lập theo dõi để “lập mưu ám sát” Kỳ, thực hiện việc đó còn nhiều người khác nữa.

Nắm lời khai, Kỳ âm thầm mở cuộc “hành quân” bắt trọn ổ, rồi làm im không công bố gì.
Như vậy, sau ngày viên tư lệnh không quân (tướng Minh) bắn tin, đến lượt tình báo Thiệu - Quang chực hại, Kỳ muốn “những người bạn Mỹ” có ý kiến trực tiếp với mình.

Muốn là được, một sáng sớm tướng Timmes điện tới hỏi có thể đến nhà thăm Kỳ vào chiều hôm ấy không, và cùng đi với Timmes sẽ có “một viên chức cao cấp”, Kỳ đáp “được chứ”. Ba giờ chiều hôm đó, người đi với Timmes là đại sứ Martin. Ông đại sứ đã chạm đến “mạng mạch” chính trị của Kỳ:
  • Nếu ông có thể lập chính phủ, ông sẽ đối xử với tổng thống Thiệu như thế nào?

Kỳ có biết đâu rằng đó chỉ là “bài không tên số 0” của ngài đại sứ; Kỳ mê đi khi Martin đều giọng:

  • Thiệu thường nói đến chiến đấu nhưng nói và làm khác nhau rất xa (...) Xin hãy nghĩ đến những mất mát của các ông (chỉ riêng) ở Đà Nẵng...
Kỳ phụ họa rằng thất bại ở Đà Nẵng là tai hại và nói văng mạng là phe Kỳ đủ sức thay Thiệu chặn đứng cuộc tiến công vũ bão của quân giải phóng (!).

Nghe thế, Martin vặn lại: “Vậy thì bằng cách nào? Và ở đâu?”.

Kỳ huơ tay chỉ lên tấm bản đồ do tướng Timmes trải trên sàn nhà rồi vạch một đường cắt ngang phía bắc vịnh Cam Ranh, cao giọng hão huyền: "Ở đây!”.

Nhưng mươi ngày sau, cơn sóng thần ập tới đó, cuốn trôi cả ảo tưởng về “chiến lược phòng ngự” ngang vĩ tuyến 13... (Còn nữa)

Mai Nguyễn

Nguyễn Cao Kỳ cũng sợ “Anh Cả đỏ“! Vì sao?


Cao Van Vien, Nguyen Cao Ky

Cao Văn Viên (thư hai từ trái) được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tin dùng vì "3 lần Nguyễn Cao Kỳ đòi đảo chính nhưng không hợp tác"

Đã nhiều lần ông Cao Văn Viên bày tỏ ý không muốn giữ chức vụ Tổng tham mưu trưởng quân đội nữa và xin từ chức. Hồi ký Trần Văn Đôn ghi nhận đến “ba lần ông Nguyễn Cao Kỳ xin đảo chính Nguyễn Văn Thiệu nhưng ông Viên không chấp nhận”. Kỳ vừa giận vừa lo nhưng chưa dám động tới Viên, mệnh danh "Anh Cả đỏ". Vì sao?...


Biết Cao Văn Viên không hợp tác đảo chính theo tính toán của Kỳ nên “ông Thiệu càng thích hơn, cho dù chức vụ Tổng tham mưu trưởng quân đội, ông Viên làm miễn cưỡng lơ là chăng nữa, cũng còn hơn đặt người khác vào có thể đảo chính. Đã nhiều lần ông Viên bày tỏ ý không muốn giữ chức vụ đó nữa, xin từ chức hoài nhưng ông Thiệu không chấp nhận”.
Hồi ký của Trần Văn Đôn ghi nhận đến “ba lần ông Nguyễn Cao Kỳ xin đảo chính (Thiệu) nhưng ông Viên không chấp nhận”. Kỳ vừa giận vừa lo nhưng chưa dám động tới Viên. Vì ngoài “cái tướng oai vệ, biết lái trực thăng”, từng làm tư lệnh “anh cả đỏ”, một binh chủng mà Kỳ nể mặt, mà qua nhiều năm đứng đầu bộ tham mưu, Viên còn tạo dựng sẵn nhóm tay chân em út không dễ gì Kỳ đương cự nổi. 
Rõ ràng Thiệu sợ nguy cơ bị mất hậu thuẫn khi thay người. Cứ để Viên trấn trị, bày quân bố trận khắp 4 vùng chiến thuật như cũ mà đỡ lo hơn! Dù các sư đoàn lá chắn đã bị đánh vỡ và chọc thủng vào giai đoạn hấp hối của chế độ cũng mặc.
Tới nước đó, một trưa giữa tháng tư 1975, 5 tướng tá Sài Gòn tìm đến nhà ông Đôn trên đường Alexandre de Rhodes nằm trước dinh Độc Lập để chỉ trích tổng tham mưu trưởng của họ:

- Cấp chỉ huy quân đội từ mấy năm nay quá yếu. Đại tướng Cao Văn Viên không đủ khả năng, không làm đúng bổn phận, làm việc không hữu hiệu mà lại ngồi chỉ huy suốt 9 năm trời!

