Bài viết


 
Album ảnhLiên hoan ảnh nghệ thuật khu vực ĐBSCL lần thứ 28 năm 2013
  VN
  13      


     "Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực Hà Nội lần thứ 3 năm 2013"
     QĐND - Là phóng viên ảnh của Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự việt Nam),      tôi có nhiều dịp được chụp ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp...

Đại Tướng VÕ NGUYEN GIÁP

Ngày nay, khi người dân Mỹ nghe thấy hai tiếng Việt Nam, họ sẽ nghĩ về một đất nước chứ không phải là một cuộc chiến tranh…Việt Nam đã nổi lên như một trong những câu chuyện thành công lớn lao ở Châu Á” – Phát biểu của Ngoại trưởng John Kerry tại tiệc trưa chào đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ở trụ sở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 24/7.
 
Cuộc Thi ảnh nghệ thuật Việt Nam-Vẻ Đẹp Bất Tận
- Những bức ảnh báo chí đoạt giải ảnh Pulitzer năm 2013 đưa đến thế giới một cái nhìn cận cảnh về sự khốc liệt, tàn bạo.

Đang truy cập: 15
Lượt truy cập: 6871151





                                           

Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên - Câu chuyện một đời người

Có lẽ, không có câu chuyện nào làm tôi xúc động đến thế. Không chỉ vì đối tượng chính của câu chuyện là GS. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên và phu nhân mà bởi nó được “kể” từ những tư liệu hiện vật còn nguyên dấu ấn lịch sử dẫu đã qua gần thế kỷ...




Câu chuyện còn được kể bởi tấm lòng của những người con yêu kính và tự hào về cha mẹ mình; Và không thể không bởi vì, câu chuyện ấy lại được “kể” bằng ngôn ngữ bảo tàng hiện đại.

Tâm huyết với di sản mẹ cha để lại

Sự thành công của Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên có căn cơ trên nền tảng văn hóa gia đình vững chắc từ bao đời của cả họ Vi và họ Nguyễn, mà cô con gái xuất xứ dòng dõi thượng lưu Vi Kim Ngọc đã cùng chồng “góp từng viên gạch….”, để hôm nay, các con cháu của ông bà lại tiếp nối truyền thống ấy, phát huy di sản tinh thần mà thế hệ trước để lại.

Tôi có may mắn được tiếp cận với cuốn sách “Tiếp bước chân cha” do trưởng nữ của cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên – bà Nguyễn Kim Nữ Hạnh - chấp bút, từ khi còn là bản thảo, cùng rất nhiều tư liệu để bà làm nên một cuốn “gia sử” có thể nói là có một không hai ấy.

Nguyễn Văn Huyên

Càng đọc, càng thấy bị cuốn hút vào những sự kiện liên quan đến dòng họ Nguyễn ở làng Lai Xá, huyện Hoài Đức, Hà Tây (nay là Hà Nội) và dòng họ Vi ở Lạng Sơn (gốc ở Diễn Châu – Nghệ An), đặc biệt là gia đình Nguyễn Văn Huyên - Vi Thị Kim Ngọc.

Nhưng chỉ đến khi Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên được hình thành ở ngay cái làng nghề ảnh duy nhất cả nước ấy, thì cuốn “gia sử Nguyễn - Vi” mới hiện lên thật sống động và có sức chinh phục mãnh liệt.

Tôi gặp người con dâu duy nhất của ông bà Huyên – Ngọc (theo cách dùng thân mật của chính Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên) là bà Vũ Thị Kim. Bà tâm sự: Đến lúc này, nhiều khi cũng không dám nghĩ là có thể làm được như vậy, mặc dù mọi “nguyên liệu” thì đã được các cụ lưu giữ cẩn thận và con cháu cũng tiếp nối ý thức đó. Anh chị em cũng trăn trở mãi rồi, nhưng đến năm 2010 mới đi đến quyết định. Và quyết tâm bắt tay vào. Không quyết tâm thì không làm được.

Ông Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh thêm: Cụ thể là sau chuyến đi Hà Lan của chúng tôi, và thăm Bảo tàng Anne Frank, quyết tâm của anh chị em chúng tôi mới được khẳng định.

Tôi nghĩ rằng, chỉ từ cuốn nhật ký của một cô gái Do Thái kể về cuộc sống của cô trong 4 năm sống dưới chế độ phân biệt chủng tộc, bài Do Thái của Hitle và Đức quốc xã mà người ta dựng lại được một bảo tàng sống động về tội ác diệt chủng trời không dung đất không tha ấy. Câu chuyện của bố mẹ chúng tôi, nếu không được “kể” lại bằng ngôn ngữ bảo tàng thì thật đáng tiếc, và cũng là chúng tôi có tội với tiền nhân.

Nguyễn Văn Huyên

Rất may, ý nguyện chân thành của chúng tôi nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ trực tiếp của rất nhiều bạn bè, đồng nghiệp chí thiết của chúng tôi, nên Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên mới có hình hài như hôm nay.

Vâng, đúng là thế. Chỉ là một căn nhà 4 tầng trên khuôn viên khoảng 250m2, họ đã tạo nên được một thiết chế văn hóa có bản sắc riêng, một Bảo tàng gia đình đầu tiên ở Việt Nam. Nhưng, trên hết, sự thành công của Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên có căn cơ trên nền tảng văn hóa gia đình vững chắc từ bao đời của cả họ Vi và họ Nguyễn, mà cô con gái xuất xứ dòng dõi thượng lưu Vi Kim Ngọc đã cùng chồng “góp từng viên gạch….”, để hôm nay, các con cháu của ông bà lại tiếp nối truyền thống ấy, phát huy di sản tinh thần mà thế hệ trước để lại.