Những người đưa ra lời phê bình muộn màng đó gồm trung tướng Vĩnh Lộc, chỉ huy trưởng Trường Cao đẳng Quốc phòng: trung tướng Nguyễn Bảo Trị, phụ trách các trường huấn luyện quân sự; và các đại tá Nguyễn Huy Lợi, Vũ Quang, Trần Ngọc Huyến…Ông Đôn đã nói gì trước những lời công kích ông Viên? 
Trần Văn Đôn viết: “Theo tôi biết, ông Cao Văn Viên nhảy dù giỏi, tham mưu giỏi, nhưng ông ta làm việc không hăng say, không tự quyết, tự quản. Ông làm việc theo lịnh của tổng thống, vì tổng thống là Tổng tư lệnh, hoặc làm việc theo lệnh của Tổng trưởng quốc phòng hoặc Thủ tướng. Không bao giờ ông Viên đề nghị, phê bình hoặc từ chối một chỉ thị nào của thượng cấp nên Mỹ, ông Thiệu, ông Khiêm đều thích một ông Tổng tham mưu trưởng như ông Viên. Trong quân đội, ông Viên không hề khích lệ tinh thần cho anh em hăng say chiến đấu. Sau năm 1970, tôi gặp ông Viên nên biết ông bận lo thi lấy bằng cao học văn chương Pháp, chú trọng đến thiền học. Chiều tối nào ông cũng leo trên mái tôn cao sau nhà để hành thiền và ngủ luôn ở đó. Dầu có xảy ra việc gì cũng không ai được quấy rầy ông!...”.
Một Tổng tham mưu trưởng quân đội có xu hướng đi sâu vào thế giới tư duy “trừu tượng” như vậy khó mà quyết định cấp thời những chiến thuật  “cụ thể”. 
Song muốn thay Cao Văn Viên phải dòm tới dòm lui như trung tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh không quân, trung tướng Chung Tấn Cang, Tư lệnh hải quân, trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh biệt khu thủ đô, kế là chuẩn tướng Thọ, trưởng phòng III hành quân, hoặc đại tá Lung, trưởng phòng II tình báo Bộ tổng tham mưu…Lúc dầu sôi lửa bỏng, việc thay Tổng tham mưu trưởng tuy cần nhanh chóng song không thể làm bừa. Những ai trong họ từng được Cao Văn Viên cất nhắc hoặc có công chuyện gì đó liên hệ mật thiết với Viên trong quá khứ hẳn phải gợn nhiều lo nghĩ.

Chần chừ mãi đến tuần lễ cuối cùng của chế độ vẫn chưa thay được Viên. Ông Đôn hỏi:

- Ai có thể thay thế đại tướng Viên?

Trung tướng Nguyễn Bảo Trị đáp:

- Trung tướng Nguyễn Đức Thắng, gần hai năm nay ông ấy không có việc làm.

Tôi (Đôn) biết khả năng ông Thắng, đã gợi ý nhưng ông ấy từ chối…

Viên “có số” làm to; mãi ngày ông Thiệu nhường ghế cho “tân tổng thống” Trần Văn Hương, ông Viên vẫn giữ chức vụ cũ. Thậm chí, “tân tổng thống” Hương còn “tín nhiệm” Viên tới mức đề bạt lên cao hơn nữa, tới Tổng tư lệnh quân đội (trước do ông Thiệu giữ)!
Trần Văn Đôn kể một cách rõ ràng trong hồi ký: 
“Tân tổng thống Hương định đưa ông Viên lên làm Tổng tư lệnh (!), là cấp bậc cao hơn Tổng tham mưu trưởng. Lúc ông Hương nói với tôi tại dinh Độc Lập ngày 25.4.1975 (có ông Viên ở đó), ông Viên nhìn tôi có vẻ không hứng thú. Ông Viên đã không thích nhận trọng trách điều khiển quân đội, huống chi bây giờ ông Thiệu và ông Khiêm đã từ chức (thì ông Hương khó mà “năn nỉ” Viên làm Tổng tư lệnh được!)”.

Số Viên còn đỏ. Khi “tân tổng thống” Trần Văn Hương sắp trao quyền cho Dương Văn Minh, Dương Văn Minh điện thoại dặn Trần Văn Đôn phải “cố giữ ông Viên ở lại chức vụ tổng tham mưu trưởng, đừng cho ông Viên đi”. Nhưng sáng sớm 29.4, Đôn trả lời:

- Viên đã đi rồi!

Như vậy, từ anh em ông Ngô Đình Diệm đến Mỹ - Thiệu, Kỳ, Khiêm, Trần Văn Hương, và cuối cùng là Dương Văn Minh đều muốn dùng và giữ Cao Văn Viên. Chẳng phải vì ông là vị tướng quá giỏi không ai thay thế nổi mà trước hết bởi ông là con người của sự “thực thi mệnh lệnh” và “trung thành” với tổng tư lệnh của mình.

Ra nước ngoài, Cao Văn Viên viết hồi ký, có đoạn: “Binh sĩ miền Nam Việt Nam (Sài Gòn) trong những năm 1972-1975 ra trận nhưng quá sức lo lắng về việc tiếp tế đạn dược không được nhanh như yêu cầu và nếu bị thương phải chờ khá lâu mới được bốc khỏi mặt trận, thời tiếp liệu thừa thãi và không vận nhanh đã qua rồi..." 
Cao Văn Viên xin Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Schlesinger, tướng tham mưu trưởng Creighton Abrams, thiếu tướng phụ tá quân sự Bộ Quốc phòng John Wickham tăng quân viện nhưng bị từ chối vì quyết định “không viện trợ vũ khí nữa” của Quốc hội Mỹ. Chính quyết định đó báo trước ngày tàn của quân đội Sài Gòn, mà theo Harry Thurk, đông đến hơn 1.300.000 người với hàng nghìn máy bay “thường nằm dưới đất nhiều hơn là tung cánh lên trời”... (Còn nữa)
Mai Nguyễn 

Tướng Cao Văn Viên: Tổng tham mưu trưởng kỳ lạ nhất Sài Gòn


Cao Van Vien

Ông Cao Văn Viên - vị đại tướng tổng tham mưu nhiều lần xin từ chức nhưng không được tổng thống Thiệu chấp thuận


Năm 1971, choáng váng bởi tổn thất nặng sau chiến dịch Lam Sơn 719, ông Thiệu nhờ Trần Văn Đôn nói với đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, hãy quét tầm nhìn chiến lược đến các quân khu, chịu khó tiếp xúc với các tư lệnh vùng để tăng cường quân lực, chứ đừng ở mãi trong văn phòng riêng như ông Viên vẫn làm. 