Giản dị, chân thành và hiện đại

Hãy nghe các con ông bà Huyên - Ngọc nói về mẹ mình và cũng là về bảo tàng này: “Mẹ chăm chút từng kỷ vật của bố: phong bì thư gửi “ông Nguyễn Văn Huyên, Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp”, hay gửi “Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên”, máy nghe nhạc, thẻ thư viện, sổ ghi chép, các tác phẩm khoa học, các tài liệu hành chính... Bà muốn giữ lại mọi thứ để con cháu biết và hiểu về bố, về ông mình.

Khi mẹ về với bố ở thế giới bên kia, bà để lại nhiều cuốn nhật ký về chồng, về các con, các cháu; mỗi cuốn là một tác phẩm với các hình ảnh của chính bà. Bà cũng đã lưu giữ các tài liệu, bản vẽ khi là kỹ thuật viên về Ký sinh trùng (Đại học Y Hà Nội), thư từ và cả những cuốn sổ chi tiêu hàng ngày... Tiếp bước cha mẹ, chúng tôi giữ gìn cẩn thận tất cả những kỷ vật của ông bà».

Và "chúng tôi kể về bố mẹ chúng tôi".

Thật là chân thành và giản dị. Tuy nhiên, họ không kể bằng lời trực tiếp (đại từ “chúng tôi” chỉ được sử dụng ở các pano chính dẫn vào từng gian trưng bày), bởi người ta có thể tìm hiểu thông tin theo cách đó qua rất nhiều tư liệu văn bản khác nhau đã từng công bố trên sách, báo hoặc các chuyên khảo; hay gần gũi nhất là cuốn sách“Tiếp bước chân cha” như đã đề cập ở trên.

Mà họ dùng ngôn ngữ bảo tàng hiện đại để “kể” câu chuyện về cha mẹ mình, từ hoàn cảnh xuất thân đến học vấn, nhân cách, rồi quá trình họ đến với nhau, và xây dựng mái ấm Huyên - Ngọc.

Quan điểm tiếp cận đó thể hiện trong toàn bộ nội dung và hình thức trưng bày ở Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên.

Những người con đã sử dụng lời kể chuyện của bố, mẹ qua các câu trích thư, nhật ký; trích lời của những người thân nói về bố mẹ, gia đình gắn liền với những hiện vật, nhóm hiện vật hay những tấm ảnh. Bên cạnh đó là một hệ thống video, âm thanh giúp người xem có thể nghe được những câu chuyện sinh động của người trong cuộc.

Gần 400 hiện vật, chủ yếu là tài liệu giấy, các bút tích và ảnh lưu giữ cẩn thận được đưa vào hệ thống trưng bày. Có những tài liệu hiện vật vào cuối thế kỷ XIX, còn đa phần vào nửa đầu và giữa thế kỷ XX. Đặc biệt, trong Bảo tàng có nhiều tấm ảnh quý của gia đình phản ảnh sinh động một phần đời sống xã hội Việt Nam thời hiện đại.

Trong nhiều bức ảnh không có người mà chúng tôi quan tâm nhất: GS Nguyễn Văn Huyên, bởi chính ông là tác giả các bức ảnh đó. Một số tài liệu có chữ ký "tươi" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, còn rõ nét bút, nét mực.

Toàn bộ 250m2 được sử dụng rất đắc địa cho ý tưởng thiết kế trưng bày. Không gian ngoài ngôi nhà là “Vườn ký ức”, với hàng gạch rêu phong vốn là sân của ngôi nhà xưa của thân mẫu Nguyễn Văn Huyên – cụ Phạm Thị Tý, với cây mác mật Lạng Sơn gợi nhớ quê bà Vi Kim Ngọc cùng những cây vẫn trồng ở ngôi nhà số 2 Trần Hưng Đạo như cây roi, khế, sấu, ổi, chanh, đu đủ.

Nguyễn Văn Huyên

Cuối vườn ký ức là nhà ngang theo cách gọi truyền thống, dùng làm thư viện, nơi giao lưu của họ hàng, bạn bè, khách thăm cũng là nơi tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh trong tương lai. Ở đó có giới thiệu một số sách trong thư viện Nguyễn Văn Huyên, một mảng sách nghiên cứu về dân tộc học, lịch sử từ khoảng 1930 đến 1945 và một mảng khác, là sách xuất bản bằng giấy bản và giấy dó trong thời kháng chiến chống thực dân Pháp.

Còn bên trong ngôi nhà là sự đan xen giữa trục ngang của 5 tầng nhà, kể về các chủ đề khác nhau trong gia đình Nguyễn Văn Huyên-Vi Kim Ngọc; và trục dọc theo cầu thang là 36 sự kiện xã hội chính trị trong nước và thế giới của một đời Nguyễn Văn Huyên: từ năm 1905 khi ông sinh ra gắn với chiến tranh Nga - Nhật đến năm 1975 ông tạ thế cũng là kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ giành độc lập tự do, thống nhất đất nước.

Không thể không kể đến vai trò của thiết kế đồ họa tạo nên một phong cách rất riêng cho Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên. Mỗi phòng trưng bày được phân biệt với nhau bằng màu sắc nhẹ nhàng; sự thay đổi này cũng được thể hiện ngay trong từng phòng trưng bày. Đồ họa và màu sắc được xử lý hài hòa tạo cho bảo tàng Nguyễn Văn Huyên một không gian vừa giản dị, vừa ấm cúng mà gần gũi, chan hòa như không khí trong một gia đình.

Giữa không gian ấy, khách tham quan còn được đắm hồn mình trong âm thanh du dương của những bài hát, bản nhạc Việt Nam và Pháp rất quen thuộc một thời, để như được trở về với quá khứ.

Vài lát cắt lịch sử đời người

Tôi không có tham vọng và cũng là không cần thiết để nói về toàn bộ thân thế và sự nghiệp của người đứng đầu ngành Giáo dục qua suốt hai cuộc kháng chiến của dân tộc.