Tại sao ông Thiệu không trực tiếp nói với Cao Văn Viên mà phải nhờ Trần Văn Đôn? Bởi Thiệu có nói nhưng đại tướng Viên vẫn không nhúc nhích, cứ ngồi một chỗ để chỉ huy ngót một triệu quân qua…điện đàm là chính. Ông Đôn gặp Cao Văn Viên hỏi lý do. Ông Viên bảo:

“Tôi đã xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu không chấp thuận nên tôi cứ ở văn phòng làm việc mà thôi!

Trong khi đất nước có chiến tranh, nhất là năm 1972 chiến trường sôi động, mà ông Tổng tham mưu trưởng chỉ “ngồi văn phòng làm việc miễn cưỡng” làm sao các sĩ quan binh lính ngoài mặt trận khỏi dị nghị được? Ông Đôn viết trong hồi ký như thế và thêm:

Tôi hỏi ông Thiệu:

-        Nếu tổng thống không bằng lòng…thì sao không đổi người khác để làm việc hữu hiệu hơn?

-        Hai người này (kể thêm Trần Thiện Khiêm, thủ tướng) là người của Mỹ chọn, nếu tôi đổi hai người này thì Mỹ sẽ phản đối, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn. Cái khó khăn của tôi âu cũng nghĩ chỉ là (chỉ) đối đầu với Cộng sản. Thật ra trở ngại và khó khăn cho tôi là Mỹ. Ví dụ như việc bổ nhiệm người trong nội các, người nào Mỹ không phản đối thì được, còn phản đối thì khó mà làm việc”.

Rõ vậy! Ngay Cao Văn Viên có lần ngán ngẩm buột miệng sổ toẹt về tính chất “tầm gửi” của đội quân Sài Gòn vào Mỹ khi phái đoàn nghị sĩ và dân biểu đến gặp để hỏi “về chiến lược quân sự của Bộ Tổng tham mưu”:

-        Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh (!). Trách nhiệm chiến đấu ở đây là người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi!

Câu trả lời quá rõ. Xin miễn bàn.

Cứ như thế, ông Viên tà tà đến bàn giấy làm việc hệt cung cách công chức. Về nhà, theo người thân kể lại, ông quẳng những ưu tư ven đường, dường như không nghĩ tới tấm bản đồ hành quân, hoặc cục diện chiến trường, mà suy tưởng đến những chuyện đâu đâu ngoài cõi thực. Nhưng oái ăm, chính một phần vì thái độ đó mà đại sứ Mỹ... yên tâm! Trần Văn Đôn kể:

“Mỗi khi Mỹ đề nghị điều gì khó khăn, nếu về hành chính thì Tổng thống Thiệu giao cho Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, còn về quân sự thì giao cho Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Dĩ nhiên hai ông này sẽ làm theo đường lối của Mỹ. Hai ông này không hẳn thích Mỹ nhưng trải qua kinh nghim của những người đi trước họ hiểu rằng muốn sống yên trên địa vị cao sang của mình thì phải chiều theo ý của Mỹ. Vì vậy mà Mỹ thích hai ông đó nắm trọn lực lượng quân sự và chính trị trong nước. Đó cũng là cách hay nhất để nắm luôn Tổng thống Thiệu bởi vì nếu cần thì... hai người đó sẽ đảo chính dễ dàng!”

Thiệu hẳn nhiên dùng nhiều biện pháp đề phòng những người quanh mình. Ông đặt máy truyền tin trong phòng làm việc để khi cần liên lạc nói chuyện thẳng với tư lệnh 4 vùng chiến thuật, hoặc trực tiếp điều động các sư đoàn cứu viện. Cẩn thận hơn, ông Thiệu đặt Phòng hành quân sát phòng mình và giao sĩ quan trực đảm nhiệm theo dõi, ghi chép hướng di chuyển của các đơn vị lớn thuộc các binh chủng. 

Vào mỗi sáng, ngoài việc nắm tình hình qua báo cáo, ông còn nghe ngóng động tĩnh tại các quân khu bằng hệ thống truyền tin riêng không nhất thiết phải qua trung gian của Bộ Tổng tham mưu. Hệ thống đó cũng cho phép Thiệu gọi đến tận các địa phương để trực tiếp ra lệnh cho các tỉnh trưởng, thị trưởng trong trường hợp cấp bách. Dẫu hết sức cảnh giác, đảo mắt quan sát các tướng tá thân cận, nhưng Thiệu lại không mặn mà lắm với ý kiến của cố vấn Hoàng Đức Nhã khi Nhã thúc hãy thay gấp hai ông Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên.

Vì theo Thiệu, đó là hai viên tướng ăn cánh “lâu đời” với ông ta, không dễ gì trở mặt phản phé được. Nếu họ không làm việc tốt so với trọng trách đã giao thì ít ra họ cũng án ngữ giùm ông hai cánh cổng quyền lực của chế độ mà nhiều đối thủ dòm ngó. Huống gì ông Thiệu rất mực tin tưởng vào “lòng trung thành” của Cao Văn Viên vốn từng biểu lộ trong phút lâm chung của Ngô triều.

Theo hồi ký Đỗ Mậu, đêm xảy ra đảo chính Diệm 1.11.1963: “tại văn phòng của tướng Khiêm, nơi được chọn làm bộ ch huy, tướng Dương Văn Minh, hỏi từng người “ai theo cách mạng” (phe đảo chính) và ai còn theo ông Diệm”? Tất cả đều hoan h trả lời: “Theo cách mạng!” trừ đại tá Cao Văn Viên, tư lệnh quân nhảy dù, trả lời:

- Tôi là một quân nhân kỷ luật. Tôi không làm chính trị, tôi chỉ biết tuân lệnh Tổng thng Diệm”.