Điều đó đã được nói đến suốt gần một thế kỷ qua và được tái hiện sống động trong Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên hôm nay.

Nhưng, mỗi người đều có quyền có ấn tượng riêng về một người hành động, một nhà bác học với 9 năm đèn sách ở xứ sở của Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Và cũng chừng ngần ấy năm nghiên cứu về văn minh, văn hóa dân gian và các vấn đề xã hội Việt Nam, 29 năm làm Bộ trưởng giáo dục.

Sự uyên bác đầy tính nhân bản thể hiện rõ trong những hành động cụ thể của GS Nguyễn Văn Huyên. Trong đề tài nghiên cứu “Những vấn đề nông dân Bắc Kỳ” được công bố vào năm 1939 khi ông làm việc tại Viễn Đông bác cổ học viện, ông nhấn mạnh: "Việc làm cơ bản, nếu không thì sẽ chẳng xây dựng được gì vững chắc, chính là giáo dục nông dân.

Cần phải tiếp nhận những đứa trẻ “quặt quẹo và nghèo khổ” này và thử làm cho chúng trở thành những người có hiểu biết khách quan hơn về lợi ích của mình, có một ý thức hiện đại hơn về đời sống làng xã. Thì đó sẽ là một bước dài theo hướng thực hiện một đời sống nông thôn tốt đẹp hơn.”

Đây là một tiếp cận xã hội học trong phân tích xã hội đương đại. Bằng những tư liệu sống động của các cuộc điền dã dân tộc học và điều tra xã hội, ông phân tích tình trạng cơ cực của nông dân và chỉ rõ sự yếu kém của chính quyền.

Ngay cả trong những việc nhỏ khi điều hành giáo dục nước nhà, cũng thể hiện sự uyên bác với tinh thần nhân bản đó, khi ông đặc biệt quan tâm đến trí thức. Trong Công điện gửi Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào ngày 25/1/1950 do Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên tự đánh máy và ký, xin điều động ông Lê Văn Thiêm, một Việt Kiều vừa từ Pháp về đang ở miền Đông Nam Bộ ra Việt Bắc để góp phần xây dựng nền đại học lúc đó rất thiếu các giáo sư.

Còn Công văn gửi Bộ Tài chính ngày 29/8/1950, ông đề nghị trợ cấp đặc biệt cho GS Đặng Thai Mai 10 vạn đồng để chuyển từ Liên khu IV ra Việt Bắc, mang theo cả mấy bồ sách và đề nghị cho cáng ra vì ông Mai rất yếu, không thể đi bộ được.

Khi gửi công điện cho Ủy ban Kháng chiến hành chính Khu IV nhờ báo cho vợ bác sĩ Đặng Văn Ngữ ở trường chuyên khoa Châu Phong (Đức Thọ - Hà Tĩnh) là ông Ngữ từ Nhật Bản mới về nước, đã ra Việt Bắc an toàn để giảng dạy và lập phòng thí nghiệm tại trường Đại học Y, mà không về đón vợ được.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên cũng nhờ thông báo cho bà Ngữ biết "Chính phủ sẽ tổ chức đón (bà - TG) ra , không cần lo về sinh hoạt và tài chính, sẽ có giải pháp. Cứ tin tưởng vào Chính phủ và các bạn ở Liên khu IV".

Làm sao có thể không tin một Bộ trưởng như thế, một Chính phủ như thế !

Sự uyên bác với tinh thần nhân bản đó, GS Nguyễn Văn Huyên có được là nhờ được tiếp thu học vấn và văn hóa cũng từ chính những người thầy uyên thâm, bác ái. Một trong những người thầy đó là GS Lucien Lévy Bruhl.

Đặc biệt, GS Nguyễn Văn Huyên tâm đắc với tác phẩm "Đạo đức và khoa học về các phong tục" (La morale et la science des moeus) của Lucien Lévy Bruhl – đánh dấu một thời điểm quan trọng trong sự nghiệp của tác giả cũng như trong lịch sử tư tưởng nhân loại.

Khi Lévy Bruhl qua đời vào năm 1939, Nguyễn Văn Huyên đã đau xót viết: "Không những ông (Lévy Bruhl –TG) đã đưa đến cho nền triết học hiện đại một cách tư duy rất độc đáo và mạch dạn, mà suốt đời ông, ông còn biết đem lòng nhân ái sẵn có của mình, thái độ tận tụy, nhiệt tình không mệt mỏi của mình phụng sự cho loài người…

Tôi nhìn thấy ông với nét mặt luôn luôn mơ màng và đăm chiêu, cặp mắt long lanh đầy thông minh và nhạy cảm…Ông chẳng bao giờ làm "chính trị" cả thế mà hành động xã hội của ông thuộc loại hữu ích nhất" (trích trong "Nguyễn Văn Huyên toàn tập").

Sự uyên bác và nhân bản ấy cũng là tinh thần Hồ Chí Minh mà những trí thức tràn đầy lòng yêu nước như Nguyễn Văn Huyên đã một dạ tin, theo. Năm 2003, trong buổi các con của ông bà Huyên - Ngọc đến thăm nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông đã nhận định: "Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong suốt 30 năm (1946-1975), ông Nguyễn Văn Huyên, đã làm được cho sự nghiệp giáo dục:

Thứ nhất là chống nạn mù chữ mà ông là người lãnh đạo, một chiến sĩ xung kích.

Thứ hai là lãnh đạo việc dùng tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục ...

Thứ ba là mặc dù kháng chiến nhưng vẫn xây dựng, giữ vững và phát triển hệ thống các trường học, nhất là các trường đại học trên chiến khu. Thứ tư là động viên, khuyến khích các em học sinh đi học trong những hoàn cảnh rất khó khăn… ".

Trong 70 năm cuộc đời nhà bác học uyên thâm, nhà hành động nhân bản Nguyễn Văn Huyên, có 39 năm song hành với một người phụ nữ đàn hay, vẽ giỏi, nữ công gia chánh tài, và cần mẫn làm khoa học. Hơn hết, bà còn là linh hồn của gia đình Huyên - Ngọc, như bà viết trong bức thư gửi cháu ngoại Nguyễn Kim Hiền: "Biết bao người mong ước trên đời này được sống trong hạnh phúc ấm cúng gia đình… Bà không dám tự hào mãn nguyện, nhưng bà thấy có thể mỉm cười trước ngoài tuổi 70 này.

Suốt cuộc đời tâm tâm niệm niệm làm điều tốt cho mình, cho người, trong tâm không có điều gì phải ân hận… Với gia đình ta, bà đã xây đắp từng viên gạch nhỏ đầu tiên… Cứ thế cần cù kiên trì tin tưởng, phấn khởi bằng mọi khả năng của mình xây đắp tổ ấm hạnh phúc.

Suốt 50 năm trời trôi qua, bà không mệt mỏi, bà đã thành công. Bà đã được phần thưởng vô giá, Hiền ạ. Bà có con trai, con gái, con dâu, con rể, cháu nội, ngoại mà bằng ấy trái tim đều có một tâm hồn con người… biết vì lẽ phải, biết vì mọi người để mình sống trọn vẹn. Đấy Hiền ngẫm xem bà có xứng đáng được một phần thưởng quý đó không? …”.

Các thế hệ tiếp nối của mái ấm Huyên - Ngọc đang gìn giữ và phát huy những di sản của ông bà để lại cho con cháu muôn đời, không chỉ của dòng họ Nguyễn - Vi mà còn của cả xã hội.

Rời Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên tọa lạc trên chính quê ông – làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội, tôi như thấy ông bà Huyên - Ngọc ở trên cao xanh hiện về, mỉm cười mãn nguyện...

Theo giaoducthoidai.vn


Tầm vóc về giáo dục của Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên là rất lớn

 Đây là nhận xét của Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển và Tổng thư ký Hội đồng chức danh Giáo sư nhà nước Trần Văn Nhung khi tham quan Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên hôm nay (29/11).

 

Các vị khách quý chụp ảnh lưu niệm trong không gian bảo tàng        

  Từ trái sang: Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, nguyên Thứ trưởng Trần Văn Nhung nghe giới thiệu từ PGS.TS Nguyễn Văn Huy - nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, chủ sở hữu bảo tàng Nguyễn Văn Huyên.  

     

Gia đình anh Nguyễn Văn Huyên đã xây dựng Bảo tàng với tấm lòng của nhà khoa học, gắn bó với sự nghiệp văn hóa - giáo dục của dân tộc, với tấm lòng hiếu nghĩa của những người con đã phát huy được truyền thống của gia đình, bố mẹ.

Bảo tàng sẽ là địa chỉ góp phần rất ý nghĩa cho việc giáo dục thế hệ trẻ, cho công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt Nam, về cố GS. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên”.

Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển

Chủ sở hữu Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên là PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam - trực tiếp thuyết minh về quá trình lưu trữ, về ý tưởng làm Bảo tàng và về mỗi tài liệu hiện vật được trưng bày tại đây.

Không biết đây là lần thứ bao nhiêu, ông nói về những điều này, nhưng niềm say mê, tâm huyết và tình cảm của ông truyền sang khách tham quan vẫn vẹn nguyên như buổi ban đầu.

Giá trị về giáo dục của Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên bao quát trong tất cả các chuyên đề trưng bày ở mỗi tầng nhà: Về cuộc sống gia đình và dòng họ; về 9 năm đèn sách ở Pháp và 10 năm làm khoa học cũng như 29 năm lãnh đạo ngành Giáo dục của cố GS. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên…

Mỗi đối tượng đều có thể cảm nhận ý nghĩa sâu sắc của Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên từ các góc độ khác nhau, các lĩnh vực khác nhau. Sáng nay, GS Trần Văn Nhung và TS Nguyễn Vinh Hiển vừa chăm chú nghe câu chuyện kể trực tiếp từ TS Nguyễn Văn Huy, vừa cùng nhau nhớ lại những điều đã được nghe, được kể từ lâu về vị Bộ trưởng giáo dục rất hiếm hoi này, người đã lãnh đạo giáo dục nước nhà đi qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Đặc biệt, khi xem nội dung về 20 năm xây dựng nền giáo dục, với những công việc quen thuộc như biên soạn sách giáo khoa, làm bình dân học vụ, cải cách giáo dục.., dường như mỗi vị khách đều có những liên tưởng riêng.

Trong miên man ký ức, GS Trần Văn Nhung cũng như Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cùng nghĩ về Bảo tàng Giáo dục Việt Nam đã có chủ trương xây dựng lâu nay, như GS Trần Văn Nhung nói vui là “ý tưởng lớn gặp nhau”: Những tư liệu về cố GS. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên cũng đồng thời là những tư liệu của lịch sử giáo dục Việt Nam trong thế kỷ XX.

Nếu những tư liệu, hiện vật trong Bảo tàng này được số hóa và liên kết phát huy tác dụng với Bảo tàng Giáo dục Việt Nam sau này thì giá trị giáo dục sẽ còn lớn hơn rất nhiều.

Ghi lại cảm tưởng của mình sau khi tham quan Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển viết: “Tôi vô cùng xúc động được thăm Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên. Một tấm gương lớn về lòng nhân ái, tình yêu quê hương đất nước, một nhà khoa học lớn.

Bộ trưởng gắn bó làm nên nền giáo dục nước nhà suốt những năm tháng gian khó trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Xin trân trọng cảm ơn gia đình anh Nguyễn Văn Huyên đã xây dựng Bảo tàng này với tấm lòng của nhà khoa học, gắn bó với sự nghiệp văn hóa - giáo dục của dân tộc, với tấm lòng hiếu nghĩa của những người con đã phát huy được truyền thống của gia đình, bố mẹ.