Thời còn cấp bậc trung úy vào năm 1953, Đỗ Mậu cùng Cao Vãn Viên và Nguyễn Văn Thiệu gặp nhau tại Hưng Yên. Ông Mậu cho biết: “Chúng tôi coi nhau như bạn thân. Cao Văn Viên là người ít nói trong lúc Thiệu và tôi hay thảo luận chính trị, thời thế”. Năm 1958, Ngô Đình Diệm đưa Cao Văn Viên về dinh Độc Lập giữ chức Tham mưu trưởng biệt bộ. 

Khi Nguyễn Chánh Thi đem lữ đoàn nhảy dù tấn công dinh Độc Lập mưu đảo chính Diệm nhưng thất bại phải chạy qua Campuchia tỵ nạn; ông Diệm giao Cao Văn Viên chỉ huy lữ đoàn nhảy dù thay ông Thi - đồng thời thăng cấp cho ông Viên lên đại tá. Trong lúc ông Viên gắng giữ trách nhiệm ở phạm vi được giao thì vợ ông lại là một “phu nhân” hiếu động cộng tác đắc lực với bà Nhu trong “phong trào phụ nữ liên đới”. 

Người đương thời cho là dưới trào ông Diệm có ba “bà tướng”. Bà Thái Quang Hoàng dám đấu khẩu với bà Ngô Đình Nhu về vụ đảo chính hụt của quân nhảy dù. Bà Nguyễn Văn Là “thiện xạ số hai” sau “thiện xạ số một” Ngô Đình Lệ Thủy (con bà cố vấn Nhu) xuất hiện đêm đêm trên màn ảnh xi-nê để thi nhau tác xạ vào... bong bóng, hoặc bò qua các lỗ châu mai giả định tại “chiến trường Thị Nghè”! Bà Cao Văn Viên thích nổi tiếng tương tự. Trở lại chuyện mấy ông chồng, hồi ký Trần Văn Đôn kể hai tướng Trần Thiện Khiêm và Cao

Văn Viên “là đôi bạn thân nhau” nhưng lúc lật đổ chế độ Diệm lại tỏ ra lập trường khác nhau:


“Ngày đo chính 1.11.1963, thiếu tướng Khiêm sốt sắng tham gia còn đại tá Viên thì trung thành với ông Diệm nên buộc lòng chúng tôi phải giữ lại chung với các sĩ quan cấp tá như Chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt, Chỉ huy trưởng lữ đoàn phòng vệ Phủ tổng thống... Lúc đó từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn III (bao gồm Sài Gòn), ông Đính (trung tướng Tôn Thất Đính) điện thoại cho tôi ngỏ ý muốn nói chuyện với đại tá Cao Văn Viên... Tôi cho người đưa ông Viên đến... Ông Viên phân trần (qua điện thoại với Tôn Thất Đính):

-                    Anh phải hiểu cho tôi, tôi không thể làm việc này được. Tôi không thể theo ủy ban để đảo chính ông cụ được!


Rồi ông Viên trao trả máy cho tôi nói chuyện với ông Đính. Ông Đính nói:

-                    Nó không chịu theo tụi mình, nhưng anh giữ nó bên cạnh đừng nhốt nó tội nghiệp!

Tôi để Viên ngồi trong văn phòng tôi, từ lúc tôi điều động lính đảo chính cho đến 8 giờ 
sáng ngày 2.11.1963, mọi việc xong xuôi tôi cho Viên về nhà".

Theo tài liệu khác, ban đầu phía đảo chính định khử Viên, nhưng tướng Đính cứu ông, bảo Viên “là người vô hại” nên thôi. Sau Viên được giao chỉ huy sư đoàn dù Sài Gòn. Năm 1975, với cấp bậc đại tướng, Tổng tham mưu trưởng, ông vẫn không nảy sáng kiến mới lạ gì hơn trong việc điều quân khiển tướng mà giữ đúng nội dung “những chỉ thị” của Thiệu về rút lui chiến thuật và dần đến thua trắng miền Nam. 
Ngày 28.4.1975, sau khi sắp xếp nội vụ Tổng tham mưu, giao tướng Đồng Văn Khuyên xử lý thường vụ, ông Viên mặc thường phục với áo sơ-mi, quần jean, đáp máy bay sang Bangkok - Thái Lan, với sự hỗ trợ của cơ quan lo việc tản cư của Mỹ DAO. 
Tại đó, ông lấy vé hàng không dân sự bay thẳng tới Washington như một du khách. Hồi chế độ Sài Gòn sắp “tàn cuộc hoa này”, nghe nói đại tướng Viên thực tế đã tự về vườn, thường tĩnh tâm trong am nhỏ. 
Ở đó ông không ngẫm nghĩ ngày đêm để “chắp tay sau lưng mà vẫn quyết định sự thắng bại ngoài nghìn dặm” theo luật làm tướng ghi trong binh pháp. Mà để trốn khỏi rối rắm và gánh nặng chức trách của người đứng đầu đội quân đông ngót một triệu người! Thời cuộc vẫn để ông ngồi ở vị trí liên quan tới sự sống chết của cả triệu sinh linh một cách hững hờ và miễn cưỡng! 
Ở khía cạnh này, tướng Cao Văn Viên là một tổng tham mưu trưởng kỳ lạ nhất của quân đội Sài Gòn “năm xưa”.

Mai Nguyễn (còn nữa)


Đại sứ Bunker và toan tính đảo chính ở Sài Gòn 1971


tuong ta Sai Gon, dao chinh

Hai ông Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ: một sắc phục, hai hướng nhìn


Tiến thân (lên tướng) từ cuộc đảo chính năm 1963, Thiệu bị ám ảnh dai dẳng bởi cái chết của hai anh em ông Diệm. Ông ta nói với cố vấn của mình là không thể quên được cảnh tượng thi thể Diệm và Nhu nằm trên sàn thép nhầy máu của chiếc M.113 mà chính ông ra lệnh cho lái xe mở cửa hậu để nhìn vào: Tôi đã ngả mũ cúi chào xác hai ông ấy rồi quay đi mà chưa hết bàng hoàng .