Bảo tàng sẽ là địa chỉ góp phần rất ý nghĩa cho việc giáo dục thế hệ trẻ, cho công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt Nam, về GS.Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên”…

Nhân dịp này, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển bày tỏ lòng cảm ơn TS Nguyễn Văn Huy đã đóng góp nhiều cho Bộ GD&ĐT trong công tác giáo dục, đặc biệt là đóng góp nhiều cho giáo dục qua di sản và bằng di sản. Thứ trưởng cũng cho rằng, Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên là một thiết chế văn hóa có ý nghĩa cho việc giáo dục di sản trong nhà trường hiện nay.

  Các vị khách quý chụp ảnh lưu niệm trong không gian bảo tàng        

  Từ trái sang: Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, nguyên Thứ trưởng Trần Văn Nhung nghe giới thiệu từ PGS.TS Nguyễn Văn Huy - nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, chủ sở hữu bảo tàng Nguyễn Văn Huyên.  

     


Thành lập bảo tàng Nguyễn Văn Huyên tại Hà Nội

UBND thành phố Hà Nội vừa quyết định thành lập bảo tàng ngoài công lập mang tên “Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên”, tại thôn Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức (Hà Nội). Bảo tàng do PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, con trai Giáo sư Nguyễn Văn Huyên làm chủ sở hữu, có chức năng sưu tầm các hiện vật quá trình hoạt động của giáo sư Nguyễn Văn Huyên và tổ chức trưng bày, giới thiệu phục vụ khách tham quan.

Ông Nguyễn Văn Huyên (1905 - 1975) sinh ngày 16/11/1905, tại Hà Nội, nguyên quán tại xã Kim Chung, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội). Ông là GS.TS, nhà Sử học, nhà Dân tộc học, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam; từng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam trong thời gian dài nhất: 28 năm.

Giáo sư Nguyễn Văn Huyên đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 (năm 2000) về khoa học xã hội và nhân văn, Huân chương Độc lập hạng Nhất. Tên của ông cũng được đặt cho một tuyến phố chạy ngang qua Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội. Tên của Giáo sư Nguyễn Văn Huyên còn được đặt cho một trường trung học cơ sở ở quê hương ông và một trường trung học phổ thông ở tỉnh Tuyên Quang. Gia đình Giáo sư Nguyễn Văn Huyên cũng đã thành lập trường Nguyễn Văn Huyên ở quận Đống Đa, Hà Nội, do con gái thứ hai của ông là PGS.TS Nguyễn Bích Hà, làm Hiệu trưởng.

Nguyễn Văn Cảnh

Khánh thành Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên tại Hà Nội

Thu Hiền, Tú Anh (Thời sự - thoisuvtv@vtv.vn)Cập nhật 19:39 ngày 19/12/2014

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận trao tặng hiện vật của cố Giáo sư Nguyễn Văn Huyên cho gia đình. (Ảnh: Nhân Dân)

Chiều 19/12, gia đình cố Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, vị Bộ trưởng đầu tiên của Bộ GD-ĐT nước ta, đã khánh thành công trình bảo tàng mang tên ông.

bảo tàng  Nguyễn Văn Huyên nằm tại thôn Lai Xá, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội. Đây là nơi cố Giáo sư sinh sống cùng gia đình khi còn nhỏ.

Bảo tàng trưng bày khoảng 400 hiện vật, gồm các tài liệu, bút tích, những vật dụng như: máy nghe nhạc, thẻ thư viện... Các hiện vật được sắp xếp, thể hiện như lời kể của con cháu cố Giáo sư về cha ông mình, với các chủ đề như: Tuổi trẻ của bố mẹ, Bố chúng tôi - một nhà bác học...

Ngoài ra, trong khuôn viên bảo tàng có một thư viện với các tài liệu quý bằng tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Pháp...

Bảo tàng mở cửa đón khách vào các ngày thứ 7, chủ nhật hàng tuần và hoàn toàn miễn phí.


Dấu ấn của bộ trưởng giáo dục tại vị 29 năm

Đứng đầu ngành giáo dục, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên thường đạp xe từ chiến khu đi khắp các tỉnh miền Bắc, Liên khu 4 để thăm trường, nói chuyện với thầy trò. Có lần, ông bị té xuống sông trên đường đi công tác.

Nằm ở thôn Lai Xá, xã Kim Chung (Hoài Đức, Hà Nội), Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên do gia đình vị cố bộ trưởng giáo dục mở ra. Bảo tàng rộng hơn 150 m2, ghi lại những dấu ấn khó phai của gia đình cố GS.TS Nguyễn Văn Huyên mà qua đó có thể thấy được cả thời kỳ biến động của lịch sử đất nước. Tuổi trẻ, cuộc đời và dấu ấn gần 30 năm lãnh đạo ngành giáo dục của ông được thể hiện qua hơn 400 hiện vật trưng bày tại đây.

IMG-5458.jpg

GS.TS Nguyễn Văn Huyên (1905-1975) cùng vợ Vi Kim Ngọc. Ông là người giữ cương vị bộ trưởng Bộ Giáo dục 29 năm và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. Ảnh tư liệu.

Ông Nguyễn Văn Huyên giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục (nay là Bộ GD&ĐT) từ năm 1946 đến 1975, là "tư lệnh" tại vị lâu nhất của ngành cho đến nay. Sau cách mạng tháng Tám, từ việc xóa nạn mù chữ cho nhân dân đến hai cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (năm 1950) và lần thứ hai (năm 1956), xây dựng nền giáo dục phát triển qua hai cuộc kháng chiến đều mang đậm "dấu ấn Nguyễn Văn Huyên".

Tôn chỉ, tâm huyết dành cho sự nghiệp giáo dục của ông thể hiện rõ trong bài diễn văn nổi tiếng tại lễ khai giảng năm học đầu tiên của ĐH Quốc gia Việt Nam, ngày 15/11/1946: "…Dân tộc Việt Nam, ngoài công cuộc đấu tranh bằng xương máu trên chiến địa, còn nỗ lực tham gia vào công cuộc tiến triển văn hóa nhân loại. Chúng tôi muốn nền đại học mới này là một lực lượng mạnh trong những lực lượng chiến đấu của dân tộc Việt Nam…".

Ông Phạm Trọng Đang, người thư ký đầu tiên của ông Huyên kể lại: "Cùng với tập thể lãnh đạo Bộ, anh Huyên đề ra những kế hoạch rất sát và kịp thời. Từ việc củng cố tổ chức, di chuyển cơ quan bộ từ miền xuôi lên Việt Bắc để tránh sự tấn công của địch, cho đến việc thành lập các khu giáo dục dựa theo các khu kháng chiến và việc chấn chỉnh cơ quan giáo dục tỉnh để chỉ đạo việc học tập của học sinh toàn quốc".

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bộ Giáo dục tản cư về chiến khu Việt Bắc. Nhiệm vụ hàng đầu của ngành lúc này là xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa cho nhân dân. Dù thiếu thốn trăm bề nhưng các ngành bình dân học vụ, giáo dục phổ thông ở vùng tự do vẫn phát triển mạnh. Sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy, chương trình học của các cấp dần được biên soạn và hoàn chỉnh. Nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn ngành mà đến năm 1948, trên 90% dân số Việt Nam biết chữ. Do có kinh nghiệm trong việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục nên những năm sau này, Bộ trưởng Huyên được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng, giao cho nhiệm vụ phát triển quan hệ với các nước châu Phi bằng cách đưa chuyên gia sang giúp đỡ họ xây dựng nền giáo dục.

Đất nước vừa kháng chiến vừa học tập, công cuộc xóa mù chữ diễn ra mạnh mẽ ở cả hai miền Nam Bắc. Năm 1948, khi nhận được thư của đặc phái viên Phạm Văn Đồng đề nghị lo nhiều hơn tới công tác giáo dục ở miền Nam, Bộ trưởng Huyên đã ký quyết định thành lập Nha giáo dục Nam Bộ. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1949, công cuộc Bình dân học vụ ở đây thu được thắng lợi lớn, hơn 2.300 đoàn viên tổ chức dạy 1.935 lớp học, thanh toán xong nạn mù chữ ở 231 thôn trong 17 tỉnh Nam Bộ. Đến năm 1956, Bình dân học vụ Nam Bộ đã dạy hơn 2 triệu đồng bào biết đọc biết viết.

IMG-5660.jpg

Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên trong một lần về thăm cơ sở giáo dục.  Ảnh tư liệu.

Bộ trưởng Huyên trăn trở "Có đủ giáo viên, có giáo viên giỏi thì mới chia được chữ cho nhân dân". Các lớp sư phạm cấp tốc, trường cao đẳng sư phạm, lớp sư phạm ngang với bậc trung học phổ thông và chuyên khoa các trường đại học sư phạm lần lượt ra đời. Ông trực tiếp chỉ đạo các trường đại học Sư phạm, Cục Đào tạo chăm lo đến công tác bồi dưỡng giáo viên và nhấn mạnh rằng "giáo viên là người của Đảng, là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa nên phải được bồi dưỡng thường xuyên".

Trong ký ức nhiều thế hệ thầy trò thuở ấy, nhắc đến bộ trưởng giáo dục là nhớ hình ảnh ông cùng người bảo vệ đạp xe từ chiến khu đi khắp các trường ở Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng vào tận Liên khu 4. Ông Phạm Trịnh Cán, Chánh Văn phòng Bộ khi ấy từng kể rằng Bộ trưởng Huyên rất hay "la cà" với giáo viên dự hội nghị để nghe ngóng ý kiến. Khi đi công tác, ông không bao giờ báo trước với địa phương mà đạp xe thẳng đến trường rồi dành trọn một ngày để nghe báo cáo và thảo luận chứ không thăm hỏi qua loa.

Trèo đèo lội suối đi khắp các trường học, nhiều lần ông gặp tai nạn bất ngờ. Năm 1951, trong chuyến đi họp Chính phủ trở về phải vượt qua sông, trời chạng vạng tối, cả thuyền bị chìm. Bộ trưởng Huyên không biết bơi, bị chìm nghỉm. Đến khi cả đoàn kiểm tra danh sách phát hiện thiếu ông mới cuống lên đi tìm. May mắn ông ngoi lên bám vào cây sào và thoát chết.

Năm 1954, miền Bắc giải phóng, Bộ Giáo dục từ chiến khu trở về Hà Nội, tiếp quản các cơ sở giáo dục. Ngành giáo dục có những nhiệm vụ mới: trên cơ sở hoàn thành gấp rút việc thanh toán nạn mù chữ, phải đẩy mạnh công tác bổ túc văn hóa; đào tạo thế hệ trẻ tài năng cống hiến cho đất nước; đào tạo nhanh chóng đội ngũ đông đảo những cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân lành nghề. Ông ký quyết định mở hàng loạt trường sư phạm từ sơ cấp, trung cấp đến đại học, mở đầu công cuộc kiến thiết nền giáo dục đại học của quốc gia. Tính đến năm 1965, cả nước có 17 trường đại học, hơn 2.700 cán bộ giảng dạy và gần 30.000 sinh viên với tổng số 97 ngành học.

Dấu ấn của vị bộ trưởng giáo dục in đậm qua từng chặng đường lịch sử của đất nước. Khi Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại, ông thường đến những vùng núi xa xôi, hẻo lánh để dự giờ, động viên thầy trò khi lớp phải học dưới hầm tránh máy bay. Ông cử hàng loạt cán bộ đi học nước ngoài để xây dựng đội ngũ trẻ cho khoa học, giáo dục; thực hiện nhiều chuyến khảo sát kinh nghiệm của các nước Liên Xô, Đức để chuẩn bị cho công cuộc cải cách giáo dục mới.