Nguyễn Văn Thiệu kể là ngày 2.11.63 ông được lệnh cầm quân đánh chiếm dinh Gia Long và nếu hôm ấy hai ông Diệm – Nhu còn ở lại đó chứ chưa chạy vào nhà thờ cha Tam trong Chợ Lớn thì “Tôi sẽ đưa họ về trụ sở Bộ Tổng tham mưu trên một chiếc xe jeep mui trần”.
Nhưng khi lọt vào dinh, không thấy Diệm – Nhu, lính của Thiệu sục sạo các căn phòng vắng chủ bợ đi một số đồ quý cùng các thứ trang trí nội thất đắt tiền đem ra ngoài bán chác hoặc giữ làm của riêng. Cảnh đó được quay vào ống kính và bà Ngô Đình Nhu ở nước ngoài xem biết, mới điện ngay cho tướng Trần Văn Đôn phàn nàn “đám cao bồi” lấy hết đồ riêng của bà trong dinh và đòi được bảo vệ (!).
Thiệu bắt những binh lính đã tẩu tán đồ vật dinh Gia Long phải chịu kỷ luật, phạt đánh bằng roi da. Hết thảy mọi điều diễn ra đó đọng lại nơi Thiệu nỗi sợ hãi sẽ bị sát hại qua một cuộc đảo chính như ông Diệm. Ông nói nhiều lần với các cố vấn thân cận rằng người Mỹ có thể trừ khử ông ta nếu thấy lợi cho họ. Ngón sở trường Mỹ thường dùng là sử dụng bàn tay của các tướng tá cật ruột với “đối tượng” để hạ thủ “đối tượng”. Do vậy, Thiệu vẫn thường quán xét người chung quanh. Và sinh đa nghi, tẩn mẩn.
Ngay hồi bị khủng hoảng sau Tết Mậu Thân 68, Thiệu lên ruột khi Trần Văn Đôn tổ chức đại hội thành lập “Mặt trận nhân dân cứu nguy dân tộc” tại rạp Rex với các cố vấn như luật sư “Nguyễn Văn Huyền (chủ tịch Thượng viện Sài Gòn), Nguyễn Bá Lương (Chủ tịch Hạ viện Sài Gòn), linh mục Hoàng Quỳnh, ông Cao Hoài Sang (Cao Đài), ông Lương Trọng Tường (Hòa Hảo)…Trước đó không lâu, Thiệu đã dùng “viễn vọng kính” của nha tình báo trung ương chiếu thấy danh tánh của một số đại diện đoàn thể của “mặt trận” trên họp nhau sơ bộ tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn mà Thiệu cho rằng sự đứng chung “thành khối” của họ là bất lợi, như các ông Phan Khắc Sửu, Hà Thúc Ký, Thích Tâm Giác, Huỳnh Văn Nhiệm, Trần Văn Tuyên, Trần Văn Lộc, Trương Xuân Vĩnh…Ông ta nghi Trần Văn Đôn hậu thuẫn Nguyễn Cao Kỳ (đang là Phó Tổng thống) tập hợp lực lượng trên để tìm cách “hất” ông. Nên một lần, Thiệu gặp Trần Văn Đôn, trước mặt ông Đôn, Thiệu không còn là viên đại tá chỉ huy trưởng Sư đoàn 5 ngày nào được chính tay Đôn gắn sao thăng lên tướng sau cuộc đảo chính Diệm nữa; mà nay đã là tổng thống và nghiêm giọng hỏi:

-         Trung tướng hoạt động nhiều vậy để làm Thủ tướng phải không?

-         Nếu tôi muốn làm Thủ tướng thì tôi xin tổng thống cho tôi ghế đó! Tôi với anh em nghị sĩ dân biểu và một số anh em đủ giới ngồi lại trong một tổ chức nhân dân để yểm trợ chính quyền…

Hồi ký Trần Văn Đôn viết tiếp: “Ông Thiệu không hỏi thêm nhưng không tin điều tôi nói. Tôi thấy hơi buồn vì ông Thiệu đang làm tổng thống mà còn ganh tị với một sinh hoạt chính trị có thể tạo ảnh hưởng cho Phó tổng thống Kỳ…”

Phần Phó tổng thống Kỳ, cho đến cuộc bầu cử tháng 10.1971, muốn tách riêng một liên danh tranh chức tổng thống với Thiệu, chứ không làm “phó” cho Thiệu nữa. Phía Thiệu, lấy ông Trần Văn Hương làm ứng cử viên phó tổng thống thay Kỳ. Ông Dương Văn Minh cũng ra tranh cử nhưng …như Trần Văn Đôn viết: “Luật bầu cử tổng thống và phó tổng thống lúc đó (do Thiệu khống chế, khuynh loát lập ra nhằm loại bỏ đối thủ) có điều khoản ứng cử viên phải được một số đại diện dân cử ký tên ủng hộ. Nguyễn Văn Thiệu cho thâu hầu hết các chữ ký này cho mình nên Dương Văn Minh và Nguyễn Cao Kỳ không còn đủ số chữ ký cần thiết, cuối cùng phải rút lui không thể ứng cử nữa”.

Tức tối, Kỳ cũng chưa chịu buông ngay, tìm cách phản ứng mạnh, đảo chánh? Kỳ đã tính tới nước đó:

-         “Trong một nước mà đảo chính (có dạo) đã trở thành cơm bữa thì chúng tôi thảo luận về khả năng đảo chính để lật đổ Thiệu là điều không mấy ngạc nhiên. Tôi biết mình có thể hoàn toàn tin tưởng ở không quân và đa số tướng lãnh trong quân đội…”. Thật ra, cánh tướng tá của Kỳ, như đã nói, bị rocket Mỹ “bắn lầm” chết khá bộn. So với Thiệu, thực lực Kỳ yếu hơn nhiều. Song điều lo lắng của Kỳ không nằm ở đó mà ở phía …người Mỹ! Và đại sứ Bunker đã đến. Không cần hẹn, người ta bảo hễ nhà nào bàn chuyện đảo chính, dường như có bóng các đại sứ Mỹ trên thềm. Hoặc “thăm xã giao”, hoặc “hỏi thăm sức khỏe”…Và lần này, đại sứ Bunker đến tận nhà Kỳ để “khuyến phát tranh cử”. Chẳng lẽ họ không biết Thiệu đã “thắng” trong việc ngăn chặn hết mọi lối vào phòng phiếu? Đã loại hết các liên doanh? Kỳ tỏ vẻ lấy làm lạ vì lý do này nữa:

-         Mặc dầu người Mỹ nói để tôi biết rằng họ không chấp nhận một cuộc xung đột công khai giữa Thiệu và tôi (hay bất kỳ việc gì tương tự như một cuộc đảo chính) song họ lại rất muốn tôi nhảy ra tranh cử để đối mặt với Thiệu. Họ nghĩ rằng việc ấy sẽ làm cho cuộc bầu cư có vẻ dân chủ hơn. Một buổi chiều, đại sứ Bunker đến nhà tôi trong căn cứ không quân và nói: “Bầu cử mà độc diễn (chỉ Thiệu) thì không phải là tấm gương tốt cho thế giới”.

Đại sứ Bunker không dừng ở nhận định đó, mà còn ngỏ lời tử tế tới nỗi “xung phong kiếm tiền cho tôi (Kỳ) vận động bầu cử. Chắc hẳn ông ta thừa biết tôi chẳng có hy vọng gì trúng cử, nhưng có lẽ người Mỹ nghĩ rằng nếu phải tốn phí mà tạo ra được một cái vẻ bề ngoài bầu cử tự do thì cũng đáng đồng tiền. CIA cũng làm áp lực với tôi…Rốt cuộc cả Dương Văn Minh và tôi đều rút lui và cuộc bầu cử được tiến hành với một tên ứng cử viên tổng thống duy nhất: Nguyễn Văn Thiệu”.

Thâm tâm người Mỹ và đại sứ Bunker đến đó dường như vẫn chưa yên. Họ đang cần một không khí chính trị an toàn cho cuộc rút quân và nghị hòa, nên họ muốn không có đảo chính hoặc xáo trộn tại Sài Gòn. Phải chăng họ đã phái nhiều nhân viên mật vụ đến nhắn nhe Kỳ? Kỳ viết: “Thật thế, đại tá Châu Văn Tiên nắm quyền tại Gia Định đến thăm căn cứ không quân nhằm lúc tôi đi vắng và nói với binh sĩ:

-         Chúng tôi nghe tướng Kỳ có kế hoạch đảo chính. Nếu chuyện ấy xảy ra, chúng tôi sẽ sẵn sàng đập tan. Chúng tôi có máy bay Mỹ ủng hộ và đảo chính sẽ thất bại!”.

Nếu Mỹ và Thiệu không mớm, viên đại tá kia dám nói? Cạch mặt Kỳ, nhưng Thiệu (và cả Mỹ) lại rất thích dùng một viên tướng khác dám tuyên bố trung thành với ông Diệm vào giờ phút chắc thắng của cuộc đảo chính 1.11.1963: Cao Văn Viên.

Mai Nguyễn (còn nữa)


Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mang gì khi rời khỏi Sài Gòn?


Nguyen Van Thieu luon da nghi va  tinh toan trong la bai cua minh. Anh TL

Nguyễn Văn Thiệu luôn đa nghi và tính toán trong lá bài của mình. Ảnh TL

Ngày 25.4.1975, đại sứ Martin điện cho Kissinger báo rằng đã nghĩ ra cách đưa Thiệu và Khiêm rời khỏi miền Nam bí mật. Martin giao cho tướng Timmes tổ chức cuộc ra đi. Chuyến bay của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mang số 231 đi Đài Loan vào lúc 9 giờ 20 đã mang theo 18 tấn vàng của ngân khố Sài Gòn?...