IMG-5693.jpg

Một góc bảo tàng Nguyễn Văn Huyên. Ảnh: Hoàng Phương.

Sau ngày hòa bình lập lại, Bộ trưởng Huyên nhận thấy tầm quan trọng, yêu cầu cấp thiết của bộ môn ngoại ngữ. Bộ Giáo dục đã đề nghị Hội đồng Chính phủ khẳng định vị trí của môn ngoại ngữ trong chương trình học phổ thông và quyết định dạy 4 thứ tiếng: Nga, Hoa, Anh, Pháp. Nguyện vọng của Bộ trưởng Huyên là việc dạy ngoại ngữ ở trường phổ thông phải giúp cho học sinh sau khi học liên tục 6 năm về một ngoại ngữ có thể đọc được những sách thông thường, những truyện ngắn cho thiếu niên. Số từ tối thiểu trong số từ cơ bản nhất của ngoại ngữ là khoảng 3.000.

"Bông hoa của chế độ" là từ ngữ quen thuộc để nói về thành quả nền giáo dục mà cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên cùng đồng nghiệp đã dày công xây dựng trong suốt 29 năm. Cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 19/10/1975 trong cuộc phẫu thuật ở Đức, ông vẫn đang giữ cương vị Bộ trưởng Bộ giáo dục.

Đánh giá những đóng góp của ông cho nền giáo dục nước nhà, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dành những lời khen ngợi: "Có thể nói ngay mấy việc lớn mà ông, với cương vị là Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong suốt 30 năm đã làm được cho sự nghiệp giáo dục. Thứ nhất là chống nạn mù chữ mà ông là người lãnh đạo, một chiến sĩ xung kích; thứ hai là lãnh đạo việc dùng tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục; thứ ba là mặc dù kháng chiến nhưng vẫn xây dựng, giữ vững và phát triển hệ thống các trường học, nhất là trường đại học trên chiến khu; thứ tư là động viên các em học sinh đi học trong những hoàn cảnh rất khó khăn. Hoàn thành các công việc này trong những hoàn cảnh khó khăn lạ lùng của cuộc kháng chiến chứng tỏ ông là người có một ý thức trách nhiệm, lương tâm nhà nghề cực kỳ đẹp đẽ".

Cuộc đời Bộ trưởng giáo dục Nguyễn Văn Huyên

Từ một "ông nghè Tây", GS.TS Nguyễn Văn Huyên rời bỏ cuộc sống đầy đủ dưới chế độ thực dân phong kiến để đi kháng chiến rồi trở thành bộ trưởng có nhiều đóng góp cho nền giáo dục nước nhà.
IMG-5509.jpg

GS.TS Nguyễn Văn Huyên quê làng Lai Xá, Kim Chung (Hoài Đức, Hà Nội). Khi còn nhỏ, ông học trường Albert Sarraut ở Hà Nội. Ông học rất giỏi, năm nào cũng được dự lễ phát thưởng của thành phố ở Nhà Hát lớn.

IMG-5516.jpg

Năm 1926, ông cùng người em trai Nguyễn Văn Hưởng (bên trái) sang Pháp học. Ông học đại học Văn chương ở Montpellier, sau đó lên Paris học Luật và làm luận án tiến sĩ ở Sorbonne. Những dịp nghỉ hè, nghỉ lễ, cuối tuần, ông thường cùng bạn bè về các vùng quê của Pháp, du ngoạn khám phá châu Âu. Những chuyến đi đã giúp ông hiểu biết nhiều hơn về con người và văn hóa của nhiều vùng đất khác nhau.

IMG-5542.jpg

Ban đầu, ông dự định làm luận án về quan hệ Pháp - Đông Dương thời kỳ 1800 - 1880 nhưng không được phép tra cứu lưu trữ của Bộ Thuộc địa về giai đoạn này. Ông tìm đến lĩnh vực mới là dân tộc học. Luận án Hát đối đáp của nam nữ thanh niên ở Việt Nam bảo vệ thành công năm 1934. Ông trở thành tiến sĩ văn chương người Việt Nam đầu tiên của Đại học Paris. Song song với ngôn ngữ và nghiên cứu, ông còn là giảng viên trường Ngôn ngữ phương Đông vào năm 1931 - 1935. 

IMG-5831.jpg

Năm 1935, ông trở về nước. Với học vấn và học vị cao bậc nhất lúc đó, ông khước từ lời mời làm quan và những hứa hẹn của chính quyền thực dân mà chỉ chọn nghề dạy học. Ông trở thành giáo sư Sử - Địa trường Trung học Bảo hộ, tức trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An, Hà Nội) cùng với nhiều nhà giáo như Nguyễn Mạnh Tường (tiến sĩ Văn chương và Luật), Hoàng Xuân Hãn (thạc sĩ Toán), Nguyễn Xiển (kỹ sư), Ngụy Như Kon Tum (thạc sĩ Lý-Hóa), một thế hệ những nhân vật nổi tiếng được đào tạo ở Pháp. Các ông không chỉ truyền đạt kiến thức mà truyền cả niềm đam mê khoa học, niềm tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước cho các thế hệ học sinh trường Bưởi. Ở trường, giáo viên người bản xứ không được đối xử bình đẳng nên ông thôi dạy, chuyển sang nghiên cứu với tư cách là biệt phái viên ở trường Viễn Đông Bác Cổ vào năm 1938.