Lý Quí Chung (1940-2005), bút danh Chánh Trinh, là một nhà báo, và cũng là một dân biểu và nghị sĩ đối lập dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ông từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin trong chính phủ tồn tại 2 ngày của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cuối cùng Dương Văn Minh. Ông là một nhân vật có điều kiện nhìn sâu vào bên trong bộ máy chính quyền Sài Gòn. Từ góc nhìn của ông, người đọc có thể thấy những sự kiện, biến động chính trị - xã hội, cũng như một số góc khuất trong chính trường Sài Gòn từ 1965 đến 1975.
Ông mất ngày 3.3.2005 tại Sài Gòn.
Nhân kỷ niệm ngày 30.4, Báo điện tử Một Thế Giới trích giới thiệu một số tư liệu trong "Hồi ký không tên" của ông. Mời các bạn theo dõi!
Tong thong Nguyen Van Thieu mang gi khi roi khoi Sai Gon?
 Nhà báo Lý Quý Chung (giữa), tướng Dương Văn Minh (trái)
Kỳ 1.
Không khí tại Dinh Hoa Lan rộn rịp lên sau tuyên bố từ chức của ông Thiệu.
Cựu trung tướng Trần Văn Đôn, nghị sĩ quốc hội, thất bại trong việc toan tính tự giới thiệu mình với Pháp như một ứng cử viên thay Thiệu, giờ chót quyết định ủng hộ người bạn xưa của ông là cựu trung tướng Dương Văn Minh. 
Tướng Đôn trước đây hầu như không thấy xuất hiện ở Dinh Hoa Lan, bây giờ vô ra thường xuyên. Tuy Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn cùng tham gia cuộc lật đổ hai anh em Diệm – Nhu và đều xuất thân là những sĩ quan quân đội Pháp nhưng ngoài đời hai người rất ít quan hệ với nhau vì tánh tình rất khác nhau.
Ông Minh thích thể thao từ nhỏ, đã từng là thủ môn của đội bóng Thủ Dầu Một những năm 40, một đấu thủ quần vợt có hạng và mãi sau này ông vẫn cầm vợt ra sân tuần ba buổi tại câu lạc bộ CSS. Khác với phần đông các tướng lãnh Sài Gòn đều mê gái, ông Minh có một cuộc sống gia đình rất gương mẫu. 
Tướng Đôn ngược hẳn: ông như nhân vật Don Juan, các phụ nữ đẹp trong giới thượng lưu Sài Gòn khó thoát khỏi tay ông nếu lọt vào tầm ngắm của ông. Dù không hợp nhau nhưng Minh và Đôn vẫn tôn trọng nhau.
Người ta cũng thường thấy xuất hiện một số tướng về hưu như trung tướng Nguyễn Hữu Có, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh… Thẳng thắn mà nói số tướng tá chung quanh ông Minh lúc này không có nhiều và cũng ít có gương mặt nổi bật. Các tướng tá đương quyền, thuộc thế hệ sau, đều phò Thiệu hoặc Kỳ. 
Nếu xảy ra một cuộc đối đầu quyền lực với Nguyễn Cao Kỳ, chắc chắn nhóm ông Minh sẽ gặp khó khăn. Lực lượng của ông Minh quá mỏng. Do lâu ngày tách khỏi quân đội, ông Minh không còn tay chân thân tình của mình trong hàng tướng tá. 
Trong các buổi họp hàng tuần của nhóm ông Minh chỉ thấy có mặt hai nhân vật quân sự thuộc thế hệ đã qua: đó là cựu trung tướng Mai Hữu Xuân và cựu trung tướng Lê Văn Nghiêm, đều không còn ảnh hưởng trong quân đội.
Khi nhân vật tình báo Mỹ Charles Timmes gián tiếp nói cho Kỳ biết đại sứ Mỹ Martin ủng hộ giải pháp Dương Văn Minh và không ủng hộ cá nhân ông, Kỳ không giấu giếm lập trường của ông là sẽ chống ông Minh không khác chống cộng sản. Tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ vẫn nuôi tham vọng trở lại chính trường. 
 
Tong thong Nguyen Van Thieu mang gi khi roi khoi Sai Gon?
Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu chưa bao giờ tin nhau 

Ngay sau khi Thiệu ra lệnh rút khỏi Ban Mê Thuột, từ Khánh Dương trên Cao Nguyên – nơi ông có một nông trại – Kỳ đáp máy bay trực thăng về Sài Gòn nhờ tướng Cao Văn Viên, đang là tổng tham mưu trưởng, thuyết phục Thiệu giao quân cho Kỳ đi ngăn chặn sự tiến quân của quân giải phóng và bảo vệ Sài Gòn. Trong hồi ký của mình (“Buddha’s Child”), Kỳ kể đã gặp Cao Văn Viên.

Kỳ hỏi” “Tình hình Ban Mê Thuột thế nào rồi?”.

Viên đáp: “Rất khó khăn. Chúng ta không có thừa quân vì phải bảo vệ Sài Gòn”.

Kỳ: “Tôi không cần nhiều quân. Cho tôi vài tiểu đoàn thủy quân lục chiến hoặc dù, và chừng 20 đến 25 chiến xa, tôi sẽ tìm cách phá vỡ sự bao vây. Tôi sẽ trực diện với quân địch và chiến đấu”.

Dừng một lúc, Kỳ hỏi Viên: “Anh có nghĩ là tôi sẽ thành công?”

Viên trả lời: “Nếu anh chỉ huy lực lượng đó, tôi nghĩ là thành công”.

Kỳ: “Vậy thì hãy để tôi hành động”.

Viên: “Đáng tiếc tôi không ở vào vị trí có thể lấy một quyết định như thế. Quyết định này thuộc thẩm quyền của tổng thống Thiệu”.

Kỳ: “ Ô kê, hãy gọi cho Thiệu, báo cho ông ta tôi đang ở đây và nói với ông ta biết đề nghị của tôi…”

Viên gọi điện cho Thiệu, nhưng tổng tham mưu trưởng không nói chuyện được với vị tổng chỉ huy của mình. Thông qua một tùy viên của Thiệu, Viên để lại một báo cáo. Nhưng sau đó, viên trợ lý này gọi lại tướng Viên và cho biết:

“Tổng thống cảm ơn tướng Kỳ rất nhiều về đề nghị của ông nhưng tổng thống cần có thời gian để suy nghĩ về đề nghị của ông”.

27 năm có đủ lâu để suy nghĩ cho một quyết định như thế? Tôi vẫn chờ câu trả lời của Thiệu. Có lẽ  ông ta sợ tôi sẽ làm gì đó tại Sài Gòn với đơn vị xe tăng hơn là sợ đối phương có thể làm gì với quốc gia”.

Thật sự đây chỉ là canh bạc xì phé mà Kỳ tung ra với Thiệu. Cả Cao Văn Viên và Nguyễn Văn Thiệu không ai tin rằng Kỳ sẽ cầm quân ra mặt trận vào lúc đó và sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ cái ghế tổng thống của Thiệu. 
Điều mà cả hai nghĩ là có quân trong tay Kỳ sẽ tính tới lật đổ Thiệu và giành lấy quyền bính mà ông ta đã để lọt ra khỏi tay hồi năm 1967. Tự cho mình quá hiểu Kỳ, Thiệu đương nhiên gạt qua một bên “đề nghị viển vông” ấy.
Vào lúc CIA có  ý định lật đổ Thiệu, ông Kỳ lại được nhà báo Mỹ Robert Shaplen của báo New Yorker tích cực vận động để quay trở lại chính quyền. Từ đầu Shaplen luôn ủng hộ Kỳ. Shaplen có ảnh hưởng khá lớn đối với tòa đại sứ Mỹ, nhưng cuộc vận động này bất thành. Nếu quân giải phóng chưa vào Sài Gòn ngày 30-4-1975, chắc chắn Kỳ cũng sẽ tìm cách đảo chính ông Minh.
Tong thong Nguyen Van Thieu mang gi khi roi khoi Sai Gon?
Chân dung Nguyễn Văn Thiệu
Ngày 25-4-1975, ông Thiệu rời Sài Gòn một cách bí mật; địa chỉ đến là Đài Loan. Trước đó, quyền tổng thống Trần Văn Hương thúc hối đại sứ Martin phải áp lực để ông Thiệu rời Việt Nam sớm bởi “sự hiện diện của ông Thiệu gây khó khăn cho ông”! 
Từ ngày 21-4 sau khi tuyên bố từ chức, ông Thiệu và gia đình vẫn ở trong Dinh Độc Lập. Ông Thiệu rời Dinh Độc Lập vào lúc 7 giờ 30 tối. Cùng đi với ông Thiệu có tướng Trần Thiện Khiêm, cựu thủ tướng và là người bạn thân của Thiệu. 
Bà Thiệu và bà Khiêm đã rời Sài Gòn trước đó vài ngày. Bà Khiêm mang theo cả người giúp việc. Theo sự tố giác của linh mục Đinh Bình Định, người rất gần gũi với linh mục Trần Hữu Thanh, thì trong quân đội vào đầu tháng 3 có nhen nhúm một kế hoạch kết hợp Thiệu và Khiêm thành một liên danh tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 3 vào cuối năm 1975, nếu chế độ Sài Gòn còn kéo dài. Chính Thiệu cũng từng tiết lộ kế hoạch này với đại sứ Martin và cho rằng nếu ông làm tổng thống một nhiệm kỳ nữa thì ông sẽ có điều kiện mở rộng dân chủ!

Chi tiết về cuộc “trốn chạy” của ông Thiệu – vâng phải gọi đó là cuộc trốn chạy – được các tài liệu CIA sau này tiết lộ như sau:

Ngày 25-4-1975, đại sứ Martin điện cho Kissinger báo rằng ông ta đã nghĩ ra cách đưa Thiệu và Khiêm rời khỏi miền Nam một cách bí mật. Martin giao cho tướng Mỹ Timmes tổ chức cuộc ra đi của Thiệu.

Timmes điện cho Thiệu và cho biết ông ta có thể dùng một chiếc trực thăng để  đưa Thiệu từ Dinh Độc Lập đến phi trường Tân Sơn Nhất. Nhưng ông Thiệu trả lời rằng ông ta muốn đi bằng ô tô để ghé tổng tham mưu trước và “uống một ly rượu với 22 tướng tá” đến chào từ biệt ông ta tại đây. 
Hình như nơi Thiệu và Khiêm ghé lại là nhà riêng của ông Khiêm. Từ tổng tham mưu, Chính nhân viên CIA Frank Snepp và tướng Timmes đưa Thiệu và Khiêm vào sân bay. Timmes giới thiệu Snepp với Thiệu: “Đây là một chuyên viên phân tích cừ khôi của tòa đại sứ, hơn nữa anh còn là một tài xế đẳng cấp”. 
Khi ô tô đi vào sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, Timmes khuyên ông Thiệu cúi người xuống “như thế an toàn cho tổng thống”. Timmes sợ lính gác nhận ra tổng thống của họ chạy ra nước ngoài và biết đâu sẽ manh động. Timmes hỏi bà Thiệu và con gái, ông Thiệu trả lời: “Họ đang shopping ở Lon Don mua đồ cổ". 
Đại sứ Martin đứng chờ sẵn ông Thiệu bên cạnh chiếc máy bay C-118. Trước khi lên máy bay ông Thiệu vỗ vai cảm ơn Frank Snepp. Trong bài viết riêng của mình liên quan đến giây phút này  trong quyển “The VietNam War rememberd from all sides” của Christain G. Appy, Frank Snepp có kể rằng ông Thiệu bắt tay Sneep và nói  “tiếng Anh bằng giọng Pháp” với Snepp rằng: “Cảm ơn, cảm ơn tất cả mọi chuyện”. 
Nhưng sau đó Snepp lại tự hỏi ông Thiệu cảm ơn chuyện gì? “Tôi nghĩ chúng ta (tức người Mỹ) đã mất 58.000 thanh niên tại đây – ông Thiệu cảm ơn chuyện đó? Hay đơn giản cảm ơn vì bản thân mình chuồn đi được?” Đại sứ Martin theo Thiệu vào tận bên trong máy bay. 
Ông ta nói với Thiệu “Chúc may mắn” rồi mới bước xuống lên ô tô của mình. Chuyến bay của Thiệu mang số 231 đi Đài Loan vào lúc 9 giờ 20. Có tin đồn Thiệu mang theo 16 tấn vàng của ngân khố Sài Gòn. Thật sự số vàng ấy vẫn ở lại miền Nam. Nhưng theo Kỳ thì “ Thiệu mang theo 17 tấn hành lý và nhiều triệu đô la tiền mặt. Ông ta không cần chuồn với số vàng của ngân khố quốc gia”.
Dân Sài Gòn dửng dưng (và không ngạc nhiên) khi hay tin sự “trốn chạy” của Thiệu ra nước ngoài. Họ không ngạc nhiên vì Nam Việt Nam đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu những cuộc đào tẩu như thế của những kẻ một thời lãnh đạo Miền Nam. 
Trường hợp của ông Thiệu cũng thế thôi, nằm trong sự dự đoán trước của nhiều người. Trung tá phi công Minh, bạn học của Hoàng Đức Nhã ở Lycee Yersin Đà Lạt, được Nhã kéo về chỉ huy đội bay trực thăng riêng của tổng thống Thiệu trong nhiều năm, gặp tôi ở Dinh Độc Lập tối 29-4-1975 đã bày tỏ sự bất mãn của anh với cách cư xử của Thiệu đối với những người đã từng là thân tín của ông ta.
Lý Quí Chung








 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 

Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.