IMG-5578.jpg

GS Huyên có một thư viện với hàng ngàn cuốn sách. Nhiều cuốn được đóng bìa da, bìa gấm, nạm chữ kim nhũ ghi Nguyễn Văn Huyên. Nhà văn hóa Hữu Ngọc, cựu học sinh trường Bưởi kể lại rằng, nhiều lần ông tâm sự với học sinh "mỗi lần thấy bàn đầy sách là tôi rộn lên vui sướng. Cuộc đời tôi là sách và nghiên cứu". Khi cách mạng tháng Tám nổ ra, ông cùng với các ông Hồ Hữu Tường, Nguyễn Xiển, Ngụy Như Kon Tum đại diện cho trí thức thủ đô gửi điện tín yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị.

IMG-5834.jpg

Năm 1946, ông Huyên (thứ 2 từ trái sang) cùng phái đoàn chính phủ Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu. Hội nghị đàm phán giữa hai chính phủ Việt Nam và Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Từ Pháp, ông viết bức thư về cho vợ - bà Vi Kim Ngọc "...đây là dịp để Huyên thay mặt cho nhà mà đền nợ nước. Huyên cũng như bao nhiêu anh em sinh trưởng ở một nước nô lệ từ ngày hiểu biết tới nay ngoài hai chục năm thở vắn than dài, cố sức của mình để thoát khỏi vòng áp chế...Ngọc ạ, lúc này mà chúng ta không tự hy sinh một chút lợi riêng thì còn lúc nào nữa nhỉ?...Hai mươi năm lăn lộn sách đèn, một chục năm phiêu lưu chân giời góc bể mới có dịp giơ thẳng cánh bay...". Từ đây, ông hoàn toàn tin tưởng và đi theo cách mạng. Ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nhưng ông từ chối với lý do “thiếu kinh nghiệm”. Trước sự tin cậy và dặn dò của Hồ Chủ tịch "Chú phải chia bớt chữ cho nhân dân", ông nhận nhiệm vụ tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I ngày 3/11/1946. Ông giữ cương vị "tư lệnh ngành" trong suốt 29 năm cho đến khi qua đời vào năm 1975.

IMG-5843.jpg

Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên (bên phải) và bác sĩ Hồ Đắc Di - hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Y Khoa tại Văn phòng Bộ Giáo dục đóng ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang) năm 1948. Đất nước vừa kháng chiến vừa lao động, học tập. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên đã tổ chức và chủ trì nhiều hội nghị giáo dục với những nhà quản lý, trí thức và nhà giáo có uy tín để thảo luận và định ra nhiều chủ trương giáo dục phù hợp với thực tiễn kháng chiến. 

IMG-5836_1419763372.jpg

Ngoài xóa mù chữ, tổ chức lớp học trong kháng chiến, đào tạo giáo viên, ông còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ học đường, nâng cao dân trí, phát triển sự nghiệp giáo dục miền núi, phát triển sử học và quốc văn vì đó là những lợi khí rèn tinh thần, tư tưởng dân tộc. Năm 1948, dù chưa biết khi nào cách mạng sẽ thành công nhưng ông vẫn chỉ đạo về các liên khu sưu tầm, lưu giữ tài liệu kháng chiến để làm tư liệu cho thế hệ sau này biết đến lịch sử đánh giặc của ông cha. Ông thường đạp xe đi khắp các trường để làm công tác giáo dục. Bộ trưởng Huyên có tài hùng biện, nói chuyện lôi cuốn người nghe. Hình ảnh "ông nghè Tây” rời bỏ cuộc sống đầy đủ dưới chế độ thực dân phong kiến để đi kháng chiến với tấm long son sắt đủ sức thuyết phục, lôi cuốn giáo viên, học trò, khẳng định con đường họ đã lựa chọn là đúng đắn.

IMG-5840.jpg

Ông dẫn đoàn giáo dục Việt Nam tới thăm Tổng thống Mali năm 1964. Vì Việt Nam có kinh nghiệm trong việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục nên những năm sau này, ông thường giữ nhiệm vụ phát triển quan hệ với các nước châu Phi, chủ yếu đưa chuyên gia sang giúp đỡ họ phát triển giáo dục.

IMG-5458_1419763414.jpg

Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên và vợ Vi Kim Ngọc. Tấm ảnh chụp tháng 8/1975 ở Liên Xô trước khi sang Đức làm phẫu thuật. Ông ra đi vào ngày 19/10/1975 khi vẫn còn đang tại vị Bộ trưởng Bộ giáo dục. Trong mắt vợ con, dù bận rộn công việc của ngành, nhưng ông vẫn là người chồng, người cha mẫu mực, "cả đời không trách mắng vợ con, không nói điều gì nặng lời to tiếng với đồng nghiệp. Không tính thiệt hơn. Ai nói gì cũng cười xòa".

IMG-5475.jpg

Chiếc đồng hồ Movado do Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng các thành viên chính phủ sau Hội nghị Giơnevơ năm 1954. Mặt đồng hồ có vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kỷ vật Bộ trưởng Huyên yêu quý nhất. Ông đeo nó từ khi được tặng đến khi qua đờiSau khi ông mất, những tư liệu, kỷ vật liên quan đến cuộc đời, hoạt động của ông đều được gia đình lưu giữ cẩn thận và trưng bày tại bảo tàng Nguyễn Văn Huyên.

IMG-5699.jpg

Bảo tàng mở cửa vào hai ngày cuối tuần đón khách tham quan. Ông Nguyễn Văn Huy, con trai út của ông, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam chia sẻ: "Bảo tàng xây dựng ở làng Lai Xá, nơi cội nguồn của dòng họ Nguyễn chúng tôi, với mong muốn để mọi người, nhất là những người trẻ biết đến một người con của quê hương. Chúng tôi tin rằng tư liệu của gia đình phản ánh lịch sử, văn hóa của đất nước. Lịch sử đất nước bắt nguồn từ lịch sử của mỗi cá nhân". 

Hoàng Phương






 
 
Phản hồi

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN KHÁC



Copyrights 2008 .Tuan Lai Studio. All Rights Reserved.